Lương Văn Hinh, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ than Phấn Mễ tới môi trường nước sinh hoạt tại thị trấn Giang Tiên , huyện Phú Lương, tỉnh
Trang 1Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Tài nguyên & Môi trường và thầy giáo hướng dẫn khoa học
PGS-TS Lương Văn Hinh, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ than Phấn Mễ tới môi trường nước sinh hoạt tại thị trấn Giang Tiên , huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.”
Để hoàn thành được đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo PGS-TS Lương Văn Hinh, sự giúp đỡ của lãnh đạo và
cán bộ Phòng Tài nguyên &Môi trường huyện Phú Lương, cùng toàn thể lãnh đạo và các công nhân viên trong khu mỏ than Phấn Mễ
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Lương Văn Hinh- thầy giáo hướng dẫn khoa học cùng toàn thể các thầy cô, cán bộ
khoa Tài Nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng các cán bộ Phòng Tài nguyên &Môi trường huyện Phú Lương, cùng toàn thể lãnh đạo và các công nhân viên trong khu mỏ than Phấn Mễ; các bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành đề tài này
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có những cố gắng nhưng do thời gian và năng lực còn hạn chế nên đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiết sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô
và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Bùi Thị Hồng Mai
Trang 2Bảng 4.1: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm 2011 tại Thái Nguyên 25
Bảng 4.2: Độ ẩm không khí trung bình tháng trong năm 2011 tại Thái Nguyên 25
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn Giang Tiên 27
Bảng 4.4: Dân số của thị trấn Giang Tiên 30
Bảng 4.5: Lao động và phân bố lao động trong thị trấn Giang Tiên 31
Bảng 4.6: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại Mỏ than Phấn Mễ 37
Bảng 4.7:Hàm lượng các yếu tố sinh hóa trong nước mặt tại mỏ than Phấn Mễ 38
Bảng 4.8: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại Mỏ than Phấn Mễ 40
Bảng 4.9: Hàm lượng các yếu tố sinh hóa trong nước ngầm tại khu vực mỏ than Phấn Mễ 41
Bảng 4.10: Kết quả phân tích chất lượng nước thải sản xuất của Mỏ than Phấn Mễ 41
Bảng 4.11: Kết quả phân tích các chỉ số sinh hóa trong mẫu nước thải 42
Bảng 4.12: Kết quả quan trắc môi trường nước mặt của các năm 2009, 2010, 2011, 2012 43
Bảng 4.13: Kết quả quan trắc các chỉ số sinh hóa trong môi trường nước mặt qua các năm 44
Bảng 4.14: Kết quả quan trắc môi trường nước ngầm của các năm 2009, 2010, 2011, 2012 45
Bảng 4.15: Hàm lượng các yếu tố sinh hóa trong nước ngầm tại khu vực mỏ than Phấn Mễ qua các năm 46
Bảng 4.16: Kết quả quan trắc môi trường nước thải của các năm 2009, 2010, 2011, 2012 46
Bảng 4.17: Kết quả phân tích các chỉ số sinh hóa trong mẫu nước thải qua các năm 47
Bảng 4.18: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 48
Bảng 4.19: Tỷ lệ các bệnh có liên quan đến nguồn nước sinh hoạt theo thống kê 49
Bảng 4.20: Các mức độ ô nhiễm của nước ngầm 50
Bảng 4.21: Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 50
Trang 3Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn Giang Tiên năm 2012 27
Hình 4.2: Sơ đồ quá trình khai thác than lộ thiên Mỏ than Phấn Mễ 34
Hình 4.3: Sơ đồ công nghệ khai thác hầm lò 36
Hình 4.4: Hàm lượng TSS trong các mẫu nước mặt 38
Hình 4.5: Hàm lượng As trong các mẫu nước mặt 38
Hình 4.6: Hàm lượng BOD5 qua các mẫu nước mặt 39
Hình 4.7: hàm lượng COD qua các mẫu nước mặt 39
Hình 4.8: Hàm lượng Pb trong các mẫu nước mặt 41
Hình 4.9: Hàm lượng TDS trong các mẫu nước mặt 41
Hình 4.10: Hàm lượng COD trong các mẫu nước thải 42
Hình 4.11: Hàm lượng TSS trong các mẫu nước thải 42
Hình 4.12: Hàm lượng COD trong mẫu nước mặt giữa các năm 44
Hình 4.13: Hàm lượng DO trong mẫu nước mặt giữa các năm 44
Trang 4ATLD An toàn lao động
BOD Nhu cầu o xy sinh hóa
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
COD Nhu cầu o xy hóa học
DO Hàm lượng o xy hòa tan trong nước HST Hệ sinh thái
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QLMT Quản lý môi trường
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCVS Tiêu chuẩn vệ sinh
Trang 51.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học về đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên khai thác than ở Việt Nam 10
2.3 Cơ sở thực tiễn 14
2.3.1 Tài nguyên nước ở Việt Nam 14
2.3.2 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Thái Nguyên 15
2.3.3 Chất lượng nước cho sinh hoạt ở nông thôn Việt Nam 17
2.3.4 Các giải pháp xử lý nước sinh hoạt 18
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.1.3 Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
Trang 6Lương, tỉnh Thái Nguyên 21
3.2.3 Quá trình phát triển của hoạt động khai thác than và hiện trạng khai thác than tại Thái Nguyên và địa bàn nghiên cứu 22
3.2.4 Chất lượng môi trường nước của mỏ than Phấn Mễ năm 2012 22
3.2.5 Hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường nước của mỏ than Phấn Mễ qua các năm 2009, 2010, 2011 22
3.2.6 Tình hình sử dụng nguồn nước của người dân xung quanh mỏ than Phấn Mễ 22
3.2.7 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi trường và đời sống gia đình, địa phương tại thị trấn Giang Tiên 22
3.2.8 Đề xuất các giải pháp xử lý 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp 22
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân về hiện trạng môi trường nước 23
3.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 23
3.3.4 Phương pháp tổng hợp so sánh và dự báo dựa trên số liệu thu thập được 23
3.3.5 Phương pháp kế thừa 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên của Mỏ than Phấn Mễ, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 24
4.1.1 Vị trí địa lý 24
4.1.2 Địa hình 24
4.1.3 Điều kiện khí tượng thủy văn 24
4.1.4 Các nguồn tài nguyên 27
4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 28
4.2.1 Thực trạng phát triển các ngành 28
Trang 74.2.4 Văn hóa – xã hội 32
4.3 Đôi nét về mỏ than Phấn Mễ 33
4.4 Đánh giá chất lượng môi trường nước 37
4.4.1 Chất lượng môi trường nước mặt của mỏ than Phấn Mễ 37
4.4.2 Đánh giá chất lượng môi trường nước qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012 của mỏ than Phấn Mễ 43
4.4.3 Tình hình sử dụng nguồn nước của người dân xung quanh mỏ than Phấn Mễ 47
4.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi trường và đời sống của gia đình, địa phương tại thị trấn Giang Tiên 49
4.5 Đề xuất giải pháp 50
4.5.1 Giải pháp về thể chế, chính sách 50
4.5.2 Giải pháp quản lý 51
4.5.3 Giải pháp công nghệ kỹ thuật 52
4.5.4 Giải pháp tuyên truyền giáo dục 52
