Trong văn học Việt Nam đương đại, nữ quyền trở thành một vấn đề trung tâm, trở đi trở lại rất nhiều lần, không chỉ trong sáng tác của các nhàvăn nữ như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Th
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN
VINH, 2010
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 SÁNG TÁC CỦA LÝ LAN TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ Ý THỨC VỀ NỮ QUYỀN CỦA NHÀ VĂN 1.1 Sáng tác của Lý Lan trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại 9
1.1.1 Bối cảnh chung của văn xuôi Việt Nam đương đại 9
1.1.2 Sáng tác của Lý Lan 16
1.2 Ý thức về nữ quyền của Lý Lan 21
1.2.1 Cơ sở của ý thức sâu đậm về nữ quyền của Lý Lan 21
1.2.2 Quan niệm về nữ quyền của Lý Lan 29
Chương 2 NHÂN VẬT NỮ NHƯ LÀ BIỂU HIỆN TẬP TRUNG, MẠNH MẼ NHẤT CẢM HỨNG NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ CỦA LÝ LAN 2.1 Nhân vật nữ trong thế giới nhân vật văn xuôi tự sự Lý Lan 37
2.1.1 Một cái nhìn chung vềi nhân vật trong văn xuôi tự sự Lý Lan 37
2.1.2 Vai trò trung tâm của nhân vật nữ 51
2.1.3 Nam giới giữa thế giới nhân vật nữ trong văn xuôi tự sự của Lý Lan 55
2.2 Đặc điểm nhân vật nữ trong văn xuôi tự sự của Lý Lan 58
2.2.1 Nhân vật nữ ý thức về mình như một chủ thể độc lập 58
2.2.2 Không ngừng tìm kiếm bản ngã, tìm kiếm hạnh phúc, tự do và nhân phẩm 63
2.2.3 Đấu tranh đòi nữ quyền trên nhiều phương diện 69
Trang 3THỂ HIỆN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ LAN
3.1 Những tìm tòi, cách tân về thể loại 78
3.1.1 Với thể loại truyện ngắn 78
3.1.2 Với thể loại tiểu thuyết 81
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 84
3.2.1 Đặt nhân vật trong những tình huống phức tạp để nhân vật tự biểu lộ ý thức và bản năng phụ nữ 84
3.2.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, nội tâm và hành động nhân vật 90
3.3 Nghệ thuật trần thuật 99
3.3.1 Đa dạng, biến hoá trong “ngôi”, “vai” trần thuật 99
3.3.2 Giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật 104
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong văn học Việt Nam đương đại, nữ quyền trở thành một vấn
đề trung tâm, trở đi trở lại rất nhiều lần, không chỉ trong sáng tác của các nhàvăn nữ như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị ThuHuệ, Lý Lan, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, ĐỗHoàng Diệu… mà còn xuất hiện phổ biến trong sáng tác của các tác giả namgiới như Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái… Nó là sự tiếpnối liền mạch cảm hứng nữ quyền đã có từ trước đó trong văn học dân gian vàvăn học trung đại nhưng đã có sự thay đổi sâu sắc về phạm vi và mức độ biểuhiện Vấn đề nữ quyền đã được các tác giả đặt ra trên những phương diện mớivới nhiều biểu hiện đa dạng, phức tạp, sâu sắc Chính vì vậy, tìm hiểu vấn đề
nữ quyền trong sáng tác Lý Lan chính là một cách để nhận diện vấn đề nữquyền, một vấn đề trung tâm nổi bật trong văn học Việt Nam đương đại
1.2 Lý Lan là gương mặt nữ tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương
đại Không chỉ là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên kịch, nhà phê bình, Lý
Lan còn là dịch giả với bản dịch Harry Potter nổi tiếng Tính đến năm 2009,
sau 30 năm viết văn, Lý Lan đã có trên 20 tác phẩm đã xuất bản ở tất cả cácthể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tuỳ bút, thơ và còn có rất nhiều tác phẩm vănhọc dịch nổi tiếng Lý Lan cũng liên tiếp giành được các giải thưởng văn học
có giá trị như giải thưởng truyện ngắn của báo Tuổi trẻ, giải thưởng văn họcthiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng thơ của Hội Nhà văn TP Hồ
Chí Minh (cho tập thơ Là mình), giải thưởng của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh 2009 (cho Tiểu thuyết đàn bà)… Không chỉ mới mẻ về nội dung, Lý Lan
còn chứng tỏ mình là một cây bút văn xuôi tự sự khá tỉnh táo, am hiểu kĩ thuậtvăn chương và có những cách tân nghệ thuật táo bạo, đặc biệt trên phương diện
Trang 5giọng điệu và ngôn ngữ Lý Lan được xem là gương mặt nhà văn nhiều ấn tượng
và có những đóng góp đáng kể cho văn xuôi Việt Nam đương đại
1.3 Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Lý Lan, vấn đề nữ quyền là
vấn đề trung tâm, được bà đặt ra liên tục và hầu hết trong các tác phẩm “Âmhưởng nữ quyền” có lúc chỉ thể hiện một cách nhẹ nhàng qua việc khẳng định
vẻ đẹp nữ tính, khát vọng về hạnh phúc, tình yêu…, có lúc lại quyết liệt, dữdội qua sự xung đột, đả phá tính chất gia trưởng, phụ quyền, khẳng định vị trícủa người phụ nữ trong tương quan với nam giới Tìm hiểu cảm hứng nữquyền trong văn xuôi tự sự Lý Lan sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện
và sâu sắc về những giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của bà
1.4 Trong chương trình sách giáo khoa cải cách, tuỳ bút Cổng trường
mở ra của Lý Lan được đưa vào làm bài giảng đầu tiên trong sách Ngữ văn 7.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tư liệu tham khảo, giúp cho việcnghiên cứu, giảng dạy và học tập tác phẩm của nhà văn đạt hiệu quả hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Lý Lan
Lý Lan là nhà văn sáng tác trên nhiều thể loại, tiếp cận với nhiều đề tài.Tuy nhiên, vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu, những bài báo tìmhiểu về thế giới nghệ thuật của chị Các bài nghiên cứu nhìn chung được thểhiện dưới hai dạng: dạng bài báo viết về tác giả, tác phẩm Lý Lan; dạng bàiphỏng vấn đề cập đến thế giới nghệ thuật của tác phẩm Lý Lan
Tháng 2 năm 2007 trên website: http://evan.vnexpress.net, tác giả Anh
Vân viết bài “Lý Lan - người đàn bà hồn nhiên với chữ” Bài viết tập trunglàm rõ con người Lý Lan trên phương diện tiểu sử, tác phẩm Trong đó, tácgiả bài viết có đề cập đến giọng văn, ngôn ngữ của Lý Lan Theo tác giả, cáiđáng quý của Lý Lan đó là sử dụng giọng văn “trong sáng, dễ thương” và sửdụng thứ ngôn ngữ đã tắm tưới cho tâm hồn mình
Trang 6Tháng 4 năm 2008, báo Thể thao & Văn hoá, số 111 cho đăng bài “Lý
Lan: Mẹ đưa con đến trường mãi là biểu tượng đẹp nhất” của tác giả YênKhương Bài viết đã giành những ưu ái cho nhà văn khi ngợi ca “những tâm
sự rất dung dị nhưng lại vô cùng cảm động như chính giọng văn của bà” Tácgiả ca ngợi: “Tuỳ bút “Cổng trường mở ra” chất chứa biết bao xúc cảm.Những câu văn chân thành xúc động như để tâm sự với đứa con bé bỏng, lạinhư đang nói với chính mình Nhưng cao hơn nữa, nhà văn muốn khẳng địnhgiá trị của giáo giục đối với một con người và với cả xã hội”
Tường Vy trong bài viết “Lý Lan: Tình yêu vẫn còn nguyên vẹn” đăng
trên báo Saigongiaiphongonline, chủ yếu đề cập đến tính cách, đến hạnh phúc gia đình của Lý Lan, qua đó có cái nhìn đối chiếu với tác phẩm Harry Potter,
Tiểu thuyết đàn bà Nhưng, đây thực chất chỉ là bài viết ghi lại buổi nói
chuyện của Lý Lan với độc giả tại buổi Tổ chức Hội sách TP Hồ Chí Minhlần thứ 5, nhân dịp đón tết Mậu Tý, 2008
Tác giả Bích Ngân viết bài “Lý Lan, nhìn từ …gần”, đăng trên báo Phụ
nữ, tháng 3/2009, chủ yếu nhìn nhận Lý Lan trên góc độ tiểu sử, tính cách.
Trong đó tác giả chỉ ra tấm lòng yêu thương, phẩm chất nhân hậu, tinh thần
“quyết liệt với sự vô lí” thể hiện trong sáng tác của nhà văn
Tác giả Việt Bằng trong bài “Đọc “Miên man tuỳ bút” của Lý Lan”
đăng trên vietbang.com đề cập đến hai nội dung: “Miên man tùy bút là tập hợp
của 11 đoản văn (personal essays, nonfiction) không có đề tài mà chỉ đượcđánh số từ 1 đến 11 Tất cả đều liên quan tới tác giả từ thủa ấu thời mẹ mấtsớm, theo cha về Chợ Lớn cho đến khi thành công trong sự nghiệp và thànhdanh trong cuộc đời” và: “Về văn phong, khác với những nhà văn viết theokinh nghiệm, Lý Lan sử dụng tối đa kỹ thuật viết văn và thường viết nhữngcâu phức hợp”
Các tác giả Ngô Thị Kim Cúc (“Những người đàn bà bị thất lạc”, báo
Thanh niên, 3/2008), Trần Thuỳ Mai (“Lý Lan, người đi xuyên tường”, báo
Trang 7Phụ nữ TP HCM Chủ nhật, tháng 6/2008), Hà Tùng Sơn (giới thiệu “Tiểu
thuyết đàn bà”, sachhay.com) đều có những cách nhìn khác nhau về Tiểu
thuyết đàn bà Ngô Thị Kim Cúc cho rằng, tiểu thuyết nói về “nỗi niềm và
thân phận đàn bà của nhiều thế hệ đàn bà trong cùng một dòng họ” Tất cảmọi người từ bà tổ Mọi đến bà ngoại, đến chị Đen, Thoa, Không Bé đều lànhững người đàn bà “thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn, hận thù rộng lớn.Người ta cũng có thể thất lạc nhau dưới cùng một mái nhà Và thất lạc chínhmình ngay trong cuộc đời của riêng mình” Không những chỉ ra nội dung cơbản của tác phẩm, tác giả bài viết còn chỉ ra giọng văn mà Lý Lan vận dụngtrong tiểu thuyết: “giọng văn lạnh và được tiết chế (…) mạch truyện trải ratrên trang giấy một cách chừng mực” Trần Thuỳ Mai nhận xét Lý Lan là tácgiả đi xuyên qua các bức tường văn hoá bởi vì “đàn bà có quyền năng củatình yêu và hôn nhân” Cũng như Ngô Thị Kim Cúc, Trần Thuỳ Mai chỉ ranỗi niềm lạc loài, tìm kiếm của những người đàn bà trong cùng một dòng họ:
“Cảm giác bơ vơ, thất lạc và muốn tìm về có thể là một cảm giác đặc thù củacon người thời hiện đại, khi mà cuộc sống đang từng ngày từng giờ giật conngười ra khỏi mảnh đất chôn nhau, đưa họ đi vào những hành trình khônggiới hạn trên mặt địa cầu mênh mông này” Tác giả bài viết cho rằng, Lý Lan
đã dùng giọng văn trần trụi, “phơi bày tất cả tính nữ sơ khai” Hà Tùng Sơnthì lại nhận định rất khái quát về nội dung tác phẩm và cho rằng “tác giả dùngcách viết nhẹ nhàng, không theo kiểu đao to búa lớn, lại pha chút hài hước
nên dù là viết về chiến tranh nhưng Tiểu thuyết đàn bà không làm cho bạn
đọc thấy nặng nề, u ám”, bởi thế mà ẩn đằng sau đó là “tấm lòng nhân ái củatác giả”
Trên đài Châu Á tự do, tác giả Mặc Lâm cho phát bài: “Nhà văn nữ
Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng” trong đó chủ yếu tập trungphân tích, làm rõ cách viết, nghệ thuật kể chuyện của Lý Lan Với cái nhìn cótính hiện thực, Mặc Lâm đã khái quát: “Qua nhiều tác phẩm, Lý Lan có
Trang 8khuynh hướng miêu tả đời thường dưới cái nhìn của một nhà báo hơn là mộtnhà văn Chị ghi nhận sự kiện và sắp xếp chúng bằng những trình tự mà sựkiện liên tục xảy ra và không hoa mỹ, hư cấu” Điều đáng chú ý của Lý Lan làtác giả luôn đưa hình ảnh cuộc sống sống động vào văn chương, làm cho vănchương giàu hơi thở Mặc Lâm phát biểu: “Bằng trực giác của một người nữ,chị lặng lẽ quan sát những gánh hàng rong đang ngày ngày sinh hoạt mà chịgọi chung là những cái chợ hàng rong”.
