1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ đoàn thị lam luyến luận văn thạc sỹ ngữ văn

107 1,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến
Tác giả Lê Phương Thủy
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 609,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chị kiêu hãnh châm khói vào tình yêu, châm khói vào cuộc Tác giả Vũ Nho trong bài viết Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ đã viết: Hơn một trăm bài thơ tình rút từ bốn tập thơ đã in cũng

Trang 1

L£ PH¦¥NG ThïY

C¸I T«I TR÷ T×NH TRONG TH¥ §OµN THÞ LAM LUYÕN

LuËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Vinh - 2011

Trang 2

-L£ PH¦¥NG ThïY

C¸I T«I TR÷ T×NH TRONG TH¥ §OµN THÞ LAM LUYÕN

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, cá nhân.

Đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, cán

bộ trường Đại học Vinh, Khoa Ngữ Văn, Khoa sau Đại học đã giảng dạy giúp tôi hoàn thành tốt khóa học và cho tôi những lời khuyên bổ ích.

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Hoàng Mạnh Hùng, nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã tận tình hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên

và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.

Vinh, tháng 12 năm 2011

Học viên

Lê Phương Thùy

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1: THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 8

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội sau 1975 8

1.2 Sự đổi mới của văn học sau 1975 9

1.2.1 Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật 9

1.2.2 Sự đổi mới của thơ 10

1.3 Gương mặt thơ nữ sau 1975 13

1.4 Đoàn Thị lam Luyến - cuộc đời, con người và thơ 14

1.4.1 Cuộc đời, con người của nữ sĩ họ Đoàn 14

1.4.2 Đoàn Thị Lam Luyến và thơ 18

1.4.3 Đoàn Thị Lam Luyến và các chặng đường thơ 20

CHƯƠNG 2: CÁC SẮC THÁI THẨM MỸ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN 33

2.1 Cái tôi và cái tôi trữ tình 33

2.1.1 Khái niệm cái tôi 33

2.1.2 Cái tôi trữ tình 34

2.1.3 Mối quan hệ giữa cái tôi tác giả và cái tôi trữ tình trong thơ 35

2.1.4 Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam hiện đại 36

2.1.5 Cảm nhận chung về cái tôi trữ tình trong thơ Lam Luyến 41

Trang 5

2.2.3 Cái tôi trăn trở trước cuộc đời 56

2.2.4 Cái tôi dám cháy hết mình cho thơ 61

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN 66

3.1 Ngôn ngữ thơ 66

3.1.1 Khái niệm về ngôn ngữ thơ 66

3.1.2 Ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến 67

3.2 Các biện pháp tu từ nghệ thuật trong thơ Lam Luyến 73

3.2.1 Biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập 73

3.2.2 Biện pháp nghệ thuật ngoa dụ 76

3.2.3 Biện pháp nghệ thuật so sánh 77

3.3 Giọng điệu 79

3.3.1 Khái niệm về giọng điệu 79

3.3.2 Giọng điệu thơ Lam Luyến 79

3.4 Thể thơ 82

3.4.1 Thơ tự do 82

3.4.2 Thơ lục bát 88

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Nxb: Nhà xuất bản

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Gồm thứ tự tài liệu trong thư mục

Tài liệu tham khảo và số thứ tự trang chứa trích dẫn Ví dụ: kí hiệu [10,45] tức là số thứ tự của tài liệu trong thư mục Tài liệu tham khảo là

10, nhận định được trích dẫn nằm ở trang 45 của tài liệu này Còn kí hiệu

[20] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong thư mục Tài liệu tham khảo.

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sáng tác thơ ca là nhu cầu tự biểu hiện của tác giả khi nguồn cảm

xúc dâng trào Vì thế, cái tôi trữ tình là sự biểu hiện của cái tôi tác giả trướccuộc đời Nhà nghiên cứu văn học Lê Lưu Oanh, trong công trình nghiên

cứu Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990 đã quan niệm: "Chủ quan là đặc

trưng nội dung của thơ trữ tình, và cái tôi trữ tình là cái biểu hiện tập trungnhất của bản chất chủ quan đó" [47, 50]

Có thể nói, cái tôi trữ tình là sợi chỉ đỏ xuyên suốt liên kết và thốngnhất mọi yếu tố trữ tình bao gồm cả đề tài, cảm hứng, hình ảnh, ngôn ngữ,giọng điệu, cấu tứ, lời thơ Chính vì thế, tìm hiểu cái tôi trữ tình là tìm hiểuthơ trữ tình nói chung và tìm ra cái tôi trữ tình tạo nên phong cách cho mỗitác giả nói riêng