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8ở các huyện trong tỉnh Khoáng sản ở Thái Nguyên có thể chia ra làm 4 nhóm: nhóm nguyên liệu cháy, bao gồm: than mỡ (trên 15 triệu tấn), than đá (trên 90 triệu tấn); nhóm khoáng sản kim loại, bao gồm kim loại đen (sắt có
47 mỏ và điểm quặng; titan có 18 mỏ và điểm quặng), kim loại màu (thiếc, vonfram, chì, kẽm, vàng, đồng,…); nhóm khoáng sản phi kim loại, bao gồm pyrits, barit, phốtphorit…tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn; nhóm khoáng sản
để sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm đá xây dựng, đất sét, đá sỏi… với trữ lượng lớn, khoảng 84,6 triệu tấn
Chúng ta biết rằng, bất kỳ hoạt động kinh tế hay hoạt động trong đời sống sinh hoạt thường ngày, con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng ta chưa thể thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch trong một sớm một chiều và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào, đặc biệt là than đá, dầu mỏ và khí đốt Quá trình khai thác và đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường Nếu như quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình khai thác than lại gây
ô nhiễm, suy thoái môi trường tự nhiên Bên cạnh đó, có những sự cố diễn ra ngày càng phức tạp không những làm cho môi trường ngày càng nguy cấp hơn mà nó còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người
Cùng với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, hoạt động khai thác than ngày càng được quan tâm và phát triển mạnh mẽ Mỏ than Phấn Mễ là một trong những khu vực khai thác của tỉnh Thái Nguyên nằm trên địa bàn thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương Mỏ than Phấn Mễ đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế xã hội, mang lại cho người dân nơi
Trang 9đây có được công việc ổn định thì hoạt động khai thác của mỏ than đã và đang gây ra một vấn đề đáng lo ngại về môi trường, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người dân Đó chính là nguồn nước tại khu vực này đang bị
đe dọa bởi hoạt động khai thác của mỏ than
Xuất phát từ những vấn đề cấp bách trên, từ nhu cầu thực tế, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên & Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên – PGS.TS Lương
Văn Hinh, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ than Phấn Mễ tới môi trường nước sinh hoạt tại thị trấn Giang Tiên , huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
- Đẩy mạnh công tác quản lý môi trường trong hoạt động khai thác than tại khu vực
1.2.2 Yêu cầu
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng khai thác than tại mỏ than Phấn
Mễ và ảnh hưởng tới môi trường khu vực phát tán ô nhiễm
- Các mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động của hoạt động khai thác quặng tại địa ban nghiên cứu
- Các biện pháp được đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
Trang 10- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
- Bổ sung tư liệu cho học tập
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra được các tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường nước để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước, cảnh quan và con người
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong khoáng sản
- Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học về đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Một số khái niệm về tài nguyên nước
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường Không có nước, cuộc sống trên Trái đất không thể tồn tại được Nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước
Nguồn nước là chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, mương, các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng tuyết và các dạng tích tụ khác
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo
Nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người + Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nước trong, không màu,
- Không có mùi vị lạ, không có tạp chất,
- Không chứa chất tan có hại,
- Không có mầm mống gây bệnh
2.1.1.2 Khái niệm ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
Như vậy, ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước
không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên như mưa rơi kéo theo bụi thải của các khu công nghiệp Ngoài ra, nước bị ô nhiễm còn phải kể đến sự có mặt của các xác
Trang 12động thực vật chết Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu là do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải,
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm là:
- Giảm độ PH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO2- và NO3- trong nước
- Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO
2-3 trong nước ngầm và nước sông do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat
- Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng
đi vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn
- Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu)
- Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là:
- Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước CHXHXNVN thông qua ngày 29/11/2005;
- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ xung nghị định
80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT;
- Nghị quyết số 41 – NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước;
- Quyết đinh 769/2009/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tổng kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản;
Trang 13- Quyết định số 35/2002/QĐ- BKHCN ngày 5/6/2000 của BKHCN về việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn);
- Quyết định số 34/2004/QĐ- BKHCN ngày 9/10/2004 về việc ban hành tiêu chuẩn Việt Nam;
- Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT
về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn);
- Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của BTNMT
về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường;
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) - Chất lượng nước- Lấy mẫu
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu;
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985) - Chất lượng nước- Lấy mẫu
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu;
- TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4: 1987) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo;
- TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối;
- QCVN 08: 2008/ BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt;
- QCVN 09: 2008/ BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm
- QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Hoạt động khai thác than trên thế giới
Hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng
đã và đang diễn ra rất lớn trên toàn thế giới, nhất là trong giai đoan hiện nay khi mà giá các loại nhiên liệu ngày càng tăng
Trang 14Than đá là nguồn nhiên liệu hoá thạch cung cấp cho các ngành công nghiệp năng lượng chủ yếu trên Trái đất, với tổng trữ lượng vào khoảng 700 tỉ tấn và có thể đáp ứng nhu cầu của con người trong vòng 180 năm Hiện nay, trên thế giới có khoảng 50 nước có trữ lượng than lớn nhất trong đó đứng đầu
là Mỹ, nước chiếm khoảng 27,1% trữ lượng than trên toàn thế giới; thứ hai là Nga (khoảng 17,3%); tiếp đến là Trung Quốc (12,6%); Ấn Độ (10,2%); Austrâylia (khoảng 8,6%) và Nam Phi (khoảng 5,4%) (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2006)[14]
Tại Hoa Kỳ, quốc gia có kĩ thuật cao trong công nghệ đã áp dụng nhiều dạng năng lượng trong hoạt động sản xuất công nghiệp và phục vụ cuộc sống của con người như sản xuất điện năng Trong đó, năng lượng do than đá cung cấp vẫn chiếm hàng đầu với 52% tổng số nhu cầu năng lượng của cả nước
Do công nghệ, kĩ thuật khai thác than đơn giản, nhu cầu tiêu thụ cao và giá thành rẻ hơn so với các loại nhiên liệu hoá thạch khác vì thế công nghiệp khai thác than đang trở thành ngành công nghiệp chủ yếu của nước này (Mai Thanh Tuyết, 2004)[16] Hàng năm, Hoa kỳ đầu tư cho công nghệ khai thác than lên đến 350 tỉ USD và hiện đang khai thác trên 75.000 mỏ Với công nghệ, kĩ thuật và số lượng mỏ lớn như vậy mỗi năm nước này có thể khai thác được khoảng trên dưới 1 tỉ tấn than nguyên khai, năm 2003 khoảng 1 tỉ tấn và đến năm 2004 là 1,2 tỉ tấn (Mai Thanh Tuyết, 2004)[16]
Tại Trung Quốc do nhu cầu tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng, Chính phủ nước này đã cho phép đẩy mạnh ngành công nghiệp khai thác than Tính đến năm 2006, ngành công nghiệp than nước này khai thác được khoảng 2,4 tỉ tấn than nguyên khai, đây là sản lượng khai thác lớn nhất từ trước đến nay của ngành than quốc gia này Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 80.000 mỏ than lớn nhỏ đang khai thác, tuy nhiên sản lượng than khai thác ở các mỏ than của Trung Quốc chỉ đạt mức trung bình (30.000 tấn/năm)
so với sản lượng khai thác tại các mỏ ở các quốc gia khác trên thế giới (Bộ Công thương, 2008)[12]
Khai thác than hiện nay đang là ngành công nghiệp mang lại lợi ích kinh tế rất cao, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, hậu quả của hoạt động khai thác than lại là vấn đề
Trang 15đáng được quan tâm trong những năm gần đây (vấn đề ô nhiễm môi trường do khai thác và nạn khai thác than trái phép tại nhiều nước có trữ lượng than lớn) Chỉ tính riêng Trung Quốc, nước có trữ lượng than đứng thứ 3 thế giới nạn khai thác than trái phép đang diễn ra bên ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách nước này Theo số liệu thống kê, hàng năm ngành than Trung Quốc phải gánh chịu, khắc phục hậu quả của hàng trăm vụ sập hầm lò do khai thác than trái phép và do công nghệ khai thác không đảm bảo an toàn cho công nhân mỏ Năm 2004, công nghệ khai thác than Trung Quốc đã cướp đi sinh mạng của 6.000 người (Hải Ninh, 2005)[15] Do vậy, khai thác than ở Trung Quốc hiện nay được xếp vào hàng nguy hiểm nhất thế giới
Như vậy, hoạt động khai thác than trên thế giới đang diễn ra rất mạnh trong những năm gần đây, cung cấp phần lớn nhiên liệu cho các ngành công nghiệp và phục vụ cuộc sống con người Cùng với sản lượng khai thác tăng thì ngành công nghiệp khai thác than trên toàn thế giới cũng đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của hậu khai thác để lại, trong đó đáng nói đến nhiều nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường
2.2.1.2 Ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than trên thế giới
Hiện nay, khai thác than trên thế giới đang áp dụng hai loại hình công nghệ khai thác chủ yếu đó là công nghệ khai thác hầm lò và khai thác lộ thiên Tuy nhiên, với mỗi loại hình công nghệ khai thác lại có những ưu điểm, nhược điểm riêng khác nhau và tác động đến môi trường theo những hướng khác nhau (Nguyễn Khắc Kinh, 2004)[2]
* Công nghệ khai thác hầm lò
Khai thác hầm lò gồm các khâu chủ yếu như thiết kế khai thác, mở đường, đào lò hoặc giếng, khoan nổ mìn, khai thác, sàng tuyển và khâu cuối cùng là tập kết than thương phẩm
- Ưu điểm: Diện tích khai trường nhỏ; lượng đất đá thải thấp từ đó giảm sức chịu đựng cho môi trường (bằng 1/5 công nghệ khai thác lộ thiên); ít ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan, địa hình; giảm nhẹ tổn thất tài nguyên sinh học và ít gây ra ô nhiễm môi trường không khí
Trang 16- Nhược điểm: Hiệu quả đầu tư không cao; sản lượng khai thác không lớn; tổn thất tài nguyên cao (50- 60%); gây tổn hại đến môi trường nước; hiểm hoạ rủi ro cao; đe doạ tính mạng con người khi xảy ra sự cố như sập lò, cháy nổ và ngộ độc khí lò
* Công nghệ khai thác lộ thiên
Công nghệ khai thác lộ thiên gồm những khâu chủ yếu như thiết kế, mở moong khai thác, khoan nổ mìn, bốc xúc đất đá đổ thải, vận chuyển, làm giàu
và lưu tại kho than thương phẩm
- Ưu điểm: Đầu tư khai thác có hiệu quả nhanh; sản lượng khai thác lớn; công nghệ khai thác đơn giản và hiệu suất sử dụng tài nguyên cao (90%)
- Nhược điểm: Khai thác lộ thiên có nhược điểm lớn nhất là làm mất diện tích đất, diện tích dùng cho khai trường lớn; khối lượng đất đá đổ thải lớn; phá huỷ HST rừng, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí; làm suy giảm trữ lượng nước dưới đất; gây tổn hại cảnh quan sinh thái; ảnh hưởng lớn đến môi trường sống cộng đồng
Qua hai loại hình công nghệ trên, chúng ta thấy tác động của quá trình khai thác than đến hệ thống môi trường rất khác nhau về quy mô, mức độ và tuỳ thuộc vào các điều kiện, yếu tố cụ thể như: công nghệ khai thác (đi kèm là các yếu tố đặc trưng về chất thải, sự cố môi trường …), các điều kiện về địa
lý, địa chất và các điều kiện tự nhiên khác
Ô nhiễm môi trường tại khu vực mỏ khai thác than đang là vấn đề lớn cho các nhà chức trách ở nhiều quốc gia đang khai thác và sử dụng loại tài nguyên nhiên liệu này Tại Hoa kỳ, khai thác than là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra ô nhiễm môi trường Theo số liệu thống kê cho thấy, hoạt động khai thác than tại nước này hàng năm thải ra khoảng 60% lượng khí
SO2, 33% lượng Hg, 25% lượng khí NOx và 33% thán khí trên tổng số ô nhiễm không khí toàn quốc (Mai Thanh Tuyết, 2004)[16].Vậy, chúng ta thấy
dù có những thuận lợi rất lớn về kĩ thuật cũng như công nghệ trong khai thác nhưng ngành than Hoa Kỳ vẫn phải gánh chịu những hậu quả xấu do hoạt động khai thác than để lại đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường
Trang 172.2.2 Tình hình nghiên khai thác than ở Việt Nam
2.2.2.1 Hoạt động khai thác than ở Việt Nam
Tài nguyên than ở Việt Nam
Tài nguyên than Việt Nam phân bố khắp cả nước gồm có 5 loại than chính như: than antraxit, than mỡ, than bùn, than ngọn lửa dài và than nâu (Bộ
kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
* Than antraxit (than đá)
Tổng trữ lượng than antraxit ở Việt Nam lên đến 3,5 tỉ tấn trong đó vùng than Quảng Ninh chiếm trên 3,3 tỉ tấn còn lại khoảng 200 triệu tấn nằm ở các tỉnh Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Giang (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006) [13]
Than antraxit ở Quảng Ninh được phân hoá theo vùng với trữ lượng khác nhau Sản lượng khai thác từ các mỏ than Quảng Ninh chiếm khoảng 90% sản lượng than toàn quốc Trong tầng chứa than, bể than Quảng Ninh có rất nhiều vỉa than và mỗi vỉa lại có trữ lượng than khác nhau Vỉa mỏng nhất
có độ dầy dưới 0,5m chiếm 3,75% tổng trữ lượng than, vỉa trung bình dầy 1,3- 3,5m chiếm 51,78% và vỉa dầy nhất lớn hơn 15m chiếm 1,07% tổng trữ lượng than của vùng Điểm đặc trưng của than antraxit tại bể than Quảng Ninh là kiến tạo địa chất phức tạp, tầng chứa than là những dải hẹp và đứt quãng dọc theo phương của vỉa (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
Ngoài ra, than antraxit còn phân bố tại các tỉnh khác như Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Giang, Sơn La và Quảng Nam nhưng với trữ lượng nhỏ khoảng vài trăm nghìn đến vài chục triệu tấn
* Than mỡ
Trữ lượng và tiềm năng khai thác được đánh giá sơ bộ khoảng 27 triệu tấn trong đó trữ lượng địa chất khoảng 17,6 triệu tấn Than mỡ ở nước ta chủ yếu tập trung tại mỏ Làng Cẩm (Thái Nguyên) và mỏ Khe Bố (Nghệ An) Ngoài ra than mỡ còn có ở các tỉnh như Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình song với trữ lượng nhỏ (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
Than mỡ được sử dụng phần lớn cho ngành luyện kim, lượng than mỡ được sử dụng cho ngành này là rất lớn Tuy nhiên, trữ lượng than mỡ nước ta rất ít, bên cạnh đó điều kiện khai thác lại khó khăn Theo số liệu thống kê, sản
Trang 18lượng than mỡ có thể khai thác chỉ vào khoảng 0,2 – 0,3 triệu tấn/năm (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
Bộ khoảng 5.000 triệu m3 (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
Hiện nay, than bùn ở nước ta được khai thác với quy mô nhỏ và sản lượng khai thác thấp, với sản lượng khai thác được đánh giá vào khoảng 100.000 tấn/năm (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13] Công nghệ khai thác than bùn ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do hậu quả của khai thác để lại và cũng một phần khó khăn về mặt kĩ thuật
* Than ngọn lửa dài
Than ngọn lửa dài ở nước ta tập trung phần lớn tại khu vực mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chất khoảng trên 100 triệu tấn Dạng than này chủ yếu được khai thác bằng công nghệ khai thác lộ thiên, với quy
mô khai thác nhỏ và phục vụ phần lớn cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng ở Hải Phòng, Bỉm Sơn (Thanh Hoá) (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
* Than nâu
Ở nước ta, than nâu tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, với trữ lượng dự báo vào khoảng 100 tỉ tấn Theo đánh giá, than nâu tại khu vực này có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho các ngành sản xuất công nghiệp như công nghiệp sản xuất điện, sản xuất xi măng và ngành công nghiệp hoá học (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2006)[13]
Như vậy, tài nguyên than Việt Nam rất đa dạng, phong phú và có trữ lượng lớn trong đó trữ lượng than có khả năng khai thác cao đặc biệt là vùng
bể than Quảng Ninh
Sản lượng khai thác than trong những năm gần đây ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, do mức tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu ngày càng lớn nên sảm lượng than khai thác hàng năm ngày càng tăng
Trang 19cao Chỉ riêng khối doanh nghiệp thuộc Tập đoàn than Khoáng sản Việt Nam (TKV), sản lượng khai thác than đã đẩy mạnh ở mức rất cao Nếu như năm 2002,(TKV) mới chỉ khai thác đạt khoảng 14,8 triệu tấn thì đến năm 2003 trữ lượng khai thác đã lên đến 20 triệu tấn than nguyên khai và tiêu thụ khoảng 18,2 triệu tấn (Báo điện tử Quảng Ninh, 2007)[11] Đến năm 2006, TKV sản xuất và tiêu thụ xấp xỉ 37 triệu tấn than, vượt 7 triệu tấn so với quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020 mà Chính phủ đã phê duyệt Năm 2007, ngành than nước ta lại tiếp tục tăng sản lượng khai thác, kết quả sản lượng khai thác sáu tháng đầu năm đạt khoảng 22,8 triệu tấn trong đó tiêu thụ 20,2 triệu tấn, tăng 13% so với cùng kì năm 2006 (Báo điện tử Quảng Ninh, 2007)[11] Như vậy, sản lượng khai thác than ở nước ta đang tăng rất nhanh, cung cấp một phần nhu cầu trong nước ngoài ra còn xuất khẩu sang các nước khác Bên cạnh việc tăng sản lượng khai thác, ngành thanh cũng đang để lại những hậu quả nặng nề, tác động không nhỏ đến môi trường tại khu vực khai thác và ảnh lớn đến cộng đồng dân cư nơi đây
2.2.2.2 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến môi trường tại Việt Nam
Hiện trạng môi trường tại các mỏ than Việt Nam
Hiện nay, TKV có khoảng 29 mỏ lộ thiên, 14 mỏ hầm lò phần lớn nằm
ở khu vực bể than Quảng Ninh Trong những năm gần đây, cùng với việc tăng sản lượng khai thác thì nạn ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác cũng đang tăng lên ở mức báo động
Môi trường vùng than Việt Nam hiện nay đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm về nồng độ bụi, tiếng ồn và chất thải rắn (đất đá) Theo kết quả thống kê cho thấy: Hàng năm các khu mỏ than khai thác đổ thải từ vài trăm nghìn đến hàng triệu m3 nước thải (5 triệu m3), hàng trăm triệu m3 đất đá và rất nhiều loại khí, bụi độc hại khác nhau (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2006) [14]
Tại Quảng Ninh, vấn nạn ô nhiễm môi trường đang ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người lao động và cuộc sống của người dân trên địa bàn mỏ Thực trạng môi trường ở Quảng Ninh đang đến hồi báo động, nhiều cán bộ công nhân viên và nhân dân trên địa bàn vùng than từ khu vực Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh đến khu vực Hạ Long, Cẩm Phả, Cọc Sáu, Cửa
Trang 20Ông , Mông Dương nhiều năm nay phải sống trong bụi than Đặc biệt tuyến đường “bão táp” (Mạo Khê - Bến Cân, Vàng Danh ra cảng Điền Công, khu vực cảng 6, khu vực cầu 4 phường Cẩm Sơn và từ Cửa Ông đến Mông Dương…) bụi than đã quá mức báo động (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2006)[14]