Dạng bài phỏng vấn, theo khảo sát của chúng tôi, hiện có khoảng hơn
10 bài, trong đó có bài phỏng vấn đề cập đến cuộc đời, tiểu sử của Lý Lan
như bài: “Người phụ nữ luôn mơ ước làm chủ cuộc sống”, (Báo Người lao
động, website nld.com.vn), cũng có bài phỏng vấn đề cập trực tiếp tới thế giới
nghệ thuật trong tác phẩm như bài “Lý Lan: với văn chương tôi không có
tuổi” (phongdiep.net), cũng có bài phỏng vấn chỉ đề cập đến một tác phẩm như “Lý Lan, 16 năm cho Tiểu thuyết đàn bà” (tại buổi giao lưu với bạn đọc
ngày 13/3/2008, đăng tải trên website:http://www.vtc.vn/)
Nhìn chung, các bài báo viết về tác giả, tác phẩm Lý Lan vẫn chưa thực
sự phong phú, đa dạng và đi sâu vào thế giới nghệ thuật của chị Các ý kiến đánhgiá hầu hết đều đi vào con người tiểu sử của tác giả, hoặc mới chỉ đề cập đến
một khía cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể (Tiểu thuyết
đàn bà hoặc Hồi xuân) Gần đây, tháng 8/2010 có luận văn Thạc sĩ của Lê
Huỳnh Lan (Cao học khoá XV Đại học Đồng Tháp, với tên gọi “Đặc sắc truyệnngắn Lý Lan” (do PGS.TS Biện Minh Điền hướng dẫn) tập trung tìm hiểunghiên cứu truyện ngắn của Lý Lan Hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứutoàn diện sáng tác của Lý Lan trên cả chiều sâu và bề rộng
2.2 Lịch sử nghiên cứu về cảm hứng nữ quyền trong sáng tác Lý Lan
Trước hết cần nhận định rằng, trong bối cảnh các công trình, bài báonghiên cứu về Lý Lan ở Việt Nam chưa thực sự có thành tựu lớn như hiệnnay thì cảm hứng nữ quyền – một vấn đề mới được đề cập đến trong văn học
Trang 9Việt Nam đương đại những năm gần đây lại càng ít thành tựu hơn Hơn nữa,vấn đề nữ quyền chỉ mới được Lý Lan nhắc đến thường xuyên và thể hiện nó
rõ ràng, sâu sắc trong sáng tác những năm gần đây nên cho đến nay, hầu nhưchưa có một bài viết nào đề cập đến vấn đề nữ quyền trong sáng tác của chịmột cách tập trung và chuyên sâu Tuy vậy, tản mạn trong những bài viết, bàiphỏng vấn nêu trên vẫn có những nhận xét cụ thể về đề tài nữ quyền trongsáng tác của chị Tựu trung, có thể thấy các bài viết đôi chỗ đã chỉ ra nhữngbiểu hiện của cảm hứng nữ quyền như: hình tượng người đàn bà lạc loài đitìm kiếm nguồn gốc và bản thân mình; ý thức coi trọng cái tôi chủ thể vàkhẳng định cá tính, bản ngã, tấm lòng nhân hậu của Lý Lan với người phụ nữ(nội dung cảm hứng); giọng văn sắc lạnh, hài hước, giễu nhại hòa quyện cùngchất đằm thắm, trữ tình; sự tỉnh táo, lý trí (hình thức) Tuy những biểu hiệnnày được các tác giả chỉ ra không theo hệ thống và chưa có sự minh giải rõràng nhưng đây sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình tiếpcận tác phẩm của Lý Lan nói chung và cảm hứng nữ quyền trong sáng tác củachị nói riêng
Tiếp cận với các công trình nghiên cứu về tác phẩm Lý Lan và cảmhứng nữ quyền trong tác phẩm của chị, chúng tôi thấy nổi lên mấy vấn:
Thứ nhất, các bài viết chỉ phác thảo chân dung Lý Lan và giới thiệutác phẩm của chị trên một số phương diện như đề tài, cảm hứng, kiểu nhânvật, văn phong… dù sao cũng cung cấp cho người đọc những nhận thức banđầu sơ lược nhất về tác phẩm của nhà văn này
Thứ hai, về vấn đề nữ quyền, các bài viết ít nhiều đều nhận thấy kiểunhân vật nữ chính trong tác phẩm của chị là nhân vật với tâm thế vươn lên, tựkhẳng định mình với ý thức sâu sắc về nữ quyền Các bài viết cũng chỉ ra một
số biểu hiện nữ quyền trong tác phẩm Lý Lan như khai thác các đề tài tínhdục (vốn là điểm mạnh của nhà văn nam), xung đột giữa các cá nhân, về mối
Trang 10quan hệ giữa nữ giới với thiên nhiên, “trình diện” một ngôn ngữ mạnh mẽ,sắc lạnh, gây shock…
Thứ ba, Lý Lan tuy là một tác giả tài năng và có cá tính sáng tạo độcđáo với hơn 20 đầu sách đã xuất bản nhưng cho đến nay, vẫn chưa có mộtcông trình hệ thống, chuyên biệt về chị Các bài viết chỉ đề cập đến chị trongbức tranh chung của văn học Việt Nam đương đại hoặc phong trào nữ quyềntrong văn học hiện nay
Vấn đề nữ quyền dù đã được nhà văn ý thức và thể hiện sâu sắc trong tácphẩm nhưng các công trình nghiên cứu vẫn chưa chỉ ra một cách hệ thống, toàndiện những biểu hiện nữ quyền trên phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện
Trong bối cảnh nghiên cứu như vậy, việc luận văn nghiên cứu Vấn đề
nữ quyền trong văn xuôi tự sự Lý Lan sẽ khắc phục phần nào những “khoảng
trống” đó, đưa ra một cái nhìn cụ thể, toàn diện hơn về tác phẩm cũng như vềvấn đề nữ quyền trong tác phẩm của chị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự
củaLý Lan
3.2 Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung khảo sát những gì thuộc
về cảm hứng nữ quyền trong sáng tác văn xuôi tự sự của Lý Lan Các tácphẩm được khảo sát gồm:
1 Nơi bình yên chim hót (1986)
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đưa ra một cái nhìn chung về văn xuôi tự sự Lý Lan trong bối
cảnh văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
4.2 Khảo sát, phân tích hình tượng nhân vật nữ như là biểu hiện tập
trung, mạnh mẽ nhất của cảm hứng nữ quyền trong sáng tác văn xuôi tự sựcủa Lý Lan
4.3 Khảo sát, phân tích mối quan hệ giữa cảm hứng nữ quyền với
phương thức thể hiện của Lý Lan
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó có các phương pháp chính: phương pháp Phân tích - Tổng
hợp, phương pháp Thống kê - Phân loại, phương pháp So sánh đối chiếu,
phương pháp Hệ thống.
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung, hệ thống cảmhứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự của Lý Lan
Ở một mức độ nhất định, luận văn có thể được sử dụng như tài liệu thamkhảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập tác phẩm Lý Lan trong nhà trường
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Sáng tác của Lý Lan trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam
đương đại và ý thức về nữ quyền của nhà văn
Chương 2 Nhân vật nữ như là biểu hiện tập trung, mạnh mẽ nhất
cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự của Lý Lan
Chương 3 Cảm hứng nữ quyền với phương thức thể hiện trong sáng
tác của Lý Lan
Trang 12Chương 1 SÁNG TÁC CỦA LÝ LAN TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI VÀ Ý THỨC VỀ NỮ QUYỀN CỦA NHÀ VĂN
1.1 Sáng tác của Lý Lan trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại
1.1.1 Bối cảnh chung của văn xuôi Việt Nam đương đại
1.1.1.1 Sự phát triển, khởi sắc nhưng cũng đầy phức tạp của văn xuôi
thời kì Đổi mới
Sau năm 1975, hiện thực đất nước có nhiều thay đổi Tình hình đó đãkhiến văn học nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng chuyển sang mộthướng đi mới Nhen nhóm từ một số tác phẩm của một số nghệ sĩ, nở rộ sau
1986 với mốc quan trọng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, văn học ViệtNam đã dần định hình một xu hướng tiếp cận và khám phá hiện thực mới Mởđầu, khi “bối cảnh sử thi” đã không còn, một hiện thực mới thế chỗ, yêu cầucấp bách cần phải thay đổi đã bắt buộc các nhà văn phải dùng “lối nói trực
diện” để thông cáo và tuyên ngôn Mùa ký - phóng sự ra đời vì thế Với tinh
thần “tham mưu cho Đảng” trong việc chống tiêu cực, một số vấn đề bức xúc,nóng bỏng đã được các nhà văn đề cập, đó là nội dung chính trong các tác
phẩm Suy nghĩ trên đường làng (Hồ Trung Tú), Cái đêm hôm ấy đêm gì?
(Phùng Gia Lộc) Bên cạnh đó là những tác phẩm đòi công bằng, đòi quyền
làm giàu chính đáng: Câu chuyện về một ông vua lốp, Lời khai của bị can
(Trần Huy Quang); là lời cảnh báo về sự phai nhạt, mất dần các dấu tích văn
hoá: Người không cô đơn (Minh Chuyên), Tiếng kêu cứu của một vùng văn
hoá (Võ Văn Trực) Các tác phẩm ký - phóng sự đã tạo nên một sức mạnh
thuyết phục thúc đẩy hai thể loại “anh em” là tiểu thuyết và truyện ngắn pháttriển Trước hết đó là các tác phẩm hấp thụ tính thời sự của ký – phóng sự:
Người và xe chạy dưới trăng (Hồ Anh Thái), Những người ở khác cung đường
(Hoàng Minh Tường), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường).
