1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn việt nam từ 1986 đến 2000

102 740 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000
Người hướng dẫn PGS.TS Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 408 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ góc độ giảng dạy, nghiên cứu cảm hứng phê phán trong truyện ngắn sẽgiúp cho ngời dạy và ngời học hiểu hơn đặc điểm của một thể loại, đồng thờicũng giúp các em nhận thức đúng hơn bản c

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh -o0o -

Trang 2

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Phó

giáo s, Tiến sĩ Đinh Trí Dũng- ngời đã tận tình hớng dẫn tôi

hoàn thành luận văn này.

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại học,

các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn Trờng Đại học Vinh, cùng

gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm và tạo điều

kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Ngày 22 tháng 12 năm 2008

Tác giả

Mục lục

Trang

Lời cảm ơn 1

Mục lục 2

Mở đầu 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 9

4 Phơng pháp nghiên cứu 9

Trang 3

5 Cấu trúc luận văn 9

Nội dung 11

Ch ơng 1 11

Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và nguyện nhân của sự gia tăng cảm hứng phê phán trong truyện ngắn 1.1 Truyện ngắn và những đặc trng cơ bản của thể loại 11

1.1.1 Định nghĩa truyện ngắn 11

1.1.2 Đặc điểm truyện ngắn 13

1.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 15

1.2.1 Bối cảnh xã hội- văn hoá 15

1.2.2 Sự vận động của văn xuôi và truyện ngắn Việt Nam từ 1986- 2000 17

1.3 Nhìn chung về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn hiện đại và 27

truyện ngắn sau 1986 1.3.1 Khái niệm cảm hứng trong văn học 27

1.3.2 Cảm hứng phê phán trong văn học 28

1.3.3 Nguyên nhân của sự gia tăng cảm hứng phê phán trong truyện ngắn 30 sau 1986 Ch ơng 2 33

Những biểu hiện của cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 2.1 Chiến tranh và hậu quả của nó đối với con ngời thời hậu chiến 33

2.2 Chiến tranh và những bi kịch tinh thần giai dẳng thời hậu chiến 37

2.3 Sự nghèo đói và tính chất phức tạp của cuộc sống nông thôn 43

2.3.1 Cuộc sống nghèo đói, sự xô bồ trong đời sống của một bộ phận 43

nông dân 2.3.2 T tởng tiểu nông, bảo thủ, lạc hậu ở nông thôn 47

2.3.3 Mâu thuẫn bè phái, phân biệt dòng họ ở nông thôn 52

2.4 Mặt trái của kinh tế thị trờng và cuộc sống xô bồ ở thành thị 57

2.4.1 Bối cảnh phức tạp của thành thị trong cơ chế thị trờng 57

2.4.2 Con ngời phi nhân tính, tha hoá về đạo đức 67

Ch ơng 3 79

Trang 4

Cảm hứng phê phán và nghệ thuật biểu hiện của truyện ngắn Việt Nam

sau 1986

3.1 Cảm hứng phê phán và việc xây dựng tình huống truyện 79

3.1.1 Tình huống phức tạp, gay cấn 79

3.1.2 Tình huống bi kịch 84

3.1.3 Tình huống hài kịch 89

3.2 Cảm hứng phê phán và việc xây dựng nhân vật truyện 93

3.2.1 Những tri thức, những kẻ có chức có quyền tha hoá 93

3.2.2 Những kẻ sa đoạ, vô đạo đức 97

3.2.3 Những nạn nhân của xã hội 102

3.3 Giọng điệu 106

3.3.1 Giọng đả kích, phê phán 106

3.3.2 Giọng giễu nhại, bỡn cợt 109

3.3.3 Giọng cảm thơng 115

Kết luận 118

Tài liệu tham khảo 120

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, văn học Việt Nam bớc sang mộtgiai đoạn mới, khởi sắc, đa dạng và phong phú hơn Những tên tuổi cũ nhNguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu tiếp tục có thêm nhiều tácphẩm, với những cảm hứng sáng tạo mới Sự trình làng của các nhà văn trẻ nhNguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo,Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh đã thực sự đẩy văn học, đặc biệt

là văn xuôi lên những bớc mới Văn học sau 1986 là nền văn học quan tâm

đến những vấn đề cá nhân, bản thể, quan tâm đến những góc khuất trong tâmhồn con ngời, đến sự phức tạp của đời sống hiện thực Đặc biệt đối với đề tàichiến tranh, xuất hiện sự nhận thức lại quá khứ của những con ngời một thời

đi qua khói lửa Tất cả đã tạo nên một bức tranh mới đầy sống động của hiệnthực trong văn học, làm cho ngời đọc say mê, háo hức Nhờ quan điểm đổimới của Đảng, văn học giai đoạn sau năm 1986 đã đợc tiếp nhận một luồngsinh khí mới Các nhà văn không ngại nói thẳng, nói thật, nói đúng những vấn

đề gây nhức nhối trong đời sống xã hội Từ năm 1986, nhiều cảm hứng nổi lên

đậm nét trong văn học, trong đó nổi bật là cảm hứng phê phán Nhu cầu nhìnthẳng, nói thật đã đợc đặt ra cấp bách Hiện thực mới không phù hợp với giọngngợi ca, khẳng định Cái ác, cái xấu biểu hiện ở khắp nơi trong những hìnhthức phức tạp khó nhận diện Văn học có thế mạnh phơi trần chân tớng sựviệc, hiện tợng Nhiều nhà văn đã thực sự nh những chiến sĩ trên mặt trậnchống tiêu cực Cảm hứng phê phán trở lại và ngày càng chiếm u thế trong vănhọc

1.2 Trong lĩnh vực văn xuôi, truyện ngắn là một thể tài chiếm u thếtrong phản ánh hiện thực Với dung lợng vừa phải, truyện ngắn đợc ngời đọctiếp nhận dễ dàng Truyện ngắn có khả năng chọn lấy những khoảnh khắc sinh

động của cuộc sống Vì vậy trong truyện ngắn, hiện thực hiện lên đầy màusắc Sau thời kì đổi mới, nhiều nhà văn tìm đến truyện ngắn và đã khá thànhcông, ghi đợc dấu ấn nh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ AnhThái, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị VàngAnh Và có thể nói đa số những truyện ngắn có giá trị đều ít nhiều mang cảmhứng phê phán Nguyễn Minh Châu, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, VõThị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thân đều có

Trang 6

những truyện ngắn mang tính phê phán Vì vậy nghiên cứu sự biểu hiện, pháttriển của cảm hứng phê phán trong truyện ngắn sẽ góp phần hiểu thêm về sựvận động của truyện ngắn nói riêng, của văn học sau đổi mới nói chung.

1.3 Mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống là mối quan hệ đặc biệt Vănhọc nhận thức và tái hiện lại cuộc sống phong phú và đa dạng Cuộc sống lànguồn cảm hứng vô tận cho văn học phát triển Nhờ đờng lối đổi mới của

Đảng, các nhà văn đã tự tin, mạnh dạn đi sâu, đi sát để nắm bắt sự phức tạpcủa đời sống Những trang viết không còn là những bức tranh minh hoạ cáckhẩu hiệu, cổ vũ phong trào, chủ trơng chính sách của nhà nớc mà đã đầy chấtlửa của cuộc sống Truyện ngắn hiện đại quan tâm sâu sắc đến số phận conngời, mang đến cho con ngời những giá trị chân- thiện- mĩ, thức tỉnh con ngờitrớc cái ác, cái xấu, cung cấp cho con ngời vốn sống, làm phong phú nhữngkinh nghiệm sống cho mỗi cá nhân Văn học với chức năng hớng về cái thiện

đã phát động, đã thức tỉnh cái thiện ở con ngời

Từ góc độ giảng dạy, nghiên cứu cảm hứng phê phán trong truyện ngắn sẽgiúp cho ngời dạy và ngời học hiểu hơn đặc điểm của một thể loại, đồng thờicũng giúp các em nhận thức đúng hơn bản chất cuộc sống, biết phê phán cáixấu, cái ác, hớng về cái thiện, hoàn thiện nhân cách của mình

2 Lịch sử vấn đề

Cảm hứng phê phán không phải là cảm hứng mới nhng trong hoàn cảnhchiến tranh cảm hứng đó đã nhờng chỗ cho cảm hứng sử thi, cảm hứng anhhùng Sau 1986, cảm hứng phê phán trở lại, lúc đầu rải rác ở một số tác phẩmnhng về sau dần chiếm u thế trên văn đàn Hiện tại cha có công trình nào đềcập trực tiếp đến cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Rải rác trong các bàinghiên cứu, phê bình, trong các bài luận văn một số tác giả đã trình bày một

số ý kiến có đề cập đến cảm hứng phê phán trong văn xuôi Việt Nam sau1986

Nguyễn Văn Long trong bài viết Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975 nhận định: “Đại hội lần thứ

VI của Đảng đã xác định đờng lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kì mớicho đất nớc vợt qua thời kì khủng hoảng để bớc vào giai đoạn phát triển mạnh

mẽ và ngày càng vững chắc Đờng lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng và tiếptheo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, cuộc gặp của Tổng Bí th NguyễnVăn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều

Trang 7

đó đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nớc nhà, mở rathời kì đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới t duy và nhìnthẳng vào sự thật Vào nửa cuối những năm 80 và đầu những năm 90 đã pháttriển mạnh khuynh hớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh

mẽ trên tinh thần nhân bản” [11,50] Xu hớng đổi mới đó đã mở đờng cholĩnh vực văn xuôi trong đó có truyện ngắn bớc sang một trang sử mới, phongphú, đa dạng và hấp dẫn

Trong một bài viết khác Thử nhận diện văn học ba mơi năm qua của

Nguyễn Nghĩa Trọng đánh giá: “ Vậy là văn thơ sau 1975 đã khai thác nhiềucảnh đời, thân phận những thế hệ, những cá nhân cụ thể với nhiều suy xét,

đánh giá, tự vấn, sám hối, Võ Văn Trực nhớ lại Chuyện làng ngày ấy trong

cải cách ruộng đất Nguyễn Minh Châu ngẫm ngợi cuộc đời ngời nông dântrong hình tợng lão Khúng và con bò khoang Lê Lựu qua nhân vật GiangMinh Sài để nói về những thanh niên tốt, có văn hoá, có tâm hồn hiến dângtuổi xuân cho đất nớc nhng không có hạnh phúc vì phải “sống hộ ý định ngờikhác”, “yêu cái ngời khác yêu”, “yêu cái mà mình không có”, mang bi kịchcủa sự non nớt, ngây thơ Ma Văn Kháng bằng cuộc đời giáo Tự đề cập tớicảnh sống của những trí thức sẵn bao ớc vọng cao cả hiến dâng cho lí tởng,thực thi sứ mạng đẹp đẽ của ngời thầy nhng luôn bị bàng hoàng, ngẩn ngơ trớc

sự thật đời sống và cảm nhận đời mình là “một vại da muối hỏng” Xu hớngphê phán, vạch trần những cái xấu, cái ác, cái hèn hạ, bất lơng hiện ra trongnhiều tác phẩm ”[75, 50] Nền văn học của chúng ta đã từng trở đi trở lạinhững vấn đề tính cách và phẩm chất tinh thần- đạo đức của con ngời mới nh-

ng dờng nh chúng ta mới chú trọng đến cái đang diễn ra, cái tức thời khẩnthiết, cái xung đột gay gắt nhỡn tiền giữa thiện và ác, xấu và tốt, tích cực vàtiêu cực mà cha chú ý đến căn nguyên cội nguồn, cái đã và đang ảnh hởng,chi phối đến từng hành vi đời sống xã hội Nhng sự phát triển theo quy luậtcủa cuộc sống vẫn cứ diễn ra buộc chúng ta phải nhìn nhận lại, phải hiểu sâuhơn, đúng hơn về bản chất cuộc sống Điều đáng mừng là các nhà văn củachúng ta bây giờ đã chú ý lắng nghe những va đập ngày thờng của cuộc sống

và thể hiện lại một cách sinh động hơn, tập trung hơn trong tác phẩm củamình

Nguyễn Thị Bình trong công trình nghiên cứu Văn xuôi Việt Nam

1975-1995 những đổi mới cơ bản cũng đi đến nhận định : “Cảm hứng chống tiêu

Trang 8

cực khơi dậy một trào lu mạnh mẽ, ồn ào, thu hút đông đảo ngời viết và có sứchấp dẫn rất lớn Tinh thần mổ xẻ, phanh phui mặt trái, mặt bất cập, bất công

do sự lỗi thời của cơ chế cũ, do những định kiến lạnh lùng hoặc lối nghĩ giáo

điều, phiến diện cũng thấm đẫm trong nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết”

[196,12] Lê Thị Hằng trong luận văn thạc sĩ ngữ văn Một số đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau 1985 (Qua một số truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu) viết: “Văn học sau 1985 nói chung và văn xuôi sau đổi mới nói riêng

phải gánh trên vai mình một trọng trách hết sức nặng nề Đó là việc tìm ranhững vấn đề trở thành nhu cầu bức bách của cuộc sống, của con ngời để giảiquyết Trong quá trình đi tìm hớng đi đúng đắn cho mình, văn học phải khôngngừng đổi mới Muốn nh vậy các nhà văn phải nhìn nhận lại mình, phải biếtphê phán những vấn đề cha làm đợc của văn học các giai đoạn trớc đó, tìmcách khắc phục những hạn chế để phù hợp với qua trình đổi mới văn học,mang đến cho văn học một luồng sinh khí mới Đó cũng là nội dung cơ bảncủa cảm hứng phê phán trong văn xuôi sau 1985”[36, 27]

Tiếp thu ý kiến của những ngời đi trớc, chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu sựchi phối của cảm hứng phê phán trong truyện ngắn từ sau 1986- 2000 Từ đógóp phần tìm hiểu sự vận động, phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Việt Namsau 1986 đến 2000

