1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẠI HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

137 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thực tiễn, hơn 20 năm hình thành và phát triển của phong trào có ý nghĩa đặt biệt quan trọng không chỉ với chính những quốc gia trải qua các cuộc vận động xã hội sâu rộng phản khá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

-***-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA

TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Thị Hạnh Sinh viên thực hiện: Võ Phạm Khánh Đăng

Mã số sinh viên: 1756040018 Ngành: Lịch sử thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh, 2021

Trang 2

Ý KIẾN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

Ý KIẾN CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cảm ơn chân thành đến TS Đỗ Thị Hạnh, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, xin cảm ơn quý thầy cô, bạn bè, gia đình

đã luôn ở bên cạnh giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, góp

phần làm nên kết quả của Khóa luận tốt nghiệp “Phong trào chống toàn cầu hóa trên thế

giới hiện nay”

Thành phố Hồ Chí Minh, 2021

Võ Phạm Khánh Đăng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Hạnh Các dữ liệu được sử dụng để phân tích trong đề tài đều có nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng, cụ thể, được công bố và trích dẫn theo đúng quy định quốc tế Các kết luận trong đề tài đều do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách đầy đủ nhất có thể và chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Võ Phạm Khánh Đăng

Trang 6

Alternative Espaces Citoyens

Không gian Thay thế cho Công dân

American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations

Liên đoàn Lao động và Đại hội các Tổ chức Công nghiệp Hoa Kỳ

Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Association pour la Taxation des Transactions financières et pour l'Action Citoyenne

Hiệp hội Đánh thuế các Giao dịch tài chính nhằm Hỗ trợ công dân

Europe Social Forum

Diễn đàn Xã hội châu Âu

Europe Union

Liên minh châu Âu

Ejército Zapatista de Liberación Nacional

Quân đội Giải phóng Quốc gia Zapatista

Free Trade Area of the Americas

Khu vực Thương mại Tự do Châu Mỹ

Group of Eight

Nhóm 8 nước công nghiệp hàng đầu

General Agreement on Trade in Services

Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ

General Agreement on Tariffs and Trade

Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch

Genoa Social Forum

Diễn đàn Xã hội Genoa

International Monetary Fund

Quỹ Tiền tệ Quốc tế Phong trào chống toàn cầu hóa tại Heiligendamm ngày 08/06/2007 Phong trào chống toàn cầu hóa tại London ngày 18/06/1999

Trang 7

Phong trào chống toàn cầu hóa tại Genoa ngày 20/07/2001

Multilateral Agreement on Investment

Hiệp định đa phương về đầu tư Phong trào chống toàn cầu hóa tại Seattle ngày 30/11/1999

North American Free Trade Agreement

Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ

Non-Governmental Organizations

Các tổ chức phi chính phủ

People’s Global Action

Hành động Nhân dân Toàn cầu

People’s Science Movement

Phong trào Khoa học Nhân dân Phong trào chống toàn cầu hóa tại Melbourne ngày 11/09/2000

Trans-National Corporations

Các tập đoàn xuyên quốc gia

Trans-Pacific Partnership Agreement

Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương

World Bank

Ngân hàng thế giới

World Economic Forum

Diễn đàn Kinh tế Thế giới

World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới

World Social Forum

Diễn đàn Xã hội Thế giới

World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 15

5 Nguồn tư liệu 15

6 Phương pháp nghiên cứu 16

7 Kết cấu của đề tài 17

CHƯƠNG 1 PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA – BỐI CẢNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ 18

1.1 Toàn cầu hóa – Đặc điểm và bản chất 18

1.1.1 Khái niệm 18

1.1.2 Đặc điểm và bản chất 20

1.2 “Chống toàn cầu hóa” – Một hệ quả của toàn cầu hóa 33

1.2.1 Khái niệm 33

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 47

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY 48

2.1 Tại các nước phát triển 48

2.1.1 Đình công của công nhân và người lao động Pháp (12/1995) 48

2.1.2 Sự kiện J18 (06/1999) 50

2.1.3 Sự kiện N30 (11/1999) 52

2.1.4 Sự kiện J20 (07/2001) 59

2.1.5 Diễn đàn Xã hội châu Âu (11/2002) 62

2.1.6 Sự kiện J06 (06/2007) 64

2.2 Tại các nước đang phát triển 67

2.2.1 Phong trào Zapatista (01/1994) 67

2.2.2 Không gian Thay thế cho Công dân (2001) 72

Trang 9

2.2.3 Diễn đàn Nhân dân (2002) 75

2.2.4 Phong trào Khoa học Nhân dân (2004) 80

2.3 Trên cấp độ thế giới 85

2.3.1 Hành động Nhân dân Toàn cầu (1998) 85

2.3.2 ATTAC (1998) 88

2.3.3 Diễn đàn Xã hội Thế giới (2001) 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 94

CHƯƠNG 3 PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA – MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ, 96

3.1 Đặc điểm 96

3.2 Tác động 112

3.3 Bản chất và xu thế 115

3.3.1 Bản chất 115

3.2.2 Xu thế 119

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 124

KẾT LUẬN 126

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vào giữa những năm 1990, các nhà kinh tế học và chính trị gia từ khắp nơi trên thế giới

đã tự tin tuyên bố về buổi bình minh của một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân loại – kỷ nguyên toàn cầu hóa Khi công nghệ thông tin dường như đã và đang thu hẹp thế giới rộng lớn của chúng ta trong những thiết bị điện tử nhỏ gọn, khi một nền kinh tế toàn cầu hội nhập nhanh chóng làm xói mòn các đường biên giới quốc gia, khi các tập đoàn khổng lồ hợp nhất với các công ty nước ngoài để tạo thành các tập đoàn đa quốc gia thậm chí còn lớn hơn trước và đặc biệt hơn khi Hoa Kỳ, siêu cường thế giới duy nhất còn lại, là động lực thúc đẩy tiến trình này, thì “toàn cầu hóa” đã được chấp nhận rộng rãi như một trật tự thế giới mới Những hợp lực xuất hiện, đôi khi gần như trái ngược với trực giác của nhiều người rằng: người ta có thể quan sát thấy trong thực tế là trong khi nhiều xe hơi Mỹ được sản xuất tại Nhật Bản, thì xe hơi Nhật Bản lại được lắp ráp ở những địa phương kỳ lạ như Alabama và Nam Carolina Với cửa hàng Starbucks ở mọi góc ngách trên hành tinh và điện thoại di động ở mọi bên tai, rõ ràng là, thế giới mà chúng ta đang sống khác xa so với những thập niên trước đó rất rất nhiều

Tuy nhiên, trong vô vàn những thay đổi giúp nâng cao chất lượng đời sống của con người, sản xuất gia tăng và mọi giới hạn của chúng ta về không gian bị phá bỏ, toàn cầu hóa vẫn bộc lộ nhiều bất cập Tình trạng nghèo đói, xung đột và ô nhiễm ngày một nghiêm trọng hơn cùng với tốc lực của toàn cầu hóa Một thế giới tiện nghi, hiện đại hơn không làm tiêu tan các bất ổn, mà trái lại, làm gia tăng hơn nữa các bất ổn ấy Những vấn nạn của quá khứ chưa kịp giải quyết thì một loạt các vấn đề toàn cầu khác đã xuất hiện Tất cả dần đẩy con người, ở bất kỳ đâu, không phân biệt địa vị, giai cấp, chủng tộc, giới tính và tôn giáo đến bờ vực của bất bình, phẫn nộ và đấu tranh Đối mặt với những bất ổn ngày càng sâu sắc như vậy, một phong trào phản kháng lại các lực lượng của toàn cầu hóa là điều không thể tránh khỏi Do đó, phong trào chống toàn cầu hóa đã ra đời

Về mặt thực tiễn, hơn 20 năm hình thành và phát triển của phong trào có ý nghĩa đặt biệt quan trọng không chỉ với chính những quốc gia trải qua các cuộc vận động xã hội sâu rộng phản kháng toàn cầu hóa mà còn trở thành một trong những chủ đề đáng quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực đa dạng như sử học, chính trị học, xã hội học và quan hệ quốc tế Phong trào chống toàn cầu hóa và những bài học từ thực tiễn của phong trào này đã trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì dân chủ và công bằng trên khắp thế giới, là kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia, trước hết là các quốc gia đang phát triển ở khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh trong quá trình xây dựng và phát triển, sau đó là với các nước tư bản phát triển trong cải thiện phúc lợi xã hội, đảm bảo công bằng và dân chủ Cũng từ thực tế của phong trào chống toàn cầu hóa, vai trò của quần chúng nhân dân trở nên rõ nét và đáng ghi nhận, những hoạt động tích cực của các nhóm, các tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị ngày càng sôi nổi và mạnh mẽ chưa từng

Trang 11

thấy, chính sự đa dạng trong thành phần tham gia đã trở thành trung tâm, là động lực của

cả quá trình chuyển đổi các xã hội trong tương lai không xa Tuy nhiên, bản thân hiện tượng lịch sử này và những vấn đề xung quanh nó vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ và hiểu đúng, do nhiều nguyên nhân - cả chủ quan lẫn khách quan của thời đại Chẳng hạn như tình trạng bạo lực cực đoan trong một số sự kiện, sự dung nạp nhiều ý hệ đấu tranh hay không có lãnh đạo chính thức, không phân cấp trong tổ chức, … đã tạo nên những tranh luận về phong trào này kể từ khi nó xuất hiện cho đến nay Điều đó đã cho thấy tính chất phức tạp của hiện thực lịch sử mà phong trào chống toàn cầu hóa đã tạo ra và nếu không có các nghiên cứu một cách hệ thống, các đánh giá dựa trên những quan niệm biện chứng và khoa học thì không thể giải quyết triệt để được Do đó, việc nghiên cứu về lịch

sử phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới là vô cùng cần thiết

Về mặt khoa học, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử của phong trào chống toàn cầu hóa giúp cung cấp một tiền đề lý luận khi luận giải sự vận động đi lên và bản chất của thế giới đương đại, về xu thế phát triển của các phong trào xã hội cấp tiến vì hòa bình, công bằng và dân chủ ở mỗi quốc gia, khu vực nói riêng và trên toàn thế giới nói chung, thấy được cơ sở xã hội giúp duy trì sự tồn tại của phong trào khi nó đối mặt với các thế lực ủng hộ toàn cầu hóa mạnh mẽ và đầy quyền lực Là một quốc gia đang phát triển, đang trải qua những thay đổi quan trọng về cơ chế, hoạt động theo hướng hội nhập hơn với khu vực và thế giới, Việt Nam chắc chắn không thể không chịu tác động từ toàn cầu hóa, với những mặt trái của hiện tượng này Việt Nam không trải qua những cuộc vận động chống toàn cầu hóa mạnh mẽ như nhiều nơi trên thế giới, nhưng rõ ràng là, những bất mãn

về toàn cầu hóa ở Việt Nam có tồn tại Do đó, chính những nghiên cứu bước đầu này về phong trào chống toàn cầu hóa sẽ cung cấp cho Việt Nam những thực tiễn quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện con đường phát triển của quốc gia dân tộc mình

Từ những lý do trên cùng với những định hướng nghiên cứu lâu dài của bản thân đối với lịch sử thế giới nói chung và xu thế toàn cầu hóa nói riêng, tôi quyết định lựa chọn

“PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp hệ Cử nhân tài năng, chuyên ngành Lịch sử thế giới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Thông qua những nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận, có thể khái quát tình hình nghiên cứu của đề tài như sau:

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, các nghiên cứu về hiện tượng chống toàn cầu hóa nói chung và phong trào chống toàn cầu hóa nói riêng ít được quan tâm và nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Các công trình về toàn cầu hóa có nhắc đến chống toàn cầu hóa như là một đối tượng thứ yếu, là nội dung bổ sung không bắt buộc, suy cho cùng là để làm nổi bật hơn nữa tính chủ đạo của toàn cầu hóa

Trang 12

Thậm chí, nhiều công trình còn tỏ ra khá phiến diện, phê phán một cách gay gắt chống toàn cầu hóa, xếp nó vào loại các hiện tượng xã hội có tính bảo thủ nhiều hơn là cấp tiến Những công trình có hệ thống và đầy đủ nhất hiện nay về chống toàn cầu hóa và phong

trào chống toàn cầu hóa mà chúng tôi tiếp cận được gồm: “Phong trào chống mặt trái của

toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam” của Nguyễn Thị Quế - Nguyễn Hoàng Giáp

(Nxb Chính trị Quốc gia, 2008) gồm 6 chương - cung cấp một góc nhìn khái quát về mục tiêu, tính chất, đặc điểm, nội dung và hình thức đấu tranh của phong trào chống mặt trái của toàn cầu hoá, đưa ra những kết quả và xu hướng của phong trào này và chỉ ra được

những vấn đề đặt ra với Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay “Phong trào chống

toàn cầu hóa trên thế giới” – Luận văn Thạc sĩ Quốc tế học của Trần Duy Thùy Dương

(Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) – cung cấp nhiều

tư liệu về bối cảnh, thực trạng, nguyên nhân, đặc điểm và tác động của phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới từ khi nó ra đời cho đến thời điểm công trình được công bố Như vậy, từ những gì đã khái quát được, chúng tôi cho rằng, các nghiên cứu trong nước

về chống toàn cầu hóa và phong trào chống toàn cầu hóa không nhiều, nếu không muốn nói là quá ít Trong khi đó, ở nước ngoài, các nguồn tư liệu dồi dào hơn và đa dạng hơn tình hình nghiên cứu trong nước rất nhiều

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Chống toàn cầu hóa và phong trào chống toàn cầu hóa từ khi xuất hiện cho đến nay, luôn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Trong đó, đáng chú ý nhất là các công trình của các tác giả như:

Charles Derber với công trình “People Before Profit: The New Globalization in an Age

of Terror, Big Money, and Economic Crisis” (St Martin's Press, USA, 2002) được xem là

một trong những khảo cứu đầu tiên về toàn cầu hóa sau ngày 11/09/2001 Tác giả đã đề cập đến phong trào chống toàn cầu hóa bằng cách tiếp cận lịch sử, chỉ ra ý nghĩa và yêu cầu lịch sử của cuộc đấu tranh chống lại toàn cầu hóa, vừa có điểm tương đồng và vừa có

cả những khác biệt với những cuộc vận động xã hội sâu rộng khác trong quá khứ Chưa kể, công trình này còn đề cập đến hiện thực bất ổn của thế giới, về những lời hứa mang lại sự