Trang 13Tiếp đến là các tác phẩm viết theo khuynh hướng tự truyện: Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Cát bụi chân ai (Tô Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải)…
Bên cạnh ký - phóng sự, thể loại tản văn, ghi chép cũng phát triểnmạnh Tản văn, ghi chép phát triển vì phù hợp với báo chí, phù hợp với nhucầu ăn, ở, mặc, sinh hoạt, tâm lí… của công chúng, lại thể hiện với lối viếtgọn gàng, trình bày cảm xúc trực tiếp Một số tác giả nổi bật có thể kể: TôHoài, Thảo Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lý Lan, Mai Văn Tạo, NguyễnNgọc Tư…
Bắt đầu từ những năm đầu 80, tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam bướcvào chuyển đổi Những tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng là: tập truyện
ngắn Bến quê (1985, Nguyễn Minh Châu), Đứng trước biển (1982), Cù lao
Tràm (1985, Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong vườn (1985, Ma Văn
Kháng), Thời xa vắng (1986, Lê Lựu), sau đó là Tướng về hưu, Con gái thuỷ
thần, Không có vua, Những bài học nông thôn cùng một số truyện ngắn khác
của Nguyễn Huy Thiệp, Thiên sứ (1989, Phạm Thị Hoài), rồi Nỗi buồn chiến
tranh (1990, Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) Các tác giả nổi bật kế tiếp có thể
kể: Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương,Nguyễn Ngọc Tư Qua các tác phẩm cụ thể ta có thể thấy được sự vận độngcủa tiểu thuyết, truyện ngắn, đồng thời thấy được mối quan hệ mật thiết giữahai thể loại này (đề tài, chủ đề, hình thức thể hiện, bút pháp, bằng chứng lànhiều tác giả vừa viết truyện ngắn, vừa viết tiểu thuyết trong khi muốn phảnánh một vấn đề, một quan niệm)
Để đánh giá thành tựu, đặc biệt là những biến đổi của truyện ngắn, tiểuthuyết sau năm 1986, thuyết phục nhất là đi theo tuần tự từng thể loại Tuynhiên, cách làm đó lại gặp phải một số khó khăn về mặt thao tác, cách trìnhbày, bởi vì giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có quá nhiều điểm chung Bởi vậy,
Trang 14chúng tôi lựa chọn cách làm tổng hợp, trong đó, ứng với mỗi thành tựu, đốivới từng thể loại chúng tôi sẽ có điểm nhấn riêng Trước hết, trong thể loạitruyện ngắn và tiểu thuyết sau 1986 sự thay đổi về tư duy là sự thay đổi mạnh
mẽ Tư duy lúc này là tư duy về “hiện thực đang sinh thành” Điều này ngoàitrực cảm của nhà văn còn được sự cho phép (và yêu cầu) của Đảng: nói thẳng,nói sự thật Hiện thực thay đổi buộc lòng tư duy, cách nghĩ, cách làm phảithay đổi Không thể lấy con mắt cũ để nhìn cuộc đời mới, càng không thể lấycái nhìn cũ để đo hiện thực mới Có lẽ vì vậy mà các hành động “ngoài vănbản” của một số nhà văn đã chứng tỏ sự cần thiết Nguyễn Khải từ bỏ “cáithời lãng mạn”, Lê Lựu buồn chán với lối viết “công việc”, “sự vụ”, NguyễnKhắc Trường quyết đoán đoạn tuyệt với bút danh “Thao Trường” Mạnh mẽhơn, Nguyễn Minh Châu còn “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệminh hoạ” (1987)
Bên cạnh đổi mới tư duy về hiện thực, các nhà văn còn thay đổi cáchnhìn nhận về văn chương và nhà văn Văn chương không phải là thứ quá đỗithiêng liêng, làm xong phải rưng rưng xúc động, cũng không phải là nơi chứanhững lời phán truyền mà văn chương chỉ là sản phẩm của một con ngườihiện thực nói những điều từ riêng suy nghĩ của mình mà thôi Nói nhưNguyễn Huy Thiệp: “tôi thì dạy khôn được ai ” Các tác giả truyện ngắn, tiểuthuyết sau 1986 đa số đều cho rằng văn chương chỉ là một công việc củanhững người đa cảm, hay chuốc vào mình những hệ luỵ, rồi sám hối, có khi vìthế mà trở thành “kẻ lạc lõng giữa đời” (Tạ Duy Anh), “có khi nhếch nhác”
(Nguyễn Huy Thiệp), có khi vô tích sự (Tâm hồn chó, Hoà Vang)
Thay đổi về tư duy, văn học buộc lòng phải thay đổi cảm hứng Giờđây văn học không còn lấy cảm hứng sử thi - lãng mạn nữa mà là “những cảmhứng mới về sự thật” (Phong Lê) Những đề tài lớn thuộc về dân tộc, về conngười công dân nhường chỗ cho những đề tài về con người đời tư - thế sự
Trước hết là những tác phẩm mổ xẻ, phanh phui những mặt trái: Kẻ sát nhân
Trang 15lương thiện (Lại Văn Long), Vũ điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy
Anh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) Tiếp đến là
những tác phẩm phản biện, nhận thức lại và những tác phẩm mang khuynh
hướng triết lí: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),
Bến không chồng (Dương Hướng), Tướng về hưu và các truyện lịch sử của
Nguyễn Huy Thiệp… Như vậy, con người ở đây không phải được nhìn nhận
trong mối quan hệ với cái ta cộng đồng mà cái chính là các quan hệ của cái
tôi mang tính đời tư – thế sự Họ được nhìn nhận với lịch sử, với dòng tộc,
với hiện thực xã hội, với gia đình, với chính bản thân Vì thế, không phảingẫu nhiên, bên cạnh những đề tài nói về con người cá nhân - những dụcvọng nhân tính, những giằng xé phức tạp như tác phẩm của Nguyễn HuyThiệp, Phạm Thị Hoài, văn học sau 1986 có một mảng ưu tiên cho hạnh phúcgia đình, viết về người phụ nữ của các cây bút nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn ThịThu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thuỳ Mai, Dạ Ngân
Các biểu hiện về hình thức thể hiện cũng là một điểm đáng chú ý củatruyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 Nhiều hướng tìm tòi mới cũng đãđược công khai thể hiện, đặc biệt là các cây bút trẻ như Hồ Anh Thái, Võ ThịHảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư Dưới ảnh hưởng củatriết học và tư duy phương Tây, truyện ngắn, tiểu thuyết đã mang vào mình
nhiều hình thức như cắt dán (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài, Thoạt kỳ thuỷ – Nguyễn Bình Phương), lồng ghép, đồng hiện (Phố Tàu – Thuận), sử dụng dòng ý thức (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), sử dụng cái kỳ ảo (Giàn thiêu
– Võ Thị Hảo), hình thức nhại (truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy
Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái), truyện ngắn mini (Hoa muộn – Phan Thị Vàng Anh, Đường Tăng – Trương Quốc Dũng) So với truyện ngắn, giai
đoạn này, thể loại tiểu thuyết được các tác giả trăn trở hơn Câu hỏi mà họ đặt
ra nhiều nhất là phải viết như thế nào? Liên tiếp các khuynh hướng thể nghiệm
Trang 16được đưa ra: viết theo lối hội hoạ lập thể, viết theo lối ký - phóng sự, viết theokiểu dòng ý thức, tiểu thuyết ngắn, gần đây là lối viết tiểu thuyết lịch sử.
Như vậy, sau 1986, văn xuôi Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới.Giai đoạn này có thể ví như giai đoạn tìm đường của người nghệ sĩ Có quánhiều nỗ lực cách tân, nhiều hiện tượng mới lạ, nhiều khuynh hướng tìm tòi,
số lượng tác phẩm phong phú… Nền văn xuôi lúc này đã là một nền văn xuôi
đa thanh thực sự Trong tính sinh động của văn xuôi sau 1986, bên cạnhnhững phức âm, những pha trộn, người đọc cũng có thể nhận thấy mộtkhuynh hướng tương đối độc lập, phát triển ngày càng mạnh mẽ và có nhiềuthành tựu, đó là văn chương của các cây bút nữ Khác với truyền thống, cáccây bút nữ này đồng hành trong tư tưởng, tìm hướng đi riêng trong cách thểhiện Họ đã bổ sung và tương tác cho nhau để làm nên một khuynh hướng gọi
kỵ, khẳng định cái tôi và quyền tự do của nữ giới trong gia đình, trong xã hội
Tuy nhiên, do tính chất của thời đại, phải đến sau 1975, đặc biệt là từsau Đổi mới, cảm hứng nữ quyền mới dần trở thành mạnh mẽ trong văn họcViệt Nam (thậm chí nhiều người đã cho rằng đây là giai đoạn văn học “âmthịnh dương suy”) Các tên tuổi nổi bật có thể kể: Phạm Thị Hoài, Lê Minh
Trang 17Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần ThịThanh Hà, Lý Lan … gần đây có Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ HoàngDiệu, Thuận, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư… Có thể nói, dầu chưa có tác phẩmlớn nhưng những tên tuổi này đã làm cho văn học trở nên sôi động, là giaiđoạn văn học nữ nổi bật nhất trong lịch sử văn học dân tộc.
Đề tài mà các nữ nhà văn giai đoạn này đề cập thường xoay quanhcuộc sống người phụ nữ: đó có thể là người phụ nữ thoát ra từ chiến tranh
(Người sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo), là người phụ nữ trong cuộc sống gia đình (Hậu thiên đường - Nguyễn Thị Thu Huệ), là người phụ nữ trong quan hệ với chính mình với tất cả nhu cầu từ lâu bị che khuất (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài, Bóng đè - Đỗ Hoàng Diệu, Cánh đồng bất tận - Nguyễn
Ngọc Tư)… Những cố gắng của nữ giới không chỉ được các nhà văn, nhà líluận nam giới ủng hộ bằng việc đánh giá, giới thiệu rộng rãi các tác phẩm màhơn thế, họ còn đồng hành bằng việc viết về những góc khuất của nữ giới,những bi kịch trong cuộc sống hiện đại (Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, TạDuy Anh, Nguyễn Ngọc Thuần…), từ đó, bước đầu đặt ra những vấn đề líthuyết về văn học nữ quyền (Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Việt Thắng, NguyễnĐăng Điệp) Thực ra, để làm nên một phong trào văn học nữ quyền kể từ sau
1986, ngoài yếu tố thời đại - ở đây là không khí dân chủ, thì phải tính đến cácyếu tố khác, trong đó, yếu tố tự bản thân nữ giới là điều quan trọng Theo sựtiến bộ của xã hội, trong điều kiện kinh tế phát triển, đặc biệt là tác động của
cơ chế thị trường, phụ nữ đã tự nâng cao trình độ nhận thức, tự chủ trong kinh
tế, thoát khỏi sự áp lực về việc làm, dần có sự độc lập tương đối với đàn ông.Đối với phụ nữ là trí thức, họ nhận thấy khoảng trống bất công của quá khứđối với giới mình, thậm chí họ còn xem quá khứ của nhân loại như một “mốithâm thù” vĩnh viễn Phụ nữ đặc biệt nhạy cảm trong vấn đề nhìn nhận ứng xửgiữa con người với con người trong các không gian khác nhau, đặc biệt làkhông gian hẹp
Trang 18Có cảm giác từ sau 1986, hễ có nhà văn nữ nào cầm bút là ít hoặc nhiềuđều đề cập đến nữ quyền Nhìn tổng quan qua các tác giả tiêu biểu, chúng tôicho rằng ý thức về nữ quyền của các cây bút nữ thể hiện ở những biểu hiệnsau: khẳng định cái tôi, khẳng định sự độc lập của nữ giới, công khai tuyênchiến với sự áp đặt của đàn ông; mạnh dạn triển khai nhiều đề tài, trong đóquan tâm nhất là đề tài dục tính; xét lại các điển phạm nghệ thuật bằng con mắtriêng, tuy mới chỉ dừng ở việc điểm lại tư tưởng nam quyền, chưa thật sự đi tìmbản nguyên và đặt những câu hỏi từ lịch sử như các nhà văn nước ngoài (chẳnghạn Lessing tạo ra một thế giới giả tưởng trong đó nữ xuất hiện trước trong tiểu
thuyết Khe nứt); thường miêu tả những câu chuyện gần gũi với bản thân
Những biểu hiện về nội dung đã kéo theo một loạt các hệ quả khác xét
về hình thức biểu đạt Về ngôn ngữ, các tác giả thường sử dụng lối ngôn ngữquyết liệt, mạnh mẽ, có khi trần tục, thậm chí có tác giả còn giễu nhại lại lối
“nữ nhi thường tình” trong quá khứ Họ sử dụng các hình ảnh sống động, cókhi là những hình ảnh giả tưởng, có khi là những hình ảnh trần tục của cuộcsống phổ biến trong sáng tác Các hình thức biểu đạt có thể kể như qua hànhđộng tình dục (Đỗ Hoàng Diệu), qua quan hệ thắng thế của đàn ông đối vớiđàn bà trong công việc (Nguyễn Ngọc Tư), qua lịch sử (Võ Thị Hảo)…
Những phân tích trên cho thấy, văn học Việt Nam sau năm 1986 pháttriển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng với nhiều tác giả, nhiều phong cách khácnhau và bước đầu đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Một trong những thànhtựu, theo chúng tôi là đáng chú ý nhất của văn học giai đoạn này đó là khuynhhướng dân chủ Chính nhờ khuynh hướng dân chủ mà văn học mở rộng mọingả đường, sẵn sàng đi vào mọi góc khuất, mọi vùng tối của lịch sử, của conngười Cũng chính vì vậy mà sáng tác của các nhà văn nữ giai đoạn này pháttriển mạnh mẽ, tạo thành một “vệt sáng” kéo dài Ở đó, dầu nhiều tên tuổi khácnhau, nhiều quan niệm và cách thể hiện khác nhau nhưng tựu trung, họ đều gặpnhau ở một điểm là ý thức về nữ quyền, phản ứng lại tư tưởng thống trị, áp đặt
Trang 19của nam giới Đằng sau những tên tuổi sớm thành danh, những ồn ào biếnchuyển của văn chương nữ giới, lặng lẽ và chuyên cần, Lý Lan đã ghi tên mìnhvào dòng văn học nữ quyền bằng một sắc màu Nam Bộ riêng độc đáo.
