của một con ngời - một nhà thơ của một tấm lòng sắc son luôn hớng vềquê mẹ - hớng tới cuộc sống hiện thực.Khái quát một số ý kiến trên đây của các nhà nghiên cứu, chúngtôi không có ý thố
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
-*** -Khóa luận tốt nghiệp
Khóa học: 2000 - 2005
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Giáo viên hớng dẫn : Ngô Thái Lễ
Sinh viên thực hiện : Hồ Thị Hồng
Vinh, tháng 5/2005
Lời nói đầu
Luận văn này đợc hoàn thành là nhờ sự quan tâm giúp đỡ, trực tiếp hớng dẫn tận tình của thầy giáo: Ngô Thái Lễ và thầy giáo phản biện, cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn.
Trang 2Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những ngời đã tạo
điều kiện và động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian và khả năng có hạn, nên luận văn chắc chắn sẽ có những thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong sự góp
ý của các thầy cô, cùng các bạn để đề tài đợc hoàn thiện hơn.
nên một thế giới nghệ thuật độc đáo Do vậy mà giáo s Hà Minh Đức đã
khẳng định: "Trong thơ vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặcbiệt quan trọng" Tuy nhiên, cách biểu hiện cái tôi trữ tình thì hết sứcphong phú và đa dạng Gắn với những nét đặc trng của các kiểu nhà thơcũng chính là các loại hình cái tôi riêng biệt Hoặc trong một tác giả ởnhững giai đoạn văn học khác nhau cũng hình thành nên các kiểu cái tôikhác nhau
Cái tôi trữ tình, với t cách là hạt nhân của thể loại trữ tình đ đã ợc
chú ý và khảo sát ở nhiều góc độ, nhiều phơng diện khác nhau Songnhững công trình nghiên cứu đó thờng gắn với chặng đờng dài văn học,một xu hớng, một trào lu hoặc một quá trình văn học, ít có công trình nàonghiên cứu một chặng đờng dài cụ thể, hay một tác giả cụ thể
1.2 Tế Hanh là một hiện tợng văn học khá độc đáo và là một trongnhững gơng mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung,phong trào thơ mới nói riêng Là nhà thơ phát triển tài năng rất sớm (18
Trang 3tuổi) Ngời mà đợc đông đảo bạn đọc công nhận là "bông hoa đẹp nhất"trong vờn thơ của nền thi ca hiện đại.
Tế Hanh là thi sĩ luôn gắn bó ớc mơ và tha thiết yêu ngời, yêu cuộcsống, yêu chế độ Quá trình làm thơ của ông đ bộc lộ toàn vẹn tài năngã
của mình, hai mơi tập thơ của ông với những suy nghĩ trăn trở, những lotoan trách nhiệm đối với cuộc sống
1.3 Tế Hanh sinh ra hầu nh cả cuộc đời ông chỉ để làm thơ trữtình Bởi vì chất trữ tình vừa là điểm mạnh nhất, đồng thời cũng là điềuduy nhất có của nhà thơ Ông hầu nh không làm thơ tự sự, và cũngkhông ham muốn làm những đề tài nào khác ngoài sở trờng của mình.Quả thực ta cũng thấy trong thơ Tế Hanh có nói tới những chuyện khác,nhng phần sâu đậm nhất trong thơ ông trớc và sau cách mạng là nhữngvần thơ thể hiện cái tôi của ngời nghệ sĩ
Có thể nói rằng, trong suốt hơn nửa thế kỷ, thơ ông đợc ví nh mộtcơn ma bay, tuy ma nhỏ phất phơ nhng nó cứ đong đa kéo dài m i m i,ã ã
khiến cho máu tụ kết thành giống nh một cơn ma lớn trong chốc lát
1.4 Hôm nay đây với luận văn này, tôi chọn đề tài "Cái tôi trữ tìnhtrong thơ Tế Hanh từ trớc Cách mạng tháng 8/1945 - 8/1975", với hyvọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé năng lực của mình để bạn đọc hiểu rõhơn những biểu hiện cụ thể của hồn thơ luôn gắn bó và yêu cuộc sống rấtmạnh liệt Hơn nữa cũng nhằm khẳng định thêm vị trí xứng đáng củatác giả trong nền văn học Việt Nam - vị trí của một thi sĩ đợc mệnh danh
là "nhà thơ của thống nhất nớc nhà"
1.5 Thơ Tế Hanh đ đã ợc khẳng định và đa vào giảng dạy ở nhà
tr-ờng phổ thông (các bài: "Quê hơng"; "Nhớ con sông quê hơng") Nghiêncứu thơ Tế Hanh, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về con ngời và tác phẩm.Qua đó giúp cho hoạt động dạy học môn văn ở trờng phổ thông đạt hiệuquả tốt hơn
II/ Lịch sử vấn đề:
2.1 Về lý luận văn học:
Xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình có nhiều ý kiến bàn luận:
Vũ Tuấn Anh trong "Nửa thế kỷ thơ Việt Nam" đ khái quát đã ợc
quy luật vận động của thơ trữ tình Việt Nam nửa thế kỷ qua Tác giả đã
phát hiện ra rằng cuộc kháng chiến trờng kỳ đ làm biến đổi bộ mặt thơã
ca Việt Nam, đ hình thành cái tôi trữ tình kiểu mới, đó là cái tôi ca ngợiã
cuộc sống mới và hòa nhập cuộc sống mới
Lê Lu Oanh "Cái tôi trữ tình qua một số hiện tợng thơ 1975 đến1990" cũng đ khái quát bản chất chủ quan của thể loại trữ tình, và kháiã
niệm cái tôi trữ tình tiếp cận nó nh một phạm trù mang tính hệ thốngcùng các hiện tợng của nó Từ việc khám phá, phân loại các mô típ trữtình về chủ đề, nhân vật, cảm xúc, hình ảnh Lê Lu Oanh đ khái khátã
lên một xu hớng ý thức cơ bản của các kiểu cái tôi trữ tình trong thơ 1975
đến 1990
Trang 4Hà Minh Đức "Thơ và mấy vấn đề thơ Việt Nam hiện đại", ở bàiviết này tác giả cũng nói về vấn đề cái tôi trữ tình.
2.2 Tìm lại toàn bộ những công trình nghiên cứu về tác giả TếHanh ta thấy cũng phần nào xứng đáng với kết quả mấy chục năm lao
động nghệ thuật của Tế Hanh
Soát lại ta thấy có khoảng chừng hai chục bài viết về Tế Hanh:
1 Hoài Thanh - "Thi nhân Việt Nam" phần Tế Hanh
Những vấn đề mà các bài viết quan tâm:
Hoài Thanh trong "Thi nhân Việt Nam" đ giới thiệu với bạn đọcã
"một chàng rể mới" của phong trào "thơ mới" với những nét rất đáng yêu
Đó là ngòi bút trân trọng của một nhà phê bình, dù chỉ dừng lại ở sự giớithiệu bởi cha ai biết đợc "con đờng ngời sẽ đi" nên Hoài Thanh cha muốnnói nhiều, song qua phần giới thiệu chúng ta cũng phần nào đó hìnhdung đợc một Tế Hanh trong tơng lai
Bài viết của Hà Minh Đức trong "Nhà văn và tác phẩm" với nhan
đề "Tế Hanh một tâm hồn thơ giàu cảm xúc" Đây vừa là bài giới thiệuvừa là những khái quát về chặng đờng thơ Tế Hanh, tác giả đ nêu lênã
những mặt tích cực và hạn chế một cách rõ ràng Trong bài viết ấy ta bắtgặp một sự liên tởng lôgic về hồn thơ Tế Hanh phát triển theo định hớngcảm xúc, các bớc biến chuyển và phát triển ấy đợc khai thác trên một ph-
ơng hớng nghiên cứu nhất quán từ nội dung đến nghệ thuật Song ở bàiviết này tác giả thiên về đánh giá nghệ thuật hơn là nói về cảm hứngthơ, mà cái cốt yếu trong tình cảm thơ Tế Hanh trong các sáng tác làchất trữ tình đậm nét Chính chất trữ tình đó đ làm nên thành côngã
trong nhiều sáng tác Tác giả của bài viết thiên về những điểm yếu nghệthuật và khái quát thành nhiều hớng, đa ra nhiều phơng thức tiếp cậnthơ Tế Hanh, chẳng hạn nh khi nói về những tồn tại trong nghệ thuậtthơ Tế Hanh tác giả viết:
Trang 5Nhợc điểm trên còn dẫn đến khuynh hớng nhìn cuộc sống một cách
dễ d i, xuôi chiều, thiên về mặt tô điểm ã ớc mơ và nhẹ về suy nghĩ Nhiềubài thơ của Tế Hanh rơi vào sự bằng phẳng đơn điệu tẻ nhạt"
Đến 1983 Hà Minh Đức có bài viết về Tế Hanh trong "Nhà vănViệt Nam" Bài viết này đợc đánh giá khá cao nên cần chú ý và thamkhảo, tác giả đ khai thác con đã ờng thơ của Tế Hanh dới hai mục kháiquát đó là:
Mục 1: Đất nớc và những miền quê trong thơ Tế Hanh
Mục 2: Thời gian và tấm lòng đằm thắm ân tình với cuộc sống.Thực ra, đây là bài viết mang tính khái quát cao và là th mục
không thể thiếu đợc khi nghiên cứu về Tế Hanh, với mục 1 tác giả đã
khái quát đến mức súc tích nhất những biểu hiện của một hồn thơ yêuquê hơng đất nớc qua sự hình thành và biến chuyển cảm hứng trớc vàsau cách mạng
Với mục 2 tác giả trình bày một cách lôgic vấn đề khai thác nhữngdấu mốc thời gian và "tấm lòng đằm thắm ân tình" của nhà thơ với cuộcsống Song với tác giả có đến hai mơi tập thơ mà dung lợng giới thiệu vànghiên cứu chỉ gói gọn trong mời hai trang thì dù bài viết của tác giả cósúc tích và mang tính khoa học đến mấy cũng cha thể khai thác hết đợccon đờng thơ, cũng nh những biểu hiện cụ thể của con đờng thơ ấy trongthơ Tế Hanh
