Trong nghiên cứu văn học Trung đại Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều bài viết về "cảm hứng nhân văn" trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du.. Với sinh viên nh chúng tôi, đây chín
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài với nỗ lực của bản thân, tôi cũng đã tham khảo nhiều tài liệu, học hỏi nhiều bài viết của những ngời đi trớc Đặc
biệt tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của cô Thạch Kim Hơng và các thầy
cô trong khoa Ngữ Văn trờng Đại học Vinh
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và có điều kiện thuận lợi để tìm hiểu vấn đề một cách kỹ càng, nhng do khả năng của bản thân còn nhiều hạn chế nên khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong đợc sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2005 Cao Thị Hơng
Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài :
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, đồng thời là danh nhânvăn hoá thế giới Nhắc đến Nguyễn Du ngời ta nghĩ ngay đến Truyện Kiều -một tác phẩm văn học đợc ngời đọc tiếp nhận và dịch ra nhiều thứ tiếng trênthế giới
Trang 2Song, trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du còn có 3 tập thơ chữ Hánvới 249 bài - ẩn chứa trong đó là một thế giới nội tâm sâu sắc với tấm lòng yêu
thơng nhân ái bao la Đặc biệt là tập thơ "Bắc hành tạp lục" đợc sáng tác
trong thời gian Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc ở mỗi bài thơ mang một âm ởng riêng, một tâm sự đầy u uất của những nỗi niềm
h-Tuy nhiên, thế giới phong phú ấy vẫn mang trong mình nhiều bí ẩn mà
đối với sinh viên nh chúng tôi luôn mong muốn đợc khám phá và đây là cơ hội
để chúng tôi đợc tìm hiểu, nghiên cứu thêm về Nguyễn Du và tập thơ của ông
Nghiên cứu văn học Trung đại là một lĩnh vực hết sức khó khăn, khó
khăn về lý thuyết, về t liệu, về sự thâm nhập, phân tích Đề tài "cảm hứng
nhân văn" không phải là mới, song muốn tìm hiểu một cách thấu đáo thì cần
phải dày công nghiên cứu cụ thể hơn và đòi hỏi sự tham gia tìm tòi của nhiềuhọc giả và thế hệ nhà nghiên cứu Trong nghiên cứu văn học Trung đại Việt
Nam hiện nay đã có khá nhiều bài viết về "cảm hứng nhân văn" trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du Tuy nhiên một công trình mang cái
nhìn tổng thể nhất, khái quát nhất vẫn rất cần thiết vì chừng nào còn cha cónhững công trình nghiên cứu chuyên sâu từng mặt thì khó tránh khỏi cách hiểuchung chung, đồng nhất Với sinh viên nh chúng tôi, đây chính là cơ hội để đ-
ợc bộc lộ những suy nghĩ của mình, đợc đóng góp một phần nhỏ bé tiếng nói
của mình trong hàng trăm tiếng nói lớn để hiểu sâu hơn về "cảm hứng nhân
văn" trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du.
Là một giáo viên văn học trong tơng lai, việc đi sâu tìm hiểu tác phẩmcủa Nguyễn Du sẽ giúp chúng tôi có thêm kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết đểsau này giảng dạy tốt hơn
Để đề tài phát huy đợc tác dụng và có ý nghĩa thực tiễn, trong quá trình
làm luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày có hệ thống về "cảm hứng nhân
văn" trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du Đồng thời chúng tôi
sẽ trình bày các khái niệm có liên quan đến khái niệm "cảm hứng nhân
văn" Đây là đề tài không phải là mới song cần phải tìm hiểu cắt nghĩa một
cách rõ ràng để tránh với cách hiểu đồng nhất giữa "cảm hứng nhân văn" và
"cảm hứng nhân đạo".
II Lịch sử vấn đề :
Trang 31 Giới thiệu một số ý kiến có vấn đề liên quan :
Về thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
Mỗi bài viết đều mang một sắc thái riêng, một khía cạnh riêng Nhng về
"cảm hứng nhân văn" thì mới chỉ đề cập đến chứ cha có công trình nào
nghiên cứu nh một vấn đề chuyên biệt "Cảm hứng nhân văn" xuyên suốt trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" - Nguyễn Du, đó là hình ảnh của ông già
mù đi hát rong đến sùi bọt mép và lúc đã xuống khỏi thuyền còn quay đầu lạichúc tụng, đó là hình ảnh của ba mẹ con một ngời hành khất trên đờng Trong bài "Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán" - Hoài Thanh đãtừng viết :