1.1.2 Sáng tác của Lý Lan
1.1.2.1 Sự đa dạng và phong phú trong sáng tác của Lý Lan
Lý Lan bắt đầu sáng tác khoảng năm 1978, đến nay đã có hơn 20 đầusách được xuất bản Với một vốn sống phong phú, một sự hiểu biết đáng tincậy, một trái tim đa cảm, Lý Lan đã giành ngòi bút của mình để sáng tác trênnhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tuỳ bút, ghi chép.Không chỉ dừng lại ở đó, cô sinh viên khoa tiếng Anh bất đắc dĩ thời nào (lúcđầu Lý Lan chọn học ngành Văn học, nhưng đã có sự nhầm lẫn nên tác giả lại
có danh sách trong khoa tiếng Anh) đã dùng chính năng lực của mình để
chuyển ngữ những tác phẩm của các nhà văn nước ngoài, trong đó Harry
Potter (của tác giả J.K.Rowling) là tác phẩm nổi bật Với những cố gắng miệt
mài, Lý Lan đã trình công chúng 1 tập thơ, 2 tiểu thuyết, nhiều tập truyệnngắn (cả in chung và in riêng), nhiều bút ký, các bản dịch và rất nhiều ghichép đó đây Có thể, với cái tuổi “ngũ thập trị thiên mệnh”, Lý Lan sẽ còn cónhững tác phẩm khác hay hơn “trình chánh” giữa làng văn thơ
Không chỉ dừng lại ở số lượng tác phẩm nhiều, nữ nhà văn này còn chođộc giả thấy được sự phong phú, đa dạng trong sáng tác Điều đó thể hiệntrong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm mà trước hết là đề tài, nội dung Lý
Lan có khi viết cho mình (Là Mình), có khi viết cho thiếu nhi, có khi viết về
những người lao động nghèo khổ, có khi ghi chép về một phố chợ nghèo, mộtđêm Sài Gòn, một gánh hàng rong, có khi viết về những người đàn bà… Bởinhà văn sáng tác về nhiều đề tài, cung cấp cho độc giả nhiều nội dung nêntrong tác phẩm của chị, số lượng nhân vật tương đối nhiều Và cũng vì viết vềnhiều đối tượng nên bút pháp của nhà văn cũng có sự thay đổi Sự thay đổinày không chỉ dừng lại ở những thể loại khác nhau (những thể loại khác nhau
Trang 20thì bút pháp khác nhau) mà sâu sắc hơn là ở trong cùng một thể loại – điềunày cho thấy sự cầu tiến của nhà văn Đối với tuỳ bút, chị có những tác phẩmthiên về ghi chép thuần tuỳ, có tác phẩm giành nhiều cho đối thoại, có tácphẩm thiên về tường thuật khách quan, có tác phẩm thiên về cảm xúc, cảm
nhận Với tiểu thuyết, từ Lệ Mai đến Tiểu thuyết đàn bà đã là một hành trình
tìm kiếm đáng ghi nhận Với truyện ngắn, càng về sau càng có nhiều thay đổi:
“viết ít tuân theo bản năng” (Lý Lan), diễn đạt ngắn gọn, ít thể hiện tính ước
lệ, giàu tính khẩu ngữ, tạo dựng những mâu thuẫn phức tạp hơn
Sáng tác trên nhiều thể loại, đã trình độc giả một khối lượng tác phẩmtương đối nhiều, đã thể hiện sự phản ánh tương đối đa chiều, nhiều lĩnh vực,cung cấp cho độc giả nhiều nhân vật với những nét khác biệt nhau, Lý Lancũng đã thể hiện được cái riêng của mình trong sáng tác Có thể cái riêng ấykhông phải là “cái khác” mà chỉ là cái không lặp lại, không có ở cây bút khác
Dĩ nhiên phải là cái có giá trị Chính điều này đã cho thấy sự đóng góp nhấtđịnh của nhà văn cho văn học nước nhà
1.1.2.2 Đóng góp của truyện ngắn và tiểu thuyết Lý Lan trong văn
xuôi tự sự Việt Nam đương đại
Bắt đầu làm quen với văn chương sau ngày đất nước hoà bình, sáng tácmạnh mẽ từ Đổi mới, Lý Lan có nhiều cơ hội để thể hiện sự “tự do” của mìnhtrong sáng tác Nếu như trước đó, với sự đòi hỏi của Tổ quốc, mọi nhà vănđều phải “khép cái tôi riêng lẻ bần cùng” để vì nghĩa lớn, phải sáng tác trênmột hệ đề tài, thì nay, mọi cái tôi đã dần dần có “đất” thể hiện, nghệ thuật đãbước đầu để cho nhà văn tự do tìm kiếm đường đi Đặt trong một guồng máyđang chuyển động mạnh mẽ, Lý Lan lặng lẽ nhập cuộc một cách tích cực.Cùng chung tiếng nói đi tìm cái tôi, đặc biệt là chung tiếng nói với các nhàvăn đồng giới, Lý Lan đã góp thêm vào tiếng nói nữ quyền những sắc màuriêng Chính tiếng nói của Lý Lan, cùng với tiếng nói của nhiều nhà văn cùngtrang lứa, đặc biệt là những nhà văn trẻ tuổi với phương châm “thích nói to”
Trang 21(La Khắc Hoà) đã làm cho độc giả ý thức được rằng: đã một thời chúng ta đểquên phụ nữ, đã đến lúc phụ nữ lên tiếng để bảo vệ cho mình và việc vănchương của họ trở thành một xu hướng mạnh mẽ là điều không thể cản trở.Khác với những nữ nhà văn như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn ThịThu Huệ, Y Ban… tiếng nói muốn khẳng định cái tôi, khẳng định nữ quyềncủa Lý Lan không sôi nổi, ồn ào và cực đoan Có thể phong thuỷ, văn hoáNam Bộ (khác với Bắc Bộ) đã ảnh hưởng lớn tới tư tưởng, văn phong của nhàvăn nên trong tác phẩm đã toát lên một cái gì đó mộc mạc, giản dị, có sự hàihoà, không thiên lệch Đành rằng, cái quan trọng nhất làm nên sự khác biệt đó
là cái riêng (tạng) của mỗi người Cũng vì thế mà cùng chịu ảnh hưởng củavùng miền, nhưng tiếng nói nữ quyền của Lý Lan khác với tiếng nói nữ quyềncủa Nguyễn Ngọc Tư
Không chỉ đóng góp về tiếng nói nữ quyền, Lý Lan còn để lại cho vănhọc Việt Nam một màu sắc Nam Bộ rất riêng mà lâu lắm mới thấy xuất hiện.Trước Lý Lan và cả sau này nữa, có thể không có ai sánh nổi vai trò làm bậtnổi tính chất vùng miền sông nước, vùng một thời cha ông hướng về mở cõinhư cây đại thụ Sơn Nam, nhưng thêm những tên tuổi như Lý Lan, văn họcNam Bộ đã có thể tự hào vì đã dần khẳng định được tiếng nói Dầu sao mộtthời văn học Việt Nam với hai miền Nam - Bắc cũng đã làm gián đoạn lịch
sử, khiến cho sự hợp nhất phải đợi thời gian Thậm chí, đã có lúc chúng ta,trong vô thức, chỉ nhìn văn học Việt Nam như là “văn học không có miềnNam” Bởi thế, chất Nam Bộ đã bị phí hoài trong những tác phẩm viết ra thờiloạn lạc (gần đây người ta mới có khuynh hướng tìm kiếm lại, tuy nhiên cònquá nhiều mảng bè trôi lạc) Vì thế, để nói cho được chất Nam Bộ trong lòngViệt Nam là điều hết sức cần thiết và có giá trị Có thể nói, cây đại thụ SơnNam đã quá sừng sững đến độ không ai có thể tự đi trên vùng đất sông nướcnày mà không dẫm lên vết chân của ông Dầu vậy, trong những đường hướngchung vẫn lấp lánh những mảng màu khác biệt, chẳng hạn của Lý Lan,
Trang 22Nguyễn Ngọc Tư… Trong tác phẩm của Lý Lan, người đọc có thể nhận thấychất giọng, ngòi bút của Sơn Nam như Mặc Lâm đã nói, nhưng rõ ràng khôngthể lấy Sơn Nam để che khuất những đóng góp của Lý Lan, hay của nhữngtên tuổi khác Ở một vùng mà tính chất “mở” của tiếp nhận đã như là một tiền
lệ thì nó càng tạo nên những sự tiếp biến theo thời gian Trong văn của LýLan, người ta không chỉ bắt gặp hình ảnh bến đò, sông nước, những hình ảnhcon người lao động cần cù gắn với những miệt vườn, những cánh đồng xanh,
những cách xưng hô (ổng, cổ, ảnh), ngôn ngữ cụ thể sinh động (mắc mớ gì,
hen, hớ, bộ mày, chút đỉnh) mà còn bắt gặp ở đó sự pha trộn văn hoá giữa
Đông – Tây, giữa người Trung - người Việt trong một lối viết giản dị, gần vớivăn phong báo chí Các tác phẩm nổi bật về tính chất Nam Bộ của chị đó là:
Chị ấy lấy chồng chưa?, Đêm sao, Diễn viên hạng ba, Đêm thảo nguyên, Ngựa ô… (Vấn đề chất Nam Bộ chúng tôi còn đề cập khi trình bày ở các phần
sau của luận văn)