ổn định, thịnh vượng và phát triển nhưng dường như chỉ là một giấc mơ viển vông, xa vời Tuy nhiên, đây không phải là một nghiên cứu bi quan, trái lại, Derber đã thách thức chúng

ta – những đọc giả của ông, viết lại các quy tắc mới cho toàn cầu hóa, để nó phát huy hết tiềm năng của nó như một tác nhân của nền dân chủ và hòa hợp toàn cầu trong tương lai, với phong trào chống toàn cầu hóa là động lực thúc đẩy điều đó

Adam Warner với tác phẩm “A Brief History of the Anti-Globalization Movement” (12

U Miami Int’l & Comp L Rev 237, USA, 2005) cung cấp một góc nhìn khái quát về phong trào chống toàn cầu hóa kể từ khi nó xuất hiện với cuộc nổi dậy của nghĩa quân Zapatista (ở các nước đang phát triển) và phong trào đình công của công nhân Pháp (ở các

Trang 13

nước phát triển), tác giả đã chỉ ra thực trạng của phong trào với mục tiêu, nội dung và động lực phát triển, các điều kiện cần và đủ để phong trào tồn tại và duy trì ảnh hưởng Đặc biệt, Warner đã xem công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng nhất để quyết định sức sống của phong trào Điều này sẽ được chúng tôi khảo sát và làm rõ trong phần nội dung

Luis A Fernandez với “Policing Dissent: Social Control and the Anti-Globalization

Movement” (Rutgers University Press, USA, 2008) là một công trình nghiên cứu độc đáo,

sáng tạo, kết hợp giữa trải nghiệm thực tế và lập luận khoa học để phác dựng lại một cách chân thực, cụ thể nhất về các hoạt động chống đối toàn cầu hóa và cách thức đối phó với các hoạt động đó của chính quyền Fernandez đã thành công khi ghi lại các cách thức (pháp

lý, vật lý, tâm lý) mà nhà nước đã thích ứng với các đặc điểm độc đáo của phong trào chống toàn cầu hóa, từ đó chỉ ra bản chất của các nhà nước tư sản nói riêng và nhà nước trên thế

giới nói chung trong việc đàn áp các hành vi bất đồng chính kiến hiện nay

Ngoài ra, chúng ta còn có các tham luận của Janet Conway với nhan đề “Civil

Resistance and the Diversity of Tactics in the Anti-Globalization Movement: Problems of Violence, Silence, and Solidarity in Activist Politics” (Osgoode Hall Law Journal, Vol 41,

Issue 2, 2003) bàn về các nguyên tắc trong hành động và chiến thuật được sử dụng trong phong trào chống toàn cầu hóa, cũng như các tranh cãi xung quanh những vấn đề như bạo lực, phá hoại tài sản trong phong trào; tham luận của Catherine Eschle với đề tài

“Constructing the Anti - Globalization Movement” (International Journal of Peace Studies,

2004) bàn về cấu trúc vận hành của một phong trào chống toàn cầu hóa, đề xuất hướng phát triển cho phong trào và những hạn chế mà phong trào đang gặp phải

Chưa kể, trong số các công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa của các học giả nước ngoài

khác như “The Globalization of World Politics: An Introduction to International

Relations” của J Baylis, St Smith - Patricia Owens (Oxford University Press, UK, 1997),

“Chiếc xe Lexus và cây Oliu” của Thomas L Friedman (Nxb Trẻ, TP.HCM, 2001), “Toàn cầu hóa – Duy nhất một hành tinh, nhiều dự án khác nhau” của Bernard Guillochon (Nxb

Trẻ, TP.HCM, 2004), “Suy nghĩ về toàn cầu hóa” của Charles – Albert Michalet (Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2005) và “The Shock Doctrine: The Rise of Disaster Capitalism” của

Naomi Klein (Picador Books, USA, 2007), dù với nhiều cách tiếp cận khác nhau (kinh

tế, chính trị, kinh tế - chính trị học), dù đối tượng chính là toàn cầu hóa chứ không phải là chống toàn cầu hóa nhưng đã thể hiện được bản chất chống đối như là một thực tế không thể đảo ngược khi toàn cầu hóa hiện nay là một toàn cầu hóa không công bằng và thiếu dân chủ

Từ những hiểu biết nền tảng trên, chúng tôi tiếp tục tiếp cận với các công trình, báo cáo

liên quan đến những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa, trong đó, đặc biệt là công trình “Toàn

cầu hóa và những mặt trái” của Joseph E Stiglitz (Nxb Trẻ, TP.HCM, 2002) đã thật sự

gây ấn tượng bởi những luận chứng thuyết phục, sắc sảo từ chính kinh nghiệm và trải

Trang 14

nghiệm của tác giả trong những năm tháng làm việc cho các tổ chức thương mại – tài chính quốc tế Công trình đã phơi bày một hiện thực bất công và thiếu dân chủ trong các tổ chức, thiết chế vận hành toàn cầu hóa, chỉ ra nguyên nhân căn bản của tình trạng nghèo đói, khủng hoảng ở các nước đang phát triển và bản chất của toàn cầu hóa hiện nay là phục vụ

cho ai Ngoài ra, còn phải kể đến các tham luận như “Globalization and Empire”

(International Journal of Social Inquiry, Vol 1, N.2, 2008) của Peter Iadicola và

“Globalization of National Policy-Making: An International Perspective” (Public Policy

and Administration, Vol 13, No 2, 2014) của Mansour Esmaeil Zaei, … đã nhìn toàn cầu hóa với tư duy kép, nhị nguyên – tức vừa là hiện thực khách quan không thể khác của sự gia tăng năng lực của sức sản xuất, vừa là yêu cầu chủ quan của các chính sách, sự mở rộng

và áp đặt của chủ nghĩa tư bản lên phạm vi toàn cầu

Như vậy, có thể thấy, tất cả các công trình được nêu ở bên trên, dù đối tượng chủ đạo

là toàn cầu hóa hay chống toàn cầu hóa thì đều đã ít nhiều có đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có những đóng góp quan trọng trong việc hiểu về bối cảnh, thực trạng của xã hội đương đại, về những cuộc đấu tranh đòi công bằng, dân chủ trong kỷ nguyên mới và đặc điểm, tác động của những cuộc đấu tranh đó Tuy nhiên, bản thân các công trình ấy cũng không khỏi tránh được những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, đối với các công trình ở trong nước, thực trạng chung là thiếu các ghi nhận về quá trình phát triển của phong trào chống toàn cầu hóa, các đánh giá, nhận xét còn sơ sài, không thể hiện hết đặc điểm, bản chất của hiện tượng

Thứ hai, đối với các công trình ở nước ngoài, do không theo phương pháp luận marxist cho nên đã không nhìn thấy được bản chất giai cấp của phong trào chống toàn cầu hóa, ca ngợi hoặc phê phán nó một cách quá đà, thiếu khách quan

Thứ ba, với cả 2 nhóm công trình trong nước và nước ngoài, các tác giả đều chỉ mới tập trung làm rõ tính chung của hiện tượng, chưa đi sâu tìm hiểu quy trình tổ chức và những phong trào tiêu biểu để phác họa bức tranh chống toàn cầu hóa một cách cụ thể, rõ ràng Trên cơ sở kế thừa thành công và phát hiện hạn chế của các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã bước đầu định hình cách tiếp cận, ý tưởng, xác lập nội dung và phương pháp nghiên cứu một cách hiệu quả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào quá trình hình thành và phát triển của

phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới hiện nay Với cách tiếp cận của khoa học lịch

sử, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

Về không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát phong trào chống

toàn cầu hóa ở một số quốc gia phát triển (chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ) và đang phát triển (Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh)

Trang 15

Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát từ cuối những năm 80

của thế kỷ XX cho tới nay

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Về mục tiêu nghiên cứu: Đề tài tập trung tái hiện bức tranh lịch sử của phong trào chống

toàn cầu hóa thông qua các vấn đề như sự ra đời, phát triển của phong trào, cách thức tổ chức, mục tiêu, thành phần tham gia và hệ tư tưởng chủ đạo, … từ đó đúc kết ra đặc điểm, bản chất và tác động của phong trào đối với lịch sử thế giới đương đại Để làm được những điều vừa nêu, chúng tôi đưa ra mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

- Bối cảnh, cục diện, môi trường quốc tế trong kỷ nguyên toàn cầu hóa là nguyên nhân chính thúc đẩy hiện tượng chống toàn cầu hóa ra đời và phát triển Phong trào chống toàn cầu hóa là hệ quả từ chính toàn cầu hóa

- Tiến trình và thực trạng của phong trào chống toàn cầu hóa hiện nay ở các nước phát triển và đang phát triển

- Một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm, bản chất và tác động của phong trào chống toàn cầu hóa Đồng thời, chúng tôi mong muốn có thể chỉ ra được những xu thế phát triển của phong trào trong thời gian tới, thông qua các cơ hội và thách thức mà phong trào đang đối mặt

Về nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nói trên, chúng tôi tập trung thực hiện

các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Chỉ ra được các vấn đề thuộc về bối cảnh, nguyên nhân và điều kiện ra đời của phong trào chống toàn cầu hóa

- Chỉ ra được tiến trình và thực trạng của phong trào chống toàn cầu hóa từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX cho tới nay tại một số quốc gia và khu vực trên thế giới, lựa chọn những sự kiện và phong trào nổi bật, có tính bước ngoặt

- Đưa ra được những đánh giá và nhận xét khách quan, khoa học trên cơ sở những nghiên cứu về thực trạng các phong trào chống toàn cầu hóa hiện nay, chỉ ra được những tác động của phong trào đối với lịch sử nhân loại và qua đó đưa ra các đề xuất, dự báo về

xu thế phát triển của phong trào trong tương lai

5 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận với các tư liệu chủ yếu sau:

- Các sách chuyên khảo của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài

- Các bài viết, các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí, tập san, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước

Trang 16

- Khóa luận, luận văn, luận án

- Tài liệu từ các Website uy tín và chính thống trên Internet

- Các bài phát biểu của các nhà hoạt động xã hội, những bản tuyên ngôn hay lời tuyên bố của các hội nghị và diễn đàn

6 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Phương pháp luận của đề tài này được hình thành trên cơ sở

những hệ thống quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, chú trọng vào những luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các phong trào xã hội của quần chúng (ở đây là phong trào chống toàn cầu hóa), sự phát triển tất yếu cũng như bản chất của các phong trào này, những luận điểm về nhà nước tư sản và nền chuyên chính tư sản, về vai trò của cá nhân trong lịch sử, … Những quan điểm này được coi là kim chỉ nam trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi còn áp dụng và đứng trên nền tảng của lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết xã hội học về giai cấp và xung đột xã hội, …

Về phương pháp nghiên cứu: Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp khoa học lịch

sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa chúng được xác định như dòng mạch chủ yếu Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng một số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, … khi nghiên cứu chuyên sâu từng nội dung nhằm nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách xác thực và khách quan Cụ thể:

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ tiến trình vận động của hiện tượng

“chống toàn cầu hóa” nói chung và phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới nói riêng

từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay

- Phương pháp logic được sử dụng để chỉ ra đặc điểm, bản chất và xu hướng phát

triển của phong trào chống toàn cầu hóa, của quá trình nhận thức và tự nhận thức của các nhóm xã hội chịu tác động tiêu cực từ toàn cầu hóa và tham gia vào cuộc đấu tranh, trên

cơ sở đó, các lực lượng này thực hiện các tương tác với nhau trong phong trào chống toàn cầu hóa và với chính quyền, cũng như bộc lộ bản sắc, danh tính và lợi ích của riêng mình đối với toàn bộ phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để chỉ ra sự tương đồng và khác

biệt của phong trào chống toàn hóa ở các nước phát triển và đang phát triển, cũng như các luận giải về nguyên nhân của những khác biệt đó

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn

tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài

Trang 17

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của

Trang 18

CHƯƠNG 1 PHONG TRÀO CHỐNG TOÀN CẦU HÓA – BỐI

CẢNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ

1.1 Toàn cầu hóa – Đặc điểm và bản chất

1.1.1 Khái niệm

Trước khi đạt đến sự phổ biến như hiện nay, được nhắc đến thường xuyên trên báo đài

và trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận của quốc gia và quốc tế, ít người sẽ tự đặt

câu hỏi rằng: Ai và bằng cách nào mà thuật ngữ “Toàn cầu hóa” (tiếng Anh là

Globalization) đã được tạo ra? Dù đã có nhiều ý kiến khác nhau về quá trình phát sinh và

phát triển gần nửa thế kỷ, nhưng đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa thực sự biết ai là chủ

nhân của khái niệm “Toàn cầu hóa” Về mặt ngôn ngữ học, nó là một từ tự cấu tạo trong tiếng Anh bằng cách kết hợp từ “global” với hậu tố tiêu chuẩn “ization” Rõ ràng nó phải

có nghĩa là “trở thành toàn cầu” (to become global), “trở nên toàn cầu” (to make global)

hoặc một cái gì đó theo nghĩa tương tự như thế1 Bởi tính chất phức tạp và sự vận động, biểu hiện trên nhiều bình diện, cũng như quy mô hoạt động lớn, toàn cầu hóa và việc nhận thức hiện tượng này trở nên vô cùng cần thiết nhưng thật khó khăn, thậm chí đứng trước những tranh luận về bản chất và đặc điểm của chính nó, nhiều học giả tỏ ra lúng túng và chỉ mới dừng lại ở những góc nhìn có tính chất hiện tượng Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu một số định nghĩa về toàn cầu hóa hiện nay như sau:

Từ điển Oxford về kinh tế (xuất bản năm 1997) ghi nhận: “Toàn cầu hóa là sự hội nhập

ngày càng tăng trên toàn thế giới của các hệ thống kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo và

xã hội Trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là quá trình mà toàn thế giới trở thành một thị trường duy nhất Điều này có nghĩa là hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động được giao dịch trên toàn thế giới, cũng như thông tin và kết quả nghiên cứu luôn sẵn sàng được trao đổi giữa các quốc gia”2

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên website chính thức của mình đã công bố quan điểm

về toàn cầu hóa như sau: “Toàn cầu hóa, hay sự gia tăng liên kết và phụ thuộc lẫn nhau

của con người và các quốc gia, thường được hiểu là bao gồm hai yếu tố có liên quan lẫn nhau: mở cửa biên giới cho các luồng hàng hóa, dịch vụ, tài chính, con người và ý tưởng xuyên biên giới quốc tế ngày càng nhanh; và những thay đổi trong chế độ, thể chế và chính sách ở cấp độ quốc tế và quốc gia tạo điều kiện hoặc thúc đẩy các dòng chảy đó”3 Năm 2006, trong một hội nghị kinh tế - tài chính tại Chile, Tổng giám đốc Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) lúc đó - Pascal Lamy, cũng từng phát biểu: “Toàn cầu hóa