"Quân bất kiến Hồ Nam số bách châuChí hữu sấu tích vô sung phì"
(Kìa hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ NamToàn xơ xác gầy còm không một ngời nào béo tốt)Chính do một tấm lòng yêu thơng vô hạn đối với những con ngời này
mà Nguyễn Du hết sức căm giận bọn bất nhân ngang nhiên chà đạp lên kiếpsống ngời ta"(1) Đồng thời cũng gắn liền với cái nhìn đau xót của Nguyễn Dutrớc quần chúng nhân dân lao khổ sống giữa bọn "Nhai xé thịt ngời ngọt xớt
nh đờng"
Trang 4Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói : Với bài "Thái Bình mại giả ca"
(Ng-ời hát rong ở châu Thái Bình) và "Sở kiến hành" (Những điều trông
(1) Hoài Thanh - Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán - Tạp chí văn nghệ tháng 3/1960.thấy) thì "Nguyễn Du đã đặt ngón tay vào tận trong vết thơng lở loét của xãhội"
Bài "Sở Kiến hành" là nỗi lòng đau đớn của Nguyễn Du khi trông thấy
cảnh mẹ con ngời hành khất xin ăn dọc đờng, còn bọn quan lại thì rợu thịt thừamứa "ngời thừa cứ đổ xuống sông, ngời chết đói mò ăn không đợc" (1) Khôngchỉ đau xót trớc những cảnh đời đói khổ nữa mà những con ngời ấy, những sốphận ấy đã gắn bó với chính cuộc đời Nguyễn Du nh họ là một phần trong ôngvậy Bởi vậy Xuân Diệu đã từng nhận xét : "Chính thơ chữ Hán chứa đựngbóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân tâm tình, suy nghĩ của NguyễnDu"
Nhà thơ không chỉ hớng ngòi bút phanh phui hiện thực xã hội phongkiến thối nát mà còn hớng đến những con ngời lao động khổ cực nh NguyễnHuệ Chi đã từng nói "trên con đờng gập ghềnh "bụi bay mờ mịt" của đời ông,cõi lòng nhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui, nỗi buồn của con ngời vàtạo vật quanh mình Ông thơng cho cái kiếp một con ngựa già bị ruồng bỏ, ôngtiếc một bông hoa rụng, ông đau xót khôn nguôi trớc cái chết của một ngời
đào hát, ông thấu hiểu tâm trạng "vờn da quê nhà" của ngời đi lính, ông gắn bóvới cả ngời phu xe bắt gặp một thoáng trên đờng đi sứ của mình :
Hà xứ thôi xa hán ?
Tơng khan lục lục đồng(Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ ?Nhìn nhau thấy vất vả nh nhau)
(Hà Nam đạo trung khốc thử) (2)
(1) Xuân Diệu - Con ngời Nguyễn Du trong thơ chữ Hán - Trong "Thi hào dân tộc Nguyễn Du" - NXB VH - H - 1966.
(2) Nguyễn Huệ Chi - Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán - Tạp chí văn học
- tháng 11/1966.
ở Nguyễn Du ta còn thấy một điều lớn hơn nữa ấy là những suy nghĩmong đợi của nhà thơ về con ngời, về xã hội là cái nhìn phanh phui đến trắc ẩn
Trang 5về những biến động của cuộc đời diễn ra trớc mắt ông Khác với các tác phẩmkhác, thơ chữ Hán Nguyễn Du là một cách đặt vấn đề trực tiếp về số phận củamình, gắn liền với vận mệnh chúng sinh trong nhiều thời đại mà nhất là thời
đại ông đang sống
"Gắn bó với cuộc sống và nhìn sâu vào lịch sử, Nguyễn Du còn đặc biệtxót thơng cho một loại ngời có tài có tình ấy là những nhà văn, nhà thơ nổitiếng trác tuyệt mà cuộc đời trải muôn vàn bất hạnh, là những bậc anh hùnghào kiệt thất thế, là những ngời phụ nữ có sắc đẹp nghiêng thành phải chịu sốphận buồn thảm " (1)
Khi biểu hiện xác thực cuộc sống bi thảm của quần chúng, ông luônsống trong cảnh ngộ ấy, gắn bó mật thiết với nhân vật của ông Đó là một tìnhcảm đã đi vào ý thức, vợt lên trên những gắn bó tự phát, thờng tình :
Dã túc phùng tiểu giả
Tơng liên bất tại đồng(Đêm trọ giữa đồng quê gặp bác Tiều PhuThơng nhau không cứ ở chỗ giống nhau) (2)
(Phợng Hoàng lộ thợng tảo hành)
"Thơng nhau" dù "không giống nhau" đó là nhận thức, là phơng châmsống mà ảnh hởng lớn đến tâm t tình cảm, đến những sáng tác của chínhNguyễn Du
(1), (2) Nguyễn Huệ Chi - Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán - Tạp chí văn học - tháng 11/1966.
2 Nhận xét đánh giá :
Nhìn chung những ý kiến trên đã phần nào nói đợc "cảm hứng nhân
văn" thể hiện trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" song đây là một phạm trù
lớn, mà các tác giả cha đi vào nói rõ một cách cụ thể, có hệ thống Nhng đây lànhững ý kiến quý báu, là tiền đề giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn, toàn diện
hơn về "cảm hứng nhân văn" trong tập thơ này.