Sự đóng góp của truyện ngắn, tiểu thuyết Lý Lan cho văn học nước nhàcòn thể hiện ở chỗ góp phần khẳng định tính chất “mở” của các thể loại tự sự,đưa văn chương gần với cuộc đời M Bakhtin, nhà kinh điển của lí luận phêbình thế kỉ XX đã kết luận xác đáng rằng: “nhân vật chính của văn học là thểloại” Quả thật, thể loại luôn làm đau đầu nhiều bộ óc nghiên cứu Cho đếnbây giờ, để có một thống nhất chung về vấn đề thể loại vẫn là điều nan giải,điều đó đặc biệt thể hiện rõ trong các kiểu loại tự sự Tuy nhiên, ở đây, chúngtôi kế thừa những quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có sự phânchia ranh giới giữa các thể loại trong loại hình tự sự, trong đó có truyện ngắn,tiểu thuyết, tuỳ bút - những thể loại mà Lý Lan sáng tác Trong tác phẩm của
Lý Lan, giữa các thể loại khác nhau luôn có mối quan hệ tương quan vớinhau, đều có sự “cộng sinh” nhất định Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết của LýLan, nếu người đọc tinh ý có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn của tuỳ bút, của vănphong báo chí Đối với tuỳ bút, ngoại trừ lý luận chung, tuỳ bút gần với
Trang 23truyện ngắn, tiểu thuyết (tính chất chủ quan trong miêu tả, biểu lộ cảm xúc,tính trữ tình, có nhân vật và các mối quan hệ có thể tạo nên cốt truyện) thìtrong tuỳ bút Lý Lan, chị đã đưa vào các mẩu đối thoại (có cảm tưởng tác giả
đã chuyển một cách hồn nhiên các mẩu đối thoại này vào truyện ngắn, tiểuthuyết) Ngược lại, trong tiểu thuyết của Lý Lan, ta lại bắt gặp một số đoạnnhư một truyện ngắn tách biệt
Theo khảo sát của chúng tôi, trong tất cả các truyện ngắn và tiểu thuyếtcủa Lý Lan chỉ có vài tác phẩm là kết thúc theo lối truyền thống, còn lại là kếtthúc theo lối “bỏ ngỏ” Lối kết thúc này không phải chỉ có ở sáng tác của LýLan nhưng cái khác của Lý Lan là ở chỗ, tác giả đã coi lối kết thúc “bỏ ngỏ”như một đặc điểm lớn trong sáng tác, như một quan niệm Lối kết thúc “bỏngỏ” khác với lối kết thúc “đóng kín” ở chỗ, nhà văn ý thức được việc tựmình quyết định một cái chung cục là sai lầm, cũng như cuộc sống, bất cứmọi sự vật - hiện tượng sẽ chẳng bao giờ có câu nói cuối cùng về nó cả Bởithế mà có sự tương quan rõ nét giữa văn chương và cuộc đời: cuộc đời cứngày một ngày diễn tiến, còn văn chương lại tiếp tục hành trình sau cái chấmhết (việc viết) tác phẩm Có thể có nhiều cách để nhà văn đương thời thể hiệnrằng, không có một chân lí cuối cùng như một thời ta từng nghĩ mà cần chấpnhận tính chất đa chân lí và tính phức tạp muôn hình muôn vẻ của cuộc sốngnhưng cách thể hiện như Lý Lan – như một quan niệm, một con đường đến,theo chúng tôi, đã có những hiệu quả nhất định
Như vậy, với việc khẳng định cái tôi trong sáng tác, đưa tiếng nói nữquyền vào văn học, đưa vào tác phẩm chất Nam Bộ, góp phần khẳng định tínhchất mở trong các thể loại tự sự, đưa văn chương gần với cuộc đời, Lý Lan đãcho thấy sự đóng góp của mình cho văn học nước nhà từ sau Đổi mới Để cóđược những đóng góp đó là cả một quá trình cố gắng miệt mài, luôn phảiquan sát, giành thời gian để nghiền ngẫm, quan tâm tới văn học nước nhà, đặcbiệt là phải gắn bó với tổ quốc, với quê hương như chính Lý Lan đã thổ lộ với
Trang 24phóng viên báo: “Cách biệt môi trường Việt Nam, sống với những ngườikhông cùng tiếng nói, không chung mối bận tâm, tôi cảm nhận được vănchương của tôi xa rời cuộc sống quê nhà, chông chênh khi viết” [51].
1.2 Ý thức về nữ quyền của Lý Lan
1.2.1 Cơ sở của ý thức sâu đậm về nữ quyền của Lý Lan
1.2.1.1 Tác động của hoàn cảnh riêng và môi trường sống
Trường phái Phê bình tiểu sử (Saint - Beuve) chừng mực đã có lí khiđưa ra quan điểm rằng mỗi tác phẩm của một nhà văn bao giờ cũng phản ánhnhững dấu ấn của cuộc đời anh ta, chịu tác động bởi những hoàn cảnh mà anh
ta sống Quả vậy, gần như không có tác giả văn học nào lại viết lên tác phẩm
mà không để lộ sự chi phối của hoàn cảnh và môi trường sống Nói khác đi,không có một nhà văn viết trên không, hay viết về một điều gì đó anh takhông trải nghiệm, hoặc không nhìn thấy, bất luận là trong một tư tưởng haymột hệ tư tưởng Đối với Lý Lan, trong trường hợp ý thức về nữ quyền, sự tácđộng của hoàn cảnh riêng và môi trường sống thể hiện khá rõ nét
Thứ nhất, đó là ảnh hưởng của thời đại Lý Lan sống Thời đại bao giờcũng chi phối tư tưởng, cách nghĩ, cách nhìn của mỗi con người nói chung,mỗi nhà văn nói riêng Đối với xã hội Việt Nam sau năm 1986, đặc biệt là sauĐại hội Đảng lần thứ VI, với chủ trương cải tổ đất nước “nhìn thẳng, nóithẳng”, văn nghệ sĩ thực sự được cởi trói Các nhà văn xông xáo bước vàomọi ngả đường, mọi góc khuất của cuộc sống để tái hiện, để phản ánh Đề tài
mà nhiều nhà văn quan tâm đó là hiện thực cuộc sống đương thời, là nhìn lạiquá khứ, là “giải thiêng” những ngộ nhận, những định kiến Trong số các đềtài đó, đề tài về người phụ nữ - lúc này với tư cách là chủ thể, là các cá nhânvăn hoá – đã trở thành một đề tài có tính tiếp nối Nó là cơ sở, động lực thôithúc Lý Lan viết một cái gì đó về nữ quyền, góp thêm tiếng nói đấu tranh cho
nữ giới Tựu trung, yếu tố thời đại - với tính chất thời đại ấy là chủ trương dânchủ, đã cho phép Lý Lan, chí ít, được “nghĩ gì viết nấy” Có thể, ý thức về nữ
Trang 25quyền đã được Lý Lan hình thành đâu đó trong hành trình sống của chị hoặc
là hình thành sau khi Đổi mới Điều đó gần như không thể xác định Tuynhiên, một thực tế không thể phủ nhận, dù Lý Lan ý thức về nữ quyền trướcnăm 1986 thì cái mốc năm 1986 và những năm tiếp theo sẽ vẫn là một sự tácđộng không nhỏ, đảm bảo cho nhà văn tiến tới độ am hiểu về đề tài này
Thứ hai, đó là ảnh hưởng của bản sắc vùng văn hoá Nam Bộ, đặc biệt
là tính cách con người Lý Lan sinh năm 1957 tại Thủ Dầu Một - tỉnh BìnhDương Tuy gắn với những cuộc di chuyển: thuở nhỏ sinh sống ở quê mẹBình Dương, đến 8 tuổi chuyển về Chợ Lớn, sau đó chuyển sang Mĩ nhưngNam Bộ đã để lại trong Lý Lan những ảnh hưởng sâu đậm Dầu có sự phantrộn dòng máu Việt - Trung, làm dâu một gia đình ngoại quốc nhưng cái hìnhthành nên hồn cốt Lý Lan vẫn là đất và người Nam Bộ Nam Bộ là vùng vănhoá hình thành sau các vùng văn hoá khác, theo chiều từ Bắc vào Nam TheoTrần Ngọc Thêm, đặc trưng văn hoá Nam Bộ thể hiện ở năm đặc điểm: tínhsông nước, tính bao dung, tính năng động, tính trọng nghĩa, tính thiết thực[93] Có thể thấy những đặc điểm văn hoá này trong con người Lý Lan, ởmức độ đậm nhạt khác nhau Bởi sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, miền đất tiếpxúc với phương Tây đầu tiên, chịu ảnh hưởng rõ nét các đặc điểm văn hoáphương Tây: tính mở, tính năng động, tính thực dụng nên từ rất sớm Lý Lan
đã có ý thức về cá nhân, sớm học tập những tư tưởng tiến bộ ở bên ngoài.Tính năng động, biểu hiện rõ nhất là việc tiếp nhận cái mới, ở việc thay đổicách sống, chỗ ở, nghề nghiệp đã làm cho Lý Lan sớm có được ý thức cánhân để lựa chọn, trong đó có việc lựa chọn con đường viết văn, lựa chọn vấn
đề nữ quyền Ở một vùng văn hoá thu gộp vào mình nhiều dân tộc, nhiều cưdân của các vùng khác nhau, nhiều phong tục tập quán, nhiều tôn giáo, nhiềutính cách, lối sống thì đó là một cơ hội lớn để con người tự do lựa chọn, tránh
tư tưởng thiên lệch, cực đoan, mà thay vào đó là tư duy hài hoà các mặt Điềunày có thể đã tác động tới việc tiếp nhận tư tưởng nữ quyền của Lý Lan: chị
Trang 26nhìn nữ quyền như là một cái gì đó tạo hoá ban cho riêng đàn bà, là “thiêntính” Do vậy không cần “gồng mình”, người đàn bà vẫn có thể biểu hiện nữquyền một cách hồn nhiên như là hơi thở, bản năng sống, yếu tố bẩm sinh củacon người mình.