M Giang Lân trong tuyển tập 1 + 2 lại đi theo một hã ớng khác, tức
là đi vào từng khoảng sáng tác cụ thể của đờng thơ Tế Hanh theo các tậpthơ Đây là những bài viết định hớng đợc nhiều khả năng khai thác tronglòng bạn đọc, song lại cha sâu sắc và có phần hơi lợc qua khi đi vào nộidung cụ thể của các tập thơ và quá trình sáng tác của các tập thơ ấy
Trờng Lu với chuyên mục "Đôi nét đặc trng thơ của Tế Hanh"trong tuyển tập Nói về hồn thơ đôn hậu, chân chất nh chính con ngời
ông, đây cũng là một bài tham khảo khá bổ ích
Hay Chế Lan Viên với chuyên mục "Tế Hanh thơ hay cách mạng"trong "Tuyển tập 1" nói về bớc chuyển biến trong phong cách cũng nhtâm hồn thơ từ khi có cách mạng và nhận xét qua về bút pháp nghệthuật của thơ Tế Hanh Đó cũng là bài để chúng ta cần tham khảo
Thiếu Mai với bài viết "Đờng thơ của Tế Hanh" trong Tạp chí Vănhọc số 2 năm 1969 đ nêu lên những thành công và hạn chế của Tế Hanhã
trong quá trình làm thơ, bài viết này đ đi sâu vào những tình cảm chânã
thành của nhà thơ đối với cuộc sống, Đảng và Cách mạng, khẳng địnhbản lĩnh của một nhà thơ chân chính
Trong những bài viết trên tôi đ chọn lọc trong số đó những bàiã viết có liên quan đến đề tài của mình Bởi vì những bài viết đó tác giả đã
khẳng định đợc: sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh trớc
và sau cách mạng Điều đó đ đã ợc Tế Hanh nói bằng ngòi bút chân thành
Trang 6của một con ngời - một nhà thơ của một tấm lòng sắc son luôn hớng vềquê mẹ - hớng tới cuộc sống hiện thực.
Khái quát một số ý kiến trên đây của các nhà nghiên cứu, chúngtôi không có ý thống kê lại mọi ý kiến của nhà phê bình có bài viết quantâm đến thơ Tế Hanh, mặt khác vì điều kiện không cho phép cả kháchquan lẫn chủ quan, khiến chúng tôi có thể bỏ sót những ý kiến quý báucùng vấn đề, để đi đến một sự khẳng định rằng, hiện nay trong thực tếnghiên cứu, ít xuất hiện một bài viết hay công trình nào đề cập trực tiếp
đến đề tài: "Cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh" Mặc dù vấn đề cái tôitrữ tình trong thơ ca là vấn đề muôn thuở Do vậy nó gây không ít trởngại cho việc tiến hành luận văn Song xuất phát từ tình hình nghiêncứu của các tác giả đi trớc, chúng tôi lấy đó làm cơ sở chính để thamkhảo, đồng thời xuất phát từ tình cảm say mê, yêu quý, trân trọng về conngời thơ Tế Hanh, từ cảm nhận trực tiếp về tác phẩm Chúng tôi xinmạnh dạn thực hiện luận văn theo đề tài này, để làm sao đó khái quát rõnhất những thành công cũng nh hạn chế còn tồn tại ở tác giả
III/ Mục đích của đề tài:
Thơ trữ tình dù đợc nói theo cách nói nào đi chăng nữa, nhng quanniệm chung nhất khái niệm thơ trữ tình đợc xác định nh là sự biểu hiệncủa cái tôi xây dựng hình tợng về mình, xác định chí hớng lập trờng, giátrị của cuộc sống và cái thế giới tinh thần phong phú của con ng ời Vềbản chất, thơ trữ tình biểu hiện khát vọng của con ngời nhằm đối diện vàkhám phá những trải nghiệm tinh thần của con ngời trớc các hiện tợng
tự nhiên và x hội Mà cuộc trải nghiệm ấy diễn ra trong lịch sử nhânã
loại nh một hiện tợng khá độc đáo của con ngời, nhng đó cũng là trảinghiệm thông qua mỗi một cá nhân và đợc thể hiện bằng những tiếng nóicủa mỗi nhà thơ (chủ thể trữ tình) Ngoài ra cái tôi còn đợc bộc lộ ở nhiềuchiều hớng khác nhau: đó là sự tự biểu hiện, khai thác và phơi bày thếgiới nội tâm của cá nhân qua đó tạo nên những quan niệm mang tínhchủ thể
Do vậy, chúng tôi nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh
từ trớc Cách mạng tháng 8/1945 - 1975 để nhằm nói lên đợc nhữngdiện mạo tinh thần, cái tôi độc đáo - một cái tôi cá tính không lẫnnhập với ngời khác, và đây cũng là cái tôi trữ tình khá phức tạp quacác giai đoạn nó đều có sự biến chuyển khác nhau, cụ thể là: tr ớc Cáchmạng tháng 8/1945 là một cái tôi từ cái tôi hiện thực đến l ng mạn; từã
sau Cách mạng tháng 8/1945 đến 1975 thì đó là cái tôi cảm quan hiệnthực mới
IV/ Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu:
1 Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của luận văn này là thơ Tế Hanh trớc và saucách mạng, tập trung vào những sáng tác tiêu biểu, nổi bật nói về cái tôitrữ tình của nhà thơ Trên cơ sở đó điểm qua các tác giả khác cũng viết
về đề tài này để so sánh
2 Phơng pháp nghiên cứu:
Trang 7Bên cạnh kế thừa các phơng pháp của các công trình nghiên cứutrớc đó, luận văn này chúng tôi sử dụng những phơng pháp chủ yếu sau:
1 Phơng pháp tiếp cận hệ thống
Để thấy đợc cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh, chúng tôi phải tiếpcận thơ ông từ trớc và sau cách mạng và thơ trong những ngày hòa bình
2 Phơng pháp phân tích tổng hợp: đây là phơng pháp chủ đạo
3 Phơng pháp so sánh đối chiếu: so sánh với một số nhà thơ khác
để thấy đợc những nét khu biệt của thơ Tế Hanh
- Mục đích của đề tài
- Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
Trang 8Phần nội dung Chơng 1:
Những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm
cái tôi trữ tình trong thơ và sự vận động của
cái tôi trữ tình trong thơ
I/ Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình:
Cái tôi và cái tôi trữ tình có mối liên hệ mật thiết với nhau Tuynhiên để hiểu đợc cái tôi trữ tình là gì thì trớc hết chúng ta phải trở vềphạm trù gốc của nó: phạm trù cá nhân và cái tôi
1 Khái niệm cái tôi:
Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất, đánh dấu
ý thức đầu tiên của con ngời về bản thể tồn tại của mình, nó giúp con
ng-ời nhận thức mình là một con ngng-ời khác với thế giới tự nhiên đồng thng-ờinhận thức mình là ngời khác với ngời khác
Những ngời sáng lập ra Chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng: cá nhân đã
xuất hiện trong giai đoạn nhất định, mỗi khi mỗi thành viên của tập thểbắt đầu tác ra khỏi chỉnh thể - bắt đầu mâu thuẫn với tập thể đó Đây cóthể coi là sự thức tỉnh đầu tiên của mỗi cá thể Tuy nhiên, số phận của cáthể này nó đ gắn liền với quá trình biến đổi của x hội, trong x hộiã ã ã
thời kỳ trớc kia thì có một thời kỳ nh Mác nói: " đó là thời kỳ bi thảm,thời kỳ đ làm ốm yếu và làm teo đi những phẩm chất của con ngã ời"
Trong thời kỳ thần quyền, thời kỳ nô lệ thì cha thể nói đến một ýthức đầy đủ về cái tôi, chỉ khi con ngời thoát khỏi sự ngự trị của thiênnhiên và tôn giáo, khẳng định mạnh mẽ vai trò của lý trí thì khi đó cáitôi cá nhân mới đợc khẳng định
Khái niệm cái tôi là một khái niệm có nội hàm rộng, nó vừa có ýnghĩa bất biến, lại vừa mang tính x hội - lịch sử và vận động phát triểnã
qua các thời đại Do vậy, chúng ta có thể tìm thấy kết quả của nhữngkhám phá và tổng kết liên quan về cái tôi trong các bộ môn triết học vàkhoa học nhân văn Trong quá trình nhận thức về cá nhân điều đáng chú
ý trớc hết là những quan niệm triết học và tâm lý học Vấn đề cái tôi đã
trở thành khởi điểm của nhiều t tởng triết học, từ triết học duy tâm cho
đến triết học duy vật, từ Đề - Các đến Kant, từ Hêghen đến Mác
Thế nhng, chúng ta chỉ dừng lại ở một số quan niệm triết học về cáitôi có liên quan trực tiếp hoặc gần gủi với việc tìm hiểu cái tôi trữ tình
Những ngời đầu tiên chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức lý tínhtrong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chủ quan và khách quan, cánhân và con ngời, đó chính là triết học duy tâm Theo Đề - Các (1596 -1650) cái tôi thể hiện ra nh một cái thuộc về thực thể biết t duy, nh căn
Trang 9nguyên của nhận thức phi lý và do đó, cái tôi khẳng định tính độc lậpcủa mình với định nghĩa nổi tiếng "tôi t duy tức là tôi tồn tại".