1 West, John (2010) “Globalization – Origin of the word?” MrGlobalization Dẫn theo www.mrglobalization.com , truy cập ngày 06/04/2021

2 Black, John, Hashimzade, Nigar & Myles, Gareth (1997) Oxford Dictionary of Economics UK: Oxford University

Press

3 Website của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): www.who.int (truy cập ngày 06/04/2021)

Trang 19

có thể được định nghĩa là một giai đoạn lịch sử của quá trình mở rộng nhanh chóng chủ nghĩa tư bản thị trường, giống như những gì mà chúng ta đã từng trải qua trong thế kỷ XIX với cuộc cách mạng công nghiệp Đó là một sự chuyển đổi cơ bản trong xã hội do cuộc cách mạng công nghệ gần đây đã dẫn đến sự kết hợp các lực lượng kinh tế và xã hội trên một phạm vi lãnh thổ mới”4

Nhóm tác giả đến từ Đại học Duy Tân (Đà Nẵng, Việt Nam) trong công trình Các nền

văn minh thế giới – tập II: Từ năm 1750 đến nay (2013, Nxb Văn học) có đưa ra định

nghĩa: “Toàn cầu hóa là một kết quả của những thay đổi về chính trị, dân số, văn hóa cũng

như kỹ thuật, […] là sự tăng cường của những tiếp xúc giữa nhiều vùng quan trọng của thế giới, từ mậu dịch đến văn hóa, […] là sự bành trướng ảnh hưởng quốc tế vượt ra ngoài những khía cạnh quen thuộc như thương mại hay ngoại giao chính thức…”5 Ở một góc

độ khác, sau khi xem xét các quan niệm của những học giả theo quan điểm marxist của Việt Nam, chúng tôi hiểu rằng toàn cầu hóa là: Kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất (phù hợp với chủ nghĩa duy vật lịch sử - cho rằng động lực phát triển của lịch sử là đời sống sản xuất vật chất) dẫn đến phá vỡ sự biệt lập giữa các quốc gia, tạo ra mối quan hệ gắn kết, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên quy

mô toàn cầu trong sự vận động và phát triển

Tóm lại, về mặt khái niệm, toàn cầu hóa là một thuật ngữ được xây dựng từ nhiều góc

độ, cấp độ, hệ khái niệm công cụ của khoa học xã hội, bởi chính sự vận động và những biểu hiện đa dạng, phức tạp của chính nó Do đó, hiện nay, trong giới khoa học nghiên cứu

về toàn cầu hóa, vẫn chưa có sự thống nhất về một khái niệm chung nhất cho hiện tượng, tiến trình này, tính khả biến của thuật ngữ là khá lớn, thậm chí thường xuyên bị trộn lẫn với nhiều khái niệm khác: khi thì coi trọng tính “toàn cầu” (tức nhấn mạnh yếu tố mở rộng không gian về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh hoặc quân sự), khi thì nhấn mạnh vào tính “hoá” (tức nhấn mạnh sự vận động, quy luật và các nhân tố tác động đến quá trình nhập vào làm một đó) Tuy nhiên, nhận định như thế không có nghĩa là hiện tượng, quá trình này không thể được nắm bắt về mặt khái niệm Những điểm tương đồng, lặp đi lặp lại trong các định nghĩa trên cho thấy một số nội hàm căn bản của toàn cầu hóa, ít nhất là trên phương diện biểu hiện bên ngoài:

Thứ nhất, toàn cầu hóa là một xu thế, một tiến trình khách quan, đã và đang tiếp diễn như một hiện thực lịch sử rất sâu rộng Điều này đã phản bác một cách đanh thép nhất và lật ngược lại ý kiến cho rằng toàn cầu hóa đơn thuần và cơ bản là những chính sách (policies) do chủ quan con người tạo ra, ở đây ý chỉ toàn cầu hóa là kết quả của sự áp đặt chủ nghĩa tân tự do trên phạm vi thế giới Nhưng trước khi là một chính sách (toàn cầu hóa) thì nó đã là một hiện tượng tự nhiên và tất yếu, hiện thực là cơ sở để con người hình

4 Lamy, Pascal (2006) “Humanising Globalization”, WTO Dẫn theo www.wto.org , truy cập ngày 05/04/2021

5 Tạ Quang Hưng (chủ biên, 2013) Các nền văn minh thế giới – tập II: Từ năm 1750 đến nay Hà Nội: NXB Văn học

Tr.938-939

Trang 20

thành nên các chính sách để ứng xử như thế nào đối với những vận động của hiện tượng

Thứ ba, toàn cầu hóa đưa đến tính phụ thuộc lẫn nhau của thế giới Đây là điểm phân biệt giữa toàn cầu hóa với các hiện tượng, tiến trình khác (gần giống với nó) đã từng diễn

ra trong lịch sử, như quốc tế hóa (Internationalization) và xuyên quốc gia hóa (Transnationalization) Khác với trước đây, trong thời kỳ thực dân, sự phụ thuộc có xuất hiện nhưng đó là phụ thuộc một chiều của các thuộc quốc đối với các chính quốc Thời đại toàn cầu hóa thì không như thế, sự phụ thuộc lúc này là sự phụ thuộc hai chiều Các nước lớn cần những nước nhỏ, các nước nhỏ không thể tồn tại mà không có các nước lớn, cả trong kinh tế và các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội

Cuối cùng và không thể thiếu, đó là toàn cầu hóa chỉ có thể diễn ra và hướng đến quy

mô toàn cầu, nó biến các quốc gia và các khu vực trên thế giới trở thành một mạng lưới, một thành tố của nó Lý giải cho đặc điểm này, theo chúng tôi, vì toàn cầu hóa mang bản

chất tư bản chủ nghĩa, mà “chủ nghĩa tư bản không thể hoạt động được trong một nước

riêng lẻ” – nó cần thị trường, nhân công và nguyên liệu để vận hành nền kinh tế của mình,

do đó, toàn cầu hóa là điều chắc chắn phải xảy ra và quy mô toàn cầu là hiển nhiên khi chủ

nghĩa tư bản phát triển đến quy mô lớn nhất của nó Nói cách khác, “toàn cầu hóa là tất

yếu cho sự sống còn của chủ nghĩa tư bản”6

1.1.2 Đặc điểm và bản chất

1.1.2.1 Đặc điểm

Từ việc xác định các nội hàm của toàn cầu hóa, cũng như trong quá trình xem xét các nội dung của nó trên các lĩnh vực cụ thể như kinh tế, chính trị và văn hóa – xã hội, chúng tôi rút ra những đặc điểm chính của tiến trình/hiện tượng này như sau:

Thứ nhất, ngay trong nội hàm của khái niệm toàn cầu hóa mà chúng tôi đã phân tích ở phần trước cũng đã cho thấy nó là một tiến trình/hiện tượng biểu hiện rất đa dạng Sự đa dạng ấy thể hiện trên hai khía cạnh chủ đạo – đó là sự đa dạng trong các tầng cấp, cấu hình và trong các bề chiều, góc độ

Đầu tiên, chúng ta xem xét sự đa dạng về tầng cấp, cấu hình Toàn cầu hóa có các tầng

cấp hoạt động khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng điều chỉnh và các mối quan hệ cụ thể

6 Michalet, Charles – Albert (2005) Suy nghĩ về toàn cầu hóa Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng Tr.16

Trang 21

mà sự phân cấp được biểu hiện ra bên ngoài, thông qua các thiết chế kinh tế - tài chính kết hợp với sức mạnh của các cơ cấu quyền lực khác nhau Trong đó, sự khác biệt của các cấp

độ chủ yếu nằm ở phạm vi điều chỉnh và giới hạn của sự điều chỉnh Cụ thể, với cấp độ khu vực – chúng ta có các tổ chức như ASEAN, EU, NAFTA, …, với cấp độ toàn cầu – chúng ta có IMF, WB, WTO, … Tuy nhiên, trên bình diện của quan hệ kinh tế quốc tế, sự phân cấp của toàn cầu hóa còn được hiểu là tình trạng liên kết của các chủ thể với nhau,

mà biểu hiện của nó là sự hình thành các cam kết thúc đẩy tự do thương mại và tự do tài chính Trong cách phân cấp này, khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết thấp nhất (đặc trưng bởi việc các nước thành viên áp dụng một biểu thuế quan thống nhất hay dỡ bỏ hàng rào thuế quan, hàng hóa và dịch vụ tự do giữa các nước), sau đó đến đồng minh thuế quan (thiết lập luôn cả với các nước ngoài khối), thị trường chung (vốn, lao động được tự

do di chuyển) và cao nhất hiện nay là liên minh kinh tế

Các cấp độ của toàn cầu hóa hay sự phân tầng liên kết trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay cho thấy một thực tế là: Toàn cầu hóa có cấu hình chính là cấu hình liên quốc gia Logic điều tiết chủ đạo của cấu hình (hay còn được hiểu là nguyên tắc điều tiết) được tạo lập trên cơ sở của chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế Nguyên tắc này dựa trên những khác biệt về năng suất trong các ngành sản xuất giữa các lãnh thổ quốc gia Sự chênh lệch về trình độ giữa từng nước đã sinh ra hiện tượng này Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, nếu chỉ có cấu hình liên quốc gia, toàn cầu hóa sẽ không thể được hiểu một cách đủ đầy và trọn vẹn, do đó, quan niệm của Charles A Michalet tỏ ra hợp lý hơn khi chỉ ra các cấu hình khác, bổ sung và hỗ trợ cho cấu hình liên quốc gia, đó là cấu hình đa quốc gia và cấu hình tổng thể Trong đó, cấu hình đa quốc gia có bề chiều chủ đạo là tính lưu động của sản xuất hàng hóa và dịch vụ, được duy trì bằng logic tranh đua và các tập đoàn đa quốc gia (hay xuyên quốc gia) là những tác nhân chủ yếu của toàn cầu hóa; còn cấu hình tổng thể được đặc trưng bởi sự chủ đạo của bề chiều tài chính, tồn tại nhờ vào logic về sự sinh lời tài chính và các định chế tài chính tư nhân (quỹ trợ cấp, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm,

…) trở thành những tác nhân chủ chốt7

Tiếp theo, chúng ta xem xét tiếp đến sự đa dạng về bề chiều, góc độ Tùy thuộc vào vị

trí, địa vị và mục đích của mỗi cá nhân hay tập thể, toàn cầu hóa hiện lên với những mức

độ, góc độ và bề chiều khác nhau Trên góc độ kinh tế, toàn cầu hóa được hiểu là quá trình gia tăng của tự do hóa về thương mại, tài chính và đầu tư Trên góc độ chính trị, toàn cầu hóa gắn liền với các thiết chế kinh tế - tài chính và những chính sách tân tự do của các chính phủ Ở góc độ văn hóa – xã hội, người ta nhìn thấy một sự đồng dạng có tính toàn cầu của các lý tưởng và tri thức Với bề chiều của quân sự và an ninh, toàn cầu hóa được nhìn nhận thông qua sự gia tăng chạy đua vũ trang, đẩy mạnh hợp tác song phương và đa

7 Michalet, Charles – Albert (2005) Sđd Tr.35-38

Trang 22

phương về quốc phòng, mối quan hệ biện chứng giữa các tập đoàn vũ khí ở phương Bắc

và các cuộc chiến tranh ở phương Nam, …

Như vậy, sự đa dạng về tầng cấp, cầu hình, bề chiều và góc độ như đã phân tích cho thấy toàn cầu hóa là một tiến trình/hiện tượng rất đặc biệt Nó đặc biệt không chỉ bởi quy

mô toàn cầu, cũng không phải bởi sự phức tạp, đan xen giữa các bối cảnh và điều kiện hình thành, mà còn bởi các cấp độ biểu hiện, các bề chiều vận động và phát triển bên trong nó Chính từ sự đặc biệt này đã quy định thái độ ứng xử rất khác nhau khi con người đối diện trước toàn cầu hóa, có người ủng hộ nhưng cũng có người từ chối, có người khuyến khích nhưng cũng có người tẩy chay Phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới ra đời từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước có nguyên nhân trước nhất từ những phản ứng mâu thuẫn như thế

Thứ hai, toàn cầu hóa có tính tất yếu khách quan Bước sang nửa sau thập niên 1970, trên cơ sở của những thành tựu đạt được về tự động hóa, cách mạng khoa học – kỹ thuật (vốn ra đời từ nhu cầu trực tiếp của Chiến tranh thế giới thứ hai) đã chuyển đổi sang một định dạng mới – Cách mạng khoa học và công nghệ Chính những thành tựu của cuộc cách

mạng trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là “công nghệ tính toán, công nghệ viễn thông, kỹ

thuật số (Digitalisation) và Internet/WWW”8, … cũng như việc áp dụng phổ biến các công nghệ đó trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội đã tạo điều kiện, tiền đề trực tiếp thúc đẩy các thay đổi về lực lượng sản xuất Những chuyển biến của lực lượng sản xuất đã quy định

và chi phối quan hệ sản xuất Nói cách khác, quan hệ sản xuất thay đổi trong thời đại mới

là sự phản ánh, biểu hiện của những thay đổi của lực lượng sản xuất, mà đầu tiên và trên hết là sự xuất hiện của chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế (vốn là hệ quả của

sự gia tăng quyền lực, vai trò của các tập đoàn đa quốc gia) Tức là, mỗi quốc gia, hay rộng hơn là mỗi khu vực, sẽ được hoặc bị định hình vị trí của mình trong sự phân công lao động của quốc tế Không những thế, sự ra đời của các định chế kinh tế, thương mại và tài chính,

từ cấp độ khu vực như ASEAN, NAFTA, EU, … cho đến cấp độ quốc tế như WTO, WB, IMF, … cũng là một biểu hiện của sự thay đổi trong quan hệ sản xuất của kinh tế thế giới Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau: Để khai thác tất cả những lợi thế của mỗi quốc gia, quy trình công nghệ được phân chia thành những công đoạn và phân công cho xí nghiệp, chi nhánh đóng tại các nước trên thế giới tùy theo điều kiện cụ thể về trình

độ lao động, nguyên liệu và thị trường Không có gì là lạ khi “xe hơi được sản xuất ở Hoa

Kỳ có những chi tiết được làm ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Mexico và bất cứ nơi nào khác Xe hơi Nhật Bản thường có nhiều chi tiết sản xuất tại Mỹ hơn là những sản phẩm ở Detroit”9 Điều đó cho thấy một thực tế là: các công ty mẹ và các công ty chi nhánh ở các nước phát triển thường đảm nhiệm những quy trình đòi hỏi trình độ khoa học – công nghệ