Thứ ba, Lý Lan có nhiều thời gian sống độc thân nên hiểu giá trị củacuộc sống cá nhân Tất nhiên, ở đây chúng tôi đứng từ góc nhìn, lấy cái cá nhân(cái nhân vị) làm trung tâm xem xét, chứ không đứng từ góc độ quan hệ gia đình
để cho rằng, việc lấy chồng muộn là một điều thuận lợi cho tự do cá nhân
Thứ tư, Lý Lan là kết quả của sự hôn phối giữa người Việt và ngườiHoa, lại lấy chồng người Mỹ và sinh sống ở hai nơi Việt Nam và Mỹ Đây cóthể là trường hợp hi hữu trong giới văn sĩ Việt Nam Nói như Trần Thuỳ Mai,việc hiểu biết các nền văn hoá khác nhau là thuận lợi không ai có được, ngoài
Lý Lan Lý Lan đã có những tác phẩm về con người Nam Bộ, đã có nhữngghi chép về người Hoa ở Sài Gòn và đang ấp ủ một tác phẩm về con ngườiquê cha, đã có những tác phẩm trong đó nhân vật chính là con người của hainền văn hoá… Mặt khác, hiện tại Lý Lan đang sinh sống và làm việc chủ yếu
ở Mỹ, một trong những cái nôi của chủ nghĩa nữ quyền Đặt vào môi trườngsinh ra tư tưởng đó, trong điều kiện chế độ lưu trữ thuộc loại tốt nhất, Lý Lan
có điều kiện để học hỏi và ngày càng chín chắn trong nhận thức về nữ quyền
(Trong bài viết Phê bình văn học nữ quyền đăng trên Tạp chí Tia sáng, Lý
Lan đã tham khảo rất nhiều tài liệu bằng nước ngoài bằng tiếng Anh Thậmchí, cách triển khai bài viết của Lý Lan kì thực là thuyết minh lại những quanniệm khác nhau về nữ quyền luận của các nhà nghiên cứu nước ngoài)
Như vậy, hoàn cảnh riêng và môi trường sống đã tác động tới ý thức về
nữ quyền trong tác phẩm Lý Lan, biểu hiện ở bốn điểm chính: không khí dânchủ của xã hội Việt Nam sau 1986; bản sắc của vùng văn hoá Nam Bộ; đờisống độc thân; sự giao thoa của những vùng đất chị sinh sống Tất nhiên, sựtác động của hoàn cảnh tới việc hình thành ý thức về chủ nghĩa nữ quyền là đã
Trang 27đi qua “bộ lọc” (chữ dùng của Phan Ngọc) của cá nhân Vì thế sẽ khó có thểbắt gặp một sự trùng khít giữa yếu tố nào đó bên ngoài tác phẩm (mà tác giảtiếp thu/ ảnh hưởng) với sự biểu hiện yếu tố đó trực tiếp bên trong tác phẩm
1.2.1.2 Tiếp thu những nội dung chính của Chủ nghĩa nữ quyền (nữ
quyền luận)
Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) là lí thuyết xuất phát từ phong tràođấu tranh đòi giải phóng phụ nữ những năm 60 của thế kỉ XX Tuy nhiên,cũng có lí thuyết cho rằng, cội nguồn của nó là từ thế kỉ XVII, XVIII thời kìKhai sáng, bởi thời kì đó đã xuất hiện các phòng tiếp tân, tiếp đó là sự xuấthiện của giải thưởng văn học Fatima Theo các lý thuyết gia, đến nay, nữquyền luận đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn những năm 60, giai đoạn nhữngnăm 70, giai đoạn cuối những năm 80 Giai đoạn đầu là giai đoạn lí thuyếthoá các phong trào đấu tranh cho nữ quyền, đặc điểm cơ bản của lí thuyết giaiđoạn này là phê phán nền văn hoá phụ hệ, nền văn hoá đàn ông đã đẩy ngườiphụ nữ thành giới thứ hai Giai đoạn thứ hai chú ý về sự bất bình đẳng vănhoá, coi sự khác biệt về sinh lí là đương nhiên (giống - sex) Giai đoạn thứ ba,
lí thuyết nữ quyền luận đi xa hơn, cho rằng giới tính (gender) là khái niệmthuộc về văn hoá, là hệ thống biểu trưng - sản phẩm của chủ nghĩa duy dươngvật, vì thế lí luận tiến đến xa hơn đó là đề cập tới đồng tính luận, tiến tớithuyết “lệch pha” Mặc dầu phong trào đấu tranh cho nữ quyền rầm rộ ở thế kỉ
XX (Đan Mạch, Pháp, Anh…), lí luận nữ quyền đã được phát triển và bổsung theo thời gian qua các tên tuổi lớn: Simone de Beauvoir, Robert Soller,Annis Pratt, Gill Plain, Susan Seller, Barbara Johnson, Dale Spender, MaryEagleton… nhưng cho đến hiện tại vẫn chưa có một sự thống nhất về phêbình nữ quyền luận Phương Lựu xác định 3 giai đoạn của phê bình nữ quyền:phê bình về hình tượng phụ nữ; phê bình lấy phụ nữ làm trung tâm và phêbình nhận diện, nhưng đó chỉ là sự giới thiệu sơ lược, có tính chất thông tinbước đầu Tác giả Bùi Thị Thuỷ chỉ dừng ở khái niệm cơ bản mà không đi
Trang 28vào các khía cạnh nội hàm: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vựckinh tế, xã hội và giáo dục Khái niệm nữ quyền nếu hiểu ở cấp độ rộng làquyền lợi của người phụ nữ đặt trong thế tương quan với quyền lợi của namgiới để đạt đến cái gọi là nam nữ bình quyền Ở cấp độ hẹp thì nữ quyền cómối liên quan với các khái niệm như giới tính, phái tính trong văn học Nếugiới tính, phái tính là những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái(nam/nữ) thì khái niệm nữ quyền không chỉ dừng lại ở đó mà mục đích của nóhướng tới là sự bình quyền của nam/nữ đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêngcủa nữ giới” [94] Một cách chung nhất, có thể hình dung nữ quyền luận biểu
hiện ở những luận điểm cơ bản sau: khẳng định chủ thể tính, bản ngã, bản
sắc của nữ giới; lên án nền văn hoá phụ quyền, từ đó đòi các quyền bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực; cố gắng xác lập một thứ mĩ học riêng, xây dựng những tiêu chí trong cảm thụ, đánh giá tác phẩm văn học.
Để xây dựng thành các luận điểm trên, các nhà lí thuyết đưa ra các luận
cứ làm cơ sở Cụ thể: con người sinh ra không phân biệt nam - nữ (giống),giới tính (gender) chỉ là do xã hội áp đặt dựa trên những thế mạnh khác biệtsinh học đối với mỗi giống: “người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trởthành phụ nữ”(Semone de Beauvoir); phụ nữ có những ưu thế riêng, phân biệtvới nam giới: phụ nữ gần với tự nhiên, thích sự hài hoà, thích ổn định khôngthích trật tự phân cấp, hay nghĩ đến trách nhiệm chứ không nghĩ đến quyền,mức độ giảm stress tốt hơn (theo kết quả nghiên cứu khoa học); dựa vào cácthành tựu đã mất/ bị phủ nhận của nữ giới: “thật ra các bậc triết gia nam tử đãmuốn quên các bà đi, có thể sau khi đã chiếm hữu tư tưởng của các bà”(Umberto Eco) [24, 282]”
Lý Lan là tác giả sớm quan tâm đến đề tài về nữ quyền Năm 2001, chịchọn nữ quyền luận làm đề tài nghiên cứu khi theo học cao học Một vốn hiểubiết ngoại ngữ đã đủ để cho Lý Lan tiếp thu những sách vở nước ngoài mộtcách thuận lợi Qua các lời phát biểu, đặc biệt là qua thế giới nghệ thuật trong
Trang 29tác phẩm, Lý lan đã chứng tỏ cho người đọc về sự tiếp thu những luận điểmcủa chủ nghĩa nữ quyền Điều đó thể hiện ở việc chị khẳng định phụ nữ cũng
như nam giới luôn có bản thể riêng, nam và nữ có những ưu thế riêng (Biển
như tôi nhớ, Tiểu thuyết đàn bà, Tai nạn,Rừng mai…); nam và nữ bình đẳng,
giống như sự bình đẳng trong những người cùng giới (Tiểu thuyết đàn bà,
Người đàn bà kể chuyện, Đất khách, Chị ấy lấy chồng chưa,…); nữ giới có
quyền tự do sáng tác, tự do ngôn luận, tự do triết lí và các nhu cầu khác
(Đường dài hạnh phúc, Mẹ và con, Cô con gái…) Nhưng, khác với một số
nhà văn ở Việt Nam, Lý Lan không tuyên ngôn “đao to búa lớn”, không dùngkiểu diễn đạt gây shock, mà ngược lại, chị kết hợp trong một thứ ngôn ngữgiản dị, mang đậm chất đời thường, mang sắc thái nữ tính, điều ấy khiến chonhững đặc điểm như đã nói trở nên uyển chuyển hơn Có thể, bởi chính trongnhững đặc điểm đó đã có sự pha trộn với đặc điểm dân tộc, tư duy dân tộc mà
Lý Lan quan niệm phải giữ “làm gốc”
Vậy là chính trong sự tiếp thu này, chúng ta nhận thấy sự hài hoà giữayếu tố bản địa và yếu tố ngoại sinh trong một con người, một cá tính, nhậnthấy cách ứng xử rất chủ kiến của Lý Lan Tất nhiên, điều đó chỉ có thể cóđược ở một người luôn quan sát đời sống của dân tộc, luôn biết tiếp nhậnnhững tiến bộ từ bên ngoài, đặc biệt là văn hoá phương Tây với các đặc điểm
cơ bản: tôn trọng cá nhân, tính mở, chú trọng tự do Chính từ đó mới tạo nêncái “phông” văn hoá rộng lớn để kết hợp hài hoà bản sắc dân tộc, vùng miềnvới các luận điểm của chủ nghĩa nữ quyền, làm cho nó mang đậm dấu ấn cánhân nhà văn
1.2.1.3 Ảnh hưởng bởi văn hoá phương Tây
Giao lưu văn hoá Việt Nam – phương Tây đã có từ thế kỷ XVII, đặcbiệt phát triển vào thời kỳ Pháp xâm lược nước ta từ cuối thế kỉ XIX, sau đó
là đế quốc Mỹ và từ sau 1986 đến nay thông qua con đường hoà bình, tựnguyện Một điều đặc biệt là, do điều kiện địa hình dốc về phía Nam, trải dài
Trang 30ra biển, nên Nam Bộ đã trở thành miền đất địa đầu của Tổ quốc trong việctiếp nhận những ảnh hưởng bên ngoài Đa phần các tư tưởng tiến bộ, các họcthuyết, kể cả lối sống hướng ngoại, ban đầu xuất phát ở miền Nam, sau đó lanrộng ra và phát triển ở miền Bắc Nói điều này để thấy, việc Lý Lan ảnhhưởng bởi văn hoá phương Tây trước hết vì Lý Lan sinh sống ở Nam Bộ - nơiảnh hưởng sớm và để lại dấu ấn mạnh mẽ văn hoá phương Tây Theo nămtháng, những ảnh hưởng đó đã được bản địa hoá đến mức gần như hình thànhmột thứ “vô thức tập thể” mà so với các vùng miền khác, nó trở thành mộtđặc điểm để nói về sự khác biệt văn hóa
Văn hoá phương Tây, trong sự đối lập với phương Đông, hình thành từthời cổ đại, ra đời trên cơ sở nền kinh tế du mục trong một điều kiện tự nhiênthuận lợi, có nhiều đồng cỏ, khí hậu lạnh, khô Người phương Tây từ sớm đãquen với cuộc sống du cư (chăn nuôi), cuộc sống không phụ thuộc nhiều vào
tự nhiên, nên vai trò cá nhân được coi trọng Họ có bản tính coi thường tựnhiên, thích chế ngự tự nhiên, trọng lí tính, coi trọng tư duy phân tích Suốt
cả quá trình dài của lịch sử, văn hoá phương Tây đã chứng tỏ cho nhân loại vềtính khác biệt của họ đó là coi trọng cá nhân Cá nhân là cái gốc của văn hoáphương Tây (khác với phương Đông, cộng đồng là cái gốc) Chính từ cái gốc
đó mới “sinh cành đẻ nhánh” để hình thành nên một nền văn hoá – văn minhrực rỡ với nhiều thành tựu, có sức mạnh lấn át thế giới cả một hành trình dài,trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, lĩnh vực khoa học, lĩnh vực đời sống conngười… Không phải ngẫu nhiên mà ở phương Tây lại nảy sinh nhiều trườngphái khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong lĩnh vực khoa học, kể cả khoahọc tự nhiên lẫn khoa học xã hội Nói đến văn hoá phương Tây cũng là nóiđến tính năng động, tính tự do và cả tính thực dụng Văn hoá phương Tâykhông hài hoà như văn hoá phương Đông nhưng nó sẵn sàng chấp nhận mọi
sự khác biệt và coi tính đa nguyên như một nguyên tắc trên con đường đi đếnchân lí
Trang 31Sinh ra và lớn lên ở miền đất mang nhiều dấu ấn phương Tây, lại họcthứ tiếng của họ, sinh sống trên đất nước họ (khoảng 10 năm), Lý Lan thực sựchịu ảnh hưởng mạnh mẽ (có ý thức và tự nhiên) văn hoá phương Tây Ở LýLan, đặc điểm nổi bật đó là sự tôn trọng cá nhân, coi trọng quyền tự do và rấtnăng động Có thể việc lựa chọn nghề viết, viết nhiều thể loại, trong đó có cảcác ghi chép thường ngày; đề tài trong sáng tác cơ bản là về nữ quyền; không
có các tác phẩm nói về tính cộng đồng đã cho thấy điều đó Qua tìm hiểu tiểu
sử, trong các bài trả lời phỏng vấn, kể cả bài viết về nữ quyền luận lẫn trongsáng tác, chúng tôi dễ dàng nhận ra một Lý Lan coi trọng cá tính, coi trọng sựđộc lập Hơn thế, như chúng tôi đã nói, những ảnh hưởng của phương Tây đểlại dấu ấn trong các tác phẩm của chị: hình ảnh những nhân vật sống ở haiquốc gia, chịu tác động của hai nền văn hoá, những con người mang hai dòngmáu và dễ nhận ra nhất là những tác phẩm mà Lý Lan tiếp nhận bằng tiếngAnh của các tác giả phương Tây
Phương Tây là nơi sinh ra các trào lưu tư tưởng, các học thuyết Sẽ làkhông đầy đủ nếu như nói về ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với ýthức về nữ quyền của Lý Lan mà quên mất ảnh hưởng của các trào lưu tưtưởng Các trào lưu tư tưởng vốn là một bình diện đặc biệt của văn hoá Nóiđến văn hoá là nói đến tư duy, đến ứng xử của con người, các trào lưu tưtưởng “bày” cho con người cách xác định đó Nữ quyền luận xuất phát ởphương Tây, tiếp nối nhiều lí thuyết khác trước đó Lý Lan đã tiếp thu nữquyền luận một cách rất có chủ ý Một mặt, chị đã lục tìm trong văn bản để lạicủa các nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu, nhà văn nước ngoài về nữ quyền để tìmhiểu về gốc tích, xác định các giai đoạn phát triển, tìm hiểu cách thức phảnánh Mặt khác, trên cơ sở đó, chị nhận thấy nữ quyền ở Việt Nam còn hết sức
sơ khai và chị đã lựa chọn việc viết làm phương thức tác động, lên tiếng, cổxuý nữ quyền
Trang 32Mặc dầu, chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây, nhưng ở Lý Lan, dotính chất di truyền của dòng máu Việt, lại trưởng thành và sinh sống ở ViệtNam một thời gian dài nên Lý Lan có một sự hài hoà trong tiếp nhận Lý Lankhông hề phủ nhận văn hoá Việt Nam, cách sống người Việt Nam, hơn thế,chị còn bộc lộ tình yêu với quê hương Việt Nam Trong cách trình bày vấn đềcủa Lý Lan, chúng ta không nhận thấy một sự thiên lệch nào mà thường đó làmột sự dung hoà, điềm tĩnh, cách trình bày mạch lạc, ngôn ngữ giản dị, giàutính thực tế Đặc biệt, ngay cả khi chịu ảnh hưởng trực tiếp của nữ quyềnluận, Lý Lan cũng cố gắng tìm một lối đi riêng mang bản sắc cá nhân và chứađựng bản sắc của cộng đồng, dân tộc mình.