Phích - Tê (1762 - 1814) cho rằng: cái tôi là thực thể, là cănnguyên sáng tạo tuyệt đối, là thực tại duy nhất Thế giới là thực tại củatôi hoặc là sự biểu hiện của tôi
Hêghen (1770 - 1831) đ giải thích thực chất x hội của cái tôi nhã ã
một sức mạnh bị tha hóa trên những con ngời chủ thể Hay nói khác đi
đó là lý tính thế giới bộc lộ ở từng con ngời cụ thể Cái tôi theo quan niệmcủa ông là cái tôi trừu tợng và hình thức, là nguyên lý của mọi hiểu biết
và nhận thức Mọi cái tồn tại nhờ có cái tôi và nó có thể chi phối toàn bộ
sự tồn tại và tiêu diệt của thế giới Cái tôi là một cá nhân hoạt động cósức sống và cuộc sống của nó ở chỗ xây dựng cá tính và tính cách củamình, ở chỗ biểu hiện mình, khẳng định mình Bởi lẽ mỗi ngời hễ cònsống đều cố gắng tự thể hiện mình một cách hiện thực
Béc - Xông (1859 - 1941) khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cánhân đ chú ý đến cái tôi thuần tuý ý thức Theo ông, con ngã ời có hai cáitôi: cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Cái tôi bề mặt là các quan hệ con ngời
đối với x hội Còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức Đó chínhã
là đối tợng của nghệ thuật
Sphơrơt (1856 - 1939) thì cái tôi là hiện diện của động cơ bên trong
ý thức con ngời
Các quan niệm duy tâm về cái tôi đ khẳng định: cái tôi là phã ơngdiện trung tâm của tinh thần con ngời, là cốt lỏi của ý thức, có khả năngchi phối hoạt động và là sự khẳng định nhân cách con ngời trong thế giới.Tuy nhiên, các quan điểm trên đ tách cái tôi ra khỏi con ngã ời x hộiã
sinh động, cha nhìn thấy cơ sở lịch sử cụ thể và tính tích cực chủ độngcủa cái tôi Đối lập với những quan điểm tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân,tách nó ra khỏi các mối quan hệ hiện thực x hội, triết học Mác xít địnhã
giá trị của con ngời cá nhân từ bản thân con ngời với t cách là chủ thể vàkhách thể của các mối quan hệ x hội Mác viết: "Sự giàu có thực sự vềã
mặt tinh thần của cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào sự giàu có của quan
hệ hiện thực của họ" Nh vậy, mỗi cá nhân có ý nghĩa nh một "bộ mặt xã
hội" của con ngời Khó có thể nói đến một cá nhân ở bên ngoài x hội.ã
Ngợc lại, khái niệm cá nhân luôn tìm thấy cặp biện chứng của mìnhtrong khái niệm x hội Tự do cho mỗi cá nhân trong tự do của tất cả mọiã
ngời - đó là lý tởng về giải phóng cá nhân của triết học Mác Hơn nữa vaitrò của cái tôi cũng đợc khẳng định: cái tôi là trung tâm tinh thần củacon ngời - của cá tính con ngời, có quan hệ tích cực đối với thế giới vàchính bản thân mình
Tiếp đến, các nhà tâm lý học cũng đ đề cập đến khái niệm cái tôi,ã
khi xây dựng các học thuyết về nhân cách: tuy sự lý giải về nhân cáchcũng nh cấu trúc nhân cách rất khác nhau, nhng nhìn chung từ thiếtphân tâm của Sphơrơt, thuyết phát triển trí tuệ của Piagiê đến cáccông trình lý luận về nhân cách của khoa tâm lý học Mác xít với một số
Trang 10tác giả nh A.N Lêônchiep; A.G.Covaliop đều coi cái tôi là yếu tố cơ bảncấu thành phần ý thức của nhân cách con ngời
Do vậy, cái tôi là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhân cách, cóthể coi nó là yếu tố cốt lõi, trung tâm tinh thần, ý nghĩa điều chỉnh, dựbáo của nhân cách, mang tính định hớng về động cơ, niềm tin, là cơ sởhình thành những tình cảm x hội của con ngã ời và xác định mặt cá tínhcủa nhân cách
Qua đó, ta thấy Triết học Mác - Lênin đ thấy đã ợc vai trò của cáitôi, đó là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổ quát Hiện t-ợng cái tôi vừa mang tính x hội - lịch sử, vừa phân biệt cái độc đáo vàã
2 Khái niệm cái tôi trữ tình:
Khái niệm cái tôi trữ tình gắn với thơ trữ tình, cho đến nay cónhiều định nghĩa nhác nhau về thơ trữ tình, nhng với nghĩa chung nhấtkhái niệm thơ trữ tình là sự thể hiện trực tiếp những cảm xúc và suy tcủa nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trớc các hiện tợng của đời sốnghiện thực
Vì cái tôi: ở đây "tôi" với t cách là con ngời x hội, còn cái tôi trữã
tình thì "tôi" ở đây với t cách là con ngời trong thơ, là đối tợng thẩm mỹcủa thơ
Do đó, cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hợp của nhiều yếu tố
là sự kết tụ, biểu hiện theo quy luật nghệ thuật cả ba phơng diện cánhân - x hội - thẩm mỹ trong hình thức thể loại trữ tình Tác phẩm vănã
học nào cũng biểu hiện t tởng, tình cảm, nhng tác phẩm loại trữ tình (tức
là bộc lộ tình cảm) thể hiện tình cảm theo cách riêng, ở tác phẩm tự sự,tác giả xây dựng bức trang về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đờng đi
và số phận của chúng, bằng những đối thoại và độc thoại, tác giả kịch thểhiện tính cách và hành động con ngời qua mâu thuẫn xung đột, nhng ởtác phẩm trữ tình có khác thế giới chủ quan của con ngời, cảm xúc, tâmtrạng, ỹ nghĩ đợc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu
Vậy cái tôi trữ tình đó là sự thể hiện một cách nhận thức và cảmxúc đối với thế giới và con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể
và thông qua việc tổ chức các phơng tiện của thơ trữ tình tạo ra một thếgiới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạtnăng lợng tinh thần ấy đến bạn đọc Thơ trữ tình có cấu trúc nhận thức
Trang 11khác với triết học, nó không tìm cách khái quát hóa bằng những phạmtrù mà là sự khao khát biểu hiện tồn tại x hội và thái độ của con ngã ờitrớc thế giới nhng cũng không thể không thấy ảnh hởng của triết học đốivới nó.
ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếmlĩnh hiện thực, do vậy mà nhà lý luận Nga Biêlinxki đ khẳng định thểã
loại trữ tình là "Vơng quốc chủ quan" Hay ông còn nói: "Toàn bộ hiệnthực của đời sống đều có thể là nội dung của thơ trữ tình với một điềukiện là nó phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể, chủ thể phảichiếm lĩnh đợc hiện thực đời sống"
Do tính chất cá nhân đậm nét, do cá nhân nhà thơ đóng vai tròsáng tạo duy nhất và tuyệt đối nên cái tôi trữ tình bị hiểu một cách hạnhẹp, đợc quy về và đồng nhất với nhà thơ Thế nhng trong thực tế tiền tửnhà thơ luôn ẩn hiện trong những vần thơ trữ tình nh Huy Cận, XuânDiệu, Xuân Quỳnh và có khi bộc lộ nh những chứng tích hiễn nhiênnhng tự thân nó không đủ làm nên cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình khác
về chất so với cái tôi nhà thơ Đó là sự khác nhau giữa cuộc đời và nghệthuật, giữa gốc rễ và những cành lá nẫy nở sinh động của nó Cái tôi trữtình không chỉ là cái tôi nhà thơ, mà nó còn là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi
đợc khách thể hóa, đợc thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật
Nó có quan hệ chặt chẽ với cái tôi nhà thơ, nhng từ cái tôi nhà thơ đếncái tôi trữ tình còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Bởi nh ta biết rằngthơ là tâm cảm của nhà thơ, là cuộc đời của nhà thơ nhng không thểhoàn tâm đồng nhất giữa cái tôi nhà thơ, đời sống và cái tôi trữ tìnhtrong tác phẩm Do vậy, cái tôi trữ tình là một hiện tợng nghệ thuật khácvới cái tôi của nhà thơ trong đời sống Cái tôi trữ tình là cái tôi của nhàthơ đợc nghệ thuật hóa, lúc đi vào nghệ thuật cái tôi đợc nâng cao lên
Những cảm xúc nhà thơ thờng gắn với những trải nghiệm thực tếcủa bản thân, khi chuyển thành cảm xúc thơ không còn ở trạng tháinguyên sơ nữa mà chúng đợc tái tạo bổ sung và khắc lên bởi các sắc thái
và cờng độ cảm xúc thẩm mỹ Nhng nhiều khi nhà thơ cũng tạo ra nhữngtình huống tâm lý giả tợng không có sự tơng ứng cụ thể với tiền sử nhàthơ mà chỉ dựa vào quan sát và kinh nghiệm sống đồng thời pha thêm
một chút ít tởng tợng của mình Trong trờng hợp này, cái tôi nhà thơ đã
làm thoát xác để hóa mình thành một cái tôi khác hiện diện trớc mặt
ng-ời đọc Đó chính là tiếng nói tiêu biểu và đại diện cho một thng-ời đại Còncái tôi trữ tình đợc các nhà thơ thổ lộ và biểu hiện một cách trực tiếp đóchính là cái tôi của tác giả
II Những hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ ca.