III Đối tợng và phạm vi nghiên cứu :
Trang 61 Đối tợng nghiên cứu :
Với đề tài này, chúng tôi lấy tập thơ "Bắc hành tạp lục" trong cuốn
"Nguyễn Du toàn tập" do Mai Quốc Liên - Nguyễn Quảng Tuân - Ngô LinhNgọc - Lê Thu Yến biên soạn - NXB văn học - trung tâm nghiên cứu quốc học
- 1996 là đối tợng để nghiên cứu
IV Phơng pháp nghiên cứu :
"Cảm hứng nhân văn" thể hiện tinh thần nhân đạo của ngời nghệ sỹ
khi sáng tạo nghệ thuật Qua đó ta thấy đợc quan điểm nghệ thuật, thấy đợc t
t-ởng tình cảm mà nhà văn gửi gắm Do đó khi nghiên cứu, tìm hiểu về "cảm
hứng nhân văn" trong tập thơ "Bắc hành tạp lục" - Nguyễn Du thì cần phải
nhìn nhận trên nhiều góc độ để phân tích khái niệm, phân tích thơ Đồng thờicần vận dụng các phơng pháp nh thống kê so sánh, phân tích tổng hợp, đốichiếu để nhìn nhận vấn đề rõ nét hơn, toàn diện hơn là điều cần thiết
Và đặc biệt, đây là vấn đề thuộc về quá khứ nên cần nhìn nhận, nghiêncứu trên phơng diện lịch sử và theo một quan điểm lịch sử nhất định
1.2 Giới thiệu khái quát 3 tập thơ chữ Hán
1.2.1 Thanh hiên thi tập
Trang 71.2.2 Nam trung t¹p ng©m1.2.3 B¾c hµnh t¹p lôc1.3 C¬ së x· héi vµ c¬ së v¨n häc.
1.3.1 C¬ së x· héi1.3.2 C¬ së v¨n häc1.4 C¶m høng nh©n v¨n trong th¬ ch÷ H¸n vµ TruyÖn KiÒu
Trang 8Phần nội dung
Chơng I : Giới thuyết chung 1.1 Giới thuyết về cảm hứng nhân văn :
Trong văn học, học văn và giảng dạy văn học, chúng ta đã quen với khái
niệm "cảm hứng nhân đạo" Theo "Từ điển thuật ngữ văn học" : Thế giới
đợc sáng tạo ra trong văn học nghệ thuật là thế giới mà con ngời luôn luôn đấutranh chống lại mọi thế lực thù địch để khẳng định mình, khẳng định quyềnnăng và sức mạnh của mình Đồng thời thể hiện khát vọng làm ngời mãnh liệt
và cao đẹp của mình Lòng yêu thơng, u ái đối với con ngời và thân phận của
nó từ trớc đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà nghệ sỹtrong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật
Tuy nhiên biểu hiện của "cảm hứng nhân văn" trong tác phẩm của các
nhà văn không chỉ là tấm lòng yêu thơng con ngời, cảm thông, chia xẻ vớinhững cuộc đời, số phận họ tìm thấy sự đồng cảm Mà nó còn thể hiện ở mức
độ cao hơn đó là sự khám phá con ngời mới, đa những giá trị cao đẹp của con
ngời đặt lên hàng đầu "Cảm hứng nhân văn" không chỉ thể hiện tình yêu
th-ơng bênh vực con ngời mà còn ca ngợi vẻ đẹp tài năng của những con ngời tàisắc trong xã hội Nh một nhà nghiên cứu ngời Nga đã nói : "ở thời Trung đạitrớc hết chúng ta cần thấy rằng đây là thời kỳ khái niệm cá nhân đợc hìnhthành một cách trọn vẹn" Con ngời đã ý thức đợc chính bản thân mình, đề caovấn đề cá nhân, cuộc sống trần tục và khát vọng tự do vợt ra ngoài khuôn khổ
lễ giáo phong kiến Trong các tác phẩm thời kỳ này các tác giả đã dám đấutranh chống lại thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc củacon ngời Họ đứng trên lập trờng nhân sinh để lên án, tố cáo những gì phảnnhân sinh
Trang 9"Cảm hứng nhân văn" tồn tại và xuyên suốt trong lịch sử văn học Việt
Nam ở mỗi thời kỳ, mỗi chặng đờng đều khác nhau, cuộc sống của con ngờimỗi giai đoạn cũng khác nhau Song tựu chung lại thì ở bất cứ nơi đâu con ng-
ời sống trong thời kỳ nào văn học cũng vẫn phản ánh đợc rõ nét "cảm hứng
nhân văn" vì trong mỗi con ngời nhà văn đều có tấm lòng nhân ái và tình yêu
thơng sâu sắc bao la
"Cảm hứng nhân văn" không đơn giản chỉ là khái niệm đạo đức đơn
thuần mà ở đó còn thể hiện đợc cái tâm của ngời nghệ sỹ, thể hiện cách nhìnnhận đánh giá về cuộc sống con ngời ở mỗi nhà văn
1.2 Giới thiệu khái quát ba tập thơ chữ Hán :
"Thanh hiên thi tập" và "Nam trung tạp ngâm" đều nằm trong tập
thơ chữ Hán của Nguyễn Du "Cảm hứng nhân văn" là chủ đề xuyên suốt trong hai tập thơ này "Thanh hiên thi tập" là tiếng nói nhân bản, nói lên nỗi khổ của cá nhân con ngời Đối với "Nam trung tạp ngâm", bên cạnh hình t-
ợng tác giả còn là mối quan tâm của nhà thơ đến ngời lính, ngời dân vô tội, đó
là tấm lòng yêu thơng nhân ái của Nguyễn Du - đợc cô đọng, kết tinh lại Tập
thơ "Bắc hành tạp lục" không những đã tiếp tục duy trì "cảm hứng nhân văn"
trong hai tập thơ ấy mà còn thể hiện đợc tấm lòng yêu thơng, nâng niu trântrọng những giá trị cao đẹp của con ngời, ca ngợi cái đẹp, ca ngợi quá khứ đãqua ở đây, tinh thần nhân đạo đã mang tính nhân văn sâu sắc
1.2.1 "Thanh hiên thi tập" là tập thơ thể hiện nổi bật hình tợng tác giả Tiếng thơ của "Thanh hiên thi tập" cũng chính là tiếng khóc cho bản
thân tác giả và cho cả gia đình và ngời thân của mình
ở tập thơ này, ta cảm nhận đợc nỗi buồn của nhà thơ, cào xé tâm hồn,buồn đến từng chân tơ kẽ tóc, thấm thía trong từng câu chữ Nhà thơ nhìn lạicuộc đời, nhìn lại bản thân thấy cùng quẫn, bế tắc, sống giữa cuộc đời màkhông biết sẽ đi đâu, về đâu :
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy ?(Chẳng biết cuối đời sẽ phiêu dạt về chốn nào ?)