1.2 Sau 1975, Đoàn Thị Lam Luyến cùng các nhà thơ nữ như Xuân

Quỳnh, Lê Thị Mây, Dư Thị Hoàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị Ngọc Liên,Nguyễn Thị Hồng Ngát, Giáng Vân đã có đóng góp lớn cho nền thơ ViệtNam hiện đại Họ đã đem vào thơ, những nỗi niềm tâm sự của người phụ nữtrước vòng quay của cuộc đời Đoàn Thị Lam Luyến là một trong những câybút đã tạo được dấu ấn cái tôi trong lòng độc giả Mỗi bài thơ, mỗi vần thơcủa chị là kết quả của sự trải nghiệm suy tư trước cuộc đời Chị dám đánhđổi, hy sinh nhan sắc của mình để tô hồng nhan sắc cho thơ

Chị lao động nghệ thuật miệt mài và đã gặt hái được mùa vàng bội thutrên cánh đồng chữ Cho đến hôm nay, gia tài thơ của chị đã có khoảng 500bài, với mười tập thơ đã được xuất bản Đền đáp cho nỗ lực cháy hết mìnhtrong thơ chị, là sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả và các giải thưởng chocông lao sáng tạo nghệ thuật Chị đã nhận được giải thưởng thơ các em viết

do báo Thiếu niên (1966 -1967), Giải thưởng cuộc thi thơ do báo văn nghệ

Trang 8

tổ chức (1989 - 1990), Giải thưởng thơ viết cho thiếu nhi do nhà xuất bản

Kim Đồng tổ chức( 1993) cho tập thơ Cánh cửa nhớ bà,Tặng thưởng thơ của hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ Châm khói năm 1995, Giải thưởng

thơ của Uỷ ban toàn quốc các hội Văn học Nghệ thuật năm 2000 cho tập thơ

Dại yêu; Giải thưởng thơ Hội nhà văn Hà Nội cho tập Sao dẫn lối năm

2003 Với những thành tựu đã đạt được, thơ Đoàn Thị Lam Luyến xứngđáng trở thành đối tượng nghiên cứu của một đề tài khoa học

1.3 Đoàn Thị Lam Luyến đã đem đến vườn thơ một cái tôi trữ tình rất

riêng Thế nhưng, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào tậptrung đi sâu vào nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ chị Vì thế, chúng tôi

chọn Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến làm đối tượng nghiên

cứu của mình

Nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến, chúng tôimuốn khai thác các sắc thái thẩm mĩ của cái tôi trữ tình trong thơ chị cùngvới các phương thức biểu hiện của nó Với hy vọng đề tài này sẽ góp phầnnhận diện rõ thơ và phong cách thơ của Đoàn Thị Lam Luyến, và mong rằng

nó sẽ giúp ích cho việc học tập và giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại ở nhàtrường phổ thông

Trang 9

Xét về một số phương diện nội dung và nghệ thuật thơ Đoàn Thị LamLuyến khá đặc sắc Số phận đắng cay đã in dấu trên từng trang thơ của chị.Chị là người dám sống thật với chính lòng mình, dám hy sinh nhan sắc củamình cho thơ, tạo cho thơ gương mặt không lẫn vào đâu được Vũ Ngọc

Tiến nhận xét về thơ chị: "Thơ hay như người đàn bà có duyên lạ, kín đáo

ẩn mình giữa đám đông mà vẫn làm nên cú sét ái tình cho kẻ si mê Trong những nhà thơ nữ ở Việt Nam xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XX chị đứng riêng ra tạo lập một phong cách không lẫn với ai" và "Chị là người đàn bà yêu thơ không chịu bỏ cuộc" [49], dù cuộc đời chị trải qua những thăng trầm nghiệt ngã, "kết tình trên lưng cá voi" [48], không còn mảnh ván thuyền trong tay nhưng chị vẫn "nhen lại lửa lòng" [40] để thắp sáng cho thơ Chị

là "Người đàn bà dại yêu" [48], luôn "Đặt tình yêu trong tương quan đắt" [23], và chị trở thành "Người hiến tế và tạo mẫu" [60] cho thơ "Thơ chị trăn trở sới lật câu chuyện muôn thuở của thân phận đàn bà" [3], "Ít có nhà thơ nữ nào viết về thân phận đàn bà trên tình trường như Đoàn Thị Lam Luyến" [22] Chị kiêu hãnh châm khói vào tình yêu, châm khói vào cuộc