Là một hiện tợng lịch sử, cái tôi trữ tình cũng có một hình thái lịch
sử của nó Do đó có thể nói lịch sử phát triển thơ là lịch sử phát triển củacái tôi trữ tình, là sự thay đổi mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và đờisống Trong thơ của một tác giả và thời đại luôn có những yếu tố ổn địnhcho thấy giới hạn của một kiểu ý thức của cái tôi trữ tình Để đi sâu vào
Trang 12sự phát triển của thơ ca, cần phải dùng đến khái niệm rộng hơn đó làkiểu cái tôi trữ tình.
ý thức về cái tôi trữ tình trong lịch sử văn học không hoàn toàngiống nhau, từ ngời thiếu nữ thấy mình trong "Tre non đủ lá đan sàng"(Ca dao) đến chàng trai trẻ yêu cuộc sống, khao khát cuộc sống thì rấtkiêu h nh hô hào lên rằng: "ta là một là riêng là thứ nhất" (Xuân Diệu)ã
và hiện lên câu hỏi "Ta hỏi rằng ta có ta không?" (Chế Lan Viên) đến mộtnhà thơ cách mạng nổi tiếng đứng ngang tầm thời đại "Ta đứng đây mắtnhìn bốn phơng" (Tố Hữu) là cả một chiều dài lịch sử với sự phát triển
về ý thức cá nhân, cá tính câu hỏi "Ta là ai?" Nó nh làm nhức nhối trongtâm khảm con ngời đ hàng ngàn năm Trong sự vận động của tiến trìnhã
lịch sử x hội, lịch sử một thời đại lịch sử một cá thể, con ngã ời tự thấymình là gì trong cõi đời đó?
Cái tôi trữ tình luôn biểu hiện ở nhiều phơng diện khác nhau và nórất rộng trong thơ ca Nh cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca, trong thơ
cổ điển, trong thơ l ng mạn, cách mạng Vậy sau đây chúng ta sẽ nêuã
lên những hình thức biểu hiện của nó
1 Trớc hết là cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca; thể loại cổ
xa nhất của văn học trữ tình, là cái tôi tìm thấy mình trong tiếng nóichung của tập thể, cái tôi cá thể chìm đi không bộc lộ nh một cá nhânriêng biệt mà biểu hiện cái tôi x hội (cái ta) của tập thể cộng đồng.ã
Theo Hêghen, cái tôi ở đây chỉ là khí quan mà qua đó biểu hiệnchất trữ tình của đời sống nhân dân Do vậy đi sâu vào khám phá ca dao
là có thể khám phá ra tâm hồn của một dân tộc
Cảm hứng của nhà thơ dân gian bắt nguồn từ nhu cầu đợc chia sẽ,giao hởng và đồng vọng trong những cảnh ngộ tơng đồng Cái tôi bộc lộqua những số phận chung, đó là ngời lao động vất vả, dầm ma d i nắng,ã
họ xuất hiện trong khung cảnh lao động nh vờn chè, b i mía, nã ơng dâu
và xung quanh đó là vờn hồng, vờn ngà, cau xanh
Quá trình sáng tác của ca dao, dân ca gắn liền với môi trờng diễnxớng chứ không trải qua nhiều công đoạn nh sáng tác của những nhà thơchuyên nghiệp, bởi sáng tác ca dao, dân ca chỉ bằng sự truyền miệng củanhững con ngời bình dân, chứ không phải là những nhà thơ chuyênnghiệp Do đó cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca luôn bị xóa mờ ranhgiới cá nhân riêng biệt, cái tôi cá thể bị chìm đi để hòa vào tiếng nóichung của tập thể
Những khung cảnh lao động trên nó chính là thế giới của cuộc sốnglao động mà qua đó họ thấy thân phận của cuộc đời họ, thấy quan hệnghĩa tình làng xóm, quê hơng, cảm hứng chủ yếu là nói về thân phận và
sự phản kháng của những con ngời cùng khổ, họ cảm thấy thân phận của
họ nhỏ bé, vất vả Tuy nhiên bên cạnh những tâm trạng nh phẩn uất,chua xót, đắng cay oai oán thì ta cũng tìm thấy đợc bản chất cứng cỏi,tìm thấy đợc sự khẳng định ý thức nhân cách con ngời, thấy đợc nhữngniềm vui lạc quan
Trang 13Sự phát triển thế giới nội tâm trong ca dao là bằng chứng về sự "tựphát hiện" (Đỗ Bình Trị), đ đánh dấu bã ớc đầu của quá trình tự ý nhậnthức của số phận cá nhân trong tập thể Thời gian mang tính chất ớc lệnh: bây giờ, hôm qua, chiều chiều, ngày ngày, đêm qua làm cho thờigian cá thể của cái tôi tác giả bị mờ nhạt, bên cạnh đó thì không giancũng mang tính chất ớc lệ nh sân đình, bờ ao, cây đa, góc ruộng có thểthay địa danh này bằng địa danh khác rất hợp lý.
Ví dụ: Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ
Có thể thay bằng: Đờng vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ
Về cơ bản cái tôi trữ tình trong thơ dân gian là một cái tôi phi cáthể, hình thức truyền miệng, diễn xớng, vận động qua một không gian,thời gian đ làm biến mất đi những cá tính cụ thể của những hoàn cảnhã
cụ thể Diện mạo duy nhất của cái tôi dân gian là cái chung, cái tập thể
2 Cái tôi trữ tình trong thơ cổ điển:
Thơ ca của bất cứ một dân tộc nào khi phát triển đến một trình độnhất định thì mang tính chất cổ điển Hê ghen một nhà Mĩ học - triết học
Đức đ viết: "Nghệ thuật cổ điển là nghệ thuật đạt đến một sự hài hòa lýã
tởng giữa cái chung và cái riêng, giữa nội dung và hình thức, giữa bộphận với chính thể"
Trong văn học cổ điển nói chung, bản chất con ngời bắt nguồn từquan hệ cộng đồng, giá trị cá nhân nằm trong giá trị quần thể Đó là mộtgiai đoạn văn hóa mà mỗi một cá nhân cảm nhận đặc điểm chung củatầng lớp nh là cá tính tự nhiên của mình Văn học chủ yếu phát ngôntrên t cách riêng cá nhân, với những vấn đề của tập đoàn gia đình, dòng
họ, giai cấp thống trị, cho lý tởng đạo đức, cho vận mệnh dân tộc, điều đó
nó tạo nên một kiểu nhà thơ cổ điển "phi ng ".ã
Cái tôi trữ tình trong thơ cổ điển là cái tôi phi ng là sự vắng bóngã
các đại từ nhân xng trong thơ cổ Theo I.S Lixêvich, nó vô nhân xng, vôquan hệ vì "cái âm thanh từ lòng nhà thơ chính là hồi âm của một cáichung nội tại", là cái không cần mang một dấu hiệu giới hạn, một dấuhiệu cá tính nào, bởi cái tôi biểu hiện mình bằng sức mạnh của các phạmtrù phổ quát Nguyễn Tr i thể hiện tấm lòng thã ơng nớc, lo đời qua hìnhtợng cây tùng với những phẩm chất "chuẩn mực", đ đã ợc xác định củangời quân tử ý thức cá nhân, cá tính tồn tại trong những quy tắc, luật lệ,khuôn mẫu có sẵn Đó là một biểu hiện tình cảm x hội gián tiếp, kínã
đáo, một kiểu cái tôi tự khép kín trong bản thân, ít quan hệ với hiện thực
x hội Sự vắng bóng đại từ "tôi" càng làm tăng triệt để tính chất phi ngã ã
của con ngời trữ tình
Cái tôi trữ tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ, vũ trụ là quyển sách từ đó
đọc ra nỗi buồn, niềm vui, quá khứ, hiện tại, tơng lai, cái tôi - cá tính đã
khách thể hóa vào vũ trụ Do đó phạm trù chính của thơ cổ là tỉnh cảnh; cảnh - tình; cảnh - sự Mỗi một khung cảnh sự việc đều chứa đựng
Trang 14-ý nghĩa triết l-ý về quan hệ con ngời và vũ trụ Trớc khung cảnh đó conngời thờng đứng một mình trong t thế vọng sơn, vọng nguyệt, đối vân,
đối thuỷ để ngẫm nghĩ về cuộc đời Một nhành Mai đêm trớc nở rộ làcái lẽ tự nhiên của đất trời nhng cũng là phép mầu của triết lý tuần hoànsắc - không, động - tĩnh của nhà phật Một lối xa, ngõ cũ, vơng hồn thuthảo phủ bóng tịch dơng cũng là dấu tích của một thời đ qua Vì nhuã
cầu khép kín không bộc lộ mình nên nhà thơ cổ không tự miêu tả tâmtrạng mà miêu tả thể trạng là chính: vóc hạc, cúi đầu, bó gối rất ítmiêu tả tâm trạng trực tiếp nh bồn chồn lo lắng, mơ màng Những ýcảnh, ý sự, ý tình đợc chú ý coi trọng Trữ tình chủ yếu qua cảnh và sựchú ý qua tình, do không tách mình khỏi vũ trụ, nhà thơ thờng trữ tình
về cái hồn của vũ trụ, để từ đó gián tiếp bộc lộ những bí ẩn của tâm hồnmình
Sự hài hòa là ý niệm về cái đẹp, thế giới là một chỉnh thể tình tại,cân đối, hài hòa Bài thơ là kết quả của một cái nhìn triết học phơng
Đông với các cặp phạm trù đối lập, tạo điều kiện vơn tới sự hài hòa trong
xu thế biện chứng: hữu hạn vô cùng; nhất thời vĩnh cữu; quá khứ hiện tại; thực - h; tĩnh - động
-Về hình tợng, thơ cổ thờng dùng các hình ảnh thiên nhiên làmchuẩn mực nh trời đất, nớc non, cỏ hoa, sơng tuyết, cát bụi tất cảnhững hình ảnh này làm cho câu thơ thêm thanh cao Điều này khi ta sosánh với thơ hiện đại thì thơ hiện đại thờng lấy con ngời làm chuẩn mựcchẳng hạn
- Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
"Làn thu thuỷ nét xuân sơnHoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh"
- Trong Vội vàng của Xuân Diệu:
"Xanh tháng giêng ngon nh một cặp môi gần"
Càng về sau này cái tôi xóa bỏ dần tính phi ng , quy phạm để bộcã
lộ tính cách tự nhiên Đó chính là sự xuất hiện của văn học trung đạiViệt Nam nh Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát Đặc biệt là dòng song thất
lục bát ngâm khúc phát triển mạnh, nh vậy càng chứng tỏ con ngời đã
đối diện với chính mình, và nói về mình
3 Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn - đó là cái tôi cá nhân
tự biểu hiện, khép kín và cô đơn trong xã hội.