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn của chúng tôi chỉ giới hạn tìm hiểu cảmhứng phê phán trong truyện ngắn của những cây bút tiêu biểu nh NguyễnMinh Châu, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ,Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Trần Thị Trờng, Nguyễn Quang Thân, PhanThị Vàng Anh, Triệu Huấn, Sơng Nguyệt Minh, Ma Văn Kháng, Đối vớisáng tác của những nhà văn này chúng tôi cũng chỉ chọn những truyện ngắnthể hiện cảm hứng phê phán của các tác giả

4 Phơng pháp nghiên cứu

Khi tiến hành đề tài này chúng tôi sử dụng phơng pháp nghiên cứu cơ bảnsau: Phơng pháp so sánh- đối chiếu, Phơng pháp phân loại- thống kê, Phơngpháp phân tích- tổng hợp

5 Cấu trúc luận văn

Trang 9

Ngoµi phÇn Më ®Çu, KÕt luËn vµ Tµi liÖu tham kh¶o, LuËn v¨n gåm 3

Trang 10

Chơng 1 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986

và nguyên nhân của sự gia tăng cảm hứng phê phán

trong truyện ngắn

1.1 Truyện ngắn và những đặc trng cơ bản của thể loại

1.1.1 Định nghĩa truyện ngắn

Trong văn xuôi hiện nay truyện ngắn là một trong những thể loại năng

động nhất, thờng đợc các nhà văn lựa chọn để chuyển tải những góc nhìn vềcuộc sống Cho đến hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách nhìn, quan niệm về truyệnngắn tùy theo chỗ đứng và quan điểm của ngời nghiên cứu

Nhìn truyện ngắn nh một trạng thái đặc biệt, đột xuất của cuộc sốnghàng ngày Pautopxki quan niệm: “ Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằngtruyện ngắn là một truyện đợc viết ngắn gọn trong đó cái không bình thờnghiện ra nh một cái gì bình thờng Và cái gì bình thờng hiện ra nh cái khôngbình thờng” [63] Quan tâm nhấn mạnh truyện ngắn ở yếu tố tình huống,Nguyễn Kiên định nghĩa: “ Tôi cho rằng truyện ngắn là một trờng hợp trongquan hệ giữa con ngời và đời sống có những khoảnh khắc nào đó, một mốiquan hệ nào đó dợc bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt đợc trờng hợp ấy Trờnghợp ở đây có khi là một màn kịch chớp nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lí,một biến chuyển tình cảm… Nhng nhìn chung thì có thể gọi truyện ngắn làmột trờng hợp” Nguyễn Công Hoan khi chia sẻ một số kinh nghiệm viếttruyện ngắn đã đặc biệt chú ý đến chi tiết của truyện ngắn, ông viết “ Truyệnngắn không phải là truyện mà là một vấn đề đợc xây dựng bằng chi tiết với sự

bố cục chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc…Muốn truyện ngắn là truyện chỉ nên lấy một trong ngần ấy làm ý chính, làmchủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấythôi” [56] Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “ Truyện ngắn lấy một khoảnh khắctrong cuộc đời con ngời mà dựng lên Có khi nhân vật đặt trớc một vấn đề phảibăn khoăn suy nghĩ, lựa chọn, quyết định Có khi chỉ là một cảnh sống và làmviệc bình thờng, trong đó nhân vật biểu lộ ý chí, tình cảm của mình Có khi cónhững hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le Có khi chỉ là một tâm trạng,một nỗi buồn vui, một ý chớm nở Nhng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vậtthể hiện đầy đủ nhất” Từ góc độ đối sánh với tiểu thuyết nhà văn Nguyên

Trang 11

Ngọc đa ra quan niệm về truyện ngắn: “Truyện ngắn là một bộ phận củatruyện nói chung Không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào nhữngkhuôn khổ gò bó Truyện ngắn có nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời ngời,lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua” Nhà văn Vũ Thị Thờngngời chuyên viết truyện ngắn thì cho rằng “truyện ngắn sống bằng nhân vật”

và tối quan trọng là nhân vật ấy phải có hồn và “ đấy mới là yếu tố phân biệtnhân vật này với nhân vật khác, nó cũng là tiêu chuẩn cơ bản để nhà văn lựa

chọn chi tiết”[36, 56].

Nh vậy có thể nói truyện ngắn là một thể loại còn tồn tại nhiều quan

niệm khác nhau nhng nhìn chung thì chúng ta vẫn thấy một số đặc điểm cơ

bản có thể thống nhất Từ điển Văn học đa ra định nghĩa có xu hớng bao quát

nh sau: “ Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ Truyện ngắn khác với truyệnvừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống , một biến

cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhânvật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnhnào đó của vấn đề xã hội Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong mộtkhông gian và thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chiathành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền mộtmạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắngọn Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật đòihỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa

và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công

có thể biểu hiện đợc những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn”

Từ điển thuật ngữ văn học( NXB ĐHQG, 1998) viết: “ Truyện ngắn là

một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầuhết các phơng diện của đời sống, đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của

nó là ngắn Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơikhông nghỉ Tuy nhiên mức độ ngắn dài cha phải là đặc điểm chủ yếu để phânbiệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Truyện ngắn hiện đại là mộtkiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêngmang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tơng đốimuộn trong lịch sử văn học Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đờisống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới

sự khắc họa một hiện tợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân

Trang 12

sinh, trong đời sống con ngời Vì thế, trong truyện ngắn thờng có ít nhân vật,

ít sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thìnhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy”

1.1.2 Đặc điểm truyện ngắn

Với truyền thống phát triển khá lâu, truyện ngắn đợc rất nhiều nhà vănlựa chọn nhng nhìn chung cha có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại này.Trong quá trình phát triển cho đến ngày hôm nay, truyện ngắn ở từng giai

đoạn đã có những đặc điểm khác nhau tơng ứng với từng bớc tiến của văn họcViệt Nam Hiện nay những ý kiến về truyện ngắn lại chủ yếu xuất phát từ cácnhà văn, những ngời trực tiếp cầm bút phát biểu những kinh nghiệm, nhữngcảm nhận của mình về truyện ngắn Công trình nghiên cứu về truyện ngắn đợc

chú ý hiện nay là Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thể loại của Bùi Việt

Thắng Từ định nghĩa trên và dựa vào những công trình nghiên cứu của nhiềutác giả chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của thể loại này

Trớc hết xét về dung lợng, truyện ngắn là một “hình thức tự sự cỡ nhỏchỉ thể hiện một bớc ngoặt, một trờng hợp hay một tâm trạng nhân vật” Khácvới tiểu thuyết phản ánh đời sống một cách toàn vẹn và sinh động thì truyệnngắn bị hạn chế về hiện thực đợc phản ánh, hạn chế về những vấn đề nhânsinh, hạn chế về số trang, số chữ, thời gian tiếp nhận tác phẩm Truyện ngắnkhông chú ý làm sáng rõ tính cách trong khoảng không gian rộng, thời giandài mà chỉ tập trung vào một thời điểm quan trọng, chỉ xoáy sâu vào một điểm

để làm bật lên một vấn đề nào đó của hiện thực Tiểu thuyết sáng tạo ra cảmột thế giới trọn vẹn thì truyện ngắn thờng tập trung vào một chủ đề nhất

định Mặc dù dung lợng bị hạn chế nhng chất lợng truyện ngắn đợc xem làbình đẳng với tiểu thuyết Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “ Dung lợngtruyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn cữ mà nhìn rõ mặtcuộc đời, một kiếp ngời, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dunglợng của nó là dung lợng của cả cuốn tiểu thuyết” Đọc truyện ngắn thời kì đổimới chúng ta có thể thấy rõ điều đó Những truyện ngắn của Nguyễn HuyThiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Khải, Hồ Anh Thái, có khả năng rất lớn khichuyển tải nội dung hiện thực vào tác phẩm

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự hiện đại, khám phá đời sống theo nguyêntắc t duy tiểu thuyết Truyện ngắn mô tả đời sống nh một thực tại đang diễn

ra Nhờ chiếm lĩnh đời sống theo nguyên tắc t duy tiểu thuyết nên cấu trúc thể

Trang 13

loại của truyện ngắn đợc đổi mới về căn bản so với truyện ngắn truyền thống.

ở truyện ngắn hiện đại những thành phần tự sự cơ bản nh: cốt truyện, kết cấu,nhân vật, trần thuật đều đợc hiện đại hoá Toàn bộ thế giới nghệ thuật của tácphẩm đều đợc tạo dựng bằng những chi tiết mang đậm hơi thở của đời sống vàcá tính sáng tạo của nhà văn Vì vậy trong cuộc sống hiện đại truyện ngắn làmột thể tài chiếm u thế trong việc phát hiện mọi vấn đề của cuộc sống và đợcngời đọc quan tâm, lựa chọn

1.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986

1.2.1 Bối cảnh xã hội- văn hóa

Bớc ra từ hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại- chống Pháp và chống Mĩ,

đất nớc ta hoàn toàn độc lập, Bắc Nam sum họp một nhà Nếu nh trong chiếntranh ngời ta phải gồng mình lên để hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đặt lên vaimình, thì sau 1975 cuộc sống hòa bình trở lại đã cho phép mỗi ngời đợc quantâm đến cá nhân mình, đến nhu cầu của cuộc sống riêng t Mời năm sau hòabình, sống gò mình trong cơ chế bao cấp, cả xã hội và mỗi ngời đều thấy nhgần ngạt thở Đây là thời gian khó khăn tởng nh không thể vợt qua đợc của cảdân tộc Tất cả rất cần một bầu không khí mới để hồi sinh Năm 1986 là mộtmốc son mới của cả đất nớc Đại hội VI của Đảng đã mở ra một thời kỳ mớicho lịch sử dân tộc, đã thổi một luồng gió mới đến với ngời Việt Nam Về mặtchính trị, nhà nớc ta kiên định đi theo con đờng XHCN nhng trên tinh thầndân chủ, xây dựng một nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quanniệm địch- ta không còn gay gắt, thay vào đó là hòa bình- hợp tác- các bêncùng có lợi Về mặt kinh tế, chủ trơng xây dựng nền kinh tế thị trờng ngàycàng hòa nhập với thế giới, phấn đấu để dân giàu- nớc mạnh- xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Nhng thực tế trong quá trình phát triển, nhà nớc ta,nhân dân ta phải đối mặt với những vấn đề rất phức tạp, thậm chí là nhức nhối

Sau 40 năm tiến hành hai cuộc giải phóng dân tộc, nhiều thế hệ ngờiViệt Nam đã chung sức đồng lòng hi sinh tất cả “một tấc không đi, một likhông rời”để bảo về đất nớc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng mộtnớc Việt Nam XHCN Thế nhng trong thời bình, nhất là sau đổi mới nhữngcái ác, cái xấu, những tệ nạn xã hội đang âm thầm nhng không kém phần dữdội len lõi vào cuộc sống, vào tâm hồn mỗi ngời dân đất Việt

Không thể phủ nhận đổi mới đã hồi sinh đất nớc, hồi sinh con ngời ViệtNam nhng chính nó cũng làm cho cuộc sống hiện lên ngày càng phức tạp và

Trang 14

bề bộn Nhu cầu cuộc sống liên tục thay đổi với những tiêu chuẩn ngày càngcao và hiện đại Con ngời không đơn giản, thánh thiện, anh hùng nh trongchiến tranh Con ngời hiện đại nhiều mu mô, nhiều tính toán và đa đoan, đa sựhơn Cái xấu, cái ác theo sự phát triển của kinh tế thị trờng cũng nhân rộng vàngày càng chi phối đến cuộc sống của nhiều ngời Giữa con ngời nảy sinhnhiều mối quan hệ phức tạp và mang màu sắc tính toán Giá trị tình cảm bịxem nhẹ Ngời ta sống vì danh lợi nhiều hơn vì lí tởng sống Chính trong môitrờng đó con ngời ngày càng cảm thấy bất an, càng gặp nhiều rủi ro hơn, bikịch hơn Hiện thực cuộc sống mới đó đã cung cấp nguồn cảm hứng, là mảnh

đất màu mỡ để cảm hứng phê phán trở lại và nảy nở

Tinh thần dân chủ đã tiếp sức cho đời sống văn hóa ở nớc ta sau 1986

có nhiều khởi sắc Nhu cầu nhận diện đúng khuôn mặt của cuộc sống trở nênbức thiết Không có giai đoạn nào nh sau 1986 quyền đợc nói thẳng, nói thậtlại cần thiết, lại có giá trị và đợc cổ vũ nh vậy Ngọn gió đổi mới đã đem đến

sự thay đổi trong nhận thức và sáng tác của đa số văn nghệ sĩ Lê Lựu thừanhận “ không thể viết nh trớc đợc nữa” Nguyễn Minh Châu tha thiết kêu gọi

“Hãy đọc lời minh điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”[42, 28].Nguyễn Nghĩa Trọng khẳng định “ xu hớng phê phán vạch trần những cái xấu,cái ác, cái hèn hạ, bất lơng hiện ra trong nhiều tác phẩm” Nhiều nhà vănkhác bằng tác phẩm của mình cũng ngầm phát biểu quan niệm của mình về

hiện thực mới đầy nóng bỏng trong thời bình nh: Ngọn gió màu xanh rêu,

Ng-ời sót lại của rừng cNg-ời ( Võ Thị Hảo), Anh lính Tony D, Đồng đô la vĩ đại ( Lê Minh Khuê), Tớng về hu, Huyền thoại phố phờng, Những bài học nông thôn ( Nguyễn Huy Thiệp), Thuế giờng, Vũ điệu cái bô ( Nguyễn Quang Thân)

1.2.2 Sự vận động của văn xuôi và truyện ngắn Việt Nam từ 2000

1986-1.2.2.1 T duy mới

Một nền văn học hay một giai đoạn văn học muốn phát triển, tiến lênthay da đổi thịt không chỉ bắt nguồn từ hiện thực Đứng trớc bất kì một đòi hỏinào của cuộc sống chúng ta đều phải tìm cách đáp ứng Văn học cũng khôngnằm ngoài quy luật đó Sau hai cuộc kháng chiến thần thánh những ngời cầmbút không thể sống nh trớc, nghĩ nh trớc, viết nh trớc Thành tựu văn học thờikì nào cũng đáng ghi nhận Đánh giá những thành tựu ấy là một công việc khákhó khăn và phải có sự trải nghiệm của lịch sử Văn học sau 1986 cũng vậy,