Tác giả Vũ Nho trong bài viết Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ đã

viết: Hơn một trăm bài thơ tình rút từ bốn tập thơ đã in cũng phần nào nóilên sức yêu và sức viết của cây bút nữ Đoàn Thị Lam Luyến “Tình yêu củachị trào dâng từ trái tim khát yêu và được yêu đến cuồng nhiệt” và “Thơ tìnhyêu của Đoàn Thị Lam Luyến trào dâng từ một tình yêu mãnh liệt của một

Trang 10

trái tim cuồng nhiệt hiếm thấy ở những cây bút nữ vốn thiên về ngọt ngào,duyên dáng và dịu dàng, e ấp” [45] Với Lam Luyến, tình yêu vừa là cộinguồn, vừa là động lực sống và sáng tạo, vừa là miền đất hứa để trái tim yêucủa Lam Luyến hướng về Lam Luyến đã yêu là phải yêu hết mình, là phảicuồng nhiệt say mê như chưa từng được yêu Chị đã góp tiếng thơ vào khátvọng yêu và được yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của người phụ nữ.

Trong bài viết Đoàn Thị Lam Luyến – Người đơn phương phát động cuộc chiến tranh tình ái, tác giả Thái Doãn Hiếu viết: "Đoàn Thị Lam luyến

là nhân vật độc đáo nổi loạn tình yêu trong thơ là người đa tình nên nặng

nợ đa đoan Lam Luyến có một cuộc đời lận đận, khát yêu, vồ vập yêu, dạiyêu, xây hạnh phúc như làm nhà trên lưng cá voi Nàng quyết liệt dữ dằnchâm khói tuyên chiến với tình yêu" Đồng thời, ông còn viết: “Một mìnhLam Luyến táo gan phát động một cuộc “chiến tranh tình ái” Chiến tranhkết thúc, chiến bại thường thuộc về nàng Thương tích đầy mình nhưng nàngvẫn lao lên quyết sống mái với tình yêu lần nữa, thêm một lần nữa.” [19]

Ở bài viết: Một cảnh ngộ, một tấm lòng qua tập thơ của Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Hồng Ngát đã cho thấy sự thể hiện tình yêu, con

người của nhà thơ trong tập Châm khói Tác giả viết: “Bên cạnh sự tha thiết,

mê đắm và khao khát về tình yêu, về hạnh phúc của chị được thể hiện quanhững bài thơ nói trên, chị cũng không dấu diếm cả sự ân hận đã trót mộtlần đùa giỡn với số phận của mình” [42]

Với bài viết: Đoàn Thị Lam Luyến – kết tình trên lưng cá voi, Duy

Phi đã viết: “Đoàn Thị Lam Luyến có một tình yêu kỳ lạ, luôn “cuồn cuộnnhư làn sóng lũ”, “rừng rực như đám cháy lớn” Và ông còn nhận định:

“Đoàn Thị Lam Luyến rất tài hoa, nhưng cũng nhiều phen gian nan, lỡ dở.Nàng tự cho số phận nó vậy Tình yêu của nàng là một chuỗi ngày thánglàm nhà – trên – lưng – cá voi” [48]

Trang 11

Những bài viết mà chúng tôi đã nêu ở trên mới chỉ đưa ra được một

số phương diện trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến, chưa có sự bao quát toàn bộcái tôi trữ tình thống nhất trong thơ chị nhưng ý kiến của những người đitrước đã có những gợi ý quý báu giúp chúng tôi định hướng trong quá trìnhthực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chọn Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến làm đối tượng

nghiên cứu chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra một cái nhìn toàn diện và sâu sắcvào thế giới thơ của Đoàn Thị Lam Luyến

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu các sắc thái thẩm mĩ và các phươngdiện nghệ thuật biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị LamLuyến Qua đó, chúng tôi nhận thấy sự thống nhất của cái tôi trữ tình trongthơ chị và phong cách thơ của chị

3.3 Phạm vi khảo sát của đề tài

Để có cái nhìn toàn diện và thống nhất về cái tôi trữ tình trong thơĐoàn Thị Lam Luyến, chúng tôi đã tiến hành khảo sát toàn bộ sáng tác thơcủa chị - với 10 tập thơ đã được xuất bản:

1 Mái nhà dưới bóng cây (Tập thơ in chung) năm 1985

2 Lỡ một thì con gái - năm 1989

3 Cánh của nhớ bà - năm 1990

4 Chồng chị chồng em - năm 1991

5 Châm khói - năm 1995

6 Dại yêu - năm 2000

` 7 Sao dẫn lối - năm 2003

8 Gửi tình yêu - năm 2003

9 Thơ với tuổi thơ - năm 2005

10 Tuyển chọn 36 bài thơ - năm 2010.

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống

Chúng tôi nhận thấy toàn bộ sáng tác thơ của Đoàn Thị Lam Luyến làmột chỉnh thể nghệ thuật mang tính hệ thống, thống nhất Vì thế khi nghiêncứu, chúng tôi đặt nó trong một hệ thống để nghiên cứu