Cá nhân tự ý thức về mình nh một thế giới phức tạp và phong phú,
đánh dấu một giai đoạn phát triển của ý thức x hội, ý thức nghệ thuật.ã
ở phơng Tây, cái tôi cá nhân xuất hiện cùng với chủ nghĩa l ng mạn.ã
Vừa xuất hiện, nó đ đem đến cho văn học những vẻ đẹp mới mà La Mácã
Tin đ kiêu h nh tự nhận: "Tôi là ngã ã ời đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏinúi Pacnax, tôi đ tặng cho nàng thơ, không phải cây đàn lia bảy dâyã
quy ớc mà là trái tim con ngời xúc cảm do những rung động của tâm hồn
và thiên nhiên
Trang 15Kiểu nhà thơ l ng mạn gắn liền với sự tự ý thức về cá nhân nhã cáthể riêng biệt, độc đáo Thơ l ng mạn có từ thời Khuất Nguyên, Lý Bạch,ã
Nguyễn Tr i, Nguyễn Du bởi l ng mạn là một nhu cầu trong lịch sửã ã
tâm hồn loài ngời, dù khi trong x hội các cá nhân ý thức mình trongã
những chuẩn mực vô ng thì cái bàn ng , cái tôi cá nhân vẫn muốn thoátã ã
ra để tự khẳng định sự tồn tại của mình đến đầu thế kỷ XX cái tôi trữtình cá nhân đ xã ng danh và biểu hiện mình một cách trực tiếp đầy tự
tin và mạnh mẽ qua đại từ "tôi", "ta", "anh" và tự ý thức mình dới hìnhthức cởi mỡ những cảm giác trẻ trung, thành thực Nó đề cao trạng thái
và địa vị cái tôi - cá nhân Do vậy Hoài Thanh đ nói: "Thời đại của thơã
mới là thời đại của chữ tôi "
Chẳng hạn: "Ta là một là riêng là thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta"
(Xuân Diệu)Hay: "Đờng về thu trớc xa xăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một thôi"
(Chế Lan Viên)
" Em là em mà anh vẫn cứ là anh"
Đặc biệt nó rất tôn trọng cá tính riêng biệt, độc đáo trong việc xác
định t thế trăm hình nghìn vẽ của mình trong thế giới:
"Tôi là con chim đến từ núi lạ"
"Lũ chúng tôi đầu thai nhầm thế kỷMột đời ngời u uất nỗi chơ vơ "
Những t thế giải phóng cá nhân ấy giúp giải phóng cảm giác, sứcdiễn đạt và cảm nhận của ngôn từ để bày tỏ thế giới tâm hồn nh một đốitợng phức tạp và bí ẩn Cái tôi cá thể là nơi giải bày, thổ lộ, tự biểu hiệnmình một cách trực tiếp bằng trạng thái thể chất
Cái tôi cá nhân lúc mới xuất hiện say sa với chân trời mới lạ nên có
t thế dỏng dạc, hùng tráng, tơi tắn, say mê nó mở ra để đón nhận mọihơng sắc của cuộc sống Vì vậy sự cảm nhận ánh sáng, màu sắc, âmthanh, hơng vị, trạng thái, cảm xúc nhiều khi chính xác và tinh tế
"Mái nhà tranh lấm tấm vàng"
"Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay"
Sự cá thể hóa thơ trữ tình góp phần phá huỷ những hình thức trữtình mang tính quy phạm, bộc lộ giọng điệu đích thực của tâm hồn mộtcách trực tiếp với mọi cung bậc, mọi sắc thái: n o nùng, thiết tha, sayã
đắm Những nội dung tâm lý cá nhân đ trở thành nhạc điệu thơ - mộtã
nhạc điệu phong phú mang hơi thở nội tâm đời sống, từ chỗ luật cố địnhphi cá tính, đến phô bày mọi nhịp điệu bên trong của đời sống nội tâm
Thế giới cái tôi có hai mặt do khẳng định cá tính nên đem lại giátrị thẩm mỹ, những góc độ nhận thức thế giới mới, nhng nếu tuyệt đối
Trang 16hóa nó sẽ dẫn đến cái tôi cô đơn bởi "thế giới cái tôi" (hiểu theo nghĩa cánhân) càng đi sâu càng ớn lạnh (Hoài Thanh).
Vì vậy cái tôi l ng mạn mang một cảm quan x hội chung, cho cuộcã ã
đời là một nỗi đau, lênh đênh vô định, là nơi gặp gỡ của những kiếpgiang hồ, đào hoa, phiêu bạt, là t thế trôi dạt là cảm giác lụi tàn tronghiện đại Vũ trụ dù rất nhiều màu sắc, hơng thơm nhng vẫn lạnh lẽo,
đơn côi và vô nghĩa; vũ trụ không bất biến, hài hòa nh thơ cổ mà là vũtrụ riêng biệt của một tâm hồn cá thể, tạo nên những ớc lệ mới: trăng -lạnh, yêu - mất mát, sầu - ngàn năm giọng điệu của cái tôi trữ tình
l ng mạn là giọng điệu của tâm hồn với đầy đủ màu sắc ã
4 Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng:
Trong thơ cách mạng, cái tôi cá nhân hòa nhập cái tôi x hội, khépã
kín cá nhân, cái tôi tự ý thức về lịch sử x hội, cái tôi mang tính sử thi vàã
Chẳng hạn: Tố Hữu trớc cách mạng trong tập "Từ ấy" đ xác định:ã
"Tôi đ là con của vạn nhàã
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm cù bất cù bơ"
Hay Chế Lan Viên trớc cách mạng:
"Đờng về thu trớc xa xăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi"
Nhng sau cách mạng Chế Lan Viên lại viết:
"Phá cô đơn ta hòa hợp với ngời"
Trong bối cảnh ấy, cái tôi cá nhân thật là nhỏ bé, yếu đuối, vônghĩa nếu nh không theo sát đời sống của dân tộc
Trang 17Đọc thơ trữ tình cách mạng trớc 1945 hay từ 1945 - 1975 ta thấy cómột hiện tợng rất thú vị là cái tôi trong thơ dù cá thể đến đâu thì vẫnluôn luôn thuộc về cái tôi chung chung.