8 Trần Quốc Hùng & Đỗ Tuyết Khanh (2002) Nhận diện nền kinh tế mới toàn cầu hóa TPHCM: NXB Trẻ Tr.17

9 Tạ Quang Hưng (chủ biên, 2013) Sđd Tr.943

Trang 23

cao, phức tạp, trong khi đó, các công ty chi nhánh hay các xí nghiệp địa phương ở các quốc gia đang phát triển đảm nhận nhiệm vụ gia công là chính, với các khâu ít phức tạp hơn và đơn giản hơn Không phải ngẫu nhiên mà Ấn Độ và Trung Quốc trong 20 năm trở lại đây

đã trở thành những “công xưởng” của thế giới, 2 quốc gia này (với lợi thế về nhân công và nguyên liệu) đã đánh bật các nhà máy ở những nước Mỹ Latinh như Mexico, Argentina, Brazil, … trong việc thu hút vốn đầu tư và nhận gia công thiết bị cho phần còn lại của hành tinh

Tất cả những điều vừa nêu về kinh tế - kỹ thuật đã cho thấy vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của sức sản xuất, đồng thời, cũng chính khoa học

và công nghệ, với tư cách là lực lượng sản xuất đặc thù đã trở thành động lực và tiền đề có tính chất quyết định cho một hiện tượng, tiến trình sẽ là xu thế tất yếu, chi phối mạnh mẽ

mọi mặt của đời sống trong những thập kỷ tiếp theo, mà chúng ta quen gọi là “Toàn cầu

hóa” (Globalization) Như vậy, quá trình chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động

quốc tế, về cơ bản, là “một tiến bộ có tính chất lịch sử”10 Nó khai thác tối đa sức mạnh tiềm tàng và lợi thế của từng quốc gia, từng khu vực Cho nên, toàn cầu hóa, với tư cách là một hiện tượng, một tiến trình là tất yếu của lịch sử Do đó, chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế quy định tính chất khách quan của toàn cầu hóa

Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa bị chi phối bởi các nước tư bản lớn và các TNCs Mặc dù toàn cầu hóa đề cập đến sự hội nhập của các hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa và

xã hội, nhưng nó không đồng đều và tương xứng ở mọi nơi và mọi lúc Điều đó có nghĩa

là toàn cầu hóa không thể mang lại lợi ích như nhau cho các quốc gia Cho nên, có lẽ, theo chúng tôi, vấn đề của các thiết chế toàn cầu như IMF, WB và WTO nằm ở vấn đề về quản trị (governance) – tức ai quyết định những gì chúng thực hiện, hay ta gọi đó là những chủ thể chi phối quá trình vận hành toàn cầu hóa là ai?

Chủ thể chi phối, kiểm soát toàn cầu hóa, chắc chắn không thể là những quốc gia đang phát triển, những dân tộc kém may mắn bởi định mệnh nghiệt ngã của tự nhiên, hay các cộng đồng bản địa thiếu vắng hỗ trợ từ chính phủ, mà nó đến từ những nước tư bản phát triển nhất và các ông lớn đến từ các tập đoàn xuyên quốc gia (nắm trong tay nguồn của cải khổng lồ) Trong đó, các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia là “kiến trúc sư” chính của công cuộc toàn cầu hóa, vì vậy, nhiều người vẫn gọi toàn cầu hóa hiện nay là toàn cầu hóa doanh nghiệp – lợi ích phần lớn thuộc về các doanh nghiệp, do các doanh nghiệp khởi xướng và chỉ đạo, thông qua bộ máy nhà nước và hệ thống kinh tế hiện hành Về bản chất, các công

ty, tập đoàn này là hình thức tổ chức chủ yếu của nền sản xuất thế giới trong kỷ nguyên mới, là hệ quả tất yếu của quy luật cạnh tranh gay gắt trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa,

họ phải không ngừng đổi mới và cải tiến sản xuất Vì thế, các công ty này luôn tạo ra một

10 Hồ Bá Thâm & Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011) Toàn cầu hóa – Hội nhập và phát triển bền vững Hà Nội: NXB

Chính trị Quốc gia.Tr.199

Trang 24

khối lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng lớn hơn, với số lượng nhân công ngày càng ít

đi, để thu về lợi nhuận độc quyền ngày càng cao nhất có thể Đó là chưa kể đến nguyên nhân chính trị - xã hội, khi mà các mô hình quản trị doanh nghiệp trước đó không còn phù hợp, nhà tư bản không thể duy trì cách thức bóc lột như cũ được nữa, cũng như không thể thực hiện hợp tác như cũ được nữa, … những điều ấy đặt ra yêu cầu cho sự thay đổi và mô hình công ty xuyên quốc gia hiện đại ra đời – vừa là sự kế thừa của mô hình độc quyền trước kia, vừa là sự sáng tạo trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa Các công ty này, cùng với các chính phủ trở thành hai mắt xích chính duy trì và phát triển toàn cầu hóa, đẩy tiến trình này trở thành một xu thế không thể đảo ngược

Thực tế cho thấy hay một thỏa thuận ngầm của các bên liên quan, Chủ tịch của IMF thường là người châu Âu và Chủ tịch WB là người Mỹ Chưa kể, sau khi kết thúc nhiệm

kỳ của mình, các vị lãnh đạo này thường trở về công việc của họ ở các tập đoàn tài chính

hay các ngân hàng lớn Những cá nhân này, do đó, “sẽ nhìn thế giới bằng con mắt của

cộng đồng tài chính”11, tức là quan điểm của những kẻ “bề trên” về tiền tài và quyền lực,

không có chỗ cho những “mối quan tâm về môi trường, dân chủ, quyền con người và công

bằng xã hội”12 Cho nên, chính sách của chúng đương nhiên phản ánh những lợi ích của những nhóm đó Do vậy, ngay từ đầu, chúng ta không thể mong cầu sự công bằng khi tham gia vào toàn cầu hóa, dù thật sự các chính phủ và quốc gia không thể làm khác đi được Thông qua các tổ chức quốc tế được thiết lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai như WB, IMF và WTO, các chủ thể trên nắm quyền lực vô hạn, với các quyết định mau lẹ của một

số người trong những phòng họp kín mà ảnh hưởng của chúng đã thay đổi sinh kế, phong tục và lối sống của hàng triệu con người trên khắp hành tinh

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, sự triển khai toàn cầu hóa không nằm ngoài quá trình phát triển có điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản từ sau năm 1945 đến nay Chủ nghĩa tư bản từ sau 1945 mang trong mình một định dạng mới, nếu không muốn nói là hoàn toàn khác với chủ nghĩa tư bản thuở sơ khai (thế kỷ XIV – XV) và chủ nghĩa tư bản giai đoạn độc quyền13 (cuối thế kỷ XIX – đầu XX), người ta gọi đó là chủ nghĩa tư bản nhà nước hay chủ nghĩa tư bản hiện đại Trong đó, nhà nước tư sản đã chuyển từ vai trò gián tiếp, bên ngoài, tạo môi trường sang vai trò trực tiếp, bên trong, quyết định sự vận động của các quá trình kinh tế - xã hội và cũng chính sự điều chỉnh về đường lối cũng như chính sách của chủ nghĩa tư bản trong điều kiện chuyển từ cổ điển sang hiện đại là một trong những nguyên nhân chính trị - xã hội thúc đẩy toàn cầu hóa Mối tương tác giữa nhà nước tư sản và thị trường tư bản, cũng như giữa nhà nước và các tập đoàn tư nhân độc quyền đã trở thành rường cột quan trọng chi phối, điều khiển hành vi của nhà nước đó trong không gian toàn cầu hóa

11 Stiglitz, Joseph E (2002) Toàn cầu hóa và những mặt trái TPHCM: NXB Trẻ Tr.27

12 Stiglitz, Joseph E (2002) Tr.28

13 Ở đây chỉ hình thức độc quyền tư nhân tư bản

Trang 25

Thứ tư, toàn cầu hóa là “con dao hai lưỡi” – vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho nhân loại Kỷ nguyên toàn cầu hóa chính thức được thừa nhận rộng rãi kể từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX nhưng những tranh cãi về nó thì đến nay vẫn chưa có hồi kết, bởi lẽ cùng một hiện tượng, một tiến trình nhưng những “người thành công” nhờ nó và những

“kẻ thất bại” do nó cũng đồng thời xuất hiện

Với những “người thành công”, toàn cầu hóa tỏ ra là một cơ hội tốt cho sự phát triển Thông qua toàn cầu hóa, mọi thứ đều trở nên “tự do” (kể cả đó là hàng hóa, dịch vụ, vốn hay con người) và chính sự “tự do” ấy mang lại thịnh vượng và vinh quang cho những ai, những nơi tiếp nhận nó một cách toàn diện và không toan tính Trên lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, thúc đẩy sản xuất với năng xuất cao hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhanh hơn, … và những điều đó cho phép những lực lượng ủng

hộ toàn cầu hóa có thể tự tin nói rằng: Toàn cầu hóa giúp giải quyết tất cả nhu cầu và vấn

đề của con người Vì sản xuất nhiều hơn có nghĩa là nhiều hàng hóa hơn và nhiều hàng hóa hơn có nghĩa là mức sống cao hơn và tốt hơn Trên lĩnh vực chính trị, toàn cầu hóa gắn liền với những thiết chế kinh tế - tài chính quốc tế như IMF, WB, WTO và những hiệp định đa quốc gia như FTAA Việc xây dựng và điều chỉnh các chính sách này tạo thành toàn cầu hóa chính trị14 và đến lượt mình, toàn cầu hóa chính trị xác lập một bộ “quy chuẩn” về cách ứng xử trong quan hệ quốc tế, trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, toàn cầu hóa kiến tạo nên một nền văn hoá đồng dạng cho toàn nhân loại, nó liên quan đến việc hình thành các chuẩn mực và kiến thức chung – nơi mà mọi người từ nhiều nơi, nhiều nền văn hóa khác nhau cùng liên kết với nhau trong một bản sắc tập thể, có tính toàn cầu Những tác động của toàn cầu hóa kinh tế, chính trị và văn hóa –

xã hội, với những mặt tích cực của mình, đã mang lại thành công và làm nên những bước phát triển thần kỳ cho một số quốc gia và khu vực, cũng như làm cho không gian của toàn cầu hóa thực sự mang tính “toàn cầu” Chính những thành công của một số quốc gia cũng như các số liệu minh chứng cho điều đó đã làm nổi bật hơn nữa “hào quang” của toàn cầu hóa, làm cho toàn cầu hóa trở thành câu trả lời duy nhất cho sự phát triển

Tuy nhiên, với những “kẻ thất bại”, toàn cầu hóa lại hiện ra là một thách thức to lớn, không những không tạo ra động lực cho phát triển mà còn có nguy cơ kéo cả quốc gia, khu vực vào vòng xoáy của tụt hậu, khủng hoảng và rối loạn Các chính sách của WB, IMF và WTO tại nhiều nơi tỏ ra không mấy khả quan, nếu không muốn nói là chính chúng gây ra khủng hoảng Bong bóng bất động sản vỡ tung, thị trường chứng khoán hỗn loạn, tình trạng bần cùng hóa ở mức cao, … là những hậu quả của quá trình tư nhân hóa một cách ồ ạt mà nguyên nhân là từ sự chỉ đạo của các thiết chế tài chính kể trên nếu các quốc gia đang gặp khủng hoảng (hoặc có nguy cơ lâm vào khủng hoảng) muốn một gói hỗ trợ từ các tổ chức

ấy Rõ ràng, IMF và WB đều được ra đời trên cơ sở của niềm tin cho rằng thị trường thường

14 Fernandez, Luis A (2008) Policing Dissent: Social Control and the Anti-Globalization Movement USA: Rutgers

University Press P.47

Trang 26

không hoàn hảo, nhưng giờ đây, cả hai (hay đúng hơn là IMF) đang quay lưng lại với tất

cả những điều vốn là cốt lõi kia và để cho thị trường tự điều chỉnh15 Hơn nữa, trên lĩnh vực chính trị, toàn cầu hóa cho phép quyền lực của các tập đoàn xuyên quốc gia (những

“chủ nhân” thật sự của tiến trình này) được khuếch trương ngày càng lớn, thậm chí, lũng đoạn và chi phối quyền lực của các nhà nước ở những nước đang phát triển Điều đó dẫn đến một hệ quả, là bất bình đẳng trong kinh tế kéo theo bất bình đẳng trong chính trị, nghĩa

là sự bất bình đẳng ấy không chỉ thể hiện qua vai trò của các tập đoàn xuyên quốc gia, mà còn trong việc triển khai bá quyền đế quốc lên phần còn lại của thế giới Chiêu bài “tự do”,

“dân chủ” trở thành cái cớ để các thế lực này sử dụng để đe dọa, kiểm soát và khống chế các nước nhỏ, nước nghèo Bên cạnh đó, trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, toàn cầu hóa rõ ràng có liên quan đến sự bành trướng của phim ảnh, âm nhạc, trang phục, ẩm thực và lối

tư duy theo chủ nghĩa tiêu dùng kiểu Mỹ Sự đồng dạng toàn cầu về văn hóa này thật sự đe dọa đến bản sắc và truyền thống của nhiều vùng trên thế giới, đặc biệt là nguy cơ đánh mất

đi những di sản quá khứ của các cộng đồng bản địa là rất lớn Tất cả những điều trên cho thấy một thực tế rằng: Toàn cầu hóa không chỉ là cơ hội, mà tại nhiều nơi nó là thách thức lớn đối với những quốc gia và khu vực không đủ sức đón nhận nó

Thứ năm, hiện tượng toàn cầu hóa không diễn ra đồng thời, cùng lúc ở nhiều địa điểm

trên thế giới, có những quốc gia và khu vực chủ động với nó, nhưng cũng có quốc gia và khu vực không sẵn sàng đón nhận nó, điều này kéo đến một hệ quả là lợi ích giữa các quốc gia và khu vực sẽ khác biệt nhau trong khi cùng trải qua một quá trình toàn cầu hóa Bước sang thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại là một quá trình thay đổi về mô thức vận hành nền sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó, ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, các nước nghèo, tình trạng lạc hậu của sản xuất, thấp kém của quản lý vẫn còn tồn tại dai dẳng