4.2 Phương pháp thống kê phân loại

Phương pháp thống kê, phân loại là phương pháp nhằm tập hợp các ýkiến đánh giá của các tác giả khác về thơ của Đoàn Thị Lam Luyến Đồngthời thống kê số lượng các tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ và phân loại đểthuận lợi trong quá trình nghiên cứu

4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này giúp chúng tôi so sánh thơ Đoàn Thị Lam Luyến vớithơ của các tác giả nữ cùng thời, để từ đó tìm ra được nét khu biệt độc đáocũng như những cách tân trong thơ của chị

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích giúp chúng tôi có thể chia nhỏ vấn đề để đisâu, lý giải, làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu và phương pháp tổng hợp sẽgiúp chúng tôi có cái nhìn bao quát mang tính hệ thống trong quá trìnhnghiên cứu

5 Đóng góp của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu các sắc tháithẩm mĩ và nghệ thuật biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị LamLuyến Hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ ít nhiều góp phầnnhận diện rõ thơ Đoàn Thị Lam Luyến trong cái nhìn tổng thể và toàn diện,đồng thời gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ củacác tác giả khác Mong rằng, luận văn của chúng tôi sẽ giúp ích tích cực choviệc học tập và giảng dạy văn học hiện đại trong nhà trường

Trang 13

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung của luậnvăn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Thơ Đoàn Thị Lam Luyến trong nền thơ Việt Nam hiện đại Chương 2: Các sắc thái thẩm mỹ của cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn

Thị Lam Luyến

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị

Lam Luyến

Trang 14

CHƯƠNG 1 THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN TRONG NỀN THƠ

VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội sau 1975

Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra cho dân tộc ta một trang sửmới, giang sơn thu về một mối, Bắc Nam thống nhất một nhà, cả đất nước

vỡ òa trong niềm vui chiến thắng Bắt đầu một kỉ nguyên mới, kỉ nguyênđộc lập tự do của dân tộc Sau niềm vui chiến thắng, niềm vui đoàn tụ, đượclàm chủ bản thân, làm chủ đất nước, con người trở về với cuộc sống đờithường Bước ra từ chiến tranh, trở về với cuộc sống gia đình con ngườiphải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách do chiến tranh để lại, dothiếu thốn nhếch nhác của cuộc sống đời thường và cả những mệt mỏi hiệnhình dưới nhiều dáng vẻ Đại hội VI (1986), Đảng đã xác định đường lối đổimới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Nội dungquan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới là định hướng vì con người, phát huyyếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất củamọi hoạt động Đại hội VI đã làm diện mạo đất nước thay đổi

Kinh tế chính trị đổi mới, đời sống tinh thần của con người cũng đượcquan tâm nhiều hơn Con người phát huy tối đa quyền làm chủ của mình vàđặc biệt là sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã giúp con người khẳng định đượctài năng cũng như cá tính sáng tạo mới mẻ Một nền văn hóa mới được hìnhthành và kéo theo nó là cả một nền nghề thuật đang trở mình trỗi dậy đểsánh kịp các nền nghệ thuật tiên tiến trên thế giới

Bên cạnh các loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, kiến trúc,

âm nhạc văn học cũng là một loại hình nghệ thuật được quan tâm bởi nó làmón ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống con người

Trang 15

1.2 Sự đổi mới của văn học sau 1975

1.2.1 Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật

Đại thắng mùa xuân năm 1975 cũng đã mở một con đường mới, mộthướng đi mới cho văn học dân tộc Nếu văn học trước 1975 là văn học phục

vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến là văn học của những bản anh hùng cabất tử thì văn học sau 1975 là văn học của những con người trong cuộc sốngđời thường Khi đất nước sạch bóng quân thù, Nam Bắc hai miền thốngnhất, những chàng trai cô gái không còn phải lên đường ra trận thì văn họccũng chuyển dần từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng trữ tình đời tư thế sự.Vẫn có những tác phẩm viết về chiến tranh, vẫn phản ánh về vấn đề chiếnđấu và xây dựng đất nước nhưng không dừng lại ở đó, nó còn phản ánh cảnhững khía cạnh đời sống cá nhân phức tạp, những vấn đề đời tư, đờithường Tư duy nghệ thuật đã chuyển dần từ tư duy sử thi sáng tư duy tiểuthuyết Với tư duy tiểu thuyết mọi vấn đề của cuộc sống đều trở thành đề tàicủa văn học Bên cạnh những tác phẩm biểu dương, ca ngợi những nét đẹpcủa chủ nghĩa anh hùng thì văn học sau 1975 còn phản ánh nhưng mặt tiêucực trong xã hội, những tổn thất nặng nề do chiến tranh đem lại, những đaubuồn, bi kịch của cuộc sống đời tư đời thường, chuyện tình yêu, tình dục

Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật dẫn đến sự đổi mới quan niệm nghệthuật về con người Văn học trước 1975, nhìn nhận con người trong cái nhìncủa sử thi, nếu tốt thì tốt đến hoàn thiện hoàn mĩ, còn đã xấu thì xấu đến vôcùng vô tận Văn học sau 1975 không chấp nhận những nhân vật như thếnữa mà có sự đan xen giữa tốt và xấu, giữa anh hùng và tiểu nhân, giữathiên thần và quỷ sứ

Quan niệm nghệ thuật về con người đã thay đổi, thì bút pháp giọngđiệu cũng phải thay đổi Văn học trước 1975 được viết với giọng văn trangtrọng hào hùng, còn văn học sau 1975 là sự đan xen của nhiều giọng điệu

Trang 16

với nhiều sắc thái khác nhau Và sự thức tỉnh ý thức cá nhân, tinh thần nhânbản là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của văn học sau 1975

Có thể nói mảnh vườn văn học sau 1975 rất nhiều màu sắc, hương vị,dáng vẻ, thậm chí có cả những hiện tượng kỳ dị, lạ lùng Ở giai đoạn này,văn xuôi là mảng có nhiều thành tựu nhất, có nhiều tác phẩm để đời vànhiều nhà văn thành danh như Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Ma VănKháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập,

Tạ Duy Anh, Bảo Ninh

1.2.2 Sự đổi mới của thơ

Trong giai đoạn văn học sau 1975, thơ là khu vực không gây đượcnhiều sự chú ý như văn xuôi nhưng chính thơ và nhiều nhà thơ thuộcnhiều thế hệ đã và đang có nhiều nỗ lực cách tân rất đáng chú ý Ở giaiđoạn này, thơ không hướng nhiều vào khát vọng đổi mới xã hội như vănxuôi mà hướng nhiều vào nhu cầu đổi mới chính nó nhưng không thoát lyyêu cầu đổi mới xã hội Thơ trong giai đoạn này, nhìn chung có diện mạo

đa dạng và vận động khá phức tạp Sự đa dạng và phức tạp ấy được thểhiện ở khuynh hướng phát triển của thơ Không có một khuynh hướngthống nhất, thơ có 3 khuynh hướng phát triển rõ ràng đó là: khuynhhướng sử thi, phi sử thi và cảm hứng thế sự, khuynh hướng trữ tình cánhân và khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa

Thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là thơ của cái tôi trữ tình sử thi,bởi nội dung lịch sử dân tộc là nội dung chính trong giai đoạn này Sau 1975

dư âm sử thi vẫn còn nhưng nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là ngườinhập cuộc, tham gia lịch sử chứ không phải là người ngợi ca lí tưởng bởi họ

đã có ý thức về bản thân và về thế hệ mình Vì thế con người sử thi vẫn lànhững con người bình thường nhưng vĩ đại và hình tượng nhân dân là hìnhtượng đẹp đẽ nhất của thơ ca sử thi

Trang 17

Khi chiến tranh đã lùi vào quá khứ, hào quang chiến thắng bớt rực rỡ

ồn ào thì dòng thơ ca sử thi cũng bớt đi cái khí thế anh hùng cao cả Thơ tìmđến với những màu sắc, bình diện mới thâm trầm hơn, sâu lắng hơn, đathanh hơn Biểu hiện cụ thể ở hình tượng người lính, họ chia tay với sứmệnh lịch sử lớn lao của dân tộc trở về với cuộc sống đời thường với nhiềubộn bề phức tạp, với những lo toan cho cuộc sống Từ đó cho thấy, nhữngvấn đề sử thi đã nhuốm màu sắc thế sự, và có thể nói cảm hứng đời tư thế sựmới là cảm hứng chủ đạo của thơ trong giai đoạn này

Trong giai đoạn này, cảm hứng thế sự trỗi dậy mạnh mẽ, các nhà thơ

đã nhận ra mình với cái tôi mới, ý thức mới trước xã hội Cuộc sống thờihậu chiến, thời buổi kinh tế thị trường, buộc con người phải nhìn nhận, lígiải, phân tích sâu hơn, đa chiều hơn về thực tế đời sống Vì thế họ phảinhìn thẳng vào sự thật, và có ý thức phản tỉnh về đời sống như là một tấtyếu Và cũng chính từ đó những bài thơ mang cảm hứng thế sự đã ra đời