Trang 15

đang cố gắng định hình theo một yêu cầu cao hơn, phù hợp hơn, sát với thực

tế hơn Sau Đại hội VI của Đảng cùng với sự chuyển mình của toàn xã hội,văn xuôi cũng vận động hồi sinh cùng với cuộc sống mới của con ngời Chabao giờ cuộc sống hiện thực lại đợc phơi bày đầy đặn, có chiều sâu và chânthực đến nh vậy trong văn học thời kì đổi mới Phong Lê nhận xét “ Đổi mới,

để từ quá trình nhận thức và tự nhận thức lại mà có đợc những kinh nghiệmlạc quan và tự tin tiếp nhận chân lý mới” Nguyễn Thị Bình cho rằng: “ Vănxuôi chuyển mình từ tính thống nhất một khuynh hớng sang tính nhiềukhuynh hớng, từ chịu ảnh hởng của quy luật thời chiến sang chịu tác độngcủa quy luật thời bình và nhất là chịu quy luật của kinh tế thị trờng” [9,11].Tổng Bí th Đỗ Mời trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ V của Hội nhà vănnhấn mạnh : “Nhìn chung nền văn học nớc ta đã có một bớc phát triển trongnăm qua, trở nên phong phú, đa dạng hơn, có những tìm tòi mới, một số tácphẩm có giá trị t tởng đợc bạn đọc hoan nghênh”

Với truyền thống phát triển khá lâu, truyện ngắn là một thể loại đợcnhiều nhà văn lựa chọn đặc biệt là sau 1986, khi cuộc sống con ngời dờng nhgấp gáp hơn, năng động hơn Các nhà văn có tên tuổi, những cây bút tiêu biểucủa văn học thời chiến nhận thức rất rõ yêu cầu mới của văn học nên cũng đã

tự làm mới mình và ghi đợc nhiều thành công Trớc 1975 nhắc đến Nguyễn

Minh Châu ngời ta thờng nói tới những tiểu thuyết Dấu chân ngời lính, Miền cháy, Những ngời đi từ trong rừng ra nhng sau 1986 thì tên tuổi ông lại gắn liền với những truyện ngắn Bức tranh, Phiên chợ Giát, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau

Từ 1986 đến 2000, sự xuất hiện mới của những cây bút cũ nh NguyễnMinh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải bên cạnh những gơngmặt mới có tên tuổi nh Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị ThuHuệ, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Trần Thị Trờng, Tạ Duy Anh, Dạ Ngân,Nguyễn Quang Thân, đã khẳng định sự thắng thế của văn xuôi nói chung vàtruyện ngắn nói riêng Để có đợc thành công các nhà văn của chúng ta đã nỗlực rất nhiều trong đổi mới t duy, quan niệm, cách viết

Trớc 1975, văn học của chúng ta là nền văn học phục vụ sự nghiệpchính trị, phục vụ công cuộc chiến đấu chống lại đế quốc xâm lợc Văn xuôinói chung và truyện ngắn nói riêng trở đi trở lại với vấn đề chiến tranh, cangợi ngời anh hùng Sau thời kì đổi mới cuộc sống đi vào trang viết rất chân

Trang 16

thực và đầy chất sống Chiến tranh đợc nhìn lại với cảm hứng phê phán vànhững suy ngẫm sâu sắc Thế giới nội tâm của con ngời đợc cày xới và hiệnlên rất phong phú, đa dạng Những mảng hiện thực mà văn học trớc 1975 nétránh đã đợc phơi bày nh sự mất mát của chiến tranh, sự li tán, đau khổ, nhữngthói h tật xấu của một bộ phận cán bộ, những mặt tiêu cực còn tồn tại trongcuộc sống Nhà văn tự do lựa chọn đề tài theo kinh nghiệm, khả năng củamình để phản ánh Họ không còn bị chi phối, quy định bởi các yêu cầu kháchquan chính trị “ Kinh nghiệm cá nhân trở nên quan trọng” [24, 12] Nhà vănkhông còn là những ngời biết tuốt, biết trớc, dự cảm đợc mọi vấn đề, mọi sốphận Họ trở thành một nhân tố của câu chuyện, là một ngời bạn đối thoạicùng độc giả Nhà văn không mách nớc, không áp đặt cách hiểu của bản thânvới ngời đọc Độc giả trở thành ngời đồng sáng tạo trong tiếp nhận tác phẩm.

“Ngời đọc mong chờ ở nhà văn những kiến giải độc đáo, những ý tởng mới

mẻ, giúp họ mở rộng tầm nhìn, cách nghĩ Còn nhà văn ý thức sâu sắc hơn tcách nghệ sĩ của mình, về quyền tự do chiêm nghiêm, khám phá và đề xuất

đối thoại” [46, 12] NQ 05 về văn nghệ của Đảng chủ trơng “ tự do sáng tác là

điều kiện sống còn để phát huy tài năng” Trong các truyện ngắn của NguyễnMinh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn ThịThu Huệ, Hồ Anh Thái, ta thấy cách họ quan niệm về cuộc sống, số phậncon ngời, nhân cách con ngời rất mới mẻ và không lạc lõng bởi đó là kinhnghiệm của cá nhân họ về cuộc sống, về hiện thực ngày hôm nay Họ đợcquyền đánh giá, nhìn nhận hiện thực theo nhãn quan của cá nhân mình Đó lànhờ t tởng đổi mới, dân chủ của Đảng và cũng nhờ đó mà truyện ngắn gặt hái

đợc nhiều thành công, thực sự khởi sắc, bắt nhịp với đời sống hiện đại, trởthành món ăn tinh thần của thời đại

Giai đoạn 1986 đến 2000, văn xuôi nói chung truyện ngắn nói riêng có

đời sống sôi động và gặt hái dợc nhiều thành tựu cũng bởi xét từ phía ngời đọc

đã có một t duy mới khi tiếp nhận Ngời tiếp nhận không dễ dàng chấp nhậnnhững tác phẩm mang cảm hứng sử thi, cảm hứng lãng mạn nh trớc 1975 Họsẵn sàng đón nhận những cách tân, đổi mới trong cách viết Thị hiếu của ngời

đọc hôm nay rất đa dạng Họ cũng đòi hỏi cao ở nhà văn trong việc tạo ranhững món ăn tinh thần cho họ

1.2.2.2 Cảm hứng mới

Trang 17

T duy mới nhanh chóng thấm sâu vào đời sống văn học, khơi nguồn chomột dòng chảy mới, tràn đầy sức sống Cảm hứng sử thi, cảm hứng ngợi cakhông còn thích hợp trong hiện thực phức tạp của đời sống kinh tế thị trờng.Trong tuần báo Văn nghệ Số 52-1984 nhà văn Hữu Mai đã báo động: “ Cầnchấm dứt những lời ca ngợi dễ dãi đã làm ngời đọc chán ngấy” Cuộc sốngthời bình với vô số vấn đề mới phát sinh ngày càng trở nên gay gắt trong dluận xã hội Tất cả cái ngổn ngang của đời sống thờng nhật va đập vào ngờiviết, thôi thúc họ khám phá Đời sống đất nớc sau một bớc ngoặt lớn đã trảiqua hàng loạt biến động sâu sắc và kèm theo đó có biết bao thay đổi trong ýthức xã hội, trong chiều sâu ý thức con ngời Những nhà văn nh Nguyễn MinhChâu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng đều tự vợt qua chínhmình để làm nên những tác phẩm mới có giá trị, mang hơi thở của cuộc sốnghiện đại Những tên tuổi mới nh Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, NguyễnThị Thu Huệ, Vũ Thị Thờng, Trần Thị Trờng, Bảo Ninh, Phan Thị VàngAnh, nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn bằng t duy mới, cảm hứng mới trongsáng tạo nghệ thuật Mỗi tác phẩm của họ là mỗi khuôn mặt sinh động củacuộc sống hôm nay, mang hơi thở của thời kì đổi mới Nhìn chung truyệnngắn giai đoạn 1986- 2000 đã gia tăng thêm một số cảm hứng sáng tạo mới

nh cảm hứng phê phán, cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ, cảm hứng thânphận con ngời cá nhân

Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ là cảm hứng sáng tạo mới thể hiệntrong nhiều tác phẩm D âm chiến tranh trong đời sống sau 1986 vừa hào hùngvừa đau đớn Ngời đọc lúc này không dễ dàng chấp nhận kiểu tác phẩm đơngiản chỉ là sự tái hiện hai cuộc chiến, chỉ là những tài liệu ghi chép Chiếntranh là một hoàn cảnh đặc biệt mà ở đó mỗi số phận của con ngời đợc thửthách một cách khốc liệt Sau mời năm chiến thắng, tất cả đủ bình tĩnh để nhìnlại, nhiều truyện ngắn đã bắt đầu chú ý xây dựng những tình huống đầy xung

đột, gay cấn, đặt nhân vật vào những hoàn cảnh éo le, phơi bày những số phận

phức tạp của ngời lính trong chiến tranh và sau chiến tranh ( Ngời sót lại của rừng cời, Trận gió màu xanh rêu- Võ Thị Hảo; Cỏ lau, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tôc hành, Bức tranh- Nguyễn Minh Châu; ) Với cái nhìn thẳng

thắn, truyện ngắn sau 1986 tập trung vào những khoảnh khắc thờng nhật củachiến tranh, xoáy sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, vào những cảnh ngộ

và xung đột bên trong mỗi con ngời Cách nhìn chiến tranh với đôi mắt khác

Trang 18

ngày hôm qua đã đem đến sức hấp dẫn mới cho truyện ngắn giai đoạn 1986

đến 2000 Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ đã giúp ngời đọc nhìn nhận lạingày hôm qua, rút kinh nghiệm cho cuộc sống hôm nay, khẳng định vẻ đẹpchân thiện mĩ của ngời Việt Nam trong hoàn cảnh bom rơi lửa đạn Đọctruyện ngắn mang cảm hứng mới này, thế hệ trẻ lớn lên sau chiến tranh hiểuhơn sự phức tạp, nỗi đau đớn, sự anh dũng của cha anh mình

Những cây bút trẻ nh Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,Dạ Ngân, Hồ Anh Thái, không chỉ quan tâm đến vấn đề chiến tranh mà họcòn hớng sự chú ý đến những vấn đề lịch sử, chiêm nghiệm lại lịch sử Nhữnggiai đoạn lịch sử, những nhân vật lịch sử xuất hiện trong nhiều truyện ngắntheo một quan niệm riêng đầy mới mẻ mang dấu ấn cá nhân của ngời viết Tr-

ớc 1975 những nhân vật lịch sử có khi là những tợng đài bất khả xâm phạm thìsau 1986 lại trở thành đối tợng nghiền ngẫm, thành hình tợng nghệ thuật và

phơng tiện để nhà văn thể hiện t tởng Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, Ngày cuối cùng của Dâm phụ“ ” của Dạ Ngân, Mặc dùkhi xuất hiện những truyện ngắn này, đặc biệt là của Nguyễn Huy Thiệp đãgây ra nhiều cuộc tranh cãi gay gắt, phần nhiều là cực đoan nhng dần dần ngời

đọc cũng chấp nhận và càng về sau nhiều nhà văn trẻ cũng thể hiện cảm hứngnày trong các truyện ngắn của mình

Bên cạnh sự xuất hiện cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ, nổi bật trongtruyện ngắn giai đoạn 1986 đến 2000 là cảm hứng phê phán Cảm hứng phêphán là cảm hứng chủ đạo của trào lu văn học hiện thực phê phán xuất hiệntrong văn học nớc ta giai đoạn 1930- 1945 thời kì thực dân nửa phong kiến.Giai đoạn 1986- 2000, cảm hứng phê phán trong văn xuôi lúc đầu rải rác, sau

đó ngày càng thể hiện sâu đậm Sau chiến tranh, cuộc sống trở về với trạngthái thanh bình, ý thức cá nhân trỗi dậy Hòa bình lập lại đời sống càng ngàycàng phức tạp, nỗi lo cơm áo gạo tiền trở nên thờng trực trong cuộc sống mỗingời, tác động đến tình cảm, t tởng của họ Con đờng XHCN mà dân tộc ta

đang đi hết sức mới mẻ và đầy khó khăn, cha có mô hình để cho ta học tập.Cuộc sống trên mọi lĩnh vực trở nên ngột ngạt nhất là mời năm sau cuộc chiếntranh vĩ đại 1975 Đại hội VI đã cởi trói cho toàn đất nớc Việt Nam trong đó

có văn học Nhìn thẳng, nói thật là yêu cầu sống còn của đời sống văn học giai

đoạn này Nhà văn bắt đầu nhìn lại mình, đánh giá lại lại những thành tựu vàhạn chế của các giai đoạn văn học trớc đó, tìm ra con đờng đi đúng đắn hợp

Trang 19

quy luật để văn học hồi sinh, trở thành tiếng nói tâm t tình cảm của con ngờiViệt Nam mới Đó chính là nội dung cơ bản của cảm hứng phê phán trong vănxuôi và trong truyện ngắn sau 1986 Đợc khuyến khích bởi t tởng dân chủ của

Đảng và nhà nớc, ngời cầm bút bên cạnh đề cao cái mới, cái đẹp họ phải khámphá sâu hơn, nhiều hơn về những mặt trái của xã hội, những góc khuất trongtâm hồn con ngời, những thế lực đen tối đang cản trở công cuộc xây dựngXHCN, gây bức xúc trong nhân dân Nhà văn lúc này manng trên mình mộttrọng trách cao cả Họ phải dùng ngòi bút của mình để vạch trần cái xấu, cái

ác, khẳng định niềm tin cho con ngời Có thể nói nhiều tác phẩm mang cảm

hứng phê phán đã làm nên tên tuổi của nhiều nhà văn nh Tạ Duy Anh ( Bớc qua lời nguyền), Phạm Thị Hoài ( Thiên sứ), Nguyễn Huy Thiệp ( Tớng về hu, Huyền thoại phố phờng ), Nguyễn Quang Thân ( Thuế giờng), Trần Thị Tr- ờng (Nô tì đợc trang sức), Hồ Anh Thái ( Cả một dây theo nhau đi),