Qua kết quả quan trắc môi trường trên khu vực mỏ khai thác, nồng độ bụi tại các mỏ được quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần (như khu vực mỏ Mông Dương, Hà Trung, Hồng Hà, Vàng Danh và Khe Ngát) Nước thải của công ty than Hà Lầm (Quảng Ninh) có hàm lượng BOD (nhu cầu ôxi hoá sinh học) và COD (nhu cầu ôxi hoá hoá học) vượt TCCP nhiều lần (từ 3,9-5,7 lần); hàm lượng Sunfua, TSS của công ty than Mông Dương (Quảng Ninh) cao gấp đôi mức TCCP; hàm lượng TSS trong nước thải của công ty than Dương Huy (Quảng Ninh) còn vượt đến 15,6 lần TCCP (Báo điện tử Quảng Ninh, 2007)[11]
Bên cạnh đó, hoạt động khai thác than có những ảnh hưởng rất lớn đến khả năng canh tác nông nghiệp tại các khu vực gần khu mỏ khai thác Ô nhiễm môi trường tại Đông Triều (Quảng Ninh) do khai thác than đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng đất canh tác nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Ước tính thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại đây làm suy giảm 20% năng suất lúa toàn huyện (Báo điện tử Quảng Ninh, 2007)[11]
Có thể nói, việc tăng sản lượng khai thác than trong những năm qua đã
và đang kéo theo nhiều những tác động xấu cho môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến HST tại khu vực khai thác và hoạt động sống của người dân quanh vùng Trong khi đó thì chính sách đầu tư cho các giải pháp bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm lại chưa tương sứng với sản lượng khai thác hàng năm
Khai thác than ảnh hưởng tới môi trường nước tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mói đất nước Tuy nhiên, bất cứ hình thức khai thác nào cũngdẫn đến sự suy thoái môi trường Nghiêm trọng nhất là khai thác ở các vùng mỏ, đặc biệt là hoạt động của các mỏ khai thác than Trong quá trình khai thác mỏ, con người đã làm thay đổi môi trường xung quanh, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường Có thể phân loại các tác động theo hai hình thức sau:
Trang 21Những tác động của hoạt động khai thác mỏ
- Tác động cơ học: sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, khả năng chứa nước, làm thay đổi chất lượng nguồn nước
- Tác động hóa học:
Thoát acid từ mỏ khai thác: Thoát acid từ mỏ khai thác là một quá trình
tự nhiên, trong đó axit sulfuric được hình thành khí sulfua trong đá tiếp xúc với không khí và nước Khi số lượng lớn đá chứa các khoáng vật sunfua được đào lên từ một mỏ lộ thiên hoặc lấy lên từ dưới lòng đất, nó phản ứng với nước và oxy để tạo ra axit sulfuric Acid được nước mưa hay nước theo dòng chảy thoát ra khu vực mỏ và đổ vào các sông, suối hoặc nước ngầm xung quanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước
Ô nhiễm kim loại nặng: Các kim loại như asen, coban, đồng, cadimi, bạc, chì, kẽm chứa trong đất đá khai thác hoặc mỏ ngầm lộ thiên tiếp xúc vói nước Kim loại bị rửa trôi ra ngoài gây ô nhiễm nguồn nước dưới hạ lưu
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Tài nguyên nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) tương đối phong phú, có mạng lưới sông suối khá dày đặc với 2360 con sông với dòng chảy quanh năm (với độ dài mỗi con sông hơn 10km) bao gồm: 9 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực từ 10.000km2 trở lên; 166 con sông có diện tích lưu vực dưới 10.000km2 Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân bố không đều trong năm) và còn phân bố không đều giữa các hệ thống sông và các vùng [8]
Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn tới trên
2000 mm Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi với độ che phủ rừng hiện khoảng 29%, mạng lưới sông, suối, đầm, hồ ao, kênh mương khá dày và có nước quanh năm Nhờ đó tài nguyên nước nhìn chung tương đối phong phú: hàng năm lượng nước mặt sản sinh nội địa đạt 32,5 tỷ m3/năm, nếu kể cả lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ m3/năm, nước dưới đất có trữ lượng tiềm năng khoảng 48 tỷ m3/năm (trầm tích bở rời: 12,6; đá lục nguyên: 7,31; đá phun trào: 2,11; đá xâm nhập: 8,05; đá carbonat: 2,4; đá biến chất: 7,79 và đá hỗn hợp: 7,75)
Trang 22Tuy nhiên, lượng nước mặt có thể khai thác không thật khả quan; một mặt khả năng sử dụng lượng nước chảy từ bên ngoài lãnh thổ vào rất bấp bênh, thiếu chủ động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mặt khác nếu xét lượng nước cho phép sử dụng không được vượt quá 30% lượng nước đến ta thấy nhiều nơi không đủ nước dùng Ví dụ lượng nước cần trong các tháng II - IV của đồng bằng Bắc Bộ chiếm tới 43 -53,8%, cá biệt tại Phả Lại chiếm 69 - 112% lượng nước đến Trong vài thập niên đầu tiên của thế kỷ mới, nguy cơ thiếu nước sẽ đến với Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả châu thổ sông Hồng
2.3.2 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh có nguồn nước khá phong phú bao gồm nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt
Về nguồn nước mặt: Thái Nguyên có 2 lưu vực sông lớn là Sông Cầu
và Sông Công Sông Cầu và các sông khác đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thủy văn của tỉnh Toàn tỉnh có trên 4.000 ha ao, hồ
Sông Cầu là dòng sông chính trong hệ thống sông Thái Bình, với 47% diện tích toàn lưu vực bắt nguồn từ Bắc Kạn với độ cao so với mặt nước biển
là 1527 m Sông chảy qua Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh rồi
đổ vào sông Thái Bình tại Phả Lại Sông có diện tích 6030 km2, chiều dài của sông tính từ đầu nguồn đến hết địa phận tỉnh Thái Nguyên là 206 km Tuy là con sông chính của tỉnh nhưng hiện nay chất lượng nước của nó đang rơi vào tình trạng ô nhiễm trầm trọng do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân [8]
Hồ Núi Cốc trên sông Công được xây dựng năm 1972 và hoàn thành vào năm 1978, có dung tích 175,5.106 m3 Hồ Núi Cốc có nhiệm vụ cấp nước tưới cho vùng hạ lưu sông Công và cấp bổ sung nước cho sông Cầu, phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của thành phố Thái Nguyên, các khu công nghiệp Sông Công, Gò Đầm và tưới cho hơn 20.000 ha ruộng ở 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh
Về nguồn nước ngầm: Nước ngầm của tỉnh Thái Nguyên có 12 phức hệ, chứa 1,5 – 2 tỷ m3 Nguồn nước cấp chủ yếu cho thành phố Thái Nguyên là nước ngầm mạch sâu dọc sông Cầu (nhà máy nước Túc Duyên) và cho thị xã Sông Công (nhà máy nước Sông Công) Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình trong tỉnh vẫn dùng nước giếng khoan hoặc giếng khơi để sinh hoạt và ăn uống
Trang 23Trong các nguồn nước sinh hoạt trên, tại Thái Nguyên phổ biến nhất là giếng đào, nước tự chảy từ các khe lạch, một số giếng khoan và một số công trình cấp nước tập trung
Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước mặt và nước ngầm của Thái Nguyên
đang bị ô nhiễm nặng Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên:
Trong 3- 4 tỷ m3 nước mặt/năm và 1,5- 2 tỷ m3 nước ngầm của tỉnh Thái Nguyên được cảnh báo là đang bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là nguồn nước sông Cầu Các trạm quan trắc tại Cầu Gia Bảy, đập Thác Huống, Cầu Mây cho thấy hàm lượng nước sông Cầu một số chỉ tiêu đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, như BOD5 vượt từ 1,08- 9,5 lần; COD vượt từ 1,2 - 5,8 lần; NH4 vượt từ 1,34- 20 lần
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như nước ngầm đáng báo động ở Thái Nguyên, là do ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, luyện kim đen, luyện kim mầu, công nghiệp cơ khí, chế tạo phát triển mạnh, nhưng các biện pháp xử lý ô nhiễm bảo vệ môi trường không mấy hiệu quả Sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh cũng phải thừa nhận, hầu hết các biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án, các cơ sở sản xuất đề cập trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không có tính khả thi hoặc hiệu suất xử lý kém Thực trạng chung là phần lớn các chất thải sản xuất chưa qua xử lý được xả trực tiếp ra môi trường
Tại một số địa điểm ở sông Công và hồ Núi Cốc đã có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, dầu mỡ và hoá chất bảo vệ thực vật Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm đã có biểu hiện ô nhiễm cục bộ, mang đặc trưng từng vùng khác nhau Một số khu vực khai thác khoáng sản tại xã
Hà Thượng, Tân Linh (huyện Đại Từ) hàm lượng asen từ 0,068- 0,109 mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7- 8,2 lần Phường Quang Vinh (thành phố Thái Nguyên) và thị trấn Giang Tiên (huyện Phú Lương), hàm lượng Xyanua vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,9- 12,9 lần Nhiều khu vực nước ngầm có nồng
độ pH thấp dưới mức tiêu chuẩn cho phép và có biểu hiện ô nhiễm Fe, Mn Ngoài ra, các chất thải rắn, khí bụi của các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào việc làm gia tăng tốc độ ô nhiễm môi trường Điều
Trang 24nguy hiểm hơn là trong số các cở sở sản xuất công nghiệp, các khu chế xuất
đa phần chưa có trạm xử lý nước thải, khí thải và hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường Khu chế xuất sông Công mặc dù đi vào hoạt động từ năm 2001 đến nay, nhưng vẫn chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung Chất thải rắn của các khu chế xuất chưa có khu chôn lấp theo quy định, thậm chí còn dùng để san lấp mặt bằng Đây là một trong những tác nhân gây ô nhiễm đất và nguồn nước
2.3.3 Chất lượng nước cho sinh hoạt ở nông thôn Việt Nam
Nông thôn Việt Nam hiện đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ nhiều hình thức khác nhau như giếng đào, giếng khoan, nước mưa hay bể lọc nước Phần lớn các nguồn nuớc dùng cho sinh hoạt của nguời dân đều chưa đảm bảo
vệ sinh an toàn
Nước mưa: Rơi từ trên cao xuống qua lớp không khí chứa nhiều bụi
bẩn, vi khuẩn và chất độc hại khác như khí độc, hơi axit, hơi bụi chì Nếu chảy qua mái nhà và máng hứng cuốn theo nhiều chất bẩn khác trở thành nuớc không đảm bảo vệ sinh có thể gây hại cho nguời sử dụng, nhất là những cơn mưa đầu mùa
Nước giếng đào: Là giếng khai thác nước ngầm ở tầng nông nằm
dưới mặt đất từ 5-10m, nguồn nước này có nhiều khoáng chất nhưng dễ bị ô nhiễm bởi nguồn nuớc mặt và các yếu tố bên ngoài Nuớc giếng khoan đuợc khai thác ở tầng nông khoảng 60m, ở tầng sâu khoảng 250m Ngưồn nuớc này
ít bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh nhưng hay bị chi phối bởi các yếu tố về cấu trúc địa tầng, khoáng sản
Nước mặt lấy từ sông suối, kênh muơng, ao hồ: Nước này thường
chứa nhiều phù sa, chất hữu cơ, vi khuẩn và một số chất độc hại khác (dầu
mỡ, thuốc bảo vệ thực vật), đặc biệt là nước ven bờ hay các dòng nước tĩnh như ao hồ có thể đánh giá mức độ ô nhiễm bằng mắt thuờng
Nước máy: Là nước qua xử lý, tuy nhiên cũng có thể bị ô nhiễmn
bẩn trên đường dẫn nước, dụng cụ chứa nước không sạch hoặc do sự cố xử lý
Nước xử lý bằng bể lọc: Có tác dụng làm mất đi các chất vô cơ, hữu
cơ và hạn chế các vi sinh vật ở trong nước[4]
Trang 25Trong các nguồn nước thì chỉ có nước máy là đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên theo điều tra của UNICEP thì hiện nay số lượng người sống ở nông thôn Việt Nam được dùng nước máy là 11,7% , tỷ lệ này vẫn còn rất thấp và đang còn 11,6% người dân vẫn còn thường xuyên uống nước lã Thói quen uống nước
lã sẽ đem đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng do mắc phải những bệnh dịch lan truyền theo nước Đặc biệt là theo kết quả phân tích về vi sinh trong “Điều tra chất lượng nước sinh hoạt nông thôn” của Cục Y tế Dự phòng năm 2009 thì chỉ có 25,1% trong tổng số 2958 mẫu nuớc xét nghiệm lấy từ các nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình ở nông thôn thuộc 8 vùng sinh thái là đạt TCVS về vệ sinh an toàn
2.3.4 Các giải pháp xử lý nước sinh hoạt
Hiện nay người ta đã khẳng định nước là nguồn truyền bệnh rộng nhất, nhanh nhất và nguy hiểm nhất Hơn nữa tất cả các nguồn nước tự nhiên (nuớc giếng, nước mưa, nước sông, suối, ao hồ, ) là những nơi có thể chứa mầm bệnh Do vậy mọi nguồn nước dùng cho sinh hoạt đều phải xử lý nhằm loại
bỏ các chất độc hại
2.3.4.1 Các nghiên cứu về xử lý nguồn nước dùng cho sinh hoạt
Bảng 2.1: Các biện pháp xử lý nước sinh hoạt tại hộ gia đình (%)
STT Nguồn nước
Phuơng pháp xử lý Lọc Để
lắng
Đánh phèn
Sử dụng hoá chất Khác
Không
xử lý
1 Nước mưa 27,6 35,2 0,0 0,0 0,0 37,2
2 Nước máy 1,6 20,3 0,0 0,0 0,0 78,1
3 Nước giếng khoan 36,4 17,0 0,3 0,3 0,1 45,9
4 Nước giếng khơi 6,6 7,9 0,3 0,0 0,1 85,1
5 Suối đầu nguồn 5,3 6,7 0,0 0,0 0,1 87,9
6 Sông, ao,hồ 1,5 36,6 42,7 3,8 0,1 15,3
(Nguồn: Nguyễn Huy Nga và cs, 2007)
Trang 26Tính chung, biện pháp xử lý nước được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất là để lắng (trung bình 18.8%), lọc (trung bình 12,08%) còn lại là đánh phèn hoặc sử dụng hoá chất với tỷ lệ thấp
Hầu hết giếng khơi không được xử lý trước khi đưa vào sử dụng, tuy đây là nguồn nuớc được coi sạch nhưng vẫn có nguy cơ ô nhiễm vi sinh đặc biệt là những giếng được xây gần nhà tiêu, chuồng gia súc, hoặc không có thành chắn hoặc có vũng nước đọng quanh giếng [1]
2.3.4.2 Giải pháp xử lý cụ thể cho nguồn nước sinh hoạt
Làm mềm nước (khử độ cứng của nước)
Độ cứng của nước đa số do hàm lượng các cation kim loại Ca2+ và Mg2+
có trong nước Độ cứng toàn phần là tổng hàm lượng các cation kim loại Ca2+