Sự đổi mới của thơ sau 1975 có thể nhận thấy rõ nhất ở khuynh hướngtrữ tình cá nhân với các phương diện tự ý thức về mình của con người Conngười số phận, con người tâm linh trong khát vọng tình yêu, hạnh phúc Họ

ý thức về cái tôi cá nhân như một cái tôi riêng biệt tạo nên cá tính riêngkhông thể trộn lẫn

Đặc điểm nổi bật của thơ sau 1975 là quá trình phân hóa, đa dạnghóa về mặt thể loại Sự phân hóa này phản ánh tính phức tạp và đa dạngcủa đời sống tinh thần xã hội Nó có ý nghĩa như một sự vận động tíchcực của chủ thể sáng tạo để từng bước định hình diện mạo cái tôi trữ tìnhtrong một giai đoạn mới

Nhìn từ góc độ vận động của cái tôi trữ tình có thể nhận thấy nó có haiđộng lực: Một là sự hình thành con người cá nhân như một thực tế lịch sử,một phạm trù xã hội trên cơ sở quan niệm xã hội mới về con người Hai là

Trang 18

sự giải phóng mạnh mẽ các năng lượng cá nhân trong đó có năng lượngsáng tạo nghệ thuật Thơ ca từ giữa những năm 80 hình thành dần nhữngdạng thức cái tôi trữ tình mới, cũng là sự định hướng mới cho cảm xúc thơtrữ tình Sự thể hiện ráo riết cái tôi cá thể , sự nhập cuộc của thơ trướcnhững trạng thái nhân sinh thế sự, sự khao khát trở về những giá trị nhânbản cội nguồn, sự thể hiện bản lĩnh sáng tạo của cái tôi nghệ thuật đã làmnên gương mặt thơ sau 1975.

Thơ sau 1975 tuy không được đánh giá cao trong các giải thưởng nhànước nhưng xét trong bối cảnh lịch sử thơ sau 1975 có những bước tiến nhấtđịnh và đạt được những thành quả đáng tự hào Sự thay đổi lớn nhất có thểnói chính là cảm hứng sáng tạo của người cầm bút Từ cảm hứng sử thi anhhùng chuyển sang cảm hứng đời tư thế sự Khi đi sâu vào vấn đề đời tư thế

sự thì chủ đề tình yêu chính là mảnh đất màu mỡ nhất để có thể khai thác.Giai đoạn này là giai đoạn lạm phát của thơ tình, nhiều tác giả với nhiều bàithơ tình nổi tiếng đã in dấu trong lòng độc giả Tình yêu được soi chiếu ởnhiều góc độ có cả đam mê cả những hoài nghi và những khổ đau, nhữngthèm khát bản năng của con người

Về hình thức thể hiện, thơ sau 1975 cũng có những cách tân so với thơtrước đó Từ 1975 - 1985 xuất hiện nhiều bài trường ca sử thi anh hùng,nhưng từ 1985 trở đi trường ca không còn xuất hiện Nó như một dấu chấmhết cho một giai đoạn thơ ca sử thi và thay thế nó là những bài thơ ngắn,thậm chí là rất ngắn mang dáng dấp văn xuôi Thơ sau 1975 chủ yếu là thơ

có kết cấu mở, nó vận động tự nhiên theo dòng cảm xúc của nhân vật trữtình Chính vì thế ngôn ngữ thơ sau 1975 là ngôn ngữ đa thanh, ngôn ngữđời thường Như vậy, về hình thức thể hiện thơ sau 1975 đã có sự tiếp nối vàcách tân Những cách tân của thơ sau 1975 đã làm cho gương mặt thơ phongphú đa dạng hơn so với trước

Trang 19

Đánh giá lại toàn bộ sự vận động của thơ sau 1975 có thể thấy, thơ sau

1975 đổi mới theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn sâusắc, có sự phát triển đa dạng về đề tài, mới mẻ trong cách thức thể hiện Cáimới của thơ giai đoạn này chính là tính hướng nội, quan tâm tới con người

cá nhân trong cuộc sống đời thường

1.3 Gương mặt thơ nữ sau 1975

Có thể khẳng định các nhà thơ nữ đã đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc tạo nên diện mạo phong phú của thơ Việt Nam sau 1975 với cáctác giả tiêu biểu như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Thảo Phương, Lê Thị Mây, GiángVân, Phan Thị Vàng Anh, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn ThịHồng Ngát, Phạm Thị Ngọc Liên, Tuyết Nga Thành tựu Thơ sau 1975 có