Qua các truyện ngắn giai đoạn 1986- 2000, ngời đọc đã cảm nhận đợcnhững đau đớn, xót xa của các số phận khi phải chống chọi với cái ác, cáidung tục đang tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau trong cuộc sống Hiệnthực trong chiến tranh là hiện thực “dâng sẵn, đón chờ”, nhà văn là ngờichuyên đi tìm cái đẹp xứng tầm thời đại Họ né tránh tất cả những vấn đề dungtục đi ngoài quỹ đạo chiến tranh và theo quán tính mời năm sau 1975 văn họcchúng ta vẫn cha thoát khỏi vòng quay cũ đó khiến nhiều nhà văn có tài năng

và tâm huyết cảm thấy ngòi bút đang mất dần nhuệ khí Họ cảm thấy khôngthể viết nh cũ bởi hiện thực đất nớc sau chiến tranh hiện lên ngày càng phongphú, đa dạng Nguyễn Minh Châu từng viết: “ Nhà văn rất cần thiết phải cómặt ở trên đời để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trớc những taihọa”; “ Cuộc sống trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy rẫy oan khiên,oan khuất Cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ và lẫm liệt, đầy mu ma chớc quỷ,còn cái thiện thì ngu ngơ, lại thờng cả tin” ( Báo Văn nghệ, số 49- 50, 1987)

Văn học dù phát triển đến đâu vẫn lấy con ngời là đối tợng trung tâm.Văn học là nhân học Văn học giai đoạn 1986- 2000 đặc biệt đi sâu vào thânphận, tâm t tình cảm của con ngời cá nhân Văn học trớc 1975 đặc biệt dành

sự u ái cho con ngời cộng đồng, con ngời lịch sử Trong các trang viết của nhàvăn chỉ xuất hiện những con ngời anh hùng có sức khái quát, đại diện cho cảcộng đồng ngời Việt Nam trong chiến tranh Con ngời cá nhân trong văn họctrớc 1975 không có chỗ đứng bởi tất cả đều dồn cho tiền tuyến, cho mục tiêu

Trang 20

giành tự do độc lập cho dân tộc Hạnh phúc cá nhân, nhu cầu bình thờng trong

đời sống, những toan tính của riêng một ngời là tội lỗi Sau hòa bình, đợc trở

về với nhịp sống bình yên, con ngời khao khát sống hạnh phúc và có ý nghĩa.Văn học đã nhanh chóng nắm bắt đợc nhu cầu bức thiết đó nhng cha có cơ hội

đợc thể hiện Sau Đại hội VI, NQ 05 của Bộ chính trị đã thổi một luồng giómới giúp văn học hồi sinh Thời kì đổi mới, các nhà văn của chúng ta viết vềcon ngời thờng quan tâm đến những số phận khác nhau, những tính cách vàcảnh ngộ riêng của họ để cùng trải nghiệm cuộc sống Trong chiến tranh cảmhứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nớc Trong hòa bình cảm hứngnổi bật và bao trùm là cảm hứng nhân đạo và nhân đạo nhất là thể hiện thânphận con ngời cá nhân Đây là cảm hứng mới xuất hiện trong thời kì đổi mới,khơi nguồn sáng tạo cho nhiều thế hệ nhà văn Văn học giai đoạn 1986- 2000phản ánh con ngời không phiến diện, đơn giản mà đợc soi chiếu từ nhiều góc

độ Văn học thời kì đổi mới xuất hiện con ngời “ không trùng khít với mình”,giá trị con ngời đợc đo bằng chính nhân cách của họ Với t duy đổi mới, vănhọc đã chọn góc độ con ngời để khám phá con ngời nên trong văn xuôi đãxuất hiện nhiều chủ đề thuộc về con ngời cá nhân mà trớc kia cha đợc quantâm Số phận và niềm hạnh phúc mà con ngời trải qua, hớng đến đợc thừanhận, khuyến khích trong văn học, không bị bài xích hay gán ghép về quan

điểm, lập trờng Nhà văn trở thành ngời bạn cùng chia sẽ nỗi đau, sự mất mátnhững rủi ro với từng số phận cá nhân Sự chia sẻ này của nhà văn đối với bikịch và sự mất mát mà nhiều ngời phải gánh chịu suốt mấy chục năm chiếntranh mang ý nghĩa nhân đạo Càng đi sâu khám phá con ngời cá nhân cànghiểu hơn về thế giới bên trong của con ngời Dù giàu hay nghèo, dù lành lặnhay tật nguyền, dù có học hay vô học, con ngời luôn khao khát, luôn mơ ớc,luôn tìm kiếm dù họ biết cái đã qua chắc gì đã trở lại và những mong ớc đâu

dễ có đợc trong đời “ Các nhà văn sau đổi mới viết về cảm hứng thân phậncon ngời đã có thể nhìn sâu vào tâm thức, vào đời sống tình cảm và phát hiện

ra những khao khát riêng t, mối mâu thuẫn giữa kì vọng của con ngời và thực

tế khách quan”[75, 27] Nhờ sự xuất hiện của cảm hứng mới này mà văn họccủa chúng ta đã trở lại quỹ đạo bình thờng, hòa nhập với các nền văn họctrong khu vực bởi con ngời muôn đời vẫn là đối tợng trung tâm của văn học.Làm đợc điều đó văn học đã góp phần xây dựng, hình thành nên những nhâncách mới cho con ngời Việt Nam thời hiện đại

Trang 21

1.2.2.3 Những cách tân nghệ thuật

Cuộc đổi mới do Đảng và nhà nớc ta khởi xớng đã đem lại không chỉnhững mới mẻ ở nội dung t tởng mà cả những đổi mới trong hình thức nghệthuật Truyện ngắn Việt Nam có truyền thống phát triển khá lâu từ thời trung

đại với thể tài tự sự ngắn, đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX xuất hiện kháiniệm “ đoản thiên truyện ngắn” Thuật ngữ truyện ngắn xuất hiện từ nhữngnăm 1930 đã định hình thể loại này trong nền văn học Việt Nam Từ bấy đếnnay cùng với lịch sử dân tộc, thể loại này cũng thăng trầm theo thời gian Đây

là “thể tài trực chiến” của đời sống văn học nên ngày càng đợc nhiều cây bút

đã trởng thành hoặc mới vào nghề lựa chọn

Văn xuôi giai đoạn 1986- 2000 khác giai đoạn trớc 1975 là giọng điệu.Văn học trớc 1975 nhất quán về giọng điệu, chủ yếu là giọng ngợi ca, khẳng

định phù hợp với những vấn đề mang tầm vóc lịch sử Văn học sau 1986 rất đadạng về giọng điệu, vì nó quan tâm đến những vấn đề cá nhân, con ngời đời t,nhà văn luôn có ý thức thể hiện cá tính của mình bằng những cách thể hiện

độc đáo “ Quan sát đại thể, dờng nh 10 năm đầu sau khi cuộc chiến tranhchống Mỹ kết thúc, văn xuôi nớc ta mang giọng chủ đạo là trầm tỉnh, kháchquan Từ khoảng giữa thập kỉ 80, nổi lên rõ hơn giọng phê phán, phân tích xãhội với sự phát triển ồ ạt của dòng văn học chống tiêu cực Giọng điệu nàychứa đựng nhiệt tình sôi nổi, nhu cầu đối thoại ráo riết về các vấn đề xã hội

mà ý thức công dân vừa thức tỉnh theo tinh thần dân chủ đổi mới Sau đó,giọng phê phán trầm xuống, hòa đồng trong rất nhiều giọng khác Giọng điệuvăn xuôi mang nhiều suy t khắc khoải, nhiều chiêm nghiệm về thế sự nhânsinh Đầu thập kỉ 90, nó bắt đầu thăng bằng lại, tự điều chỉnh những ồn ào tháiquá” [50]

Từ 1986, sau mời năm của thời đại hòa bình ngời Việt Nam sống kháctrớc, suy nghĩ khác trớc và hiện thực cũng khác trớc Chính sự thâm nhập củanền kinh tế thị trờng đã làm cả dân tộc thay da đổi thịt Đời sống đợc nângcao, giá trị sống thay đổi theo chiều tích cực, vị thế nớc ta ngày càng nâng cao

so với khu vực và thế giới nhng cũng kéo theo nhiều tiêu cực không thể cỡnglại Con ngời trong văn học không thể chỉ là và không còn là những anh hùngcủa chiến tranh, là con ngời của cộng đồng lịch sử Con ngời lúc này phảisống với ý thức cá nhân trỗi dậy, họ có tốt có xấu, vừa tham lam vừa nhân ái,vừa tàn nhẫn vừa đáng thơng Họ không đợc tắm trong một môi trờng sạch sẽ

Trang 22

nh văn học trớc 1975 mà họ đợc soi chiếu trong những hoàn cảnh rất phức tạp,quyết liệt của hiện thực đời sống thời kì đổi mới Đại hội VI- VII của Đảngnhấn mạnh đến yếu tố con ngời, coi nguồn lực lớn nhất của đất nớc là con ng-

ời Việt Nam mới Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài phỏng vấn của Tạpchí Cửa Việt số 1 năm 1990 đã nói: “ Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyềnsống của dân tộc, sau này ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con ng-

ời, làm sao cho con ngời ngày càng tốt đẹp, chính cuộc chiến đấu ấy mới lâudài” Nguyễn Thị Bình trong chuyên luận của mình có những ý kiến rất sâusắc : “ Nhà văn khao khát tìm kiếm câu trả lời về sự tồn tại của con ngời

không phải nh một nhà đạo đức hay một cán bộ tuyên huấn mà nh một nhà

triết học, nhà t tởng, nhà văn hóa mong muốn nắm bắt đợc những chân lí phổquát về con ngời”[72, 12] Con ngời trong văn học sau 1986 là những vũ trụphức tạp, khó nắm bắt, đợc soi chiếu từ nhiều góc độ, vị trí Nhà văn NguyễnMinh Châu trớc 1975 đề cao con ngời trong sáng, đơn nhất thì sau 1986 ngòibút của ông lại đặc biệt quan tâm đến những số phận đa đoan, những tính cách

phức tạp, những sự giằng xé nội tâm đau đớn của con ngời ( Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành )

Văn học thời kì đổi mới quan niệm con ngời vừa là sản phẩm của tựnhiên, vừa là “ tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Dới ống kính soi chiếu nàycon ngời trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 hiện lên rất phức tạp, là sự đancài nhiều tính cách khác nhau trong một con ngời Đề tài chiến tranh đợc quantâm khai thác trong một t duy mới, hiện lên không chỉ có màu hồng mà chiếntranh còn chứa đựng nhiều đau thơng mất mát Quan niệm về con ngời trongvăn học sau 1986 là một quan niệm đầy biện chứng Con ngời hiện lên nh nóvốn có, không thần thánh hóa, không lí tởng hóa Họ đợc đặt trong bầu khôngkhí ngổn ngang của hiện thực, sự xô bồ của thời kinh tế thị trờng Chính vìvậy đọc truyện ngắn hôm nay ngời đọc nh nhận diện đợc chính mình, mọi ng-

ời xung quanh mình, xã hội mình đang sống một cách ttrung thực và trọn vẹnhơn, không tô hồng, không bóp méo, là hiện thực vốn có không phải là hiệnthực nh mình muốn

Với sự đổi mới về t duy, quan niệm và đặc biệt là sự thay đổi của đờisống, văn học giai đoạn đoạn này không a chuộng cảm hứng sử thi, ngợi ca

mà đã có sự cách tân ở phơng diện cảm hứng Hầu hết các nhà văn khi viết

đều nghiêng về khai thác cảm hứng thế sự đời t,, cảm hứng chiêm nghiệm quá

Trang 23

khứ, cảm hứng thân phận con ngời Đây là những cảm hứng mới chiếm u thếtrên văn đàn giai đoạn đổi mới Bởi hiện thực cuộc sống thời bình ngổn ngang,xô bồ, phức tạp không cho phép nhà văn đơn giản khi phản ánh trong tácphẩm của mình Họ phải tìm cho mình một cảm hứng sáng tạo mới thích hợpvới cuộc sống, thị hiếu hôm nay.