Có thể nói, các nước tư bản phát triển nhất đã đi trước rất nhiều bước trong cuộc đua mang tên “toàn cầu hóa” Họ nắm trong tay vốn, kỹ thuật và công nghệ Họ kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu cùng các công cụ hỗ trợ khác Nói tóm lại, họ hoàn toàn chủ động

và có lợi thế tuyệt đối khi đối diện trước toàn cầu hóa, họ như là những “chủ nhân” của toàn cầu hóa và toàn cầu hóa, đến lượt nó, mang lại cho họ nhiều lợi ích Xét riêng một mặt nào đó, sự triển khai kinh tế toàn cầu hóa cũng chính là sự triển khai kinh tế hàng hóa

tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu, mà chủ nhân của những định dạng này là các tập đoàn xuyên quốc gia, các công ty tư bản Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới

đã góp phần đẩy nhanh hơn nữa quá trình toàn cầu hóa, làm cho nó phổ quát với tốc độ chóng mặt, khiến nó trở thành một hiện tượng không thể đảo ngược trên hành tinh này Hơn nữa, sự ra đời của các quốc gia mới như là một hệ quả trực tiếp của các phong trào dân tộc giải phóng trong nửa sau thế kỷ XX, đã buộc các nước tư bản Âu châu và Bắc Mỹ

15 Stiglitz, Joseph E (2002) Sđd Tr.15-20

Trang 27

thay đổi về mặt nhận thức – các nước phương Tây không thể ứng xử đối với các quốc gia

Á – Phi – Mỹ Latinh như cũ được nữa, họ phải tìm một diễn ngôn thay thế, một giải pháp

mà ở đó lợi ích tư bản được duy trì và thậm chí là tiếp tục phát triển Họ đã bắt đầu với lý

thuyết “Trung tâm – Ngoại vi”16 (Core – Peripheral Theory) và củng cố nó bằng toàn cầu

hóa

Ở một chiều kích khác, các nước đang phát triển, các nước nghèo ở Á – Phi – Mỹ Latinh lại không có nhiều lợi thế khi tiếp nhận toàn cầu hóa Toàn cầu hóa với các nước đang phát triển vừa là cơ hội mà cũng vừa là thách thức (như đã phân tích), nhưng có vẻ như cơ hội thì ít mà khó khăn, thách thức lại quá nhiều Do đó, hầu hết các nước thuộc nhóm này đều phải trải qua một quá trình tương tự nhau, song song với toàn cầu hóa, đó là quá trình đi tìm một mô hình thích hợp để vừa tiếp nhận toàn cầu hóa như một vận hội cho phát triển, vừa đảm bảo việc gìn giữ bản sắc và lợi ích của quốc gia Chính di sản thực dân chủ nghĩa của quá khứ đã kéo theo các điều kiện khác biệt nhau giữa các nhóm nước và cũng chính các điều kiện khác biệt đó đã quy định sự khác biệt trong lợi ích giữa các nhóm nước, các khu vực trong kỷ nguyên toàn cầu hóa

1.1.2.2 Bản chất

Những đặc điểm mà chúng tôi đã phân tích bên trên là những gì khái quát nhất về toàn cầu hóa, thông qua các biểu hiện cũng như tác động, ảnh hưởng của tiến trình, hiện tượng này đến mọi mặt, mọi nơi trên thế giới Tuy nhiên, khi xem xét về bản chất cốt lõi của toàn cầu hóa thì lại là một câu chuyện khác Tùy thuộc vào hệ giá trị, ý thức giai cấp và vị trí của mỗi người, mà toàn cầu hóa hiện lên những bản chất rất khác biệt nhau Với chúng tôi, căn cứ vào những quan niệm của chủ nghĩa Marx, thì toàn cầu hóa thực sự mang những bản chất sau:

Thứ nhất, toàn cầu hóa mang bản chất kép – khách quan và chủ quan

Về mặt khách quan, toàn cầu hóa gắn liền với xu thế vận động, phát triển của nền sản

xuất xã hội, là kết quả phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất, thúc đẩy chuyên môn hóa

và phân công lao động quốc tế

Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người từ bao đời nay luôn là động lực thúc đẩy nền sản xuất của xã hội tiến lên những bậc thang phát triển Từ cuộc Cách mạng đá mới (Neolithic Revolution) chuyển từ hình thức săn bắt – hái lượm sang chăn nuôi – trồng trọt, cho đến các cuộc Cách mạng Công nghiệp (Industrial Revolution) thế kỷ XVIII và Cách mạng khoa học kỹ thuật (Scientific and Technological Revolution) trong các thế kỷ XIX

16 Hay còn gọi là lý thuyết Hệ thống thế giới hiện đại (Modern World-Systems Theory) Lý thuyết này được đề xuất

bởi nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ Immanuel M Wallerstein vào đầu thập niên 1970 Theo đó, các nước đang phát triển sẽ là “vùng ngoại vi” hỗ trợ đắc lực cho “vùng trung tâm” là các nước tư bản phát triển và là nhân tố quan trọng giúp các nước tư bản phát triển giải quyết những mâu thuẫn nội tại về kinh tế, xã hội [Xem thêm tại: Hồ Sĩ Quý

(2014) “Immanuel Wallerstein với lý thuyết hệ thống thế giới hiện đại và lý thuyết trung tâm - ngoại vi” Văn hóa Nghệ An Dẫn theo www.vanhoanghean.com.vn , truy cập vào ngày 05/04/2021]

Trang 28

và XX đã đưa loài người đi từ lao động bằng tay chân sang lao động bằng trí óc, toàn bộ nền sản xuất được tự động hóa và khoa học – công nghệ lúc này đã trở thành “cánh tay” đắc lực phục vụ cho sự phát triển, đồng thời, khoa học – công nghệ cũng đã trở thành lực lượng sản xuất Trình độ ngày càng cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao, do đó đã góp phần thúc đẩy phân công lao động, không chỉ trong nội bộ các xí nghiệp, các quốc gia, mà là ở quy mô toàn cầu – gọi là phân công lao động quốc tế Các quốc gia lúc này là một bộ phận của nền sản xuất thế giới, mỗi nước, mỗi khu vực có lợi thế riêng về các nguồn lực kinh tế - kỹ thuật nên sự chuyên môn hóa sản xuất lúc này còn

là điều kiện quyết định sự thắng thế của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu Trong thời cận đại, khi chủ nghĩa tư bản còn ở giai đoạn cổ điển (tự do cạnh tranh), thì chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động đã diễn ra Nói cách khác, chủ nghĩa tư bản không thể không hướng đến quy mô toàn cầu và nền công nghiệp của chủ nghĩa tư bản cũng thế Điều ấy khiến cho chúng tôi nhớ lại một nhận định của K Marx và F Engels

cách ngày nay gần 200 năm, trong công trình Hệ tư tưởng Đức (1845), rằng: “Công nghiệp

tồn tại được chỉ dựa vào phân công lao động và chỉ có phân công lao động mới phá vỡ tính địa phương nhỏ hẹp của nền sản xuất để thay vào đó là tính thế giới”17 Phân công lao động xã hội tách thương nghiệp ra khỏi sản xuất công nghiệp là một bước tiến quan trọng

để nền sản xuất xã hội đạt đến trình độ cao nhất và liên tục phát triển nhờ vào tính kế thừa, bảo lưu các giá trị của nó qua các giai đoạn phát triển của lịch sử Về điều này, K Marx

cũng có viết: “Chỉ khi nào sự giao tiếp trở thành một sự giao tiếp thế giới có công nghiệp

lớn làm cơ sở và chỉ khi nào mọi dân tộc đều bị lôi cuốn vào cuộc đấu tranh cạnh tranh thì việc bảo tồn những lực lượng sản xuất đã tạo ra mới được đảm bảo”18

Ở đây, các học giả tư sản hiện đại như Fernand Braudel và Immanuel M Wallerstein

đã hoàn toàn đồng thuận với các nghiên cứu của K Marx và F Engels, họ cũng đã chứng

minh rằng “nền kinh tế tầm cỡ thế giới” (hay “nền kinh tế toàn cầu”) là khuôn khổ cho sự

ra đời của chủ nghĩa tư bản19 Đặc biệt, khi xem xét cấu trúc của chủ nghĩa tư bản trong sự vận động của chính nó từ thế kỷ XIV đến nay, các học giả ấy cũng thừa nhận chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế, bên cạnh các yếu tố khác, là trụ cột của tăng trưởng kinh tế - xã hội, là điều kiện sống còn của chủ nghĩa tư bản Do đó, họ đã đi đến kết luận:

“Học thuyết về “chủ nghĩa tư bản chỉ trong một nước” là sai lầm, cũng như học thuyết về

“chủ nghĩa xã hội chỉ trong một nước” gắn bó chặt chẽ với Stalin cũng không thể đúng”20

Sự tất yếu phải mở rộng thị trường, nhân công, nguyên liệu tất yếu dẫn đến sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, hay nói cách khác, là làm xuất hiện toàn cầu hóa, như là một nhân tố khách quan và không thể đảo ngược

17 K Marx và F Engels: Toàn tập (1994) Tập 3 Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Tr.76

18 K Marx và F Engels: Toàn tập (1995) Tập 4 Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Tr.79

19 Michalet, Charles – Albert (2005) Sđd Tr.16

20 Michalet, Charles – Albert (2005) Sđd Tr.22

Trang 29

Về mặt chủ quan, toàn cầu hóa gắn liền với những chính sách (policies) và quá trình

hoạch định chính sách của các chính phủ, các quốc gia để ứng phó với nó

Trước đây, hệ thống chính trị của một nước sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra các chính sách nhằm xác lập, điều chỉnh, bảo vệ hoặc xóa bỏ các hành vi của những cá nhân và tập thể bên trong lãnh thổ quốc gia Điều đó có nghĩa là giới hạn điều chỉnh của các chính sách rất hạn chế, chỉ gói gọn trong không gian của địa phương và tối đa trong không gian của quốc gia Tuy nhiên, ngày nay, cùng với sự thay đổi của nền kinh tế, chính trị và xã hội của thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, các quốc gia không thể đơn thân độc mã trên hành trình phát triển, các nước buộc phải hòa mình vào “sân chơi” toàn cầu và

do đó phải chấp nhận các chính sách trong chương trình nghị sự của toàn cầu hóa Vì vậy, trong bối cảnh ấy, các chính sách cũng bị buộc phải thay đổi, mà một trong những thay đổi quan trọng đó chính là chuyển từ cấp độ quốc gia lên cấp độ quốc tế, tức thừa nhận sự có mặt của các tác nhân bên ngoài như là một khung tham chiếu quan trọng khi tiến hành hoạch định chính sách

Hoạch định chính sách là một quá trình phân tích có tính chính trị cực kỳ phức tạp mà kết quả của nó là sự ra đời của một chính sách Nó bắt đầu với những ý tưởng mà mọi người hoặc các nhóm lợi ích có được về các hành động mà họ muốn chính phủ thực hiện Nói cách khác, đây là những yêu cầu hoặc đề xuất của các nhóm lợi ích hoặc bởi các tác nhân khác đối với hệ thống chính trị về những gì nên làm và không nên làm đối với một số vấn đề cần được nhận thức21 Trong môi trường quốc tế ngày càng chịu tác động sâu sắc bởi toàn cầu hóa, các chính sách công của quốc gia đang được điều kiện hóa ở mọi nơi và những nhà hoạch định chính sách nhận thấy một thực tế là: Không thể tách rời các yếu tố bên ngoài, vì chúng luôn ảnh hưởng đến các quá trình chính trị và kết quả của chính sách Ảnh hưởng của các tập đoàn đa quốc gia, các cơ quan và tổ chức như WB, IMF và WTO, ngày càng trở nên quan trọng trong việc định hình các chính sách của các quốc gia Đặc biệt, với các nước đang phát triển, những ảnh hưởng ấy được thể hiện một cách rõ ràng hơn bao giờ hết vì những nước như thế rất dễ bị tổn thương trước các sự kiện và hành động toàn cầu, bị phụ thuộc nhiều vào cộng đồng quốc tế để được hỗ trợ tài chính và kỹ thuật

Landell Mills và Serageldin nhận định rằng: “Bởi vì các nước nghèo thường có nền chính

trị mỏng manh và hệ thống trách nhiệm giải trình yếu kém, với ít thể chế tự trị và ít quyền lực bù đắp do chính quyền trung ương thực hiện, các cơ quan bên ngoài đóng vai trò chính trị quan trọng vì chúng có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách của quốc gia”22

21 Zaei, Mansour Esmaeil (2014) “Globalization of National Policy-Making: An International Perspective” Public Policy and Administration Vol.13 No.2 P.331

22 Mills, P Landell & Serageldin, I (1991) Governance and the External Factor USA: World Bank, Proceedings

of the World Bank Annual Conference on Development Economics P.308

Trang 30

Cũng cần phải lưu ý thêm rằng, các vấn đề của quốc gia chẳng hạn như phúc lợi xã hội, môi trường, ma túy và thương mại đã dần dần bị quốc tế hóa để trở thành những vấn đề toàn cầu Điều này đã dẫn đến một hệ quả, đó là làm gia tăng các hợp tác xuyên quốc gia

về việc giải quyết những mối quan tâm ấy Từ góc độ quốc gia, điều này có nghĩa là chương trình nghị sự xây dựng chính sách có thể mang tính toàn cầu, nhưng việc hoạch định và thực thi chính sách vẫn mang tính quốc gia Do đó, chúng tôi cho rằng đã có một kiểu chơi mới giữa các tập đoàn với nền kinh tế của các quốc gia và thế giới Các vấn đề toàn cầu tương tác với các vấn đề quốc gia, đến lượt mình, các vấn đề quốc gia tương tác với các vấn đề của địa phương Toàn cầu hóa cho thấy rằng các mối quan hệ này ngày càng tương tác mạnh mẽ với nhau và dễ thâm nhập vào đời sống công chúng hơn, chính chúng chứ không phải điều gì khác đã trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện của các chính sách mới

Thứ hai, toàn cầu hóa mang bản chất không đối xứng Mặc dù biểu hiện trên nhiều tầng cấp, cấu hình và góc độ, nhưng bản thân toàn cầu hóa lại bộc lộ rõ nét tính chất không hài hóa, thiếu đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành nên chính nó, mà một trong số những

bộ phận ấy chính là cặp quan hệ giữa kinh tế và chính trị Điều đó cho thấy sự bất cập của các thiết chế chính trị toàn cầu trong việc hoạch định, triển khai và vận hành toàn cầu hóa Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rằng, sự xuất hiện của các thiết chế chính trị toàn cầu vừa là hệ quả, vừa là động lực thúc đẩy của toàn cầu hóa trên lĩnh vực kinh tế Từ IMF,