(Tự thán)Lại cũng chẳng biết tìm ngời thân ở chốn nào :
Hải giác thiên nhai hà xứ tầm ?
Trang 10(Nơi góc bể bên trời tìm anh ở chốn nào đây ?)
(Lu biệt Nguyễn Đại Lang)Nhất biệt bất tri hà xứ trú ?
(Từ khi chia tay nhau chẳng biết anh ở chốn nào?)
(ức gia huynh)
Đến cả những sự vật quen thuộc giờ cũng thấy xa lạ :
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại ?(Trong bóng con chim hồng đang bay xa, nhà ta ở đâu ?)
(Ngẫu hứng, II)Tơng tòng hà xứ vấn tiền lân ?
(Biết chốn nào hỏi thăm láng giềng cũ ?)
(Ngẫu đắc)
"Nhà ta ở đâu", "biết chốn nào mà hỏi láng giềng cũ" con ngời ấy cứ đitìm cho mình một chỗ dựa tinh thần nhng rốt cuộc chỉ lại gặp chính mình.Trong cái vòng quẩn quanh, bế tắc con ngời ấy quay về với quá khứ, với nhữnglinh hồn, những âm thanh trong đêm :
Mãn cảnh giai không hà hữu tớng ?(Mọi cảnh đều là h không sao còn có hình tớng ?)
(Đề nhị thanh động)
ở đâu cũng thấy hoang vắng, ngời thân chẳng biết ở nơi nao Nguyễn
Du cảm thấy cuộc sống bế tắc đến tột cùng, cảm giác hụt hẫng, chán chờngkhiến con ngời ấy muốn quay đầu lại tìm lối ra Nhng đâu đâu cũng là ngõ cụt,
đâu đâu cũng chỉ thấy bế tắc Con ngời ấy thậm chí muốn gọt tóc mình, ẩn náunơi rừng núi, tìm về với thiên nhiên hoang dã, sống dới cảnh đẹp chốn trầngian để quên đi mọi sự đời :
Hà năng lạc phát qui lâm khứNgoạ thính tùng phong hởng bán vân(ớc sao có thể gọt tóc vào rừng ởNằm nghe thông reo ở nửa tầng mây)
Trang 111.2.2 Đối với tập "Nam trung tạp ngâm", hình tợng tác giả vẫn đợc
nhắc đến nh là trọng tâm Song cùng với nó còn là hình tợng của ngời lính, củanhững ngời dân vô tội nhà thơ quan tâm đến những con ngời xung quanhkhông cùng giai cấp, không cùng đẳng cấp Điều đó thể hiện rõ lòng nhân áicủa nhà thơ, đây chính là nội dung cơ bản của tập thơ này Lòng nhân ái, thơngyêu con ngời là cảm hứng để Nguyễn Du sáng tác thơ văn, âm hởng chung củatập thơ này vẫn thể hiện rõ tinh thần nhân văn, yêu thơng nhau, san sẻ với nhauniềm vui nỗi buồn trong cuộc sống Điều đó đợc thể hiện rõ nhất trong câuthơ :
"Tơng liên bất tại đồng"
(Thơng nhau không cứ ở chỗ giống nhau)
(Phợng Hoàng lộ thợng tảo hành)Câu thơ đã thể hiện rõ t tởng của tác giả Cuộc sống cần có sự dung hoàgiữa kẻ sang ngời hèn, giầu có và khó khăn, không phân biệt giai cấp, địa vị.Trong con ngời Nguyễn Du tình thơng yêu ấy là thứ tình cảm đã đi vào ý thức,vợt lên trên những gắn bó tự phát, thờng tình Ông luôn "sống" cùng với nhữngcảnh ngộ của ngời dân, gắn bó, san sẻ với cuộc sống khó khăn của họ
"Thơng nhau không cứ ở chỗ giống nhau" Câu thơ đó mới thực sự là cáitôi trữ tình của Nguyễn Du Bản thân ông là một vị quan, lại xuất thân tronggia đình một vị tể tớng, điều ấy đã là khoảng cách rõ ràng riêng biệt với ngờikhác Song trong tiềm thức của Nguyễn Du, dù "không giống nhau" nhng lại
cứ "thơng nhau", rõ ràng đó đã là "phơng châm sống của Nguyễn Du, mộtnhận thức thẩm mỹ, mà khi chuyển thành sáng tác nghệ thuật, nó sẽ tạo nênphần chủ yếu của t tởng nhân đạo cao quý của Nguyễn Du" (1)
Trang 12(1) Nguyễn Huệ Chi - Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán - Tạp chí tháng 11/1966.