Văn xuôi mà cụ thể là truyện ngắn thời kì đổi mới còn cách tân trongnghệ thuật xây dựng nhân vật Các nhà văn thời kì đổi mới quan niệm nhânvật xuất hiện trong tác phẩm là để gửi gắm t tởng, vấn đề nào đó Trong vănxuôi sau đổi mới nhân vật thờng là những bức vẽ dang dở, là những phác thảotinh xảo và không bao giờ đợc nhà văn vẽ cho hoàn hảo Ngời viết không chú

ý nhiều đến tính hoàn chỉnh của cốt truyện Nhà văn luôn đứng cao hơn nhânvật để nghiên cứu, phân tích đối tợng với một cái nhìn khách quan Từ nhậnthức và quan niệm mới về con ngời đã dẫn tới sự thay đổi thế giới nhân vậttrong văn xuôi Nếu nh văn học trớc 1975, nhân vật đợc nhận diện theo lập tr-ờng dân tộc và cách mạng thì nhân vật thời kì đổi mới đợc phân loại bằngnhiều tiêu chí khác nhau

1.3 Nhìn chung về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn hiện đại

và truyện ngắn sau 1986

1.3.1 Khái niệm cảm hứng trong văn học

Thuật ngữ cảm hứng trong văn học xuất hiện từ thời cổ đại, do các triếtgia Hi Lạp khởi xớng nhằm chỉ trạng thái hng phấn cao độ của nhà văn doviệc chiếm lĩnh đợc bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả

Theo Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên): “ Cảm hứng là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắmxuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một t tởng xác định, một sự đánhgiá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những ngời tiếp nhận”

Theo Pospelov: “ Sự lí giải và đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch sử

đối với các tính cách đợc miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quancủa các tính cách ấy là cảm hứng t tởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩmcủa nhà văn”

Trong văn học cảm hứng có nhiều biến thể tùy vấn đề đợc nhận thứctrong tác phẩm của nhà văn Đó có thể là cảm hứng anh hùng, cảm hứng bikịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng thơng cảm, cảm hứng lãng mạn, hoặc làcảm hứng châm biếm và cảm hứng hài hớc Cảm hứng đợc nảy sinh trong ý

Trang 24

thức con ngời do những mâu thuẫn của đời sống xã hội, của tính cách và hoạt

động của những đại diện cho một giới xã hội nào đó

ớc ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, yên lặng, họ hàng, làng mạc, ngời ta phải tỉnhtáo, tính toán, vạt lộn trong tình thế “ khôn sống, mống chết” của một quan hệlạnh lùng “ tiền trao, cháo múc” Ngời ta phải tự ý thức, phải sống, suy nghĩ, -

ớc mơ cho riêng mình trong những điều kiện của một xã hội phức tạp rộnglớn”[64] Vũ Trọng Phụng đã phê phán một cách sắc sảo xã hội kim tiền độc

ác, xảo trá và dâm loạn đã góp phần quan trọng vào nghệ thuật điển hình hóanhững bộ mặt khác nhau của giai cấp t sản Nguyễn Công Hoan đã kích mãnhliệt vào xã hội quan trờng và lễ giáo phong kiến Ngòi bút của Nam Cao,Nguyên Hồng, Tô Hoài đã dám nhìn thẳng vào sự thật, thấy đợc cái khôngkhí oi bức, dông bão của một xã hội đang ngột thở, đang quằn quại lột xác đểchuyển mình, để đổi thay

Từ 1945- 1975, lịch sử dân tộc bớc sang một trang mới Dới sự lãnh đạocủa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, đất nớc ở miền Bắc tích cực xâydựng XHCN, ở miền Nam kiên trì đấu tranh chống lại sự thôn tính của đếquốc Pháp và sự trở lại của đế quốc Mĩ Vì nhiệm vụ thiêng liêng đó tất cả đềudồn cho tiền tuyến kể cả văn học Văn nghệ sĩ là chiến sĩ và văn học là chiếntrờng Với nguyên tắc sáng tạo “ Tốt cả trăm phần trăm về nội dung và hìnhthức” ( Phạm Văn Đồng), giai đoạn này các nhà nghiên cứu vẫn gọi là giai

đoạn Văn học cách mạng với cảm hứng xuyên suốt là cảm hứng anh hùng ca,cảm hứng sử thi, cảm hứng về Tổ quốc XHCN, về sự nghiệp cách mạng, vềcon ngời XHCN

Trang 25

Sau 1975, đời sống văn học dờng nh chững lại Ngời cầm bút không thểviết nhiều, viết tốt, viết hay và hầu nh không có tác phẩm hấp dẫn bạn đọc.

Đời sống văn học nh một ao đời phẳng lặng nhng chứa đựng bên trong những

đợt sóng âm thầm đang quẫy đạp trong suy t của ngời cầm bút Trớc nhữngbiến động dữ dội của đời sống thời kinh tế đi theo kiểu sáng tác trớc 1975không còn thích hợp Không thể sáng tác theo nguyên tắc: “ Phản ánh hiệnthực trong xu thế phát triển cách mạng của nó”, không thể chỉ phản ánh những

“ xung đột thẫm mĩ thuận chiều” và không thể bài trừ sự phản ánh những “xung đột thẫm mĩ nghịch chiều” [296, 7] Đại hội lần thứ VI của Đảng ( 1986)chủ trơng đổi mới toàn diện đã mở ra một thời kì mới cho đất nớc vợt quakhủng hoảng bớc vào một thời kì hội nhập và phát triển Với tinh thần nhìnthẳng vào sự thật với t duy đổi mới, vào nửa cuối năm 1980 và đầu những năm

1990 khuynh hớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽtrên tinh thần nhân bản Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải,

đều dành nhiều trang viết thể hiện cảm hứng mới này của văn học giai đoạn

sau đổi mới Thời xa vắng của Lê Lựu đợc xem là tác phẩm khơi dòng cho

khuynh hớng này trong văn học Nguyễn Minh Châu nhìn chiến tranh với sựtác động của nó đến số phận và tính cách của con ngời Nguyễn Huy Thiệp lạiphơi bày sự khủng hoảng của xã hội qua việc thay đổi các giá trị và lối sống(

Tớng về hu, Không có vua, Huyền thoại phố phờng ) Ngoài ra nhiều tác giả

khác nh Nguyễn Khắc Trờng, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, đã đa vào truyệnngắn những mảng hiện thực trớc đây thờng bị khuất lấp, nay đã hiện lên trêntrang sách với bao điều xót xa và cả sự nhức nhối mà các tác giả muốn thứctỉnh trong tâm hồn mỗi ngời đọc cũng nh toàn xã hội “ Nguyễn Minh Châuchủ yếu nói về cái sai của những quan niệm giản đơn về con ngời từng tồn tạilâu dài trong văn học và ý thức xã hội Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trờng nói về sựnhếch nhác và cái xấu của những lề thói đợc nuôi dỡng hàng ngàn đời nay saulũy tre làng Ma Văn Kháng nói về sự sa sút của đạo đức, sự băng hoại khôngthể nào níu giữ của phong hóa và sự tàn bạo, dữ dội của đời sống bán khai.Rất nhiều trang văn của Nguyễn Huy Thiệp nói về sự phân rẽ trong quan hệnhân sinh giữa các thế hệ và cái phần đốn mạt của con ngời Trong sáng táccủa Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, ngời giống nh đã hóa thành quỷ, nên

đâu đâu cũng thấy ma quỷ hiện hình biết nói thứ tiếng của con ngời”[63, 50]

Trang 26

1.3.3 Nguyên nhân của sự gia tăng cảm hứng phê phán trong truyện ngắn sau 1986

Sau chiến tranh, tình hình xã hội nớc ta với nhiều tồn tại mặt trái đôi lúcbộc lộ ngày càng gay gắt Về mặt chính trị, nhà nớc ta kiên định đi theo con đ-ờng XHCN nhng trên tinh thần dân chủ, xây dựng nhà nớc pháp quyền củadân, do dân, vì dân Quan hệ địch ta không còn gay gắt mà thay vào đó là hòabình, hợp tác, đôi bên cùng có lợi Về mặt kinh tế, chủ trơng xây dựng nềnkinh tế thị trờng ngày càng hòa nhập với thế giới, điều quan trọng là làm saocho dân giàu- nớc mạnh, xã hội công bằng- dân chủ- văn minh Nhng thực tếtrong quá trình phát triển, phấn đấu đó đất nớc ta, nhân dân ta đã đối mặt vớinhững vấn đề rất phức tạp, thậm chí là nhức nhối Sau 40 năm tiến hành nhữngcuộc giải phóng dân tộc, nhiều thế hệ ngời Việt Nam đã chung sức đồng lòng

hi sinh tất cả “ một tấc không đi, một li không rời” để bảo vệ đất nớc, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ, để xây dựng một nớc Việt Nam độc lập, giàu mạnh,hiện đại Thế nhng trong thời bình, nhất là sau đổi mới, những tệ nạn xã hội,những cái ác, cái xấu đang âm thầm len lõi thâm nhập vào đời sống của ngờidân đất Việt Xuất hiện những đờng dây buôn lậu cái chết trắng xuyên quốcgia, nhiều ngời tự đa mình đến cái chết với căn bệnh HIV đang ngày một lâylan nghiêm trọng Kinh tế thị trờng mở ra đem lại sự tiện lợi, thoải mái trongtiêu dùng, sự giàu có về của cải nhng không ai lờng hết mặt trái của cơ chế thịtrờng mà quy luật hoạt động của nó là mua và bán, là đồng tiền: “Đồng tiền làtiên là phật, là sức bật cuộc đời, là nụ cời của tuổi trẻ, là sức khỏe tuổi già ”.Cũng không ai lờng đợc câu triết lí nổi tiếng của Rocopheolo- một tỉ phú ngờiMỹ: “ Cái gì không mua đợc bằng tiền thì sẽ mua đợc bằng rất nhiều tiền” lạirất đúng trong việc mua quan bán tớc, chạy án, chạy tội Thực tế hiện naysong song với thị trờng công khai có một thị trờng ngầm hoạt động đêm ngày,mua và bán tất cả những thứ gì con ngời cần mà mục đích cao nhất là thu lợibất chính, bất chấp luật pháp, bất chấp lí tởng Sự bùng nổ của kinh tế thị tr-ờng ở nớc ta đã đa đến cuộc sống tơi sáng hơn nhng nó cũng tạo ra mặt trái

đặc biệt là làm suy thoái t tởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên nên đã diễn

ra hiện tợng tham nhũng, hối lộ Nhiều ngời bớc ra từ cuộc kháng chiến với bềdày thành tích, không chết vì bom đạn của kẻ thù mà lại bị đạn bọc đờng củaxã hội đen hạ gục Nhiều ngời vào sinh ra tử, lí lịch ngồn ngộn thành tích,trong thời kì đổi mới lại biến chất, thoái hóa Với lối sống chạy theo đồng tiền

Trang 27

nh vậy đã làm cho quan niệm sống cũng thay đổi, ngời ta đua đòi học thói ởng giả, thợng lu, quý tộc nhng thực chất bên trong trống rỗng về văn hóa và

tr-sa đọa về đạo đức Con ngời gặp nhiều rủi ro, bi kịch hơn, bi kịch gia đình, bikịch cá nhân Cuộc sống xã hội mới đó đã cung cấp nguồn cảm hứng, làmảnh đất màu mỡ để cảm hứng phê phán trở lại và nảy nở

Xét từ nguyên nhân chủ quan, sau hòa bình nhu cầu đổi mới cách nghĩ,cách viết là một nhu cầu cấp thiết Công chúng ngày càng hờ hững với vănhọc Ai cũng nhận thấy có một khoảng chân không trong văn học “ Trong khicác nhà văn chúng ta say sa: bây giờ hòa bình vốn sống tích lũy bao nhiêunăm ăm ắp nh “ cá tức trứng”, muốn đẻ lắm rồi, thì giờ thừa mứa ra đó, bom

đạn căng thẳng hết rồi, vật chất cũng đỡ khốn đốn hơn nhiều, tha hồ mà viết,viết cho hết, cho đã thì bỗng dng cái mối quan hệ vốn rất máu thịt giữa côngchúng và văn học đột nhiên lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi Ngời đọc hômqua còn mặn mà thế bỗng dng bây giờ quay lng lại với anh Họ không thèm

đọc anh nữa, sách anh viết ra hăm hở, dày cộp nằm mốc trên các quầy Ngời

ta bỏ anh Ngời ta đọc sách Tây và đọc Nguyễn Du”( Nguyên Ngọc) Đợc cổ

vũ bởi làn gió mới dân chủ, đội ngũ văn nghệ sĩ đã có cơ hội bộc lộ nhiều trăntrở bức xúc Họ có động lực mới để sáng tạo nghệ thuật Hiện thực đất n ớc m-

ời năm sau chiến tranh đầy bức xúc đã thôi thúc họ tìm đến cảm hứng phêphán để giúp ngời đọc khám phá cuộc sống, nhận diện đợc khuôn mặt của đờisống ngày hôm nay Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị cổ vũ văn nghệ sĩ: “Tiếng nói của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là tiếng nói

đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của lơng tri, của sự thật, của tinhthần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, phản ánh đợc nguyện vọng sâu xa củaquần chúng và quyết tâm của Đảng đa công cuộc đổi mới đến thắng lợi”

Chơng 2 Những biểu hiện của cảm hứng phê phán trong truyện

ngắn Việt Nam sau 1986 2.1 Chiến tranh và hậu quả của nó đối với con ngời thời hậu chiến

Từ 1945 đến 1975, đất nớc ta trải qua hai cuộc kháng chiến trờng kìchống Pháp và chống Mỹ Văn học cũng là vũ khí chiến đấu và nhà văn làchiến sĩ trên mặt trận t tởng văn hoá Lúc này, mục tiêu của ngời cầm bút là đ-

ợc hoà mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc để “Tôi cùng xơng thịt với nhân

Trang 28

dân tôi, cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” và họ nguyện “ Sống trong cátchết vùi trong cát, những trái tim nh ngọc sáng ngời” Vì yêu cầu của lịch sử,ngời cầm bút phải hớng tất cả cho tiền tuyến, cho cuộc đấu tranh sống mái với

kẻ thù Điều chủ yếu của ngời nghệ sĩ lúc này không phải là phát hiện nỗi đautrong tâm hồn, là sự thông cảm cho số phận con ngời mà cái tâm của họ chính

là quyền quên đi nỗi đau cá nhân để tìm về cái chung, niềm vui, sự lạc quanvào cuộc đấu tranh của dân tộc Giờ đây dân tộc ta đang sống trong hoà bình,chiến tranh đã lùi xa gần ba mơi năm nhng không phải dấu ấn của nó đã tànphai Cùng với sự đổi mới của đất nớc, văn học cũng trên đà thay da đổi thịt.Nhng dờng nh chúng ta vẫn cảm thấy bị vây giữa cái nghèo, cái bi, cái đê tiệnphi lí, uất ức Sứ mệnh của văn học đã thay đổi Khuynh hớng sử thi và anhhùng ca tỏ ra lạc hậu không phản ánh đúng bản chất cuộc sống, xa rời quầnchúng Những ngời cầm bút có trách nhiệm đã ý thức đợc trách nhiệm đó và

họ đã mạnh dạn đi tìm cái mới, khám phá con ngời ở góc nhìn của đời sống.Những nhà văn này đã đi thẳng vào cuộc sống, đánh giá lại quá khứ, dự cảm

về tơng lai không chỉ màu hồng, là lạc quan Sau 1986, với tinh thần dân chủ

“nói thẳng, nói thật” nhiều nhà văn đã lên tiếng trong đó có cả những ngờitrực tiếp cầm súng chiến đấu Tiếng nói của họ đã trở nên chân thực hơn Họdám nhìn thẳng vào những mất mát, những sai lầm, những nỗi đau mà nhândân Việt Nam phải gánh chịu khi vợt qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại

Là ngời chiến thắng nhng phía sau những vinh quang đó là những sốphận bất hạnh của ngời Việt Nam Đó là những con ngời không có tên trong

Trận gió màu xanh rêu ( Võ Thị Hảo) Ngời đàn bà sau bao chờ đợi mỏi mòn,

với hi vọng cháy bỏng chị đã tìm đợc mộ chồng đợc báo tử khá lâu Những ởng đợc đa hài cốt anh về với gia đình, dòng họ, quê hơng nhng trớ trêu thaydới ngôi mộ kia lại không chứa thi hài một con ngời mà là đầu một con nai

t-Đau đớn, phẫn uất đến cùng cực ngời vợ đã hoá điên Đứa con gái mời lămtuổi phải bỏ học theo để chăm sóc mẹ Hai mẹ con đã dừng chân ở một ngôilàng cũng rất kì lạ Làng toàn là đàn bà, họ có chung một ngày giỗ chồng vìchồng họ chết trong chiến tranh không rõ ngày tháng rồi có những bà goá,những ngời đàn bà không chồng Họ góp chung nỗi đau để cùng chia sẻ vớinhau vì tất cả còn phải sống, sống vì một thế hệ tơng lai con cái đang cần sựchăm sóc của ngời mẹ Bằng những tình tiết mộc mạc nhng xúc động, Võ ThịHảo đã chỉ ra đợc muôn vàn sự mất mát mà sau hoà bình nhiều ngời Việt

Trang 29

Nam phải gánh chịu ở Ngời sót lại của rừng cời Võ Thị Hảo đa ngời đọc trở

lại với những năm tháng chiến tranh ở trong rừng sâu nơi có một kho quânnhu do năm cô gái còn rất trẻ trông giữ Không trực tiếp cầm súng nã vàoquân giặc, không bị đe doạ về mạng sống trong từng giây phút nhng cuộcsống của năm cô gái nhỏ cũng khốc liệt và hiểm nguy không kém bởi nhữngtrận sốt rét kinh hoàng, dòng nớc khe màu xanh đen thớ lợ, cánh rừng già đầybom rơi đạn nổ Tâm hồn tràn đầy nhựa sống, ham sống của năm cô gái nhỏkhi đối diện với sự cô đơn quá lớn, sự thiếu vắng đồng loại, sự mất cân bằnggiới tính đã làm cho họ tởng nh phát điên, biến họ thành những con vợn ngờitrong khu rừng: “…hình nh có con vợn trắng vừa nhảy từ chòi canh xuống vàlẩn vào đám lá…Anh kinh hoàng thấy con vợn lúc nãy đang ôm chặt lấy anh.Nhng anh bàng hoàng gấp đôi khi nhận ra “ con vợn trắng” ấy là một ngời congái hoàn toàn trần truồng xoã tóc, vẻ mặt bơ phờ và đang ngửa cổ ra sau cờikhanh khách” Sự cô đơn trong rừng thiêng nớc độc đã dần dần cớp đi của họtuổi xuân thì Đầu họ dần dần trọc lóc nh lá rừng rụng trơ cành Họ cứ dần dần

“điên hoá” không cỡng lại đợc Tội ác của chiến tranh đợc Võ Thị Hảo pháthiện không quyết liệt, không tàn khốc nhng không vì thế mà kém phần đau

đớn Hình ảnh “ ba cô gái đang vừa cời vừa khóc, tay dứt tóc và xé quần áo.Còn một cô gái khác trẻ hơn đang chạy tới chạy lui ôm đầu đầy vẻ tuyệtvọng” đã ám ảnh anh, bám diết lấy anh khi một lần đợc chứng kiến Dờng nhnhà văn muốn nói những ngời đàn ông ra trận và hi sinh thật đàng hoàng cònnhững ngời phụ nữ chiến tranh đối với họ thật bất hạnh mà đôi khi “cảnh chếtchóc còn dễ chịu hơn!” Là ngời phụ nữ dịu dàng và mạnh mẽ, bằng con mắtnhân ái và độ lợng chị viết về chiến tranh rất sâu sắc và thấm thía Phải chăng

là ngời hậu sinh, có độ lùi về khoảng cách với chiến tranh, lại đợc sự khuyếnkhích của t tởng dân chủ mà chị đợc thoải mái thể hiện cái nhìn khách quan vềhiện thực chiến tranh, không né tránh hay tô hồng Trong chiến tranh ngời línhphải đối mặt với bao hiểm nguy thử thách ở mọi lúc mọi nơi Mạng sống của

họ rất mong manh Có những cái chết anh dũng, thơng tâm nhng cũng có

những cái chết âm thầm, ngang trái nh Hoàng và Tuân ( Máu của lá- Võ Thị

Hảo) đang đi trong một khu rừng yên tĩnh, bình an nhng bỗng có tiếng “bục”khẽ Tuân đa tay ôm ngực và cứ thế gục xuống không một tiếng kêu Một viên

đạn đã cớp đi sinh mạng, cuộc sống của Tuân Đau đớn thay những cái chết

nh thế này: “Mắt Tuân dại lạc đi trong cơn đau giẫy chết Anh quằn ngời, cào

Trang 30

một nắm đất lẫn sỏi tống vào mồm một viên sỏi vỡ “cốc” nghe khô rợn ngờigiữa hai hàm răng nghiến chặt, để rồi miệng mấp máy toan nói nhng cổ anh

đã ngật ra.Cái nhìn đau đáu, tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt nh thạch cao”.Chiến tranh đã khiến nhiều làng quê Việt Nam rơi vào cảnh “tiếng máy baygầm rú dọc đờng một Tiếng bom nổ thâu đêm Cả làng trắng đàn ông, chỉ cònlại đây đó các cụ già lụ khụ Ra trận và ra trận”

Cuộc chơi của Lê Minh Khuê không miêu tả những trận đánh lớn, sự

giằng co địch ta mà phơi bày hiện thực tàn khốc của cuộc chiến qua số phậnnhiều cá nhân Chiến tranh đã đẩy hai anh em, “một thằng làm cảnh sát chonguỵ và một thằng là Việt Cộng nằm vùng gặp nhau, thằng Việt Cộng bắnchết tơi thằng Quốc Gia rồi bỏ thành vào núi” Bà mẹ khóc ngất nh tàu lá héonhng ông chồng vốn có nợ máu với Việt minh lại rất tỉnh táo: “Đứa nào ở phe

đó chết thì phe đó chôn” Lê Minh Khuê đã rất công bằng khi nhận xét: “Chiến tranh dù phần thắng thuộc về ai thì máu của hai phe đã nhuộm đỏnhững trận chiến, nhiều vùng đất và bên nào cũng có những ngời anh hùng”.Qua số phận may rủi của thằng Sớm nhà văn đã tái hiện lại sự tàn phá củachiến tranh sau khi miền Bắc đợc giải phóng Từ một cậu bé mời lăm tuổitrong trắng, do chiến tranh mà Sớm đã trở thành kẻ cớp của giết ngời Trởthành tù hình sự, đợc thả ra nhốt vào khơi khơi vì hai bên Giải phóng và Quốcgia thay nhau làm chủ Không thuộc phe nào, đi trớc thành cổ Huế trongnhững ngày nóng bỏng đó Sớm đã thấy đợc sự ghê gớm của chiến tranh: “Bom Mỹ dội lên thành phố đền đài cổ kính nh ai nhặt sỏi trong bị ném lên môhình đồ chơi Thành phố tí xíu xinh đẹp nh cổ tích lúc này nhà cửa kêu răngrắc, cháy lốp bốp Nó nhìn thấy hàng trăm xác chết cái còn nguyên, cái bịnát đầu nát tay, tất cả xếp theo hình rẽ quạt Nhiều cái xác cụt đầu, thiếu tayhoặc chân, không nhìn rõ mặt ai” Có một giai đoạn trong các trang viếtkhông ai dám đề cập đến sự tàn phá của chiến tranh Viết về ba mơi năm khóilửa ấy chỉ toàn nói về những chiến công, những dũng sĩ Sau đổi mới, ngờicầm bút mạnh dạn tái hiện lại ngoài những thành tích vang dội ấy còn ẩn chứamuôn vàn những đau đớn, mất mát khó phai nhoà, xoa dịu

2.2 Chiến tranh và những bi kịch tinh thần dai dẳng thời hậu chiến

Trang 31

Sau đổi mới trớc yêu cầu mới của văn học, của độc giả các nhà vănkhông thể viết nh cũ, về những đề tài cũ Đợc sự cổ vũ của t tởng dân chủ của

Đảng và nhà nớc, ngời cầm bút đã bớc vào một “chiến trờng” mới Từ sự xôngpha, thử nghiệm đó đã xuất hiện nhiều tác giả u tú, nhiều truyện ngắn xuấtsắc Những nhà văn sau 1986 khi cầm bút họ chối bỏ những câu chuyện cổtích, những cốt truyện đơn giản theo những môtíp định sẵn Đề tài chiến tranhvẫn hấp dẫn ngời viết nhng hoàn toàn thay da đổi thịt Ngời cầm bút không tô

vẽ những “thần thoại chiến trờng” bởi trớc mắt họ xã hội “tan chiến nhng chatàn chiến”[37] Một dân tộc nhỏ bé nhng chiến thắng hai đế quốc sừng sỏ, gâychấn động địa cầu, để lại sự khâm phục và đặt ra một câu hỏi lớn cho nhiềudân tộc, nhiều nhà quân sự, nhiều chính khách Họ không thể lí giải nổi sứcmạnh nào đã làm nên chiến thắng đó nhng riêng ngời Việt Nam thì hiểu vì

đâu họ giành đợc chiến thắng

Sơng Nguyệt Minh bằng giọng văn dung dị, mộc mạc tái hiện lại Đêm làng Trọng Nhân, một buổi đêm “đầy những con đom đóm lập loè bay khắp

nơi, thoang thoảng mùi hoa bởi nhng trong lòng của Trờng thì bao nỗi niềm”.Bớc ra từ cuộc chiến tranh lành lặn, duy chỉ có khuôn mặt là dị dạng méo mó

do chất độc màu da cam để lại Mặc cảm vì hình dạng của mình, một nỗi đau

âm thầm dày vò đã níu giữ bớc chân anh, không cho anh gặp bố mẹ già và

ng-ời vợ yêu thơng Trờng đã kìm nén cõi lòng, đóng giả làm ngng-ời bạn của chínhmình để quay trở về làng: “ Ôi bao năm anh lăn lộn khắp các nẻo chiến trờng.Bao năm Trờng sống trong sự nhớ nhung, khao khát, chờ đợi Chiến tranh, xacách, mất mát, chia ly và chiến thắng Anh rùng mình nhớ lại: ánh mắt trố rakinh ngạc của cô gái, lời bà Lòm, tiếng kêu thất kinh của thằng bé “cái mặt

ông ác”, tiếng nói của cha lòng anh quặn lại Ngôi nhà anh bỗng trở nên xa lạquá ”.Tội ác chiến tranh đã hằn in lên khuôn mặt anh, cản đờng anh trở lạivới nggời thân, mặc cảm này không dễ xoá đi trong lòng ngời lính sau sáu

năm hoà bình Trong một truyện ngắn khác, Tiếng lục lạc trong đêm, Sơng

Nguyệt Minh nhìn thấy bi kịch của ngời lính khi thoát chết từ cuộc chiến trở

về Họ không chết nhng còn đau khổ hơn cả cái chết khi họ không bao giờdám sinh con bởi đứa con của họ sinh ra “Bé không có chân, chú Tâm ạ Cháu

bị ngạt nên mất trong bụng mẹ” Thật phũ phàng và ai oán Đó là “hậu quảcủa một lần đi trong cánh rừng trụi lá ở Trờng Sơn dạo trớc”

Trang 32

Cũng nói về hậu quả của chất độc màu da cam mà bom Mỹ rải xuốngtrong cuộc chiến ở Việt Nam để làm vành đai trắng, chất độc vẫn để lại di

chứng đến hai-ba thế hệ ngời Việt Nam sau chiến tranh Dây neo trần gian

( Võ Thị Hảo) nói về một ngời lính trong thời bình, anh có gia đình bố, mẹ, vợ

và bạn bè nhng anh không sống yên ổn vì cho rằng thần chết sắp gọi anh đibất cứ lúc nào: “ Vì còn mời hai ngời vào năm 1976, rồi còn bốn vào năm1986; đến 1991 còn ba, 1992 còn hai Và bây giờ đến lợt anh” Bị ám ảnh bởi

sự tiêu diệt âm thầm của chất độc màu da cam anh từ chối tất cả những gìthuộc về bệnh viện và thuốc thang Anh lấy vợ nhng không dám sinh con, sợsinh ra một quái thai không đầu không tay Nỗi đau của anh chỉ biết gửi vàothơ và chia sẻ với nàng, ngời tình nhân bé bỏng rất hiểu anh và sẵn sàng chếtcho anh có niềm tin vào cuộc sống Truyện ngắn đã vạch trần tội ác chiếntranh của đế quốc Mĩ Ngời Mĩ khi sa lầy vào cuộc chiến với ngời Viêt Nam

đã rải xuống nhiều khu rừng trên lãnh thổ Việt Nam hàng chục tấn chất độchoá học mà họ rêu rao là thuốc diệt cỏ Nó đã giết nhiều ngời lính trong khurừng, ngấm sâu vào đất, vào nớc, vào máu của những ngời đến sau, để lại tàntích cho nhiều thế hệ ngời Việt Nam: “ Những ngời đã trở về với hoà bình đểrồi lần lợt nằm vào cái huyệt đã đào sẵn cho mình trong chiến tranh từ mờimấy năm về trớc” Ngay cuộc sống của ngày hôm nay những vết thơng đó củangời Việt Nam vẫn đang hiện diện Hành trình đi tìm công lý cho những nạnnhân chất độc màu da cam của chúng ta mới bắt đầu và cha kết thúc Ngời Mĩvẫn cha chịu công nhận tội ác chiến tranh của họ ở Việt Nam phải chăng họ sợ

đối diện với nỗi đau quá lớn mà ngời Việt Nam phải chịu đựng bởi sự tắc tráchcủa họ?