WB, WTO, WEF, G8, … (cấp độ toàn cầu) cho đến EU, NAFTA, ASEAN, … (cấp độ khu vực), dù ra đời vì bất kỳ lý do gì trong quá khứ, thì hiện nay, ít nhiều các thiết chế này đều

có liên quan đến toàn cầu hóa và phục vụ cho tham vọng toàn cầu của các chủ thể bên trong Tại mỗi quốc gia và khu vực, dù khác nhau về bối cảnh, điều kiện và tác nhân, nhưng các thiết chế này lại thực hiện cùng một chương trình nghị sự toàn cầu hóa kinh tế theo chủ thuyết tân tự do, bỏ qua mọi khác biệt để tiến tới thiết lập những định dạng chung nhất cho toàn thế giới, thật sự đã gây nên những hậu quả khôn lường Hơn thế nữa, trong vai trò và

vị thế của mình, các thiết chế ấy đã cùng với các tập đoàn xuyên quốc gia gây áp lực lên các chính phủ ở những nước đang phát triển và buộc các chính phủ phải cải cách thể chế sao cho phù hợp với cái định dạng mà các thiết chế chính trị toàn cầu đang kiến tạo Trong

đó, thị trường tự do là một trong những đặc trưng cốt lõi nhất của toàn cầu hóa, cũng là nội dung đầu tiên mà các thiết chế ấy buộc các nước đang phát triển phải thực hiện để tham gia vào toàn cầu hóa – nói cách khác, các nước này đã xé bỏ rào cản thương mại cho hàng hóa các nước tư bản chủ nghĩa phát triển dễ dàng thâm nhập thị trường nội địa, nhưng nghịch lý ở chỗ: các nước phát triển lại giữ lại hàng rào thương mại của chính họ

Chưa kể, toàn cầu hóa còn cho thấy một thực tế đáng lo ngại về những bất công trong phân phối và thụ hưởng thành quả Với các nước có ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ, mọi thứ có vẻ khá dễ dàng, nhưng với các nước nghèo, không nắm trong tay nguồn vốn hay các thiết bị khoa học – kỹ thuật, thì lại là một câu chuyện khác Các nước đang và chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi trong “sân chơi” của toàn cầu hóa, không những không

Trang 31

mang lại lợi nhuận cho sự phồn vinh mà còn có nguy cơ đánh mất chủ quyền và độc lập của dân tộc trước các làn sóng tư nhân hóa, tự do hóa một cách bất chấp dưới sự ủng hộ của các lực lượng quốc tế mang danh hội nhập, mở cửa Ở một góc độ khác, không cần phải là những nước đang phát triển, ở những nước phát triển nhất thế giới như nước Mỹ, thì toàn cầu hóa cũng tỏ ra không công bằng và thiếu bình đẳng, khi các chính sách của nhà nước luôn ưu tiên và hỗ trợ cho các doanh nghiệp độc quyền lớn có trong tay nguồn vốn lớn, nắm giữ nhiều trái phiếu của chính phủ và quan hệ mật thiết với giới chính trị gia, trong khi đó lại cản trở và tìm cách xóa bỏ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ 1930 đến

1980, mỗi năm nước này chứng kiến khoảng 15.000 doanh nghiệp đệ đơn phá sản, nhưng

từ 1984 cho tới nay, con số này tăng lên từ 60.000 đến 90.000 doanh nghiệp23 Điều đó cho thấy, bản chất thời đại đã thay đổi, sự phát triển của khoa học – công nghệ và tính chất khốc liệt của cạnh tranh trong xu thế toàn cầu hóa là kết quả cho hiện thực lịch sử ấy Không dừng lại ở đó, bản chất không cân xứng còn được thể hiện trong cấu trúc của nền chính trị toàn cầu đương đại Bởi vì toàn cầu hóa trên lĩnh vực chính trị không chỉ bao gồm các tổ chức quản trị toàn cầu vừa nêu với tư cách là những bộ khung quan trọng định hình nên cấu trúc kinh tế - xã hội cho toàn cầu hóa kinh tế, mà nó còn biểu hiện trên bình diện của xã hội dân sự quy mô quốc tế Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy có sự bất bình đẳng đáng kể giữa các cơ quan của xã hội dân sự xuyên quốc gia về nguồn lực, ảnh hưởng và khả năng tiếp cận các trung tâm chính của quá trình ra quyết định toàn cầu Cụ thể là các tập đoàn đa quốc gia, như Rupert Murdoch’s News International, có khả năng tiếp cận các trung tâm quyền lực và khả năng định hình chương trình nghị sự toàn cầu nhiều hơn so với Mạng lưới Hành động Rừng nhiệt đới24

Thứ ba, bản chất tư bản chủ nghĩa là điều không thể chối cãi khi nhắc đến toàn cầu hóa Như ở đã phân tích ở những nội dung trước, quá trình triển khai của nền kinh tế trong không gian toàn cầu hóa không gì hơn ngoài sự mở rộng của chủ nghĩa tư bản ra phạm vi toàn thế giới Bản chất ấy được thể hiện trước hết ở việc các nước tư bản phát triển nhất nắm trong tay khả năng chi phối thị trường thế giới, kiểm soát các quá trình sản xuất, phân luồng giao lưu hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư cho phần còn lại của thế giới Sự phụ thuộc của phần còn lại đó ngày càng trở nên chặt chẽ và cho thấy các đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc vẫn khó có thể bị xóa nhòa Trong suốt thập niên 1990, 80% và 60% lần lượt là những con số cho thấy tỷ lệ hàng hóa và dịch vụ đến từ các nước phương Tây và Nhật Bản trong tổng giá trị ngoại thương của Malaysia và Thái Lan25 Các con số ấy chỉ ra một thực tế ở

23 Trần Quốc Hùng & Đỗ Tuyết Khanh (2002) Sđd Tr.71

24 Baylis, J., Smith, St & Owens, P (1997) The Globalization of World Politics: An Introduction to International Relations UK: Oxford University Press P.90.

25 Kim Ngọc (2002) Kinh tế thế giới năm 2001-2002: Đặc điểm và triển vọng Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia

Tr.98

Trang 32

các nước đang phát triển, những nước trải qua quá trình công nghiệp hóa một cách vội vàng

để bắt kịp cái gọi là xã hội “hiện đại” theo kiểu phương Tây

Cũng cần phải làm rõ rằng, trong số các chủ thể kiểm soát toàn cầu hóa như các nước

tư bản phát triển và các tập đoàn xuyên quốc gia, nổi lên vai trò trung tâm của nước Mỹ

Ngày nay, Mỹ quốc đang ở vị trí chỉ huy của một đế chế toàn cầu “Nó có sức mạnh lớn

hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong việc xác định bản chất của sự hội nhập chính trị, văn hóa và kinh tế Nó cũng có quyền lực lớn hơn bất kỳ tổ chức quốc tế nào đang tạo ra các quy tắc để định hướng bản chất của sự hội nhập và lan tỏa”26 Nếu như người ta thường nói “Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế quốc Anh” để chỉ về thời đại hoàng kim của quốc đảo này khi nó tạo ra một thế giới tương đối thống nhất về mặt hành chính, thì với Hoa Kỳ (“con đẻ” của nước Anh), thì mọi chuyện không hoàn toàn tương tự Theo Nial Ferguson (một nhà sử học người Anh), Hoa Kỳ lớn hơn Anh Quốc rất nhiều về quyền lực, phạm vi

và quyền kiểm soát Nó là một lực lượng lớn chi phối toàn cầu hóa nói riêng và thế giới nói chung hơn bất kỳ đế chế nào khác trong quá khứ27 Nếu chúng ta muốn hiểu quá trình toàn cầu hóa trong thế giới ngày nay, chúng ta phải hiểu bản chất của đế chế hùng mạnh nhất này, các quy tắc mà nó đang tạo ra và thực thi chi phối bản chất của các hoạt động giao lưu kinh tế, chính trị và văn hóa

Điều đó không có nghĩa là những chủ thể bên ngoài vùng trung tâm, đặc biệt là những vùng ngoại vi, không thể ảnh hưởng đến kết quả của quá trình toàn cầu hóa, tuy nhiên, họ hiếm khi ở vị trí để tạo ra và thực thi những quy tắc chi phối sự hội nhập này, họ chủ yếu phản ứng với chúng Đã có lúc bản chất của sự hội nhập này được gọi là Tây hóa (westernization), hoặc nó thậm chí còn được ngụy trang nhiều hơn dưới thuật ngữ phát triển (development) hoặc hiện đại hóa (modernization) Ngày nay, cùng với Trật tự Thế giới Mới do chính quyền Bush công bố lần đầu tiên sau sự sụp đổ của Liên Xô (đối thủ cạnh tranh chính) và kết thúc Chiến tranh lạnh, giờ đây chúng ta có chương mở đầu gần đây nhất cho kỷ nguyên toàn cầu hóa Như vậy, toàn cầu hóa rõ ràng bản thân nó không có tốt hay xấu Nó có sức mạnh mang lại rất nhiều điều tốt Nhưng nó đã bị lợi dụng để mang lại quá nhiều lợi ích cho một số người và làm bần cùng phần lớn những người khác, bởi bản chất giai cấp của chính nó – bản chất tư bản chủ nghĩa (được biểu hiện cụ thể qua vai trò trung tâm của nước Mỹ và các tập đoàn tư nhân)

Tóm lại, toàn cầu hóa hiện nay, một mặt mang bản chất khách quan, tất yếu của nền sản xuất xã hội đạt trình độ cao với chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động quốc tế; mặt khác, nó được thúc đẩy và định hướng theo lợi ích của chủ nghĩa tư bản, chủ yếu mang bản chất của chủ nghĩa tư bản Cho nên, về cơ bản, hiện tượng toàn cầu hóa hiện nay diễn

ra trong một hệ thống đầy mâu thuẫn, vừa tạo ra các cơ hội, vừa đặt ra những thách thức

26 Iadicola, Peter (2008) “Globalization and Empire” International Journal of Social Inquiry Vol.1 No.2 P.6

27 Iadicola, Peter (2008) Id P.7

Trang 33

cho các quốc gia và khu vực tham gia vào tiến trình, hiện tượng này Những mâu thuẫn trong quá trình triển khai toàn cầu hóa có thể được khái quát trên những điểm chính sau:

Mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo; giữa nước phát triển cao và nước kém – đang phát triển; giữa phát triển hay không phát triển; giữa phát triển hay tụt hậu; giữa phát triển bền vững hay phát triển thụt lùi Những mâu thuẫn ấy quy định bản chất của các cuộc

đấu tranh chống lại chủ nghĩa toàn cầu, chống lại toàn cầu hóa, là căn nguyên để lý giải các hiện tượng phản kháng lại những thiết chế toàn cầu trong những năm đầu thế kỷ XXI

và có lẽ là trong nhiều thập niên tới, cho đến khi nào toàn cầu hóa và những lực lượng tham gia vào tiến trình này giải quyết được những mâu thuẫn tồn tại bên trong nó

1.2 “Chống toàn cầu hóa” – Một hệ quả của toàn cầu hóa

1.2.1 Khái niệm

Nếu như toàn cầu hóa là một thuật ngữ gây ra những tranh cãi không hồi kết về mặt khái niệm, đặc điểm và bản chất thì chống toàn cầu hóa (với tư cách là một phản đề của toàn cầu hóa) cũng tạo nên những vấn đề tương tự Trước hết cần phải khẳng định rằng: Chống toàn cầu hóa (Anti – Globalization) là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa, nói cách khác là toàn cầu hóa sinh ra chống toàn cầu hóa Do bản chất hai mặt của toàn cầu hóa mà chống toàn cầu hóa xuất hiện và vì toàn cầu hóa không thể bị đảo ngược nên chống toàn cầu hóa cũng thế

Với những người ủng hộ toàn cầu hóa, thì chống toàn cầu hóa là những gì cực đoan, phản cách mạng và phản tiến bộ, điều này tất yếu dẫn đến một kết quả: Phong trào chống toàn cầu hóa là tập hợp của những gì phản động nhất từng được biết đến trong lịch sử (sau chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít) Tuy nhiên, mọi việc có lẽ không đơn giản như thế, vì nếu chỉ có thế, chống toàn cầu hóa đã không thể tồn tại cùng toàn cầu hóa, song hành trong mỗi chặng đường và phát triển mạnh mẽ cho đến tận hôm nay Các học giả trên thế giới, kể từ khi ý thức được sự xuất hiện của phản đề này, đã đi tìm cho nó một tên gọi chính thức, đã cố gắng phác họa bức tranh toàn cảnh của nó (từ suy nghĩ đến hành động,

từ lý luận đến thực tiễn) với những đặc điểm và biểu hiện khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới Trong vô vàn cách tiếp cận, chúng tôi đưa ra định nghĩa của “Chống toàn cầu hóa” trên hai bình diện: lý luận (học thuyết) và thực tiễn (hành động)

Ở phương diện lý luận, “Chống toàn cầu hóa” là một hệ tư tưởng hoặc một hệ thống

các quan điểm trong đó những cá nhân, tổ chức trên phạm vi quốc gia và quốc tế chia sẻ

sự phối hợp, tổ chức và vận động đấu tranh chống lại chủ nghĩa tân tự do và quyền lực chính trị của các tập đoàn xuyên quốc gia (vốn được bao bọc trong “cái vỏ” mỹ miều của khái niệm “Toàn cầu hóa”)28 Chúng ta cũng có thể xem “Chống toàn cầu hóa” là một triết

lý chính trị với quan niệm bác bỏ hệ thống kinh tế và thương mại toàn cầu hiện tại vì tin

28 Dẫn theo https://www.oxfordreference.com/view/10.1093/oi/authority.20110803095416887 (truy cập ngày 18/04/2021).

Trang 34

rằng nó làm suy yếu các giá trị và những quan tâm về môi trường, quyền lao động, chủ quyền quốc gia và lợi ích của các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba29 Vì tồn tại dưới định dạng của một hệ tư tưởng (thuôc phạm trù ý thức xã hội), cho nên “Chống toàn cầu hóa” lúc này không chỉ là mục tiêu và động lực của phong trào chống toàn cầu hóa (sẽ được làm

rõ ngay sau đây) mà còn là nội dung hướng đến của nhiều phong trào xã hội khác diễn ra cùng thời điểm (thập niên 1980 – nay), nhưng với mức độ, cường độ và sự quan tâm có khác nhau đôi chút giữa các phong trào - Chẳng hạn như, phong trào giải phóng dân tộc (National Liberation Movement), phong trào công nhân (Labour Movement), phong trào cộng sản (Communist Movement) và phong trào dân chủ hóa (Democratization Movement), …