sự đóng góp của nhiều cây bút nữ Theo dòng chảy của thơ sau 1975, mạchcảm xúc hướng vào sự thức tỉnh ý thức cá nhân và vấn đề mà các cây bút nữquan tâm khai thác chính là thế giới đời tư với tính chất đa diện của nó Cácnhà thơ nữ đã phác họa được các mô típ tự họa, tự bạch trong thơ Và vớiviệc chú ý đi sâu khám phá đời sống cá nhân thì chủ đề tình yêu trở thành tấtyếu trong sáng tác của các nhà thơ nữ Trong sáng tác của họ, tình yêu đượckhai thác trên nhiều bình diện với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Yêu

có, vui có, buồn có, đau khổ có, thất vọng có tất cả đều hiện hữu trên cáctrang viết của nhiều tác giả Tình yêu trong thơ các cây bút nữ không chỉ làtình yêu của những nỗi niềm riêng mà còn là tâm điểm để suy tư nghiềnngẫm về bản thân và về cuộc đời Qua chủ đề này, nhiều nhà thơ nữ đãkhẳng định được cái tôi trữ tình với giọng điệu rất riêng và Đoàn Thị LamLuyến là một trong những cây bút đã tạo được dấu ấn trong lòng độc giả.Cảm hứng về nhân sinh, thế sự cũng thể hiện rất rõ trong sáng tác củacác nhà thơ nữ Điều đó cho thấy ý thức trách nhiệm của các nhà thơ trướccuộc đời Những vấn đề như quan hệ giữa người với người, vấn đề nhân

Trang 20

cách, lẽ sống, những mảnh đời bất hạnh, những tình cảnh éo le cũng trở đitrở lại trong thơ họ như những nỗi niềm trăn trở, day dứt khôn nguôi Nhiềubài thơ viết về đời tư, thế sự của các tác giả nữ đã găm vào lòng bạn đọc bởi

sự sâu sắc và tính nhân văn của nó Nhiều nhà thơ nữ đã có những nỗ lựccách tân trên phương diện hình thức ngôn ngữ Trong thơ họ xuất hiện nhiềuhình thức diễn đạt độc đáo Điều đó cho thấy những cố gắng tìm tòi cách tâncủa các cây bút nữ trong một giai đoạn văn học mới

1.4 Đoàn Thị lam Luyến - cuộc đời, con người và thơ

1.4.1 Cuộc đời, con người của nữ sĩ họ Đoàn

Đoàn Thị Lam Luyến, sinh ngày 14/06/1953(Theo khai sinh), ngàysinh thật là ngày mười tám, tháng bảy, năm Tân Mão Quê ở làng Suôi, xãAnh Dũng, Huyện Tiên Lữ, Tỉnh Hưng Yên

Đoàn Thị Lam Luyến xuất thân trong một gia đình nhà nông nghèo

Từ thuở nhỏ dù bị ốm đau quặt quẹo nhưng mới bảy, tám tuổi chị đã biếtchăn trâu, cắt cỏ, kéo vó tôm Gia cảnh khó khăn, nên năm chị 11 tuổi cha

mẹ phải cho chị đi làm con nuôi của một gia đình bán cơm trên phố - thựcchất là đi ở đợ Mười hai tuổi chị đã phải làm công việc nặng nhọc của mộtthợ đóng gạch Đến 1965, gia đình chị di cư lên Sơn La xây dựng vùng kinh

tế mới Năm 1966, chị trúng tuyển vào trường Trung cấp văn hóa khu tự trịTây Bắc Từ 1976- 1982, chị học và tốt nghiệp trường Đại học Công Nghiệp

Mĩ thuật Từ 1983- 2003, chị làm biên tập viên mĩ thuật cho nhà xuất bảnThanh niên Từ 2003-05/2011, chị công tác tại trung tâm Quyền tác giả vănhọc Việt Nam Hiện nay, chị là Phó giám đốc kiêm Tổng thư kí hiệp hộiquyền sao chép Việt Nam

Là người phụ nữ thông minh sắc sảo nhưng cuộc đời chị lại thiếunhững may mắn Chịu vất vả từ thuở nhỏ, gia đình khó khăn chị không đượcbằng bạn bằng bè nhưng không chấp nhận hoàn cảnh chị vươn lên tìm con

Trang 21

đường đi cho mình Con đường công danh sự nghiệp với chị không mấy khókhăn Bằng tài trí thông minh sẵn có, cùng với ý chí nghị lực chị đã đạt được

vị thế trong xã hội Thế nhưng đường đời riêng của chị mãi cứ "bước trậtbước trèo" Chị đã trải qua bao thăng trầm, éo le, ngang trái của cuộc đời.Ông trời thật bất công với chị, có phải hồng nhan bạc phận hay không màchị luôn tìm thấy sự đồng cảm tương cảnh với những nhân vật tài sắc màbạc phận như Kiều, Hồ Xuân Hương, Xúy Vân, Chiêu Quân Những tài nữ

ấy được nhắc đến nhiều trong những vần thơ của chị Chị rất tin vào số

mệnh, cuộc đời chị chính là sự ứng nghiệm của quẻ lôi thiên đại tráng và quẻ phong lôi ích trong Kinh dịch.