Từ chiến trờng trở về với “ một con mắt giả và một thân hình tiền tuỵ”mất đi một phần thân thể nhng nỗi đau đó không thấm vào đâu khi chờ anhkhông phải là một nàng Tô Thị mà là một ngời đàn bà hốc hác và không phảimột mà là ba đứa trẻ lít nhít trứng gà trứng vịt với ba khuôn mặt hoàn toàn

khác nhau (Biển cứu rỗi) Đứa con của anh mới mời lăm tuổi nhng “dáng đi

đã hơi ỏng ẹo” với nụ cời mang hơi hớng đổi chác: “Có lơng khô không chú?”Dẫu biết rằng trong chiến tranh ngời đàn bà khổ gấp trăm lần ngời đàn ông, họ

bị buộc trở thành ngời đàn ông trọn việc nớc, đảm việc nhà nhng đứng trớc sựthật phũ phàng của gia đình mình, một gia đình mà “ngôi nhà bên đờng chiếntranh! Những đứa trẻ khác bố Những cuộc giao hoan vội vã và thoảng mùi

Trang 33

chết chóc trớc khi vào họng tử thần” Những ngời lính xả thân chiến đấu vìhoà bình, mong thắt lòng đến ngày sum họp vậy mà số phận không dành choanh sự yên bình Cuộc gặp gỡ trong chốc lát với đứa con mời lăm tuổi cha biếtmặt cha và ngời vợ phụ bạc đã đẩy anh ra khỏi cuộc sống bình thờng, tớc đikhát vọng sống nơi trái tim anh, đẩy anh ra đảo hoang làm ngời gác đèn mộtmình không thời hạn Trên đảo hoang dần dần anh bị tự nhiên hoá, tồn tại nhcây cỏ Anh đánh mất thói quen mặc quần áo, không còn đi dép Những tởnganh có thể ở đây đến trăm năm bởi anh “ gớm ghét đàn bà và nhân thế, gớmghét luôn cả đồng loại” Những nỗi đau đó, những bi kịch đó ai có thể chia sẻvới ngời lính? Họ phải tự gánh chịu và sẽ bị ám ảnh trong suốt quãng đời cònlại.

Thảo (Ngời sót lại của rừng cời), ngời duy nhất trong đám năm cô gái

nơi rừng Trờng Sơn không mắc bệnh Esteris -căn bệnh do nguyên nhân chính

là cô đơn, thiếu vắng hơi hớng đàn ông, ngời may mắn thoát chết trở về từ cáichốn giáp ranh giữa địa ngục và trần gian lại rơi vào nỗi cô đơn khác, nỗi cô

đơn ngay giữa đồng loại của mình chỉ vì biết mình “thật là quỷnh, thật là khónhập cuộc” Thảo không thể quên ngày cô trở về cũng là lần gặp lại ngời yêu-chàng hoàng tử hào hiệp của năm cô gái Trờng Sơn: “Thân hình gầy gò trong

bộ quân phục lạc lõng, làn môi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác của Thảo đã khiếnThành không thốt nên lời” Dù đã rất cố gắng nhng Thảo không thể không sobì khi nhìn thấy những bạn cùng phòng, những cô sinh viên văn khoa với môicời “thanh thản, mặt ửng hồng” Càng thấy mình lạc lõng Thảo càng khépmình lại để rồi trong khi những cô bạn cùng phòng đến trong mơ cũng cờithanh thản thì Thảo hoặc là mơ giấc mơ thời thơ bé hoặc là giấc mơ tuổi thanhxuân mà “chỉ thấy tóc rụng nh trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát củachị Thắm và từ trong đám tóc ấy lẩy ra hai giọt nớc mắt trong veo và rắn căng

nh thuỷ tinh đập mãi không vỡ” Ngày còn ở rừng cời, tình yêu với Thành đã

là một trong những điểm tựa, “một trong những đốm lửa sáng nhất giục giã cô

cố nhoài ngời ra khỏi cuộc sống hoang giã, chốn rừng sâu” Ngày ấy Thảo đãkhát khao đến cháy lòng đợc trở về ngả vào vòng tay say đắm của Thành thìgiờ đây cô lại đau đớn tự nguyện lánh xa Thành, mong Thành hạnh phúc vớingời con gái khác chỉ bởi vì hơn ai hết Thảo hiểu rằng “Thành gắn bó với côchỉ bằng nghĩa chứ không bằng tình” Không điên nơi chiến trờng nhng Thảogần nh hoá điên khi tự viết th để gửi cho mình vào tối thứ năm và nhận lại nó

Trang 34

vào chiều thứ bảy để bị cả khoa chê trách, dè bỉu về tội phụ tình, để rồi lặng lẽ

bỏ đi Quả thật sau chiến tranh những con ngời mất mát không dễ gì đứngdậy đợc, “gần nh không bao giờ họ nhoài ra đợc cái vùng đẫm máu ấy”

Chiến tranh là hoàn cảnh đặc biệt tạo ra nhiều cảnh ngộ éo le cho nhiều

ngời Thắm (Bức th còn lại- Vũ Thoảng) một cô gái vừa học xong cấp ba là

bạn gái của Quí Họ yêu nhau nhng cha kịp báo cáo với gia đình thì Quí lên ờng ra mặt trận, để lại cho Thắm một đứa con Trên đờng ra chiến trờng Quí

đ-đã viết th báo cho mẹ bảo mẹ nhận Thắm là con dâu nhng bức th bị thất lạckhông đến tay ngời nhận Thắm một mình sinh con trong sự dè bỉu của mọingời Con của chị không đợc làm giấy khai sinh vì không có bố Chị phảimang con đi thật xa để tránh tủi hờn vì chị không có một bằng chứng gì để nóicho mọi ngời biết đó là con của Quí, để gia đình Quí nhận cháu Sau hai t năm

đằng đẵng, lá th Quí viết từ chiến trờng ngày ấy mới đến đợc tay bà Trung, mẹQuí Lúc này Chiến con của Quí và Thắm đã lớn, lấy vợ nhng chính quyềnkhông cho đăng kí vì không có giấy khai sinh Ngày bà Quí nhận con dâu vàcháu là ngày khai sinh của Chiến Họ là những nạn nhân gián tiếp của chiếntranh Qua truyện ngắn nay nhà văn Vũ Thoảng đã phơi bày một bi kịch kháccủa chiến tranh tuy không quyết liệt, không tàn khốc nhng là nỗi đau khónguôi ngoai của một đời ngời

Trở về sau chiến tranh, mỗi ngời lính có một công việc, một cuộc đờiriêng Nhng dù là ai đi chăng nữa họ cũng bất hạnh: “Hơn mời năm sau giảiphóng những ngời lính chúng tôi ít có anh đợc suôn sẻ mà trởng thành, ít cóanh không gặp trắc trở và bất hạnh, ấy là điều có thật Đó không phải là lỗicủa ai, đó là tội của chiến tranh” (Dẫn theo Trung Trung Đỉnh) Vẫn biết “nỗibuồn chiến tranh là nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vợt trên đau khổ”,vẫn biết chiến tranh đã đi qua nhng từng ngày, từng giờ con ngời vẫn phải đốimặt với bi kịch của chính mình, vẫn tiếp tục day dứt một nỗi đau – nỗi đauthời hậu chiến

Triệu Huấn trong truyện ngắn Chị Dâu phản ánh nỗi buồn chiến tranh

trong cuộc sống đời thờng của ngời ở hậu phơng Liễu lấy chồng đợc ba thángthì chồng đi nhập ngũ Liễu trở thành vợ liệt sĩ khi mới hai ba tuổi ở làng thờichiến gái tơ còn cha kiếm nổi tấm chồng nói gì đến goá bụa Liễu từ chối mộtvài đám trai làng trốn lính, đào ngũ đến ỡm ờ, ở lại nhà chồng chăm sóc hai

đứa em còn nhỏ thay mẹ chồng vì nhà bị trúng bom Mĩ, mẹ chồng tử nạn, anh

Trang 35

trai lớn nhập ngũ Nỗi nhớ đàn ông của những ngời đàn bà có chồng ra trận lànhững khát vọng bị kìm nén, họ đi đắp đê, giã lúa, một đêm tắm mấy lần chonỗi nhớ bớt cồn cào, xao xuyến Sự hi sinh của Liễu cho gia đình đã làm dấylên trong lòng bố chồng một tình cảm hơn mức bình thờng Hai tâm hồn cô

đơn đã nơng tựa vào nhau: “ Những lần sau nữa chị thu mình trong vòng taythầy, gục mặt lên vai thầy rồi cả hai cùng khóc Khóc cho sự trớ trêu của địnhmệnh Khóc cho sự khắc nghiệt của cảnh ngộ Khóc cho điều mặc cảm sâusắc của đạo lý Khóc cho nỗi đau xé ruột của lơng tri Khóc cho cơn bức xúctâm hồn tuyệt đờng siêu thoát” Nhng cả hai đã vợt lên hoàn cảnh, giữ cho bứctờng của đạo đức không bị đạp đổ Liễu đã ngậm đắng nuốt cay hi sinh hạnhphúc riêng nuôi hai em thành đạt khi thầy mất đi Nhng có một nỗi đau kháclàm chị day dứt lơng tâm là những phút dây yếu lòng giữa chị và thầy đã bịNhã, em gái chồng, con thầy phát hiện ra Nhã không chịu hiểu và thông cảmcho cả hai Mặc cảm tội lỗi đã đè nén tâm hồn Liễu suốt hai mơi năm Biếtchia sẻ cho ai trong hoàn cảnh trớ trêu đó của số phận Dơng Duy Ngữ quatruyện ngắn đã xoáy sâu vào đúng bi kịch của nhiều cảnh đời thời chiến trận.Nỗi đau này không kém sự hi sinh nơi chiến trờng Nhờ có những ngời nh chịLiễu mà cuộc chiến của chúng ta mới đến ngày toàn thắng

Trong Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu) sau hai mơi t năm chiến đấu ở

chiến trờng Lực trở lại quê hơng với t cách trung đoàn trởng phụ trách thugom hài cốt liệt sĩ Nhng gia đình anh tan tác: em trai hi sinh, bố anh phảisống nhờ vào gia đình con dâu đã tái giá, ngời vợ ngoan hiền của anh đã yênphận trong một tổ ấm mới Phía trớc mặt anh là tơng lai của “một ngời lính giàsống với một ông bố” giữa một vùng “những hình ngời đàn bà bằng đá đầy cô

đơn” Chiến tranh nh một nhát dao phạt ngang đời anh thành hai nửa Anhkhông thể tìm lại hạnh phúc hiện tại khi theo thời gian tuổi trẻ đã đi qua, mỗicon ngời đã có một hoàn cảnh sống riêng Nhng anh cũng không thể quên đimột quá khứ đẹp đẽ, quên đi ngời đàn bà từng là vợ anh, cho đến lúc này vẫnkhông thể quên mình Chiến tranh không hề gây thơng tích cho anh nhng đã

để lại cho anh một vết thơng lòng xót xa, đau đớn

Các truyện ngắn viết về chiến tranh sau 1986, đa số đều nhìn từ cảmhứng mới, cảm hứng phê phán Bởi thời gian là liều thuốc màu nhiệm đểchúng ta nhìn lại lịch sử, phán xét và kiểm nghiệm lịch sử những chân lýkhông bao giờ phai mờ hay có thể dễ dàng bị phủi lấp Ba mơi năm chiến

Trang 36

tranh, dân tộc ta đã oằn lng gánh chịu bao bom đạn của kẻ thù Hàng triệu

ng-ời đã ngã xuống, hàng triệu gia đình đã ôm nỗi đau mất mát tiếp tục sống.Nhìn lại hiện thực chiến tranh và tác động của nó trên tinh thần phê phán làmột hệ quả tất yếu trong sự phát triển của văn học Thế hệ sống trong hoà bình

có quyền đợc biết và thông cảm những mất mát để trân trọng hơn cuộc sống

mà họ đang đợc hởng Đó là điều mà chắc những ngời cầm bút nh NguyễnMinh Châu, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Sơng Nguyệt Minh, BảoNinh, muốn gửi gắm qua truyện ngắn của mình

2.3 Sự nghèo đói và tính chất phức tạp của cuộc sống nông thôn

2.3.1 Cuộc sống nghèo đói, sự xô bồ trong đời sống của một bộ phận nông dân

Hơn ba mời năm xây dựng đất nớc trong cuộc sống hoà bình, dới sựlãnh đạo của Đảng và nhà nớc chúng ta ngày càng phát triển và hội nhập vớithế giới về mọi mặt Nhiều thành phố, thị xã mọc lên làm cho bộ mặt đô thị đ-

ợc nâng cấp nhng với một đất nớc hơn một phần hai ngời dân sống bằng nghềnông thì ba mơi năm qua bức tranh về vùng quê Việt Nam vẫn cha thực sựkhởi sắc, cha thực sự làm đổi đời cuộc sống của những nông dân Việt Sự pháttriển chóng mặt của đô thị làm ngời nông dân đang dần dần bị đẩy ra khỏimảnh đất họ canh tác Lũ lụt thiên tai hoành hành liên tục cộng thêm sự tànphá của sâu bệnh và sự tiếp tay của con ngời khi sản xuất những loại phânbón, những giống lúa kém chất lợng, không đúng kĩ thuật, tất cả đã dồn đẩy

đời sống của bà con vào vòng lao đao, cơ cực

Vấn đề đói nghèo ở nông thôn là một hiện thực nhức nhối thu hút sựchú ý của nhiều nhà văn Đa số ở các làng quê bên cạnh những hộ giàu cósung túc vẫn còn những hộ đói nghéo, chạy ăn từng bữa Mất đất làm ăn,không cạnh tranh nỗi hay không có vốn đầu t sản xuất ngời nông dân phải bỏlàng đi kiếm ăn bằng nhiều nghề, kể cả ngề ăn mày Không ai có thể hìnhdung đợc ở đâu đó trong một ngôi làng Việt Nam vẫn còn những ngời mà đếnbữa ăn chỉ khoai sắn thôi cũng thấp thỏm đói no Thằng Cáy trong truyện

ngắn Đất của Lê Minh Khuê theo mẹ đi làm rẫy cả buổi sáng nhng chỉ có một

củ khoai đã bốc mùi chua mà mẹ nó dấu mấy đứa em để phần cho nó ớc mơcháy bỏng của một câu bé mời bốn tuổi là “ đợc ăn một bữa cơm rới nớc mắm,

ăn thật no, ăn xong nằm dài ra đánh một giấc Mẹ nó bảo thế nào con cũng

đ-ợc ăn vã bữa cơm” Tài sản duy nhất của gia đình Cáy là cái nhà dựng bằng

Trang 37

bìa Họ bám vào đất để tìm miếng ăn nhng sức ngời có hạn, đất không nảy nởnhanh nh cơn đói của anh em thằng Cáy ở khắp các vùng núi của Việt Namhoàn cảnh nh nhà Cáy không phải là duy nhất Nhiều đồng bào ta cứ quẩnquanh trong cơn đói triền miên.