Định nghĩa bên trên là chỉ dấu nhận biết những người mang trong mình tư tưởng chống toàn cầu hóa cũng như phân biệt họ với các nhóm xã hội khác – những nhóm bất bình, phản kháng lại toàn cầu hóa nhưng không ý thức được đối tượng phản đối của mình là ai

và bao gồm những ai Cụ thể, những người chống toàn cầu hóa “không nhất thiết phải

chống lại thương mại hoặc hội nhập kinh tế toàn cầu”, họ cũng không “bác bỏ những lợi ích mà ngay cả những hình thức toàn cầu hóa hiện nay đã mang lại”30 Nhiều người trong

số đó ủng hộ và thừa nhận lợi ích từ kỷ nguyên kỹ thuật số, đặc biệt là việc tạo ra và phát triển mạng lưới Internet - môi trường thuận lợi cho các tranh luận chính trị và tìm kiếm đồng minh Họ cất lên tiếng nói phản đối chủ nghĩa tập đoàn trị đang ngày càng trở nên thịnh hành trên khắp hành tinh, họ chống lại những quyết định của các chính phủ, các định chế quốc tế (như WTO, WB, IMF, …) vốn đang dần hợp pháp hóa sự lũng đoạn của các công ty xuyên quốc gia, họ đòi hỏi các chính phủ và các tổ chức quốc tế phải quan tâm hơn đến những vấn đề về môi trường và lao động Tóm lại, những người chống toàn cầu hóa mong muốn có những giải pháp thay thế cho một hệ thống thế giới hiện hành do các tập đoàn tư bản thống trị và chuyển đổi xã hội theo hướng hội nhập một cách dân chủ hơn

Ở phương diện thực tiễn, “Chống toàn cầu hóa” đề cập đến một phong trào xã hội rộng rãi trên quy mô quốc tế nhằm hiện thực hóa giấc mơ dân chủ và công bằng của những thành phần xã hội chịu tác động tiêu cực từ toàn cầu hóa Nói cách khác, “Chống toàn cầu hóa” lúc này không còn nằm trong suy nghĩ, ý thức nữa mà đã trở thành một hành động có tính tập thể cao (dù được tổ chức hay không, hoặc được tổ chức ở mức độ nào đi chăng nữa) nhằm khắc phục, thủ tiêu mặt tiêu cực của toàn cầu hóa và tiến tới duy trì sự tiến bộ, mặt tích cực của hiện tượng, tiến trình này Tuy vậy, ở phương diện trên, một tranh luận đã xảy ra: Chống toàn cầu hóa có đủ điều kiện để được xem là một phong trào xã hội hay không?

Để trả lời được câu hỏi có tính chất định danh này, chúng ta cần làm rõ khái niệm

“Phong trào xã hội” (Social Movement) Vì là một đối tượng của nhiều ngành khoa học,

29 Dẫn theo https://www.yourdictionary.com/anti-globalism (truy cập ngày 18/04/2021)

30 Derber, Charles (2002) People Before Profit: The New Globalization in an Age of Terror, Big Money, and Economic Crisis USA: St Martin's Press P.16.

Trang 35

cho nên, cũng giống như toàn cầu hóa, phong trào xã hội cũng có nhiều cách hiểu Theo

Catherine Eschle, một nhà chính trị học người Anh, thì phong trào xã hội là “một hệ thống

những hành động tập thể, trong đó có các phương tiện khác nhau, mục đích và hình thức đoàn kết khác nhau, tổ chức chặt chẽ hoặc không Nói cách khác, phong trào xã hội là các quá trình đang diễn ra trong đó các cá nhân khác nhau xây dựng một khung tham chiếu, hình thành một bản sắc chung Qua đó, họ thiết lập mối quan hệ với nhau, định vị bản thân mình trong môi trường đó và được công nhận như một tập thể”31 Ở cách tiếp cận khác, trong xã hội học, Jonathan Christiansen cho rằng phong trào xã hội là thuật ngữ chỉ về

“một nỗ lực tự nguyện và có chủ đích để tổ chức các cá nhân hành động một cách nhịp nhàng, nhằm đạt được một mức độ ảnh hưởng đủ mạnh để tạo ra hoặc ngăn chặn sự thay đổi”32 Có thể thấy, định nghĩa của Eschle nhấn mạnh đến đặc trưng cơ bản nhất của các phong trào xã hội là những người tham gia nó, hưởng ứng nó và đại diện cho nó – một tập thể, tất nhiên, có nhiều điểm chung về danh tính và nghề nghiệp, địa vị xã hội và cùng nằm trong một hệ thống kinh tế nhất định Trong khi đó, định nghĩa của Christiansen lại nhấn mạnh đến mục đích của các phong trào xã hội – điều chúng ta quan tâm hơn bao giờ hết (sau lực lượng tham gia) ở một phong trào xã hội, đó là hướng tới sự thay đổi – thay đổi cái hiện có, xóa bỏ cái lỗi thời, cái không đúng hoặc không còn phù hợp, và tạo ra cái mới, tiến bộ, đúng đắn hoặc phù hợp hơn Cả hai định nghĩa được đưa ra, tuy không thật hoàn hảo nếu đứng riêng lẻ (do yêu cầu và đặc thù của ngành khoa học mà các tác giả tiếp cận), nhưng khi tích hợp lại đã tạo thành một khung tham chiếu, một thước đo quan trọng để hình thành cái mà chúng tôi gọi là những điều kiện của một phong trào xã hội, đó là bản sắc của những người tham gia và mục đích cuối cùng của nó Như vậy, nếu xét trên thước

đo ấy thì các hiện tượng chống đối toàn cầu hóa, hoàn toàn có thể định nghĩa như một phong trào xã hội

Những năm 80 của thế kỷ XX là một trong những thời điểm đặc biệt trong lịch sử nhân loại từ trước cho tới nay, bởi loài người không chỉ đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, mà còn trải qua những cuộc vận động xã hội sâu rộng chưa

từng có, với thực tiễn phát triển của các phong trào xã hội Trong đó, “Những phong trào

xã hội nhằm tập hợp nhau lại để tìm phương án khắc phục hạn chế của toàn cầu hóa đã bắt đầu hình thành”33 Ở cấp độ xuyên quốc gia, người ta có rất ít nghi ngờ rằng họ có thể tập hợp và trở thành một phong trào lớn mạnh chống lại sự bùng nổ mạnh mẽ của toàn cầu hóa Điểm khác biệt của phong trào chống toàn cầu hóa so với các phong trào xã hội trước

đó là sự quan tâm nhằm vào sự công bằng và nền dân chủ trên quy mô toàn cầu, chứ không phải là sự quan tâm nhằm vào quốc gia Chính điểm khác biệt này đã đưa các phong trào

31 Eschle, Catherine (2004) “Constructing the Anti - Globalization Movement” International Journal of Peace Studies Vol.9 N.1 P.65

32 Christiansen, J (2014) Theories of social movements USA: Salem Press P.17

33 Trần Duy Thùy Dương (2014) Phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới (luận văn Thạc sĩ Quan hệ quốc tế)

Hà Nội: Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tr.21

Trang 36

chống đối toàn cầu hóa trở thành một phong trào mới và là một trong những phong trào lớn, nổi bật của thể kỷ XXI34

Tuy nhiên, cho đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa có được sự thống nhất trong cách gọi tên cho hiện tượng này, dù ở bất kỳ phương diện tồn tại nào của nó (hệ tư tưởng, phong trào xã hội) hay sự khác biệt căn bản trong cách tiếp cận nó từ góc độ của các học giả, chính phủ và giới truyền thông Nhiều học giả (như Christian Fuchs, Della Porta, …) cho rằng: Gọi các sự kiện phản đối các tập đoàn đa quốc gia và các cơ chế hỗ trợ, hợp pháp cho

chúng là “Phong trào chống toàn cầu hóa” (Anti – Globalization Movement) là cái nhìn

đầy thiên kiến và một chiều, bởi cách gọi ấy quy định cách hiểu không đúng về phong trào

xã hội này – nhiều người khẳng định phong trào là sự phản ứng một cách bị động trước các

vấn đề mà nó đòi hỏi sự thay đổi, nhưng rõ ràng, trên thực tế, phong trào “hoàn toàn không

phải là sự phòng ngự và phản kháng bị động mà là một phong trào chủ động tìm kiếm dân chủ và công lý trên phạm vi toàn cầu” 35 Chưa kể, đối với những nhà hoạt động của phong trào này, họ cũng không đồng tình với cách gọi cuộc đấu tranh của mình là “chống toàn cầu hóa” Với họ, cách gọi đó bắt đầu được sử dụng bởi các chính phủ và giới truyền thông trong quá trình kiểm soát, hạn chế và thủ tiêu hoạt động của phong trào, cho nên tính chất

áp đặt là không thể tránh khỏi “Việc sử dụng các công cụ truyền thông tiên tiến và công

nghệ internet để kết hợp hoạt động qua biên giới là dấu hiệu cho thấy họ vẫn ủng hộ toàn cầu hóa”36 Để phản ánh các mục tiêu của mình, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa

thường sử dụng những thuật ngữ khác để gọi tên cho cuộc đấu tranh của họ như “Phong

trào Thay thế toàn cầu hóa” (Alter- Globalization Movement) hay “Phong trào Công lý toàn cầu” (Global justice movement)

Dù vậy, nhìn chung, cho tới nay, thuật ngữ “Phong trào chống toàn cầu hóa” vẫn được

sử dựng thường xuyên trong các sách báo, diễn đàn và học thuật kể từ sau sự kiện phản đối

ở Seattle năm 1999 và ngày một lớn mạnh, thu hút đông đảo các lực lượng xã hội ở nhiều quốc gia và khu vực tham gia, trở thành một hiện tượng được dư luận thế giới quan tâm, chú ý và tranh cãi Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi sử dụng “Chống toàn cầu hóa” chủ yếu trên phương diện hoạt động thực tiễn, tức là hiểu nó với tư cách là một phong trào xã hội với quy mô quốc tế, có nguyên nhân và điều kiện, có mục tiêu và tổ chức, có các cá nhân và các nhóm xã hội tham gia một cách cụ thể và rõ ràng

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện

1.2.2.1 Nguyên nhân

• Nguyên nhân kinh tế

34 Trần Duy Thùy Dương (2014) Sđd Tr.22

35 Fuchs, Christian (2007) “Antiglobalization – Social Movement” Encyclopaedia Britannica Dẫn theo

www.britannica.com , truy cập ngày 18/04/2021

36 Trần Duy Thùy Dương (2014) Sđd Tr.23

Trang 37

Trong công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình, The Shock Doctrine: The Rise of

Disaster Capitalism (2007), Naomi Klein đã đặt cho toàn bộ quá trình phát triển của lý

thuyết và thực tiễn áp dụng tư tưởng tân tự do trong các xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu

hóa là “Chủ nghĩa tư bản thảm họa” (Disaster Capitalism) và thứ học thuyết tạo nên nó,

là học thuyết Shock (Shock Doctrine) Bằng cách dẫn người đọc đi từ những ý tưởng ban

sơ nhất về chữa trị tâm thần trong những năm 50 và 60 cho tới những ứng dụng trong thực

tế của các kinh tế gia Chicago ở những nước Mỹ Latinh, châu Á và Đông Âu, … Naomi

đã cho chúng ta thấy một bức tranh khủng khiếp của chủ thuyết thị trường tự do – thứ còn đáng sợ hơn chủ nghĩa phát xít gấp bội lần trông khi các chính phủ trên thế giới vẫn ngày ngày kiến tạo Từ đó, bà ta bóc trần bản chất thật sự của toàn cầu hóa hiện nay là toàn cầu hóa doanh nghiệp, rằng chủ nghĩa tập đoàn trị đang dần thắng thế và tạo ra những bất ổn ở mọi nơi trên khắp hành tinh Đó cũng chính là căn nguyên quan trọng nhất làm xuất hiện các phong trào chống toàn cầu hóa hiện nay, vì như đã nói ở những phần trước – phong trào chống tòan cầu hóa không hoàn toàn chống lại tất cả các khía cạnh của tiến trình này,

nó là tiếng lòng chung của những người chịu tác động từ chủ nghĩa tập đoàn, nó đi tìm một hướng đi dân chủ hơn, hội nhập hơn cho tất cả mọi người Chính vì thế, nhiều nhà hoạt

động xã hội chống lại toàn cầu hóa tuyên bố rằng họ “phản đối chủ nghĩa tân tự do (một

biến thể của chủ nghĩa tư bản theo định hướng thị trường tôn sùng tự do thương mại, tự

do cá nhân)”37 và những thiết chế toàn cầu củng cố chủ thuyết đó Các thiết chế ấy bao

gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Khu vực Thương mại Tự do Châu Mỹ (FTAA), Hiệp định Thương mại Tự do Bắc

Mỹ (NAFTA), Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định đa phương về đầu tư (MAI) và Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), … cũng như các nhóm không chính thức như G8 và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nơi giới tinh hoa gặp gỡ để thảo luận về các chính sách kinh tế toàn cầu

Trong con mắt của các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có nguy cơ hoặc đang xảy ra khủng hoảng, IMF là một tổ chức gây nhiều tranh cãi Bởi vì các tổ chức như IMF vừa là những “vị cứu tinh”, nhưng cũng vừa là những “bầy thú săn mồi” sẵn sàng

“vồ” lấy các quốc gia trong cơn “hấp hối”; bởi thái độ trịnh thượng và có phần coi thường các nước đang phát triển vẫn luôn là một phần quan trọng trong văn hóa chính trị của các

tổ chức này; nhưng có lẽ, quan trọng nhất vẫn là bởi một thực tế rằng, IMF và các tổ chức

ấy đã không thể thay đổi tình hình tồi tệ của các nước Đông Âu đầu thập niên 90, không cứu được Malaysia trong cuộc khủng hoảng năm 1997, lúng túng trong sự đổ vỡ của thị trường tài chính Mỹ Latinh đầu thập niên 2000, tuyên bố sự thất bại của mình trong nỗ lực cứu Hy Lạp và Tây Ban Nha trong khủng hoảng năm 2008, … tất cả đã cho thấy sự áp đặt của họ không mang lại kết quả khả quan và căn nguyên của chúng đến từ tư tưởng tân tự

do của các tổ chức này IMF luôn “cố gắng tỏ ra là đứng ngoài chính trị”, nhưng rõ ràng,