Chẳng hạn trong bài: "Nhớ con sông quê hơng" của Tế Hanh:
"Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắcHai tiếng quê hơng, hai tiếng miền Nam"
Hay trong bài: "Bóng cây khơnia" (Ngọc Anh) nó thể hiện tình cảmcủa nhân dân Tây Nguyên, mà rộng hơn nữa là tình cảm của nhân dânmiền Nam đối với miền Bắc Chất liệu thơ đợc cấu trúc bởi vẻ đẹp lý tởngchủ nghĩa x hội và độc lập dân tộc, nhân vật xuất hiện trong vai chínhã
trị nh "Em giao liên", "Mẹ chiến sĩ", "Anh bộ đội" Trong con ngời có sựkết hợp hài hòa giữa hiện thực - lý tởng; riêng - chung; bình thờng - vĩ
đại; cảm xúc - lý trí; trữ tình - anh hùng ca T thế tối u nhất là đứngtrong hàng ngũ dân tộc, cách mạng, cảm hứng lớn về dân tộc và thời đạibao trùm với tình cảm lớn lao bộc lộ qua những suy t về các chủ đề lớn,các hình tợng đẹp, kỳ vĩ, thể hiện bằng âm điệu hùng tráng, du dơng
Hình tợng thơ đầy những hơi thở của cuộc đời thực với một vẻ đẹpthẩm mỹ mới: "Đầu súng trăng treo" (Chính Hữu) giọng vừa hiện thựcvừa l ng mạn.ã
Nhà thơ giữ trọng trách là ngời phát ngôn t tởng lớn của thời đại,con ngời sống với t thế điềm tĩnh, khoẻ khoắn, dứt khoát không giantrữ tình đợc mở rộng từ không gian hẹp (Đời t) vơn tới hòa nhập vớikhông gian rộng (Sử thi), con đờng nhận ra chiến trận, cách mạng Thờigian đợc thể hiện bởi ba chiều: thời gian lịch sử biến thiên không ngừng,hớng tới tơng lai là t thế trữ tình phổ biến (Hết giặc Tây gia đình sumhọp, Nam Bắc thống nhất )
Khi cách mạng thành công, đất nớc đợc lập lại hòa bình thì ý thứctrữ tình trong thơ cũng có sự chuyển mình, do sự thay đổi của cái tôi trữtình, cái tôi sử thi dần dần mờ nhạt, nhờng chỗ cho cái tôi trữ tình thế sự
và đời t, cái tôi công dân không bộc lộ rõ bằng cái tôi cá nhân Sự trở vềvới đời sống đích thực của cái tôi trữ tình thông qua các chủ đề muônthuở, trong sự hòa nhập với cuộc sống bề bộn phức tạp, làm cho thơ dùcha có những thành tựu rực rỡ nhng phần nào mang lại đợc những diệnmạo, khát vọng của thời đại đáp ứng đợc yêu cầu thị hiếu của thẩm mỹ
IiI Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ.
1 Khái niệm chung về sự vận động.
1.1 Cái tôi trữ tình với t cách là một hiện tợng nghệ thuật cho nênkhông phải là một cái gì đó ổn định bất biến mà là thấy nó cũng có đờisống riêng của nó Tức là nó có sự manh nha sinh thành, phát triển, kếtthúc và chuyển hóa nó sang dạng thức khác Ta thấy toàn bộ sự vận
động biến chứng này là sự phát triển của thể loại: tức là do sự tích luỹtìm tòi thờng xuyên mà tạo nên sự vận động
Trang 181.2 Sự vận động của cái tôi trữ tình nó diễn ra theo hai chiều: sự
đối lập và sự thống nhất với nhau
Một mặt nó có xu hớng củng cố một bản chất thuần nhất, nghĩa làtìm đến hình thái tối u hiệu quả Do vậy trong mỗi giai đoạn thơ ngời tathờng tạo ra một dạng thức tiêu biểu, tài tình nhất, tạo nên diện mạo thơcủa thời đại
Mặt khác thì cũng trong sự vận động này, mỗi kiểu cái tôi trữ tìnhlại có sự phân tán, cố gắng tìm đến sự đa dạng phong phú của các phongcách
1.3 Vậy sự vận động của cái tôi trữ tình đợc hiểu nh một sự biến
đổi thuộc quy luật nội tại của thể loại nhìn trong sự vận động này Nó cónghĩa là sự tiến hóa làm giàu, góp thêm khả năng cho thể loại Thế nhngkhái niệm sự vận động cũng không hoàn toàn thống nhất với khái niệm
2 Những nhân tố tạo nên sự vận động của cái tôi trữ tình.
Cái tôi trữ tình cũng là sản phẩm của thời đại cho nên nó chịu sựtác động của các nhân tố sau:
2.1 Hiện thực đời sống cùng với những vấn đề chính trị x hội làã
nguồn tác động khác quan và mạnh mẽ nhất
Đây là nhân tố nó tác động rõ nhất đến sự vận động của nền vănhọc nói chung và thơ trữ tình nói riêng
Chẳng hạn: hoàn cảnh x hội Việt Nam 1930 - 1945 phải chìmã
đắm trong những đêm trờng nô lệ và xiêng xích của bọn xâm lợc; hoặc làtrong giai đoạn này có sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó chính
là những tác động đến quá trình sáng tác của các tác giả
sự đồng điệu của tâm hồn, nghĩa là nhằm đến một công chúng
Mặt khác dù nhà thơ có ý thức rõ ràng hay không thì khi sáng tácthơ họ luôn luôn tồn tại một nguyện vọng đến đợc với ngời khác Hơn nữatiếp nhận trữ tình là một hoạt động sống trớc khi đến với ngời đọc phổquát vĩnh cửu thì thứ trớc hết là bức thông điệp cho những ngời cùngthời, ngời đọc tiếp nhận luôn là những con ngời cụ thể, họ có nhu cầu tâm
Trang 19lý, trình độ tiếp nhận và thị hiếu thẩm mỹ nhất định gắn với đời sốngcủa x hội.ã
Đồng thời ta cũng thấy rằng nhà thơ có thể tạo ra công chúng bạn
đọc, nhng có một thực tế còn lớn hơn nữa trong quan hệ sáng tác và tiếpnhận đó là công chúng tạo ra nhà thơ của họ
2.3 Sự trởng thành và phát triển của cái tôi cá nhân nhà thơ
Cái tôi nhà thơ là yếu tố đầu tiên, cốt lõi cái tôi trữ tình Với t cách
là một thi sĩ, nhà thơ sống cuộc sống cá nhân và cuộc sống x hội, nhữngã
quan sát nhận thức và hoài niệm đ bồi đắp liên tục cho nhân cách trữã
tình
Tuy nhiên không phải nhà thơ nào cũng có sự phát triển, trởngthành trong thực nghiệm sáng tác, mà vẫn có nhiều ngời vẫn giữ nguyênhoặc có thể xuống dốc
Có thể nói rằng sự trởng thành của cá nhân nhà thơ nó đóng vaitrò quyết định nhất trong sự phát triển, mở rộng thơ văn của tác giả
2.4 Kinh nghiệm của thể loại
Mỗi kiểu cái tôi trữ tình, mỗi một nhà thơ là sự hội tụ nhng kinhnghiệm thể loại của một nền thơ dân tộc Trong quá trình phát triển đềutích lũy đợc kinh nghiệm về phơng thức khai thác thơ trong đời sống, cácbiện pháp thể hiện sự vận dụng các thể loai (lục bát, song thất lục bát )lối deo vần các biện pháp tu từ Đó chính là vốn quý báu để thực hiệnchức năng nghệ thuật
Sự xuất hiện cái tôi trữ tình kiểu mới nh một hiện tợng trong bớcngoặt của lịch sử thơ ca thì nó cũng không phải sinh thành từ mộtkhoảng đất trống, nó phải có mối quan hệ vừa kế thừa vừa phủ định cáitôi trữ tình ở giai đoạn trớc đó Chẳng hạn: Cái tôi trữ tình l ng mạn củaã
nhà thơ đối lập và "phá phách" triệt để lối thơ cũ, nhng không phải hòngiai với truyền thống
Chơng II
Trang 20Cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh trớc
cách mạng tháng 8/1945 - 1975
I/ Vị trí văn học sử của Tế Hanh trong tiến trình văn học
Việt Nam hiện đại.
Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20 tháng 6 năm
1921 Quê ở thôn Đôn Yên, x Bình Dã ơng, huyện Bình Sơn, tỉnhQuảng Ng i.ã
Thuở nhỏ học trờng làng, rồi trờng huyện Năm 1936 đậu tiểu học,
ra Huế học trờng trung học (Trờng Quốc học) Năm 1943 đậu tú tài triếthọc Sinh ra trong một gia đình nhà nho, ông yêu thơ văn từ nhỏ Năm
1935 gặp và yêu thơ mới Khi ra Huế đợc tiếp xúc rộng r i hơn với cácã
bạn trong phong trào thơ mới nh Huy Cận, Xuân Diệu và đọc thơ thếgiới (nhất là thơ Pháp) lúc đó ông bắt đầu làm thơ Năm 1939 khi họcnăm thứ ba trờng trung học, ông đ viết tập thơ đầu tiên lấy tên làã
nghẹn ngào Năm 1940 tập thơ đó đợc giải thởng thơ của TLV Đoàn.Một số bài thơ viết trong năm 1940, 1941 cùng với những bài trong tậpnghẹn ngào tạo thành tập "Hoa niên" in năm 1945 Trong thời gian
1942, 1943, 1944 ông chuẩn bị viết một tập thơ khác với một cảm xúckhác Định cho ra đời với tên gọi là "Những số kiếp", thế nhng nhữngbài thơ này phần lớn chữ in, chỉ đóng rải rác trên các báo ở Hà Nội vàSài Gòn Gần đây tìm lại đợc bản thảo, ông lấy tên là "Tập thơ tìm lại"
Năm 1943 sau khi đậu tú tài, ông ra Hà Nội vào học trờng luật,nhng rồi bỏ về Huế đi dạy học ở trờng t thúc cùng các ông Hoài Thanh,Nguyễn Văn Bổng
Tháng 8/1945 ông tham gia khởi nghĩa ở Huế và bắt đầu sinh hoạt
ở tổ chức văn hóa cứu quốc do Tố Hữu l nh đạo ở đó ông gặp thêm cácã
nhà thơ Chế Lan Viên, Lu Trọng L đầu năm 1946 ông vào Đà Nẵngtham gia UBND thành phố, làm uỷ viên giáo dục và trong ban phụ tráchvăn hóa cứu quốc thành phố Đà Nẵng
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19 - 12- 1946 ông tham gia bantuyên truyền mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng Năm 1947 ông tham giaphụ trách trờng trung học bình dân miền Nam trung bộ do Phạm Văn
Đồng lúc đó làm đại diện Đảng và Chính phủ thành lập và hớng dẫn
Ngày 01/11/1947, ông đợc kết nạp vào Đảng, năm 1948 ông thamgia ban l nh đạo liên đoàn văn hóa kháng chiến miền Nam trung bộ vàã
đến năm 1949 tham gia thành lập và l nh đạo Hội văn nghệ liên khu V.ã
Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp ông đ đi nhiều nơi ởã
liên khu V, vào cả cùng bị chiếm cực Nam trung bộ tham gia phụ tráchtạp chí miền Nam và Báo Văn nghệ liên khu V Thời gian này ông cho inhai tập thơ "Hoa mùa thi" (1948) và "Nhân dân một lòng" (1953)
Sau hiệp định giơ - ne - vơ 1954, ông tập kết ra Bắc và công tác ởHội Văn nghệ Trung ơng Từ năm 1957, khi thành lập Hội nhà văn ViệtNam, cũng ở trong ban l nh đạo hội.ã
Trang 21Từ năm 1963, ông là uỷ viên thờng vụ Hội Nhà văn Việt Nam và
uỷ viên thờng vụ Hội liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam
Ông lần lợt ở trong các ban phụ trách Báo Văn nghệ, tạp chí tácphẩm mới và nhà xuất bản văn học
Từ năm 1968 đến 1978 ông là Trởng ban Đối ngoại Hội Nhà vănViệt Nam
Sau đại hội nhà văn lần thứ 3 (1983), ông là uỷ viên chấp hànhhội, làm chủ tịch hội đồng dịch văn hội và từ năm 1986 là chủ tịch hội
đồng thơ của hội nhà văn Việt Nam và là uỷ viên uỷ ban TW liên hiệpvăn học
Do có tiếp xúc với tác phẩm và các nhà văn nớc ngoài, ông đ đóngã
góp vào việc giới thiệu ch Việt Nam ra nớc ngoài và văn học thế giới vàoViệt Nam
Vì đ có nhiều đóng góp và cống hiến cho nền văn học, do vậy Tếã
Hanh đ đã ợc tặng thởng nhiều huân chơng va huy chơng trong nớc vànớc ngoài
Tế Hanh là một trong những nhà thơ lớn trong những nhà thơ củanền văn hoc Việt Nam hiện đại Là ngời đơc vinh hạnh sống qua tuổithất thập cổ lai hy Ông là một nhà thơ đến cuối đời vẫn sáng ngời lênmột cách kỳ lạ bỡi những tứ thơ, những bài thơ sâu sắc, nó đ in đâm vàoã
tâm khảm ta những sauy t không dứt
Tế Hanh- nhà thơ của quê hơng, ông đ góp thêm vào thi ca hiệnã
đại một tiếng nói riêng hết sức trữ tình, đằm thắm của một thi nhân yêutha thiết cuôc sống và chế độ
Trong cuôc đời cầm bút Tế Hanh luôn luôn ý thức trau dồi ý thơcủa mình Do vậy mà đến cuối đời thơ ông vẫn con đợc tìm lọc và đợc coi
là ngời bạn lớn cho tình yêu của mọi lứa đôi
Về phơng diện nghệ thuật, lao động nhà văn thì ông đ dồn hết sứcã
mình bằng sự say mê sáng tạo để đem lại cho nền thơ ca hiện đại cả mộtbầu trời thi ca đầy ý nghĩa Hơn nữa, bởi vì ông lao động nghệ thuật bền
bỉ, dẻo dai nên thơ ông mang một phong cách độc đáo, một dấu ấn riêng
Tế Hanh là nhà thơ giàu cảm xúc, với ông cảm xúc là cái gốc, là cốt lõicủa thơ
Qua đó ta thấy Tế Hanh giữ vai trò hết sức quan trọng trong nềnvăn học Việt Nam nói chung và của thơ ca nói riêng Đ mang đến choã
nền thi ca một khối lợng tác phẩm khá lớn, đồ sộ Nó cứ ngân vang m iã
m i ngàn đời sau mà không lúc nào gây nhàm chán trong lòng độc giảã
Trang 22chóng làm rạng danh nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói riêng và của cảnền văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
Thơ hiện đại lấy mốc khởi đầu từ thơ mới, đây cũng chính là thời
điểm Đảng ta vừa mới ra đời tròn 2 tuổi Đảng ra đời nó đ tạo ra một bã
-ớc ngoặt lớn trong lịch sử văn học Đồng thời nó còn tác động đến nhiềutrào lu văn học nh: văn học l ng mạn; văn học hiện thực; văn học cáchã
mạng
Do cái tôi trữ tình là sản phẩm của thời đại, lịch sử mà lịch sử nóluôn luôn vận động, biến đổi, do đó cái tôi trữ tình cũng phải vận động vàbiến đổi theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử - nó đòi hỏi sự ra đời củamột cái tôi trữ tình kiểu mới trong thơ Phong trào thơ mới nó đ sảnã
sinh ra biết bao nhiêu thiên tài nổi tiếng nh Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Tế Hanh Sự nở rộ những tài hoa này đ góp phần hòa chung với các tàiã
năng sau này, tạo nên cho thơ mới hoàn chỉnh về nội dung lẫn hình thức
Tế Hanh là nhà thơ của phong trào thơ mới, trong suốt 50 nămsáng tạo với rất nhiều tập thơ, Tế Hanh đ thể hiện cuộc hành trình củaã
cái tôi trữ tình khá trung thực Cái tôi này nó đợc biểu hiện và có sự vận
động khác nhau qua hai giai đoạn đó là trớc cách mạng và sau cáchmạng
Cái tôi trớc cách mạng là một cái tôi vừa cảm thông và yêu mếnchân thành, nhà thơ tìm về và neo lòng mình trong đời thực, nơi làng quêgốc rỗ của mình, ông yêu làng quê và ông khao khát đợc sống gắn bó,chan hòa với những con ngời của quê hơng mình Đây chính là biểu hiệncủa cái tôi trữ tình hiện thực Nhng bên cạnh sự cảm thông, đằm thắmgắn bó với hiện thực đó thì ở giai đoạn từ 1942 đến 1944 đ xuất hiệnã
một cái tôi hết sức khác lạ, đó là sự xuất hiện một nỗi buồn nặng nề, cóphần bế tắc trớc cuộc đời dâu bể - một cái tôi nhà thơ nhỏ nhen, đơn côi,cái tôi ấy đ chi phối và phủ một sắc màu buồn đau, bi quan trong thơ Tếã
Hanh ở đây nó biểu hiện của một cái tôi trữ tình l ng mạn.ã
Nhng rồi một điều rất đáng mừng là khác với các nhà thơ khác, khi
Tế Hanh vừa chớm vào những suy nghĩ có tính bi quan, bế tắc, h vô, siêuhình ấy thì cách mạng tháng 8 bùng nổ, kịp tạo cho ông những chuyểnbiến sâu sắc, cơ bản trong thế giới cái tôi của mình Do vậy mà sau cáchmạng - cái tôi công dân nhà thơ đợc biểu hiện trực tiếp thông qua phẩmchất cái tôi hành động chủ thể nhà thơ hầu nh không xuất hiện trongtrạng thái tĩnh, trầm t mà là nh một con ngời trong cuộc đang trực tiếptham gia vào hoạt động kháng chiến, cái tôi hành động lúc này là cái tôicảm quan hiện thực mới
Cái tôi trữ tình này nó đ đem đến một tính cách mới lạ và khácã
biệt trong thơ Tế Hanh so với các nhà thơ cùng thời Đặc biệt là ta sẽthấy đợc sự chuyển biến một cách rõ rệt về sự phát triển của cái tôi trữtình ở Tế Hanh trong những giai đoạn cụ thể
1 Cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh trớc cách mạng tháng 8/1945
Trang 231.1 ảnh hởng của thời đại đối với việc hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh trớc cách mạng
Trong khoảng thời gian này, x hội Việt Nam chìm đắm trongã
"đêm trờng nô lệ" Nào là phải chịu sự áp bức bóc lột của kẻ thù xâm lợc,rồi nạn đói khủng khiếp đ hoành hành khiến cho nhân dân ta vô cùngã
khổ cực và tối tăm Trớc hiện thực đó đ đẩy con ngã ời đến những phảnứng tiêu cực, bất m n với x hội và thời cuộc Trong số đó, có một số nhàã ã