1.2.2 Quan niệm về nữ quyền của Lý Lan
1.2.2.1 Quan niệm về nữ quyền của Lý Lan qua các lời phát biểu trực tiếp
Quan niệm về nữ quyền của Lý Lan là một hệ thống luận điểm, baogồm cả việc tiếp thu những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nữ quyền, cả việcnhận ra những nét riêng về phụ nữ Việt Nam Quan niệm đó được Lý Lantrình bày bằng hai cách: nói trực tiếp và gián tiếp thông qua tác phẩm
Trước hết là qua cách nói trực tiếp:
Tạp chí Tia sáng, sau đó là hàng loạt tờ báo, trang web đã đăng tải lại
bài viết của Lý Lan nhan đề: Phê bình văn học nữ quyền Bài viết đã đem lại
một cái nhìn có tính hệ thống về chủ nghĩa nữ quyền Bài viết điểm lại những
ý kiến đã bàn về nữ quyền luận (Gardiner, Julie Rivkin, Michael Ryan, GillPlain, Susan Sellers), nhìn nhận việc tiếp thu phê bình văn học nữ quyền trongsáng tác ở Việt Nam và thể hiện trực tiếp ý kiến của chính Lý Lan về chủnghĩa nữ quyền Chẳng hạn, thông qua việc thuyết minh một cách rành rọt cácgiai đoạn của chủ nghĩa nữ quyền theo cách nhìn của hai tác giả Gill Plain vàSusan Sellers, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng, Lý Lan đang bày tỏ sự đồngtình đối với kết quả phân chia đó Chị cũng bày tỏ trực tiếp quan điểm củamình về sự cần thiết phải tiếp nhận và phổ biến lí thuyết về chủ nghĩa nữ
Trang 33quyền: “lý thuyết nữ quyền với tư cách một bộ môn học thuật đang đượcnghiên cứu, dạy và học trong hầu hết các trường đại học trên thế giới, chủnghĩa nữ quyền về mặt triết học đã có ảnh hưởng sâu sắc toàn bộ hệ thống trithức và thiết chế văn hoá loài người, và phong trào phụ nữ vẫn đang là một động lực xã hội ở khắp hành tinh, thì một thái độ không biết đến nữ quyền,lịch sử, lý thuyết và phương pháp của nó, là một thái độ quá cao ngạo.”[58]
và định hướng tiếp nhận chủ nghĩa nữ quyền trong bối cảnh văn hóa, văn họcnước ta như hiện nay: “Tham khảo và thừa kế những tiến bộ tích cực trong disản chung của nhân loại và phong trào nữ quyền phương Tây là tận dụng vũkhí có sẵn và tiết kiệm thời gian mày mò.”[58]
Ngoài hành động viết bài có tính chất nghiên cứu để cổ suý cho chủnghĩa nữ quyền, Lý Lan còn trình bày quan niệm về nữ quyền thông quanhững bài trả lời phỏng vấn Lý Lan khẳng định nữ quyền luận là vấn đề chịquan tâm từ lâu: “là đề tài tôi nghiên cứu khi theo học cao học văn chươngnăm 2001” [53] Không chỉ dừng lại ở đó, Lý Lan còn mạnh dạn bày tỏ cácquan niệm của mình về nữ quyền Trước hết, Lý Lan nhìn nhận truyền thống:
“Trong xã hội Á đông, và trong “truyền thống” văn học của chúng ta, tất cả sựkhẳng định mình đều bị coi là nổi loạn cả Kể từ Trưng Trắc, Triệu Thị Trinh,
Hồ Xuân Hương đến Út Tịch Nhờ họ mà chúng ta có những giá trị lịch sử vàvăn hóa đáng tự hào Vì vậy, tôi coi tinh thần “khẳng định mình” chính làtruyền thống phụ nữ Việt Nam, và đó là đặc điểm quan trọng để phụ nữ ViệtNam khác với phụ nữ Á đông hiểu theo nghĩa “thùy mị, ngoan hiền” [55].Đặc biệt, Lý Lan bày tỏ sự khẳng định về cái tôi, về cá tính: “tôi là mình”[49], “với tôi sống sao cho mình thoải mái là được” [52]; thể hiện cái tôithông qua sự gần gũi với thiên nhiên: “Tôi thích sống giữa thiên nhiên, cây cỏđất đá đối với tôi đều có linh hồn vì tôi luôn thấy được cảm thông giữa thiênnhiên Làm vườn là sống với cây cỏ đất đá, là tạo một thiên nhiên mang dấu
ấn cá nhân chung quanh mình Tức là một kiểu tôn thờ cái tôi của mình.”
Trang 34[52] Chị tự nhận định về đặc trưng nhân vật của mình là “mang trong mìnhtâm thế vùng dậy, vươn lên khẳng định mình” [55], “Nhân vật của tôi gặpnhiều sóng gió, cuộc đời dạy họ trưởng thành và mạnh mẽ hơn Mỗi conngười đều phải sống cuộc đời của mình, và phải tự đứng lên trong nỗi đau,trong sự cô độc của riêng mình” [50] Lý Lan cũng nói về quyền tự do: “Dùtrong thời đại nào, người phụ nữ vẫn ước vọng được làm chủ cuộc sống củamình, được tự do sống, tự do kiếm tìm hạnh phúc Những người đi trước vẫnluôn kỳ vọng thế hệ trẻ không chấp nhận sự bé mọn, tầm thường và khôngchịu đựng sự áp đặt như đời mẹ, đời dì của chúng” [52] Và, cuối cùng, LýLan bày tỏ ước muốn: “Tôi muốn thay đổi cái môi trường bất bình đẳng vớiphụ nữ Việt Nam (trong văn hóa, xã hội, kinh tế ) Không phải chỉ cần phụ
nữ ý thức về bản thân như một chủ thể là có thể thay đổi xã hội, vấn đề là xãhội cũng phải thay đổi, phải có sự bình đẳng thực sự, trở thành môi trườnglành mạnh về quan điểm giới Nếu môi trường bất bình đẳng, người phụ nữcàng ý thức bản thân, càng cấp tiến càng đau khổ Phụ nữ cần sống trong xãhội bình đẳng mới hạnh phúc, mới phát triển con người toàn diện ”[56]
Nhìn chung, qua các bài nghiên cứu và trả lời phỏng vấn, quan niệm về
nữ quyền của Lý Lan đã phần nào được bộc lộ: trước hết ở việc nhìn nhậntruyền thống phụ nữ dân tộc; sau đó là các bình diện thuộc nữ quyền luận:khẳng định cái tôi, cá tính, khẳng định quyền tự do Từ đó, nhà văn khẳngđịnh sự cần thiết phải quan tâm tới vấn đề nữ quyền, chứ không thể với một
“thái độ cao ngạo” Tuy nhiên, quan niệm nữ quyền trong những lời phát biểutrực tiếp chỉ mới thể hiện ở một vài luận điểm Quan niệm này trở nên đầy đủhơn khi thể hiện trong tác phẩm qua sự sinh động của thế giới nghệ thuật
1.2.2.2 Quan niệm về nữ quyền của Lý Lan biểu hiện qua sáng tác
So với những lời phát biểu trực tiếp, quan niệm về nữ quyền của LýLan biểu hiện qua sáng tác mãnh liệt hơn và có hệ thống hơn rất nhiều Nhưchúng tôi đã nói, bài viết về nữ quyền luận của tác giả thiên nhiều hơn về việc
Trang 35thuyết minh lại các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa nữ quyền, còn một sốbài phát biểu – do tính chất câu hỏi – chưa đi sâu vào trình bày quan niệm mộtcách hệ thống Trong tác phẩm, thông qua hình tượng nhân vật, có khi thôngqua lời trần thuật của người kể chuyện, quan niệm về nữ quyền của Lý Lanđược thể hiện rõ nét và có hệ thống
Lý Lan, kế thừa quan niệm của các nhà lý luận nữ quyền, đặc biệt làSemone de Beauvoir, đã quan niệm về tính bản thể Bản thể là cái gọi chung,trong đó có nữ giới, do vậy, không thể gọi nữ giới là giới thứ hai Bản thể của
nữ giới theo cách nhìn của Lý Lan không phải là bản thể “ăn theo” nam giới –nghĩa là lấy cái nam giới làm tiêu chuẩn để xác định nữ giới Mà cái bản thểcủa nữ giới là những gì thuộc về giới họ, tách khỏi lí luận nam quyền như mộtsản phẩm của tạo hoá, nó thuộc về cái gọi là sex (giống) Ở đây, dĩ nhiên làphải nói về cái chủ thể cá nhân nhưng cái chủ thể cá nhân là cái ví dụ đơnnhất, không lặp lại, không chỉ là giữa người nữ với người nam mà còn là giữa
nữ với người nữ, người nam với người nam
Trên cơ sở khẳng định bản thể nữ - chủ thể riêng biệt, như một tất yếu,
Lý Lan đã đẩy quan niệm của mình lên mức khẳng định quyền tự do củangười phụ nữ Người phụ nữ sống tuân theo những gì thuộc về cá nhân, cáiriêng của mình Ở đó, họ có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do ngônluận, tự do trong bày tỏ thái độ sống, tự do theo sở thích Đành rằng, để cóđược sự tự do ấy, người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều thử thách
Đi kèm với cái gốc khẳng định tính chủ thể, khẳng định quyền tự do,
Lý Lan đã đưa nhận thức của mình về nữ quyền ở mức độ sát thực hơn, đó làcác nhu cầu đi kèm với việc khẳng định tính chính đáng của nhu cầu Trongchủ nghĩa nữ quyền, đa phần các lý thuyết gia không đưa vấn đề nhu cầu nhưmột đòi hỏi tất yếu, một nội dung Thay vào đó, họ thường đưa ra những vấn
đề về quyền lợi, về tính “bằng vai phải lứa” với nam giới, dầu trong quá trìnhtriển khai các bình diện, tất yếu họ phải đề cập đến nhu cầu Các nhà nghiên
Trang 36cứu về con người và sự tiến bộ của xã hội đã kết luận: “nhu cầu là động cơ đểtrí tuệ phát triển” [33, 20] Nhờ có nhu cầu mà xã hội ngày một phát triểnhơn Nhu cầu của con người khác với nhu cầu của con vật, bởi vì con người
có đời sống tinh thần Chỉ so sánh hoạt động bản năng tính dục là đã nhận ra
sự khác biệt này Con người hoạt động tính dục ngoài thoả mãn bản năng còn