37 Trần Duy Thùy Dương, Sđd, tr.28

Trang 38

“chính sách cho vay của IMF bị điều khiển phần nào bởi chính trị”38 Chúng ta có thể thấy rất rõ điều này trong thực tế, khi mà họ viện đủ lý do để không cho Kenya tiếp tục vay, trong khi lại sẵn sàng đổ hàng tỷ USD vào Nga và Trung Quốc Chính điều này đã tạo nên tiêu chuẩn kép của IMF và cũng chính nó đã làm cho họ trở thành “cái gai” trong mắt các nhà hoạt động xã hội, những người lao động nghèo - nạn nhân của thị trường tự do và rộng

ra, là toàn bộ phong trào chống toàn cầu hóa trên thế giới

Bên cạnh IMF, WTO cũng là một đối tượng thường xuyên của các phong trào chống toàn cầu hóa Tổ chức này ra đời trên cơ sở của GATTs nhưng là một cơ chế mở rộng của GATTs cả về số lượng thành viên, quy mô hoạt động và các biện pháp điều chỉnh Hơn 25 năm đã trôi qua kể từ khi ra đời vào năm 1994, WTO đã đạt nhiều thành tựu rất quan trọng, nhưng không vì thế mà nó được miễn trừ trách nhiệm trước những khó khăn mà các nước, chủ yếu là những nước đang phát triển, phải gánh chịu trong cuộc chơi thương mại Vì bản

chất của tiến trình gia nhập vào WTO là không công bằng Bởi “chẳng những một quốc

gia muốn trở thành thành viên phải tuân thủ tất cả các luật lệ của WTO, mà từng quốc gia thành viên còn được phép đòi hỏi nước xin gia nhập phải có thêm những nhân nhượng khác, được gọi là “WTO-cộng””39, tức là sự nhượng bộ không chỉ đối với tập thể mà còn

là với từng cá thể trong tập thể đó, để đổi lại sự ủng hộ Không có sự ủng hộ của các thành viên WTO có vai trò then chốt, chẳng nước xin gia nhập nào có thể được chuẩn y Từ đó, chúng tôi nhận định rằng: ngay từ đầu, bất bình đẳng đã diễn ra và các nước nhỏ, đang phát triển đã ở vào một vị trí rất bất lợi trong tổ chức này Những điều kiện do các nước giàu đặt ra bao gồm mở cửa nhanh chóng cho các nhà đầu tư quốc tế thâm nhập các lĩnh vực dịch vụ và chế tạo, bỏ hàng rào nhập khẩu, thậm chí còn bán nông phẩm với giá rẻ mạt, nhưng tuyệt nhiên, không bao gồm những nội dung về nhân quyền như bảo vệ lao động và môi trường

Nếu như tiến trình gia nhập tỏ ra không công bằng, thì quy trình ra quyết định của WTO

cũng không thể khác, “thiếu minh bạch, thiếu công bằng và không rõ ràng về phương diện

chịu trách nhiệm”40 là những từ khóa mà các nhà nghiên cứu về nó chỉ ra được Biểu hiện

rõ nhất cho điều này không gì cụ thể hơn là các cuộc họp của WTO với số lượng hạn chế người tham dự Nhưng đó vẫn chưa phải là điều đáng lo lắng nhất đối với các nước đang phát triển, bởi còn một thứ đáng lo hơn thế - chính là sự bành trướng thẩm quyền của WTO trên các lĩnh vực được cho rằng “có liên quan đến thương mại” Cụm từ này tạo cho WTO lợi thế rằng nó có thể can thiệp sâu vào hầu như mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vượt

qua mọi đường biên giới quốc gia, trông “chẳng khác gì một ‘chính phủ toàn cầu’”41 Thực

38 Stiglitz, Joseph E (2002) Sđd Tr.64

39 Oxfam Quốc tế (2004) Gia nhập WTO Tr.1

40 Nguyễn Văn Thanh (2000) Từ diễn đàn Seattle – Toàn cầu hóa và Tổ chức Thương mại thế giới Hà Nội: NXB

Chính trị Quốc gia Tr.29

41 Nguyễn Văn Thanh (2000) Sđd Tr.34

Trang 39

tế cho thấy, ngày càng có nhiều nội dung phi thương mại được đưa vào khung điều chỉnh của WTO

Sự hỗ trợ của WTO và IMF hay rộng ra là các định chế khu vực và quốc tế khác cho thương mại tự do, mà thực chất là các tập đoàn xuyên quốc gia, đã trở thành mạch chính trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Điều đó đã góp phần làm cho thế và lực của các tập đoàn này tiếp tục phát triển Xu hướng nhất thể hóa trở nên phổ biến với nhiều thương vụ xác nhập hàng trăm tỷ USD trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như truyền thông, ngân hàng, tài chính và giao thông vận tải Vai trò của các tập đoàn đối với các quốc gia và quan

hệ quốc tế cũng vì thế mà tăng lên không ngừng, đó chính là “động lực chính thúc đẩy toàn

cầu hóa nhưng cũng gây ra sự bành trướng quyền lực và bóc lột, khai thác triệt để các nguồn lực bên ngoài”42 Thậm chí, người ta còn không thể ngờ rằng, các cuộc khủng hoảng lại có thể kéo theo mức độ tư nhân hóa, tập đoàn hóa ngày một nhanh hơn Trước đây, chiến tranh và thảm họa chỉ đem đến cơ hội cho một khu vực hẹp của nền kinh tế (như các nhà sản xuất máy bay chiến đấu, hay các công ty xây dựng xây lại những cây cầu bị đánh bom), thế nhưng, ngày nay, các cuộc chiến tranh và hành động ứng phó với thảm họa được

“tư nhân hóa triệt để đến độ bản thân chúng chính là một thị trường mới; người ta không cần phải đợi đến sau chiến tranh mới có thịnh vượng: bản thân phương tiện đã là thông điệp” 43

Như vậy, về bản chất, các tập đoàn là nguyên nhân chính thúc đẩy toàn cầu hóa, cũng như là căn nguyên quan trọng nhất tạo nên nguyên nhân kinh tế của phong trào chống toàn cầu hóa Tư tưởng về thị trường tự do của Trường phái Chicago và sự hỗ trợ của các thiết chế kinh tế - thương mại là lớp “giáp” bảo vệ các tập đoàn dưới danh nghĩa của hiện đại,

phát triển và phồn vinh Như cách nói của Klein: “Những người marxist đưa đến miền đất

hứa cho người lao động, còn các kinh tế gia của Trường phái Chicago lại mở ra miền đất hứa cho các doanh nhân […] Thứ họ muốn không phải chính xác là một cuộc cách mạng,

mà là một cuộc cải tổ tư bản chủ nghĩa: quay lại với hình thái chủ nghĩa tư bản chưa bị nhiễm bẩn (bẩn ở đây được hiểu là mọi sự can thiệp của nhà nước hay bất kể chủ thể nào vào thị trường)”44

Tóm lại, trên khía cạnh kinh tế, phong trào chống toàn cầu hóa ra đời từ sự bất bình đẳng và không cân sức trong cạnh tranh thương mại giữa các nhóm nước, từ những thiệt thòi trong chính sách do bị áp đặt bởi các tập đoàn xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế, với những hậu quả không hề nhỏ, … đã tạo nên làn sóng bất bình ở khắp nơi trên thế giới Nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân quan trọng nhất và cũng từ nguyên nhân kinh tế mà xuất hiện các bất bình khác liên quan đến chính trị và văn hóa – xã hội

42 Trần Duy Thùy Dương (2014) Sđd Tr.31

43 Klein, Naomi (2007) Id P.22

44 Klein, Naomi (2007) Id P.68

Trang 40

• Nguyên nhân chính trị

Nhiều người cho rằng toàn cầu hóa kéo theo sự đổ vỡ của các mô hình quản trị truyền thống và buộc các xã hội phải tự điều chỉnh hoặc bị điều chỉnh sao cho phù hợp nhất đối với sự phát triển và hội nhập Tức là, họ đã vẽ lên những viễn cảnh bi đát cho sự tiêu vong của các quốc gia dân tộc trên đà tiến của toàn cầu hóa Khi chúng ta không biết hoặc không hiểu hết một điều gì đó, tâm lý đầu tiên là nỗi sợ Với toàn cầu hóa cũng thế, nhân loại đối diện với nó với những nỗi sợ thường trực và nỗi sợ đầu tiên chính là chủ quyền quốc gia

bị đe dọa Kể cả những người mới hôm qua còn công kích dữ dội sự tồn tại của nhà nước,

“coi đó là bọn quan liêu vô dụng chỉ biết ngốn ngân sách, hoặc đó là cỗ máy lố lăng nhằm tạo ra bất bình đẳng”45, thì giờ đây đang tập hợp lại để bảo vệ chính quyền và quân đội, chống lại sự chèn ép của các tập đoàn đa quốc gia Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và chính những lo lắng đó gây ra tâm lý lo sợ và tâm lý chống đối với toàn cầu hóa46 Đó là chưa kể đến bá quyền đế quốc ngày càng được củng cố một cách ngang ngược của nước Mỹ đã gây nên những lo ngại chính đáng cho không chỉ là các quốc gia Á – Phi – Mỹ Latinh, mà kể cả những nước vốn là đồng minh hoặc cùng chia sẻ các giá trị phương Tây với người Mỹ Những biểu hiện mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa ấy vừa là di sản của hàng trăm năm thực dân bòn rút và bóc lột các thuộc địa, vừa là kết quả của tự do hóa thương mại và đầu tư trên quy mô toàn cầu (vốn không chịu đựng các trở ngại của những đường biên truyền thống) Trên một bình diện khác, đó còn là sản phẩm của nền chính trị hiện thực, khi lợi ích quốc gia là tối thượng thì những gì đe dọa đến nó đều bị xem là mối đe dọa đến sự tồn vong

Điểm đặc biệt ở đây là, chính các nhà nước ấy, ở những nước đang phát triển, cũng tham gia vào mặt trận chống toàn cầu hóa Họ đại diện cho chính người dân của họ, trên một mức độ nhất định, cho lợi ích quốc gia của họ Bởi sự cạnh tranh khốc liệt của bối cảnh mới, bởi “luật chơi” đã không còn như trước Toàn cầu hóa cũng có nghĩa là phải mở cửa thị trường, dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài, loại bỏ các hạn chế đầu tư Do đó, nó vừa là thời cơ cho các doanh nghiệp trong một nước có thể tiếp cận với một thị trường thế giới rộng lớn hơn, tiếp cận được các nguồn cung nguyên liệu phong phú, đa dạng hơn, cũng như ứng dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, … nhưng, nó cũng vừa là một thách thức trực tiếp đối với các ngành kinh tế còn non yếu của quốc gia, vốn không có khả năng chống chọi lại sức cạnh tranh khủng khiếp từ bên ngoài Hậu quả tệ hại nhất có thể sẽ xuất hiện: nền sản xuất trong nước bị điêu đứng, hàng hóa ngoại quốc ngập tràn và thưa thớt hàng nội địa Những lúc như thế, vai trò của nhà nước được thể hiện, bằng các biện pháp bảo hộ ưu tiên, họ duy trì

“sự sống” cho các ngành kinh tế ấy, hỗ trợ các ngành này trong cuộc chơi thương mại Như

45 Michalet, Charles – Albert (2005) Sđd Tr.7

46 Trần Duy Thùy Dương (2014) Sđd Tr.34

Ngày đăng: 15/07/2021, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Friedman, Thomas L. (2001). Chiếc xe Lexus và cây Oliu. (Lê Minh dịch). TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếc xe Lexus và cây Oliu
Tác giả: Friedman, Thomas L
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
2. Guillochon, Bernard (2004). Toàn cầu hóa – Duy nhất một hành tinh, nhiều dự án khác nhau. (Ngân Điệp – Thu Trang dịch). TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa – Duy nhất một hành tinh, nhiều dự án khác nhau
Tác giả: Guillochon, Bernard
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2004
3. Hồ Bá Thâm & Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011). Toàn cầu hóa – Hội nhập và phát triển bền vững. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa – Hội nhập và phát triển bền vững
Tác giả: Hồ Bá Thâm & Nguyễn Thị Hồng Diễm
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
4. K. Marx và F. Engels: Toàn tập (1994). Tập 3. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: K. Marx và F. Engels: Toàn tập "(1994)." T
Tác giả: K. Marx và F. Engels: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1994
5. K. Marx và F. Engels: Toàn tập. (1995). Tập 4. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: K. Marx và F. Engels: Toàn tập
Tác giả: K. Marx và F. Engels: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1995
6. Keltner, Dacher (2021). Nghịch lý quyền lực – Tận hưởng là đánh mất. (Trần Trọng Hải Minh dịch). TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý quyền lực – Tận hưởng là đánh mất
Tác giả: Keltner, Dacher
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2021
7. Kim Ngọc (2002). Kinh tế thế giới năm 2001 – 2002: Đặc điểm và triển vọng. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới năm 2001 – 2002: Đặc điểm và triển vọng
Tác giả: Kim Ngọc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
8. Michalet, Charles – Albert (2005). Suy nghĩ về toàn cầu hóa. (Trương Quang Đệ dịch). NXB Đà Nẵng. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về toàn cầu hóa
Tác giả: Michalet, Charles – Albert
Nhà XB: NXB Đà Nẵng. Đà Nẵng
Năm: 2005
9. Nguyễn Phước Tương (1999). Tiếng kêu cứu của Trái Đất. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng kêu cứu của Trái Đất
Tác giả: Nguyễn Phước Tương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
10. Nguyễn Văn Thanh (2000). Từ diễn đàn Seattle – Toàn cầu hóa và Tổ chức Thương mại thế giới. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ diễn đàn Seattle – Toàn cầu hóa và Tổ chức Thương mại thế giới
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
12. Stiglitz, Joseph E. (2002). Toàn cầu hóa và những mặt trái. (Nguyễn Ngọc Toàn dịch). TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và những mặt trái
Tác giả: Stiglitz, Joseph E
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
13. Tạ Quang Hưng (chủ biên, 2013). Các nền văn minh thế giới – tập II: Từ năm 1750 đến nay. Hà Nội: NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nền văn minh thế giới – tập II: Từ năm 1750 đến nay
Nhà XB: NXB Văn học
14. Trần Quốc Hùng & Đỗ Tuyết Khanh (2002). Nhận diện nền kinh tế mới toàn cầu hóa. TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nền kinh tế mới toàn cầu hóa
Tác giả: Trần Quốc Hùng & Đỗ Tuyết Khanh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
15. Trung tâm ba châu lục – Diễn đàn thế giới của các phương án thay thế (2006). Toàn cầu hóa các cuộc phản kháng: Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2004 – 2005. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.Sách tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa các cuộc phản kháng: Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2004 – 2005". Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia
Tác giả: Trung tâm ba châu lục – Diễn đàn thế giới của các phương án thay thế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. "Sách tiếng Anh
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w