Tiếng vạc sành của Phạm Trung Khâu viết về thân phận của bé Nhọn

nh cánh vạc ăn đêm: cô đơn cay cực Với khuôn mặt “ xơng xơng đen ngòm,răng nhọn vàng khè trông nh ma cà rồng” là kết quả của cuộc sống bị đói triềnmiên Nhọn nghèo đến độ “ bộ quần áo nó mặc chẳng có hình dáng gì đánggọi là quần áo Giẻ lau nhà của ngời khác còn sạch hơn gấp trăm lần Nhà cửacủa thằng bé thì khỏi phải nói : có mái mà không có cửa, cái vách không cóván lợp, trên sàn duy nhất là cái giờng nhỏ bằng tre” Trong xã hội hiện đạibên cạnh những em bé quá no đủ, quá sung sớng muốn gì đợc nấy vẫn cònnhững em bé nh thằng Nhọn Xã hội chúng ta phải làm gì để cứu vớt nhữngcảnh đời bất hạnh đó để thoả lòng mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh sinhthời vẫn mong mỏi: “ Trẻ em nh búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết họchành là ngoan”

Ngời nông dân Việt Nam suốt đời chân lấm tay bùn, trình độ văn hoárất thấp nên nhận thức của nhiều ngời rất hạn chế Chính vì vậy trong nhiềucảnh đời cơ cực do khách quan còn có những cảnh đời do chủ quan mà làmcho mình khổ, mình nghèo, mình khốn nạn đi mà không thoát ra đợc LãoHoắc trong truyện ngắn cùng tên của Chu Minh là một ngời có máu đỏ đen ănvào xơng máu Cờ bạc làm cho lão xuống dốc nh một cỗ xe không phanh Cócon đàn cháu đống, bảy đứa cả trai lẫn gái nhng lão không muốn nuôi đứanào “ Đứa thì lão đánh gãy tay, đứa thì lão hê xuống ao trâu đằm, đứa con gáicả phải biến đi biệt tăm Mấy đứa khác vội lấy vợ lấy chồng lập thân, thoátkhỏi sự độc ác của lão” Tất cả vì máu me cờ bạc Ngôi nhà cha mẹ để lại lão

đem nớng tất vào chiếu bạc Đã nghèo lại càng nghèo, đã đói lại càng đói “Cái giờng, cái xoong thổi cơm, cả cái điếu cày lão cũng cho nó đội nón ra đi

Vợ con nho nhe là lão thợng cẳng chân, hạ cẳng tay” Cái gia đình bé nhỏ củalão Hoắc tan hoang, lão sống độc thân trong một túp lều ở xó vờn bữa đói bữa

no cho đến khi lão kiệt sức vì đói Lão Hoắc là điển hình cho loại ngời khôngbiết quý trọng mồ hôi công sức của mình, tự tay phá tan hoang thành quả màmình một nắng hai sơng tảo tần xây dựng nên Đây thực sự là một vấn nạntrong nhiều làng quê vốn yên bình Cuộc sống xô bồ, phức tạp ở thạnh thị đã

Trang 38

lan đến bờ luỹ tre xanh Ngày càng xuất hiện nhiều ngời hám lợi tổ chức bàibạc lôi kéo, dung túng cho những con bạc, tiếp tay phá hoại bao nếp nhà, gây

ra cảnh màn trời chiếu đất cho nhiều ngời nông dân

Với phơng châm “nhìn thẳng vào sự thật” nhiều truyện ngắn hôm nay

đã tiếp cận khá kĩ lỡng và tinh tế, bỏ đợc bệnh tô hồng, khen ngợi về hiện thực

đời sống nông thôn Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc không chỉ lên

án việc làm sai trái, quan liêu của một số cán bộ trong việc thực hiện một sốchủ trơng, chính sách của Đảng và nhà nớc ta trong một thời kì mà qua truyệnngắn này, tác giả còn phơi bày một thực trạng cuộc sống ngời nông dân ViệtNam ở một vùng quê những năm tám mơi, khi nớc ta thực hiện Hợp tác hoánông thôn Giai đoạn lịch sử đó đã để lại nhiều tàn tích nặng nề trong đời sốngnhiều ngời dân Việt Nam, trở thành nỗi ám ảnh nặng nề cho hàng chục triệungời

Bớc vào cuộc sống hiện đại, cuốn theo cơn lốc thời kinh tế thị trờngnhiều làng quê Việt đang đánh mất đi bản sắc văn hoá bao đời gây dựng Đặcbiệt là sự xói mòn về nhân cách của nhiều ngời nông dân Mãi chạy theonhững giá trị vật chất, nhiều gia đình bỏ quên giá trị tinh thần, cái làm nên cốt

cách tâm hồn Việt Làng xi măng của Lê Minh Khuê vẽ nên một gam màu tối

của làng quê Việt Nam thời hội nhập Trong gia đình minh, Na thấy thật lạclõng và bất lực chỉ muốn chạy trốn để khỏi chứng kiến những nhố nhăng của

bố mẹ và thằng em trai Bố kiếm đợc ít tiền thì sinh ra bồ bịch Mẹ thì đua đòitrên tỉnh ăn chơi hởng lạc không để ý gì đến gia đình Thằng Roi đúng là mấtgốc khi không đợc ai quan tâm dạy dỗ Nhìn vẻ bất cần đời, ngạo mạn vàkhinh thờng tình cảm màu mủ của đứa em mà Na thấy đau đớn Làng quê Na

đang thật sự mất đi vẻ đẹp của nó khi những ngời nh bà Na mất đi Sẽ khôngcòn ai gìn giữ kỉ cơng, gia phong trong mỗi gia đình nữa Làng đang ở trongchiến tranh, chiến tranh của những “nền văn hoá”!

Trong Sân gôn Lê Minh khuê lách sâu ngòi bút, mổ xẻ những ung nhọt

đang làm thối nát cuộc sống của nông dân Đó là gia đình mụ Hấn, có haithằng con trai thì cả hai thằng đều mất dạy, đều đáng chết nh ngời làng vẫnnói Thằng em là Quanh vớng vào nàng tiên nâu, trong cơn đói thuốc đã lừacon đem đi bán định đổi lấy hai triệu nhng không thành Thằng anh là Lanhthì tu chí làm ăn hơn nhng lại cổ hủ, khát con trai nh khát nớc, sẵn sàng dụ dỗ,ngủ với em vợ để thoả mãn cá nhân Bà mẹ là bà Hấn còn cao tay hơn hai

Trang 39

thằng con Bà ta dung túng cho con làm những việc vô đạo đức, âm mu đa emcủa con dâu bà đi bán kiếm lời, xỉ vả con dâu vì không sinh đợc cháu đích tôncho nhà bà Chính những ngời nh bà Hấn đã tạo điều kiện cho cái ác, cái xấulen lõi vào phá hoại tôn ti trật tự ở làng quê Câu chuyện nhân tình thế thái nàykết thúc thật buồn, tình yêu thơng sẽ không còn chỗ khi thói đời đen bạc ănsâu vào máu thịt của họ.

Truyện ngắn về nông thôn hiện nay đã dũng cảm lật xới hiện thực, cácnhà văn không ngần ngại phơi bày mặt trái của đời sống xã hội, đặc biệt là đờisống đạo lý tinh thần dân tộc Các nhà văn nhận ra sự lạc điệu, trật khớp đangdiễn ra mọi lúc mọi nơii, mọi ngõ ngách của làng quê Trân trọng và nâng niunhững giá trị truyền thống, họ đã rất tinh tế khi đi vào mổ xẻ, phát hiện những

“ung nhọt” đang làm băng hoại, cản trở bớc tiến lên của xã hội nông thôn Đó

là sự xuống cấp nghiêm trọng của những tình cảm máu mủ ruột rà và linhthiêng; là sự dốt nát, tha hoá đang ngày càng phổ biến ở nông thôn thêm vào

đó là những tập tục hủ lậu còn ngự trị từ ngàn đời nay

2.3.2 T tởng tiểu nông, bảo thủ, lạc hậu ở nông thôn

Sau chiến tranh đề tài nông thôn là một mảnh đất đợc nhiều nhà vănkhám phá Viết về nông thôn, truyện ngắn sau 1986 đợc sự cổ vũ của t tởng

đổi mới, dân chủ đã tái hiện bức tranh làng quê từ đồng bằng đến miền núi, từBắc vào Nam Mỗi truyện ngắn là một mảng màu làm nên bức tranh lớn vềhiện thực nông thôn trong thời kì đổi mới

Trớc 1986, với cảm hứng lạc quan tin tởng, khi viết về đời sống nôngthôn các nhà văn đã có phần u ái Nông thôn thời kì này hiện lên một cáchphiến diện, một chiều không chân thực nh tính chất vốn có của nó Với cáinhìn mới, văn học nông thôn sau 1986 có nhiều khởi sắc Các nhà văn đã dũngcảm phản ánh đúng bộ mặt nông thôn Việt Nam, đem lại cho ngời đọc nhiềucảm nhận mới mẻ và trung thực Viết về ngời nông dân với cái nhìn nghiêmkhắc, nhiều nhà văn đã mạnh dạn chỉ ra nhiều căn bệnh thăm căn cố đế củanông dân Việt Nam là a lối làm ăn nhỏ lẻ, hay bảo thủ và lạc hậu trong việcsản xuất, lầm ăn tập thể Sau Đại hội VI cùng với mảng truyện kí, tiểu thuyết,nhiều truyện ngắn về đề tài nông thôn đã phát hiện, phê phán những hạn chếtruyền kiếp của ngời nông dân Việt Nam với mong muốn làm cho làng quêcủa chúng ta ngày càng phát triển, đi lên hoà nhập với công cuộc hiện đại hoácủa đất nớc

Trang 40

Trong thời kì cải cách ruộng đất, làng quê Việt Nam phải chịu hậu quảnặng nề Thời kì đó sau này nhìn lại là sai lầm, sai lầm đó may mắn đợc Đảng

và nhà nớc ta nhạnh chóng nhận ra và sữa chữa nhng nỗi đau, nỗi oan khuất,

sự bất công trong cách làm việc vẫn ám ảnh nhiều ngời Nguyễn Văn Thọ

trong truyện ngắn Hồi ức làng Che dựng lại một cuộc đấu tố mà “ theo mức

khoán cứ năm phần trăm mà quy địa chủ” hết sức vô lý Vô lý hơn là ngời chủtrì cuộc đấu tố đó là Bí th đảng uỷ xã Diến, mới mời lăm tuổi đợc bồi dỡngphẩm chất cách mạng và làm chủ toạ phiên toà xử tội lão Trạch- một lực điềntháo vát Nhờ đấu tố mà Diến làm nên danh vọng Nhng dù thời thế thay đổi,con ngời thay đổi, cuộc sống của Diến vẫn vẫn tạm bợ nh lúc đơng quyền và

đặc biệt Diến vẫn giữ nguyên cách nhìn với lão Trạch “ máu địa chủ vẫnnguyên xi” Cách làm việc theo cảm tính, bảo thủ, lạc hậu đó không chỉ ăn sâuvào một mình Diến mà còn ngấm sâu vào vô số con ngời thời kì đó gây ra baotình huống dở khóc dở cời

Đọc Phiên chợ Giát và Khách ở quê ra của Nguyễn Minh Châu ta bắt

gặp một lão Khúng từ tâm lý đến tình cảm đều mang dáng dấp một tiểu nông.Lão vừa đáng thơng, vừa đáng giận, có những việc lão làm khiến chúng ta tôntrọng nhng cũng có những làm ta bực tức Lão có mặt tích cực nhng cũng tồntại nhiều hạn chế Lão Khúng của Nguyễn Minh Châu là một nông dân- “nông dân ròng”( cách dùng của Lê Quang Hng) từ cách sống, cách nghĩ đếnlối c xử hành động Lão Khúng nh một gốc cây già hay một tảng đá mốc rêu,

xù xì hoang dã Những ngời nh lão đã gánh hai cuộc kháng chiến trên vai.Bằng những bàn tay cóc cáy, xơng xẩu, rắn nh thép của mình họ đã tạo ra lơngthực nuôi cả dân tộc trong bom đạn Họ đẻ ra hàng đàn con để lấy lực lợngsản xuất ở hậu phơng vừa cung cấp cho tiền tuyến đánh giặc Nhng chính họcũng là tảng đá lớn sẽ ngăn trở xã hội tiến lên con đờng hiện đại hoá Cả gia

đình đông đúc mời ngời con và bà vợ đều chịu ơn lão vì không có lão thì họchết đói Nhng tất cả đều không muốn ăn đời ở kiếp với lão, đều hớng về ánhsáng thành phố, về văn minh công nghiệp Qua số phận lão Khúng, tác giảphê phán mạnh mẽ thói quen bảo thủ, t tởng lạc hậu của ngời nông dân trongquá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá Chính nhà văn Nguyễn Minh Châu khinằm trên giờng bệnh đã tâm sự: “ T tởng bảo thủ từ đất đùn lên, nó chủ yếu lànội sinh chứ không phải ngoại nhập Nó chi phối cả chính trị, triết học, khoahọc, văn hoá, văn nghệ Nghĩa là lắt nhắt, thiển cận, không nhìn xa, nớc đến

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w