thơ nh Lu Trọng L, Tế Hanh, Huy Cận Tế Hanh lúc đầu cũng tạo ra
đ-ợc một hồn thơ rất gần gũi với đời sống hiện thực nhng sau đó do chịu
ảnh hởng của x hội nên thơ ông có một số mặt tiêu cực.ã
1.2 Cái tôi lãng mạn trong thơ mới.
Trớc cách mạng tháng 8/1945, trong thơ mới đ thực sự xuất hiệnã
một cái tôi cá nhân, vừa là đối tợng phản ánh của nghệ thuật, vừa là chủthể sáng tạo nghệ thuật Hầu hết các nhà thơ đều đề cao cái tôi và coi đó
là điểm hội tụ, cũng có thể là điểm sáng trong thế giới tinh thần của conngời
Cùng với sự xuất hiện một thế hệ nhà thơ, đ xuất hiện một hệã
thống các quan điểm thẩm mỹ mới Cái tôi mang nhiều màu sắc đ làmã
nên "một thời đại trong thơ ca" - thời đại chữ tôi với cái nghĩa trọn vẹn vàtuyệt đối của nó Trong "thi nhân Việt Nam" Hoài Thanh và Hoài Chân
đ rất tinh tế trong cùng một lúc, một mặt ông thấy đã ợc ý nghĩa của sựhội tụ những cái tôi để tạo thành một thời đại mới của thi ca và mặt khác
đ thấy đã ợc những sắc thái riêng của từng cái tôi - cái tạo nên phongcách và dấu ấn riêng độc đáo của từng nhà thơ trong thời đại ấy "Đờichúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhngcàng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lu trongtrờng tình cũng Lu Trọng L, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhng động tiên đ khép, tình yêuã
không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẫn ngơ buồn trở
về hồn ta cùng Huy Cận" Trong thế giới phong phú những cái tôi ấy củaphong trào thơ mới, đ có một cái tôi Tế Hanh.ã
1.3 Cái tôi trữ tình trong thơ Tế Hanh giai đoạn trớc cách mạng tháng 8/1945.
Tế Hanh là bông hoa nở muộn trên thi đàn lúc này thơ ca nh mộtngày hội đang vào lúc sắp tàn cuộc Những cảm hứng lạ và các loại sắcmàu trong thơ đợc đem phô bày, Bích Khê, Vũ Hoàng Chơng, Đinh Hùng
đang đa ngời đọc vào thế giới của những say mê, mộng tởng Cái tôi nhàthơ lúc này không còn gìn giữ, e ấp mà bộc lộ hết cá tính, góc cạnh thựctoan Mỗi nhà thơ là một thế giới riêng với bao vui buồn, đau thơng, giữathế cuộc đang sôi lên trong cơn khủng hoảng tuyệt vọng Thơ Tế Hanhvới khuôn mặt học trò rất dễ thơng đ đến với mọi ngã ời:
"Tôi d một ít lời thơ
Tôi d thơng sớm, sẵn ngơ ngẫn chiều "
Trang 24Mạch khởi thủy và nó cứ chảy m i suối đời thơ Tế Hanh là mạchã
thơ khỏe khoắn, hồn hậu của đời sống hiện thực Sở dĩ ông có đợc điều ấy
là nhờ những cảm xúc tự nhiên của tâm hồn, nhờ cách nhìn nhận cuộc
đời một cách trong trẻo, đằm thắm với lối viết giản dị của nhà thơ
Lúc này ngời đọc cũng đ chán với những món ăn tinh thần quáã
cầu kỳ xa lạ nên lại mở lòng đón nhận những cảm xúc chân tình bé nhỏ
dễ thơng của Tế Hanh Do vậy mà qua thơ Tế Hanh giai đoạn đầu tathấy xuất hiện một cái tôi cảm thông, yêu mến chân tình Tác giả tìm vềneo lòng mình trong đời sống thực tại, nơi làng quê gốc rễ của mình, ôngyêu cái làng quê chài lới
"Làng tôi muốn làm nghề chài lớiNớc bao vây cách biển nửa ngày sông"
Hay là: "Cánh buồm giơng to mảnh hồn làng"
Nhà thơ đến với thành thị từ một tấm lòng quê hơng, tuổi trẻ trongtình cảm hồn nhiên của mình đ cảm nhận vẽ đẹp và sức mạnh của mộtã
vùng quê mặn mòi gió biển và có sự rắn rỏi vững vàng của con ngời Ôngrất thơng yêu những ngời quê hơng tần tảo, lam lũ, và ông đ miêu tảã
ngời dân quê vừa chân chất, vừa chứa chan thi vị:
"Dân chài lới làn da ngăm rám nắngCả thân hình nống thở vị xa xăm"
Tế Hanh đ san sẽ lòng mình cùng những cảnh đời với muôn nỗiã
ấm lạnh, ông khao khát đợc sống, gắn bó chan hòa:
"Tôi sống miên man tránh tẻ buồnMiệt mài, hể hả, đắm say luônTôi thâu tê tái trong da thịtHơng tất, hơng đồng chẳng ngớt tuôn"
(Lời con đờng quê)
Và dẫu có buồn thì chỉ là một nét buồn thanh sạch đầy trang trảinhớ thơng, tình thơng ấy nh mở rộng đến cả những mối liên hệ xa xôi.Nhà ga, con tàu và những chuyến đi xa luôn gợi lên ở Tế Hanh nỗi buồn.Khi nỗi buồn đ tụ lại ở trong lòng thì dễ tìm thấy đây đó nỗi buồn trongã
tình, trong cảnh và trong cả những tởng tợng của riêng mình:
"Tôi thấy, tôi thơng những con tàuNgàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vơng víu trong hơi máyMấy chiếc toa tàu nặng khổ đau"
(Những ngày nghỉ học)
Trang 25Có thể nói rằng trong sự không thuần nhất của thơ Tế Hanh trớccách mạng, đây là những mạch thơ trong làng, biểu hiện một phần cái tôicủa nhà thơ ở buổi khởi nguyên thuở "Hoa niên" Nhng khi bớc vàonhững năm 1940 của thế kỷ 20, x hội Việt Nam chìm ngập trong đenã
tối, chiến tranh thế giới thứ 2, cuộc sống đi vào bế tắc khoác lên màu tàntạ, nhiều ngời bơ vơ, chán chờng vô phơng hớng, hiện thực ấy dễ dàng
đẩy con ngời đến những phản ứng tiêu cực và phần đa là họ tìm đến con
đờng thoát ly, quay lng với thực tại Các nhà thơ l ng mạn lúc ấy cũngã
nh sau này nhà thơ Chế Lan Viên có dịp nhìn lại, đang ở lứa tuổi 20
nh-ng họ "đ già đi vì manh-ng một gia tài đồ sộ của hành-ng triệu nỗi buồn Nếuã
chỉ là nỗi buồn của ngời dân mất nớc, nh trong thơ Chế Lan Viên đ từngã
đề cập thì còn khả dĩ, nếu chỉ là nỗi buồn riêng cuộc sống hẩm hiu của tôithôi thì cũng đợc thôi, nhng đây lại là nghìn triệu tiếng khóc, cơn matiếng gió vi vu đến từ bất kỳ đâu, có khi tôi vay mợn giả mà lại cứ buồnthực" Có thể nói cả một đội ngũ nhà thơ khi ấy nh: Xuân Diệu, Huy Cận,
Lu Trọng L, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh đều ở khá xa cách mạng, với
họ bây giờ chỉ xoay quanh hai vấn đề "một đằng xoay quanh động từ có,một đằng thì khóc quanh cái hiện hữu mà thôi Nhng rồi rốt cục cả hai
động lực ấy chỉ xoay quanh lấy bản thân mình, cái trục duy nhất của cảhai đều xoay quanh là cá nhân chủ nghĩa, là cái rốn đ sinh ra mọi hệã
thống "cực lớn" và "cực bé" của các nhà thơ và triết học hồi ấy" Tế Hanhcũng chịu chung tình cảnh đó, cũng loay hoay tìm đờng nhng vẫn không
có lối thoát, những làng quê tiêu điều, con ngời đau thơng tàn lụi bây giờtất cả đều để lại trong lòng nhà thơ ấn tợng nặng nề, làng quê trongnhững năm tháng này không còn là những biểu tợng của vẻ đẹp tĩnh
đồng quê với cây đa, giếng nớc, tiếng hát đêm trăng, hay cây nến và pháotràng vào xuân Mà tất cả đều xơ xác trớc những thảm hại của chế độthống trị và trong cơn sốt của những năm tháng đại chiến thế giới 2, vẻ
đẹp hôm qua đ trở thành niềm khắc khoải nhớ thã ơng:
"Làng ấy buồn rũ bóng xuống sông imHồn thơng nhớ đắm chìm trong dĩ v ng"ã
Hình ảnh của một làng quê lao động đợc thi vị hóa với cặp mắt yêu
đời: "Tiếng chim ca náo nức với bình minh
Ngời thôn nữ thấy hồn nh lụa mớtTay đa thoi ngồi dệt niềm mơ ớc
Đời thanh bình mây gió dục yêu đơng
Đêm tâm sự vào dây chỉ mộng"
(Một làng thơng nhớ)Hình ảnh đẹp đó đ trở thành quá khứ, hiện tại làng quê chìmã
đắm trong nỗi buồn của cảnh nghèo đói khó khăn Cuộc sống hao mòndần:
"Chiếc khung cửi nằm im chờ nhện đóngPhận con tằm lở dỡ nghĩ mà thơng