VH-Tình thơng yêu nhân loại, cảm thông với số kiếp con ngời lúc nào cũngthờng trực, ngập tràn trong tâm hồn Nguyễn Du :
Hữu nhất nhân yên lơng khả aiPhá y tàn lạp sắc nh khôi
(Có một ngời kia thật đáng thơng
áo rách, nón xơ sắc mặt xám nh tro)
(Ngẫu hứng, V)Thơng cảm cho số kiếp một con ngời, một kẻ ăn xin, rách rới, xác xơ,sắc mặt thì xám lại nh màu tro Hình ảnh ấy cứ xoáy sâu vào tâm hồn ông vớinỗi niềm xót xa vô hạn
Giữa cảnh đời còn nhiều ngang trái, tấm lòng ông dờng nh dàn trải khắpmọi nơi, dành cho bao nhiêu ngời còn sống cảnh cơ cực
Cố hơng cang hạn cửu phơng nôngThập khẩu hài nhi thái sắc đồngThí tự thuần lô tối quan thiếtHoài quy nguyên bất đãi thu phong(Quê hơng nắng hạn đã lâu ngày hại đến việc nôngNhà mời miệng trẻ đói xanh nh rau
Nếu quả thiết tha nhớ đến rau thuần cá vợcThì chẳng cần đợi gió thu mới muốn về)
(Ngẫu hứng, IV)Không chỉ cảm thơng những kẻ ăn xin, mà với những ngời nông dân,mất mùa đói kém cũng khiến Nguyễn Du chạnh lòng thơng xót Những đứa trẻ
đói ăn trông thật thảm thơng Tiếng kêu la, ai oán của những ngời đói ăn, bệnhtật vang vọng cả phía bắc Hoành Sơn, hay phía đông Hoàng Thành
Thập khẩu đề cơ hoàng lĩnh BắcNhất thận ngoạ bệnh đế thành Đông(Mời miệng kêu đói ở phía Bắc Hoành Sơn
Trang 13Một thân nằm bệnh ở phía đông Hoàng Thành)
(Ngẫu đề)
Đọc tập thơ : "Nam trung tạp ngâm", nổi bật lên vẫn là hình ảnh của
tác giả với "mái đầu bạc", đó là kết quả mà bao đêm con ngời ấy "độc trầmngâm" bởi chuyện cơm áo, bởi lợi danh, và cũng bởi vì khóc thơng cho cuộc
đời, cho con ngời Trớc cuộc đời bế tắc, Nguyễn Du dờng nh muốn đoạntuyệt với thế giới xung quanh, chẳng biết mùa xuân đến, chẳng thấy ánh mặttrời lên nh Nguyễn Lộc đã từng viết : "Từ hôm về nhà Đoàn Nguyễn Tuân,Nguyễn Du không muốn gặp bất cứ ai, suốt ngày chàng đóng cửa ngồi trongphòng, không đọc sách thì ngồi chống cằm nhìn ra cửa sổ " (1)
Tóc bạc cũng bởi chuyện lợi danh, bởi bao nhiêu vất vả, phong trần lulạc, bởi lo chuyện kiếm sống
Bạch đầu sở kế duy y thực(Đầu bạc chỉ mãi lo chuyện cơm áo)
(1) Nguyễn Lộc - Nguyễn Du - NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 1999
Sống giữa cuộc đời, Nguyễn Du lúc nào cũng canh cánh một nỗi niềm
thơng cảm Đó thực sự là tấm lòng nhân ái bao la, rộng khắp, là "cảm hứng
nhân văn" sâu sắc, là cơ sở để sáng tác nên tập thơ "Nam trung tạp ngâm".
1.2.3 "Bắc hành tạp lục" là tập thơ viết khi Nguyễn Du đi sứ sang
Trung Quốc Hoàn cảnh xã hội và môi trờng xung quanh rộng lớn thoáng đạt,
là điều kiện để tác giả sáng tác nên những bài thơ với nội dung sâu sắc vàcũng đầy lòng nhân ái Tập thơ là sự phản ánh toàn diện và đầy đủ nhất tấm
lòng nhân ái bao la của ông Cùng với tính nhân bản, "cảm hứng nhân văn"
chính là nòng cốt cơ bản đã tạo nên t tởng nhân văn xuyên suốt tập thơ mà đâu
đâu ta cũng bắt gặp
Trang 14Nguyễn Du quan tâm sâu sắc đến mọi phơng diện, về đất nớc, về conngời Trung Quốc và cả xã hội phong kiến phơng Đông Đặt chân lên đất TrungHoa, Nguyễn Du nh đợc đi ngợc thời gian, sống lại với nền văn hoá đã đào tạonên con ngời mình, tiếp xúc với những nhân vật lừng danh mà mình hằng gầngũi, thân thuộc qua sách vở Nhng tình cảm của ông không dành cho những kẻ
đơng thời nắm trong tay quyền sinh sát đối với trăm họ mà ông dồn hết tìnhcảm sâu nặng cho những bậc thầy văn chơng còn để lại tiếng tăm muôn đời
Trong "Bắc hành tạp lục" với cảm hứng trung thực của một nhà thơ
lớn, từ chỗ thơng khóc cho những kiếp tài hoa, Nguyễn Du đã vạch trần bảnchất của xã hội phong kiến là sự chà đạp lên mọi nhân phẩm, sự tha hoá củamọi tính cách, sự tan vỡ của mọi giá trị cao đẹp nhất Ông đã nhận ra trong xãhội luôn luôn có sự tồn tại của hai lực lợng đối lập, một bên là những ngờinghèo khổ, những ngời tài sắc bị hắt hủi với một bên là bọn ngời có quyền thế,
có của cải Dĩ nhiên đây không phải chỉ là thủ pháp so sánh để ngời đọc thấy
rõ gian ngay, hơn kém, mà đó chính là hiện thực, là nguyên nhân và điều kiệncủa nhau : Sự hiển vinh, quyền quý của lớp ngời này bao giờ cũng là nguyênnhân sa cơ lỡ vận, đổ vỡ, chết chóc của lớp ngời khác cùng tồn tại bên cạnhnhau trong xã hội
tự tạo ra những yếu tố, những hình thức mang tính dân tộc, thuần dân tộc
Giai đoạn này cũng là thời kỳ khủng hoảng bế tắc của Nhà nớc phongkiến Việt Nam, là sự vùng dậy của quần chúng lao động bị áp bức và sự pháttriển trong những chừng mực của nền kinh tế hàng hoá Cuộc đấu tranh giaicấp trong xã hội giai đoạn này vô cùng gay gắt, quyết liệt, làm cho Nhà nớcphong kiến không còn khả năng tạo ra sự thống nhất trong nội bộ Giữa xã hộiphong kiến ấy với quần chúng có sự đối lập gay gắt Văn học phát triển trong
Trang 15điều kiện nh thế và đặc trng cơ bản là sự khám phá con ngời, khẳng định sựchân chính của con ngời.