và Mg2+ tính cho 1 lít nước, bao gồm:
Độ cứng tạm thời hay độ cứng carbonat: Tạo bởi các muối Ca và Mg
carbonat và bicarbonat, trong đó chủ yếu là bicarbonat vì muối carbobat Ca và
Mg hầu như không tan trong nước Trong tự nhiên, độ cứng tạm thời của nước cũng thay đổi thường xuyên dưới tác dụng của nhiều yếu tố, ví dụ như nhiệt độ, pH
Độ cứng vĩnh viễn: Tạo bởi các muối khác của Ca và Mg như sulphat,
clorua chỉ có thể thay đổi bằng các phương pháp phức tạp và đắt tiền
Có nhiều phương pháp làm mềm nước như phương pháp hóa học, phương pháp nhiệt, phương pháp trao đổi ion và phương pháp tổng hợp Sau đây là một số phương pháp đang được áp dụng:
Phương pháp hoá học
Cơ sở của phương pháp là dựa vào nước các hoá chất có khả năng kết hợp các ion Ca2+ và Mg2+ tạo ra các hợp chất không tan và loại trừ bằng biện pháp lắng lọc
Trang 27- Làm mềm nước bằng vôi
- Làm mềm nước bằng vôi và sôđa
- Làm mềm nước bằng phốt phát
Làm mềm nước bằng phương pháp nhiệt
Nguyên lý cơ bản của phương pháp là khi đun nóng nước, khí cabonic hoà tan sẽ bị khử hết thông qua sự bốc hơi
Làm mềm nước bằng trao đổi ion
Hạt trao đổi ion (Ionit) và phương pháp sử dụng:
Ngành công nghiệp hoá học đã chế tạo ra loại hạt nhựa hữu cơ tổng hợp không tan trong nước nhưng có bề mặt hoạt tính hoá học, có thể cấy lên bề mặt các hạt này (ionit) một loại cation hay anion chọn trứơc như Na+, H+, NH4+, OH-, Cl- Khi ngâm các hạt ionit vào nước, các ion đã được cấy trên bề mặt sẽ
tham gia vào phản ứng trao đổi với các ion của muối hoà tan trong nước[17]
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường nước sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực khai thác của mỏ than Phấn Mễ thuộc Thị trấn Giang Tiên, Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên
3.1.3 Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện
- Địa điểm thực hiện: Mỏ than Phẫn Mễ, thị trấn Giang Tiên - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: Từ 01/2012 - 05/2012
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực mỏ than Phấn Mễ
- Vị trí địa lý
- Địa hình
- Điều kiện khí tượng thuỷ văn
- Các nguồn tài nguyên
Trang 293.2.3 Quá trình phát triển của hoạt động khai thác than và hiện trạng khai thác than tại Thái Nguyên và địa bàn nghiên cứu
- Quá trình phát triển theo thời gian
- Công nghệ khai thác
- Công nghệ chế biến
3.2.4 Chất lượng môi trường nước của mỏ than Phấn Mễ năm 2012
- Đánh giá hiện trạng nước mặt
- Đánh giá hiện trạng nước ngầm
- Đánh giá hiện trạng nước thải
3.2.5 Hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường nước của mỏ than Phấn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp
Tiến hành thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu sau:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội (Dân số, việc làm, cơ sở hạ tầng…) của Thị trấn Giang Tiên - Tỉnh Thái Nguyên
- Tài liệu về các báo cáo hiện trạng môi trường của địa phương và kết quả quan trắc môi trường hàng năm tại địa bàn nghiên cứu
- Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu
- Tài liệu về các văn bản pháp quy về khai thác khoáng sản, về bảo vệ môi trường, về quản lý tài nguyên nước, các tiêu chuẩn Việt Nam… và các tài liệu có liên quan
Trang 303.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân về hiện trạng môi trường nước
- Nội dung phỏng vấn: Phỏng vấn người dân về mục đích sử dụng nước ngầm và đánh giá của người dân về chất lượng nước ngầm Ảnh hưởng của hoạt động khai thác tới môi trường nước và đời sống của hộ gia đình, địa phương
- Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình, phỏng vấn 30 hộ gia đình chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác và xung quanh khu vực mỏ than Phấn Mễ
- Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi trong phiếu điều tra
3.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa
- Khảo sát thực địa về đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu
- Điều tra về nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt của người dân khu vực nghiên cứu
3.3.4 Phương pháp tổng hợp so sánh và dự báo dựa trên số liệu thu thập được
Dựa vào số liệu, báo cáo, thông tin thu thập được tiến hành tổng hợp số liệu, lập bảng so sánh giữa các năm để có thể thấy được tổng quan hiện trạng môi trường
ở khu vực, và có những dự báo dựa vào kết quả đó
3.3.5 Phương pháp kế thừa
Dựa trên những kết quả của các đề tài nghiên cứu trước về vấn đề chung đang tìm hiểu để có thể tận dụng, tham khảo, và so sánh với các kết quả đó
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên của Mỏ than Phấn Mễ, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4.1.1 Vị trí địa lý
Mỏ than Phấn Mễ thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên Khu vực mỏ than Phấn Mễ thuộc thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Khu vực mỏ thuộc vùng đồi núi thấp, gồm những dãy đồi kéo dài từ Tây Bắc sang Đông Nam Diện tích khai trường mỏ là 3,5ha, mỏ than Phấn Mễ nằm sát Quốc lộ 3, cách thành phố Thái Nguyên 15
km về phía Tây Bắc Các phía tiếp giáp như sau:
Phía Nam và Đông Nam: Giáp với hệ thống sông suối bao gồm sông
Đu, suối Cát, suối Cẩm
Phía Bắc và Đông Bắc giáp với khai trường khu làng Cẩm
Khu vực khai thác cách hộ dân gần nhất là 100m về phía Tây Bắc, xung quanh không có các công trình văn hóa, di tích lịch sử, tôn giáo[3]
4.1.2 Địa hình
Mỏ than Phấn Mễ thuộc vùng có địa hình đồi núi thấp, gồm những dãy đồi kéo dài từ Tây Bắc sang Đông Nam, đặc trưng cho phong cảnh thung lũng thấp dần từ phía Bắc xuống Phía Nam và hình thành 2 dạng địa hình:
Cao nhất là đỉnh núi Pháo (434m) về phía Đông Nam làng Cẩm Địa hình thấp nhất trùng với thung lũng sông, suối thay đổi độ cao từ 15 – 25m so với mặt nước biển[3]
4.1.3 Điều kiện khí tượng thủy văn
Khí tượng
Mỏ than Phấn Mễ thuộc vùng núi phía Bắc của tỉnh, chịu ảnh hưởng chế
độ gió mùa, khí hậu được phân thành 2 mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau với hướng gió chủ đạo là Đông – Bắc, Bắc Mùa này thường khô hanh lạnh giá, nhiệt độ trung bình từ 140C – 260C Mùa mưa kéo
Trang 32dài từ tháng 3 đến tháng 9 trong năm, hướng gió chủ đạo Nam và Đông Nam, mùa này nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ thay đổi từ 170C – 360C[3]
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm trong không khí Tại khu vực có:
+ Nhiệt độ trung bình của năm: 23,60C
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng nóng nhất: 28,90C (tháng 6) + Nhiệt độ thấp nhất trung bình của tháng lạnh nhất:170C(tháng 2)
Bảng 4.1: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm 2011 tại Thái Nguyên
Nhiệt độ trung bình tháng ( 0 C)