để thoả mãn về tinh thần, thậm chí ở thế kỉ XVI, người Ấn Độ (trongKamasutra) đã xem tình dục là một nghệ thuật Nhu cầu của con người gắnvới đời sống của họ, nghĩa là rất khó để khái quát hết các nhu cầu Tác phẩmcủa Lý Lan đã đề cập các nhu cầu cơ bản của phụ nữ: nhu cầu tình dục, nhucầu hạnh phúc, nhu cầu làm đẹp, nhu cầu về các vấn đề trong sinh hoạt, trongbài trí các vật dụng theo sở thích…
Như vậy, quan niệm về nữ quyền của Lý Lan được phát biểu trực tiếp
và thông qua tác phẩm So với cách phát biểu trực tiếp, thì cách gián tiếpthông qua tác phẩm lại có vẻ mạch lạc hơn và có nhiều hơn các luận điểm.Các luận điểm này rải rác trong các tác phẩm, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể
mà luận điểm này hay luận điểm kia được thể hiện nổi trội hơn Đặt trong tính
hệ thống, cảm hứng nữ quyền đã trở thành một cảm hứng chủ đạo xuyên suốttrong sáng tác của nhà văn
1.2.2.3 Cảm hứng về nữ quyền - cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Lý Lan
Cảm hứng chủ đạo là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyênsuốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giánhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tácphẩm”[26, 44] Bielinski - nhà lý luận văn học Xô Viết - cũng đã nhận thứcđược vai trò quan trọng của cảm hứng chủ đạo trong sáng tạo văn học nghệthuật Ông coi cảm hứng chủ đạo là “điều kiện không thể thiếu được của việctạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí ócđối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, mộtkhát vọng nhiệt thành” [26, 44] Như vậy, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố có
Trang 37vai trò cả trong quá trình sáng tạo lẫn thưởng thức văn học nghệ thuật Đốivới người sáng tạo tác phẩm, cảm hứng chủ đạo biểu hiện ở thái độ, tư tưởng,tình cảm với hiện thực được mô tả Bởi thế, nó có mặt và thâm nhập vào hầuhết các ngõ ngách của tác phẩm, chi phối các thành tố kiến tạo nên tác phẩm Đối với Lý Lan, cảm hứng về nữ quyền là cảm hứng chủ đạo Điều nàythể hiện trước hết ở số lượng nhân vật nữ, vai trò nhân vật nữ và các vấn đềnội dung khác xoay quanh cuộc sống, tâm trạng người phụ nữ Về phươngdiện trần thuật, một mặt, Lý Lan để cho người trần thuật bày tỏ quan niệm củamình về người phụ nữ, về vai trò, địa vị của họ Mặt khác, nhà văn lại thườngxuyên để cho nhân vật phụ nữ bày tỏ chính kiến, bày tỏ quyền tự do, hoặc quađối thoại, hoặc qua độc thoại nội tâm, hoặc qua các trang văn, dòng nhật kí.Bởi thế mà bên cạnh những đoạn đối thoại mang màu sắc của đời sống lànhững câu văn thấm đẫm chất trữ tình, tác động tích cực tới hứng thú tiếpnhận tác phẩm của độc giả
Tất nhiên, nói cảm hứng nữ quyền là cảm hứng chủ đạo thì phải xéttrong một hệ thống các cảm hứng, hơn thế, phải xem xét mức độ ảnh hưởngcủa nó đối với các cảm hứng khác Trong tác phẩm của Lý Lan, bên cạnh cảmhứng nữ quyền còn có nhiều cảm hứng khác Về nguyên tắc, cảm hứng nằmtrong nội dung, thống nhất với đề tài nên ở một phương diện nào đó, tìm hiểucác nội dung cũng là tìm hiểu các cảm hứng Về nội dung, tác phẩm của LýLan thường đề cập đến người lao động, đề cập đến cuộc sống bình dị, ở đónổi bật là tình người, đề cập đến các mối quan hệ trong gia đình, đến chiếntranh và những mất mát, hơn thế, còn đề cập đến thân phận con người, những
số phận bị định sẵn… Dầu xây dựng nhiều cảm hứng trong tác phẩm nhưngnhư để khẳng định một chủ trương, một quan niệm, Lý Lan đã chọn nữ quyềnlàm cảm hứng xuyên suốt các tác phẩm Bởi vậy, cảm hứng nữ quyền chiphối các cảm hứng còn lại, đến lượt các cảm hứng này lại tác động làm nổibật cảm hứng nữ quyền Mối quan hệ này có thể hình dung như một hành tinh
Trang 38lớn có các vệ tinh châu tuần Ngay cả khi viết về một đề tài lớn là chiến tranh,chính cách triển khai lấy điểm nhìn là phụ nữ, đã đưa cảm hứng nữ quyền trởthành số một trong tương quan với nó
Có một điều khá thú vị, cho thấy sự thống nhất trong thế giới quan củanhà văn, đó là các cảm hứng này không phải chỉ có trong truyện ngắn, tiểuthuyết mà còn cả trong tuỳ bút, các ghi chép Lấy nữ quyền làm cảm hứngchủ đạo, tất yếu Lý Lan sẽ chọn hình tượng nhân vật trung tâm trong các tácphẩm của mình là người phụ nữ Có thể nói, cũng giống như Y Ban, thế giớinhân vật của Lý Lan là người phụ nữ Người nữ xuất hiện trong tác phẩm của
chị thường đóng vai trò là nhân vật chính (Hồi xuân và Tiểu thuyết đàn bà) hoặc
có khi đóng vai trò là chủ thể trần thuật (tùy bút, hồi ký) hoặc nhà văn kiến tạotác phẩm dựa trên điểm nhìn trung tâm của người phụ nữ, cách cảm nhận “rấtphụ nữ” (ghi chép tản mạn) Chính hình tượng nhân vật nữ sẽ là nơi biểu hiệntập trung nhất, mạnh mẽ nhất quan niệm nữ quyền trong sáng tác Lý Lan
Trở lên, với chương 1, trên cơ sở đặt sáng tác của Lý Lan trong bốicảnh văn xuôi Việt Nam đương đại, chúng tôi đã xác định những đặc trưng vàđóng góp của sáng tác Lý Lan cho văn học nước nhà trên bình diện nội dung
và hình thức tác phẩm Tất nhiên, sự đóng góp ấy chưa thực sự tạo nên sự
“bứt phá” mạnh mẽ và quyết liệt của cá nhân nhà văn nhưng về cơ bản, nó đãđóng góp một dấu ấn riêng, một phong cách văn chương độc đáo trong bốicảnh văn xuôi tự sự đang nở rộ ở nước ta như hiện nay
Bên cạnh đó, trên cơ sở xác định cảm hứng nữ quyền là cảm hứng chủđạo trong sáng tác của Lý Lan, chúng tôi đã ngược nguồn truy nguyên nguồngốc của cảm hứng này và tìm thấy nền tảng tạo nên nó chính là sự tác độngcủa hoàn cảnh riêng và môi trường sống, sự tiếp thu những nội dung chínhcủa Chủ nghĩa nữ quyền (nữ quyền luận) và do ảnh hưởng bởi văn hoáphương Tây Điều ấy cho thấy cảm hứng nữ quyền trong sáng tác của Lý Lan
là sự tổng hợp từ nhiều yếu tố, nhiều sắc thái và đã được dung hòa, kết hợp
Trang 39bởi một tư duy rất biện chứng, không cực đoan, thiên lệch Cảm hứng nữquyền được thể hiện theo nhiều cách (trực tiếp hoặc gián tiếp qua tác phẩm),qua các yếu tố tư tưởng, sự chi phối của nó với các cảm hứng khác, nhân vật,ngôn ngữ nhưng theo chúng tôi, nơi biểu hiện rõ nhất cảm hứng nữ quyềncủa Lý Lan chính là hệ thống nhân vật nữ trong tác phẩm của chị Điều này sẽđược chúng tôi phân tích và biện giải cụ thể ở chương 2 của luận văn.
Trang 40Chương 2 NHÂN VẬT NỮ NHƯ LÀ BIỂU HIỆN TẬP TRUNG, MẠNH MẼ NHẤT CẢM HỨNG NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ CỦA LÝ LAN
2.1 Nhân vật nữ trong thế giới nhân vật văn xuôi tự sự Lý Lan
2.1.1 Một cái nhìn chung vềi nhân vật trong văn xuôi tự sự Lý Lan
2.1.1.1 Một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng
Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, Lý Lan sáng tác trên nhiều đềtài (về chiến tranh, phụ nữ, về thiếu nhi, về quê hương đất nước) và thể loại(truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, tùy bút) Bởi vậy,thế giới nhân vật trong tácphẩm của chị thường phong phú, da dạng, mang nhiều dáng vẻ khác nhau.Đằng sau những nhân vật bình dị, đời thường là vỉa tầng văn hoá Nam Bộ vớichiều dài 300 năm, năng động, cởi mở và mang nhiều nét tính cách độc đáo
Có thể nói rằng, dù độ tuổi, tính cách, nghề nghiệp, nhận thức, sinh sốngtrong các không gian khác nhau nhưng các nhân vật của Lý Lan đều có đặcđiểm chung đó là mang những dấu ấn của con người Nam Bộ Hơn thế, ở khíacạnh nhân sinh, dầu là trí thức, người buôn bán, người nông dân hay nhữngđứa trẻ vỉa hè nhưng hết thảy đều mang nỗi buồn, có khi là sự xung đột vănhoá, có khi là những mất mát trong cuộc đời, có khi là đời sống vật chất cơcực… Dù thế nào đi nữa, họ vẫn thuỷ chung, nghĩa tình và luôn biết khaokhát tình yêu thương, hạnh phúc Để miêu tả được điều đó, Lý Lan đã đi vàotâm lí nhân vật một cách nhẹ nhàng, âm thầm nắm bắt những giây phút rất
“người” và tinh tế miêu tả lại theo quá trình, diễn biến Đặc biệt là nhà văn đãbày tỏ sự đồng cảm sâu sắc đối với những khát vọng rất nhân văn, đời thườngcủa nhân vật Theo chúng tôi, đó chính là phẩm chất đáng quý của một ngườicầm bút
Khảo sát các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết của Lý Lan, chúng tôithấy, nhân vật trong tác phẩm của chị thuộc nhiều kiểu khác nhau Đó có thể