1.3.2 Cơ sở văn học :
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn vănhọc phát triển và có thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử văn học dân tộc Nộidung bao trùm cả giai đoạn văn học thời kỳ này là cảm hứng nhân đạo chốngphong kiến Vấn đề số phận con ngời đợc nêu lên một cách gay gắt, vấn đề sốphận cá nhân ít nhiều cũng đợc đặt ra mà cái hay là không cực đoan, không savào chủ nghĩa vị kỉ
Những thành tựu xuất sắc, tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến thơvăn của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Phạm Thái, Cao Bá Quát, Nguyễn Công
Trứ và đặc biệt là tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du đã đa ông trở
thành nhà thơ thiên tài trong lịch sử văn học Việt Nam
Chỉ ở giai đoạn này vấn đề con ngời mới đợc đa lên hàng đầu và sựkhám phá con ngời mới xuất hiện nh một tất yếu lịch sử Chính điều đó đã tạo
ra một bớc ngoặt lớn cho lịch sử văn học dân tộc : Sự ra đời của "cảm hứng
nhân văn".
1.4 "Cảm hứng nhân văn" trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều :
Trong lời nói đầu quyển "Thơ chữ Hán Nguyễn Du", nhận xét về bài
thơ làm trong lúc đi sứ, các dịch giả nói : "Nguyễn Du thờng than thở là "tiếu
đề tuẫn tục" nghĩa là phải chiều theo đời, cả tiếng khóc, tiếng cời cũng không
đợc tự do, nhng lúc này là ở nớc ngoài, cời tha hồ cời, khóc tha hồ khóc,Nguyễn Du muốn nói ra cho sớng miệng hả lòng, cho nên văn khí trong phầnnày xem ra khảng khái, hùng tráng, có tính tranh đấu khá mạnh" (1) Khi sáng
tác thơ chữ Hán cũng nh khi viết "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã mợn những
sự tích, những nhân vật của Trung Quốc để nói về cuộc sống và con ng ời trên
đất nớc Việt Nam
"Cảm hứng nhân văn" trong thơ chữ Hán Nguyễn Du hớng vào những
con ngời có số phận cơ cực, hẩm hiu nhất trong cuộc sống Về phơng diện này
thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng thống nhất với "Truyện Kiều" mà
(1) Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán - tạp chí văn nghệ tháng 3/1960.
Trang 16trớc hết là cảm quan hiện thực của nhà thơ Nói đến những kiếp ngời lầm than,lời thơ của Nguyễn Du bao giờ cũng hàm chứa một nỗi bức xúc, làm ngời đọckhông thể dửng dng Nguyễn Du không phải chỉ thu mình lại trong những đaukhổ cá nhân, mà trên con đờng gập ghềnh "bụi bay mờ mịt" của đời mình, cõilòng nhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui, nỗi buồn của con ng ời và tạovật xung quanh.