17.5 17 20.3 14.1 27.3 28.9 27.9 28.2 25.3 25.6 22.8 18.6
Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí là một trong những yếu tố cần thiết khi đánh giá mức
độ tác đông tới môi trường không khí của dự án Đây là tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến độ phát tán, lan truyền các chất gây ô nhiễm môi trường
Tại khu vực có:
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm của không khí: 82%
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng lớn nhất (tháng 3, 7): 88%
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất (tháng 2, 11): 77%
Bảng 4.2: Độ ẩm không khí trung bình tháng trong năm 2011 tại Thái Nguyên
Trang 33- Lượng mưa trung bình hàng tháng trong năm: 2000 – 2500 mm
- Số ngày mưa trong năm: 150 – 160 ngày
- Lượng mưa tháng lớn nhất: 489 mm (tháng 8)
- Lượng mưa tháng lớn nhất: 22 mm (tháng 12)
- Số ngày mưa lớn hơn 50 mm: 12 ngày
- Số ngày mưa lớn hơn 100 mm: 2 - 3 ngày
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 353 mm
Tốc độ gió và hướng gió
Tại khu vực nghiên cứu, trong năm có 2 mùa chính, mùa đông gió có hướng Bắc và Đông Bắc, mùa hè gió có hướng Nam và Đông Nam
Tốc độ gió trung bình trong năm: 1,9 m/s
Tốc độ gió lớn nhất: 24 m/s
Nắng và bức xạ
- Số giờ nắng trung bình trong năm: 1588 giờ
- Số giờ năng trung bình lớn nhất trong tháng: 187 giờ
- Số giờ năng trung bình thấp nhất trong tháng: 46 giờ
- Bức xạ trung bình năm: 122 kcal/cm2/năm
Hệ thống sông suối
Mạng lưới sông suối của mỏ than Phấn Mễ bao gồm sông Đu, suối Máng, suối Cát, suối Cầm là những phụ lưu bên phải sông Cầu Các sông và suối này thu hút nhiều suối nhỏ trên phạm vi phấn bố các trầm tích chứa than
Sông Đu, suối Máng chảy qua phía Nam khu mỏ, là nơi thoát nước chủ yếu của mỏ Sông uốn khúc, thềm bậc thẳng đứng, lòng sông sâu từ 3 – 6 m, rộng 10 – 20 m
Phía Đông Nam khu mỏ có suối bắt nguồn từ núi đá, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cung cấp nước cho ngòi Gia Khánh Chiều dài khoảng 800m, lòng sông không dốc, nước chảy chậm, là nơi thoát nước mưa của vùng phía Đông Bắc khu mỏ và các mặt nước dưới đất sườn núi đá[3]
Trang 344.1.4 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Khu vực này khá đa dạng về loại đất có 6 loại đất chính là: Đất phù sa không được bồi đắp, đất phù sa ngòi sông, đất bạc màu, đất dốc tụ, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất vàng nhạt trên đá cát Đất đai của thị trấn Giang tiên thích hợp cho cây trồng hàng năm, cây công nghiệp dài ngày, cây
ăn quả và cây lâm nghiệp Nhưng chỉ có khoảng 77,60 ha đất tốt là thích hợp cho cây trồng hàng năm, còn lại là đất xấu, dốc chỉ thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Đây vừa là khó khăn nhưng cũng là thế mạnh của thi trấn để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển cây công nghiệp dài ngày HIện trạng đất đai tại thị trấn Giang Tiên được thể hiện tại bảng 4.3
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn Giang Tiên
STT Mục đích sử dụng Mã đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất tại
thị trấn Giang Tiên năm 2012
Trang 35Qua bảng 4.3 và hình 4.1 ta thấy, tổng diện tích tự nhiên của thị trấn Giang Tiên là 381,23 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 53,7 % tổng diện tích tự nhiên, điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong hoạt động phát triển kinh tế của thị trấn Bên cạnh đó cũng phải nói đến một diện tích đáng kể đất phi nông nghiệp (chiếm 42,8 % tổng diện tích tự nhiên), đất phi nông nghiệp trên địa bàn chủ yếu là đất khai thác khoáng sản, đất giao thông và đất ở Đất khai thác khoáng sản có diện tích 44
ha, chiếm 26,96 % tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất giao thông có diện tích 32,12 ha, chiếm 19,68 % tổng diện tích đất phi nông nghiệp
Tài nguyên nuớc
Thị trấn Giang Tiên có nguồn nuớc mặt tương đối phong phú Trên địa bàn thị trấn có sông Đu chảy qua phía Nam thị trấn và sông Giang Tiên chảy
ở phía Đông thị trấn Đây là nguồn nước mặt chính cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong thị trấn Ngoài ra, với lượng mưa trung bình năm khoảng 2020 mm, luợng nước mưa trên được đổ vào sông, suối, kênh, muơng, hồ, ao tạo nên nguồn nước mặt ngày càng phong phú
Tóm lại, tài nguyên nước của thị trấn Giang Tiên tương đối dồi dào, nhưng do điểu kiện địa hình, địa thế dốc, phân cắt mặt, mặt khác hiện nay thảm thực vật rừng che phủ thấp nên vào mùa mưa dòng chảy tăng gây ra khả năng lũ lụt lớn, ngược lại vào mùa khô dòng chảy lại cạn kiệt gây ra thiếu nước [10]
4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 36cho sản luợng năm 2011 là 15,5 tấn, sản lượng ngô là 33 tấn, sản lượng lạc là 4,5 tấn, sản lượng đỗ tương là 2,5 tấn và cây rau màu là 9,5 tấn Đây là nhân
tố thích hợp nhằm phá thế độc canh cây lúa, tạo sản phẩm hàng hoá, tăng thu nhập cho bà con nông dân
Về chăn nuôi, ngay từ đầu năm thị trấn đã chỉ đạo làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh nên không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc cũng được thị trấn quan tâm, chỉ đạo cán bộ thú y thống kê và tổ chức tiêm phòng đảm bảo kế hoạch Cụ thể : Tiêm phòng cho đàn chó được 486 con/500 con = 97% kế hoạch giao; Đàn trâu tiêm phòng được 25/36 c0m = 69% KH giao; Đàn lợn tiêm phòng được 1.650 con/1700 con = 97% KH; Đàn gia cầm tiêm phòng được 3000 con đạt 100% KH Tổ chức phun thuốc khử trùng trên địa bàn tập trung chủ yếu vào 2 chợ và bãi rác của thị trấn là các khu vực có nguy cơ dịch bệnh cao (UBND Thị trấn Giang Tiên, 2012)[9]
Ngành lâm nghiệp
Tính đến tháng 3 năm 2012 diện tích đất lâm nghiệp của thị trấn là 103
ha và hiện nay thị trấn đang chuẩn bị trồng thêm 3ha diện tích mới, chủ yếu diện tích tăng thêm là do tận dụng các bãi thải của mỏ khoáng sản(UBND Thị trấn Giang Tiên, 2011)[10]
Sản xuất công nghiệp, ngành tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ thương mại
Địa phương luôn quan tâm duy trì và phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại trên địa bàn, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các mặt hàng có thế mạnh của địa phương như sản xuất
đá, than, cơ khí, gò hàn và dịch vụ chế biến chè, nhà hàng ăn uống, chế biến thực phẩm, kinh doanh vật liệu xây dựng, xăng dầu, tôn sắt thép để đưa ra thị trường những sản phẩm đảm bảo chất lượng, giá thành hợp lý góp phần làm ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát trên địa bàn Bên cạnh đó địa phương cũng luôn quan tâm đầu tư xây dựng, sửa chữa nâng cấp, hoàn thiện mặt bằng 2 chợ chợ Giang Tiên và chợ chiều Giang Sơn để tạo điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhân dân địa phương và