Có ngời băn khoăn vì sao trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du lại không có
nhiều bài nh "Thái Bình mại giả ca", "Sở Kiến hành" với hình ảnh của
những con ngời cùng khổ - một anh đẩy xe, một xác ngời chết đói hạt táotrong túi lăn ra bên cạnh, một ông già hát rong mù và ba mẹ con ngời hànhkhất thất thểu trên đờng Nhng chỉ cần qua ít ỏi những hình ảnh đó cũng đã đủ
cho ta hiểu đợc tấm lòng của Nguyễn Du, thấy đợc "cảm hứng nhân văn"
đ-ợc thể hiện một cách sâu sắc trớc số phận những con ngời cực khổ và ông luôn
"sống" trong những cảnh ngộ ấy, gắn bó mật thiết với những nhân vật củamình
Còn đối với "Truyện Kiều", giá trị của nó ngoài những lời thơ rất đẹp,
rất dân tộc, nhẹ nhàng, mang đầy ý nghĩa sâu xa, nó còn mang giá trị nhân văncao cả Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của ngời phụ nữ, tài năng của cánhân con ngời trong xã hội cũ mà còn đề cao khát vọng làm ngời, đợc yêu th-
ơng, đợc hởng hạnh phúc thông qua nhân vật Kiều Một ngời tài sắc vẹn toànvậy mà cuộc đời cứ xô đẩy, nhấn chìm nàng xuống đáy xã hội Nguyễn Du đã
đề cao giá trị của ngời phụ nữ với quan điểm độc đáo về đạo đức Ông đã đa ramẫu ngời bị xã hội dồn lên đầu tất cả những nhục nhã, ê chề mà ngời phụ nữthời trớc phải chịu, nhng cũng chính ngời phụ nữ ấy trong cuộc đời cay đắngvẫn giữ đợc đạo làm ngời, vẫn bảo vệ đợc nhân phẩm của mình
"Truyện Kiều" là kiệt tác của Nguyễn Du đề cao số phận con ngời, ca
ngợi vẻ đẹp và tài năng của con ngời Tuy nhiên bên cạnh đó cũng là tiếng nói
đanh thép tố cáo xã hội phong kiến tàn ác, chà đạp lên thân phận con ngời, đặcbiệt là ngời phụ nữ
"Truyện Kiều" là nỗi đau đớn xót thơng cho thân phận con ngời tài
hoa Đó là sự kết tinh những điểm khám phá mới cũng nh tính nhân văn trongthơ Nguyễn Du
Trang 17Chơng II : Cảm hứng nhân văn trong tập thơ "Bắc hành tạp lục"
2.1 Một trái tim đau đáu luôn hớng về quê hơng, Tổ quốc thân yêu:
Trong thời gian Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc, nỗi nhớ nhà, nhớ quê
h-ơng da diết cứ luôn cháy bỏng thờng trực trong lòng ông Nỗi nhớ ngời thân cứtheo ông trên suốt chặng đờng đi :
Biệt hậu quan sơn t đệ muội
Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn
Nhật tà mạc hớng Hoa Sơn quá
Phạ hữu thanh thanh trờng đoạn vôn
(Sau khi chia tay trên bớc đờng quan san nhớ đến em trai, em gái
Trang 18Nhìn giữa đá núi tởng nh trông thấy đàn con cháu
Mặt trời đã xế chớ có vợt qua Hoa Sơn
Sợ nghe tiếng vợn kêu buồn đứt ruột)
(Minh giang chu phát)
đó là những cái khiến cho ngời ta càng thêm buồn, càng thêm thơng nhớ ngờithân, sợ phải nghe thấy tiếng vợn kêu sẽ "buồn đứt ruột", "buồn suốt đêm"
Dờng nh nỗi buồn xa xứ cứ ám ảnh, cứ in sâu vào trong tâm hồn củamột con ngời đầy tình thơng yêu này :
Thập niên dĩ thất hoàn hơng lộNá đắc gia hơng nhập mộng tần ?(Mời năm đã quên mất đờng về làng cũSao cho quê nhà luôn đi vào trong giấc mộng)
(Tam giang khẩu đờng dạ bạc)
Trang 19Nỗi buồn của ngời xa quê lâu ngày đã quên đờng về làng cũ, câu thơ
đầu nh cách nói quá để có một sự hồ nghi khẳng định "sao cho quê nhà luôn đivào trong giấc mộng" Xa xôi quá nhng tác giả luôn mong đợi quê hơng trongcả những giấc mơ
Với nỗi nhớ mong khắc khoải trên chặng đờng đi, cái gì cũng khiến conngời xa xứ ấy chạnh lòng nhớ cố hơng :
Giang thuỷ trứu hề giang nguyệt hànThuỳ gia hoành địch bằng lan canNhị thập thất nhân cộng hồi th
Cố hơng dĩ cách vạn trùng san
(Nớc sông gợn sóng trăng sông lạnhNhà ai (có ngời) tựa lan can thổi sáo ?Cả hai mơi bảy ngời (trên thuyền) đều quay đầu nhìn lại Quê nhà đã cách muôn trùng núi)
(Thái Bình thành hạ văn xuy địch)Thu phong lạc nhật giai hơng vọng
(Gió thu bóng xế đều là lúc ngóng trông về quê nhà)
(Sở vọng)Nhật mộ hơng quan cộng nhất sầu(Trời chiều ai cũng chung một mối sầu nhớ quê hơng)
(Hán Dơng vãn diểu)Thôi Hiệu cũng có câu thơ :
"Nhật mộ hơng quan hà xứ thị(Chiều đã tà quê hơng ở về phía nào)Buổi chiều vẫn dễ gợi nhớ cho những ngời xa quê Chiều về, đến chimmuông còn có bầy đàn bay về tổ ấm vậy mà con ngời ấy luôn phải sống trongcảnh ngóng chờ về nơi phơng xa "Trời chiều ai cũng chung một mối sầu nhớquê hơng" Chỉ một tiếng chim gọi bầy, chỉ một tiếng sáo vẳng trên dòng sông
Trang 20lạnh trong đêm cũng khiến con ngời bất giác quay đầu lại Dẫu trả lời niềmmong mỏi ấy chỉ có giá lạnh, chỉ có núi sông nhng điều chắc chắn, ẩn chứatrong trái tim ấy một tấm lòng tha thiết với quê hơng.
"Bắc hành tạp lục" là bớc tiếp nối của tập "Thanh hiên thi tập",
song ở đây ta thấy nỗi nhớ nhà dờng nh càng da diết hơn Trong tập "Thanh
hiên thi tập" tác giả đã từng viết :
"Hành nhân hồi khán xứVô ná cố hơng sầu(Ngời khách quay đầu nhìnNỗi sầu cố hơng biết sao đây)
(Tái du Tam Điệp sơn)
Ky lữ đa niên đăng hạ lệGia hơng thiên lý nguyệt trung tâm(Lâu năm làm khách xa nhà, lệ rơi dới đèn Nghìn dặm nhớ quê, lòng gửi theo vầng trăng)
(Xuân dạ)
Dù cách biểu hiện có khác nhau ra sao thì tựu trung nỗi nhớ quê hơngvẫn canh cánh cứ khắc khoải khôn nguôi trong tâm hồn nhà thơ :
Vạn lý hơng tâm hồi phủ xứBạch vân nam hạ bất thăng đa !(Lòng nhớ quê nhà cách xa vạn dặm, quay đầu nhìn lạiPhía Nam mây trắng nhiều không kể xiết)
(Ngẫu hứng)
Tứ Sơn tùng thụ bạch vi vân
Du du hơng quốc bát thiên lý,(Bốn phía núi đầy cây tùng, chỗ màu trắng là mâyQuê hơng mịt mờ, cách xa tám nghìn dặm)
(An Huy đạo trung)
Trang 21Nỗi nhớ mong là thế, khắc khoải là thế Vậy mà quay đầu nhìn lại để ởng nhớ, để an ủi nỗi lòng thì cũng chỉ thấy toàn mây trắng, bốn phía chỉ lànúi non "Quê hơng mịt mờ, cách xa tám nghìn dặm" thật đau xót và buồn lắmthay.
t-Biệt phố phân tân sắcDao không thất cố hơng(Bến biệt nhau đã chia màu sắc mớiVời trông phía trời xa chẳng thấy quê hơng)
(Tơng giang dạ bạc)
Đến cả bến cũ, nơi tiễn biệt ngời thân để lên đờng giờ đây cũng đã thay
đổi mà quê hơng thì cứ xa khuất dần nơi chân trời
Bạch đầu túc tích biến sơn xuyênHoàng hà nam bắc giai thu thuỷ, Hơng tín hà do đạt nhạn biên ?(Đầu bạc rồi mà dấu chân còn in khắp núi sôngNam bắc Hoàng Hà đều ngập nớc lũ mùa thuTin tức gửi về quê làm sao đa đến bên chim nhạn ?)
(Hàm Đan tức sự)Quê hơng đã dần xa phía chân trời, càng trông mong lại càng mất hút,tác giả tởng chừng nh bế tắc không thể gửi gắm nhắn nhủ tình cảm của mình
về quê hơng Tình cảm đó trong Nguyễn Du không khi nào nguôi mà dờng nh
nó còn tiếp thêm sức mạnh trên con đờng mà ông đang tiến bớc
2.2 Tấm lòng thơng cảm với những số phận đói khổ trong xã hội phong kiến:
Nguyễn Du không phải là ngời chỉ biết thu mình lại trong những đaukhổ cá nhân Trên con đờng gập ghềnh "bụi bay mờ mịt" của đời ông, cõi lòngnhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui, nỗi buồn và tạo vật quanh mình(1) Ông đau xót khôn nguôi khi chứng kiến những cảnh cực khổ, kiếp sốnglầm than của ngời dân, thấu hiểu cả đợc nỗi nhớ nhà của ngời đi lính bởi chính
Trang 22ông chứ không ai khác cũng luôn khắc khoải về hình bóng quê nhà Ông gắn
bó với cả ngời phu xe gặp trên đờng đi xứ :
Hà xứ thôi xa hán ?Tơng khan lục lục đồng(Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ ?Nhìn nhau thấy vất vả nh nhau)
(Hà Nam đạo trung khốc thử)
(1) Nguyễn Huệ Chi - Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán - Tạp chí văn học, tháng 11/1996.
Đờng đờng là một vị quan triều đình, song chỉ nhìn thấy ngời phu xemệt nhọc dới ánh nắng gay gắt của mặt trời, Nguyễn Du cũng thấy cảm thơng
"Nhìn nhau vất vả nh nhau" cái nhìn nh muốn chia sẻ sự mệt nhọc cùng ngờiphu xe
Từ những câu thơ cảm thông ấy ta thấy rõ nét tinh thần nhân văn màNguyễn Du đã gửi gắm vào Ông vẫn thờng thở than thơng xót cho cái số
nghèo khổ của ngời ta Đặc biệt qua bài "Thái Bình mại giả ca" và bài "Sở
kiến hành", Nguyễn Du đã đi sâu vào tận cùng nỗi khổ của ngời dân, đồng
thời phản ánh sự mục ruỗng, thối nát của xã hội phong kiến Ông đã dám đặttay vào cả vết thơng lở loét của xã hội ấy - vết thơng mà chẳng dễ lành lại đợc
Thơ nhng viết nh lối kể chuyện, rất hiện thực, phản ánh chi tiết và sâusắc :
ở phủ Thái Bình, có ngời mù, mặc áo vải thô
Có em bé dắt ra bến sôngBảo rằng đó là ông già ăn xin ở ngoài thànhHát rong xin tiền để kiếm cơm
(Thái Bình mại giả ca)