Là người tài sắc lại có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm chị được rất nhiềuchàng trai để ý và mối tình đầu đến với chị khi chị ở tuổi 17, cái tuổi đẹpnhất của đời người Người tình đầu tiên của chị là một chàng nhạc côngngười Thái hơn chị 10 tuổi Chị đến với chàng bằng tình yêu hồn nhiêntrong sáng của cô thiếu nữ, không tính toán, không đòi hỏi so đo Tưởngrằng kẻ đã gõ cửa trái tim và mở được nó sẽ đem đến niềm hạnh phúc bềnlâu cho nó Nhưng ngay từ mối tình đầu, chị đã phải nếm mùi phản bội.Chàng trai mà chị đem lòng yêu đã không dành trọn tình yêu cho chị Khi cóđược tình yêu của chị rồi mà chàng vẫn còn viết thư tán tỉnh người con gáikhác Chị phát hiện được và quyết định chia tay Tình yêu đầu chị đã yêu

bằng tất cả niềm tin yêu chị có Như một cánh buồm xinh/ Hiến mình ra biển rộng nhưng tình yêu ấy khi chưa tiến xa hơn một nụ hôn đã bị chết yểu sau

10 ngày ngắn ngủi Đó là một trong những mối tình đã cho chị cảm hứng để

viết nên bài thơ Gửi tình yêu: Em đã gửi cho anh/ Cả con tim dào dạt/ Anh lại trả cho em/ Nỗi buồn đau tan nát.

Hai mươi tuổi, chị lập gia đình với một người đàn ông mà theo chịngười ấy không đẹp nhưng có một kho trí tuệ dồi dào Anh là người nhiệt

Trang 22

tình theo đuổi và chinh phục được trái tim đã một lần đau của chị Tưởngđâu trai tài, gái sắc gặp nhau sẽ xây được một lâu đài hạnh phúc, nhưng khi

sống cuộc sống vợ chồng chị mới nhận thấy "gái ham tài chưa hẳn đã hay".

Chồng chị không có nghề nghiệp, chị phải vất vả lo toan cho cuộc sống mưusinh, lại phải cáng đáng lo lắng thêm cho hai đứa em chồng lên Hà Nộihọc Vì kế sinh nhai chị nhận làm mọi việc để có tiền nuôi chồng nuôi

em Đã thế, chồng chị không những không san sẻ gánh nặng lo toan cùngchị mà khi chị xong việc trở về anh mới tỉnh giấc nồng Từ gấp cái chăn,vắt cái màn cũng nhờ bàn tay chị Dù vất vả là thế nhưng chị không mộtlời ca thán, trách móc, vẫn âm thầm lo lắng cho em, cho chồng Công việc

cơ quan, công việc gia đình, công việc làm kiếm thêm thu nhập đã chiếmtrọn thời gian của chị Chị không còn thời gian chăm sóc bản thân, trauchuốt cho nhan sắc vì thế chị trở nên nhếch nhác, mệt mỏi Ngược lại vớichị, chồng chị đòi hỏi nhiều hơn những điều chị có Khi chị không đápứng được thì anh đã tìm lực hấp dẫn từ bên ngoài Chị cũng tự thấy mìnhnhư múi chanh đã vắt kiệt không còn thấy yêu anh nữa và chị chấp nhậnquan hệ ngoài luồng của anh Chị chấp nhận như vậy để đứa con khôngmất bố Thế nhưng, khi đứa con trai đầu lòng 3 tuổi cũng là lúc chị pháthiện ra người chồng ấy đã là bố của hai đứa con cùng người vợ ở quê.Không chấp nhận được người đàn ông mà chị đã yêu và tôn thờ dối lừaphụ bạc nên chị quyết định chia tay và nuôi con một mình

Cuộc hôn nhân thứ nhất kết thúc sau mười năm chung sống nhưnghạnh phúc chẳng tày gang Phải mất mười năm sau, chị mới lấy lại đượcniềm tin để đi bước nữa Người đàn ông chị chọn làm cha của con mình làmột người đàn ông cùng cảnh - giữa đường đứt gánh Anh có hai đứa conriêng và rất mực yêu thương chúng Rổ rá cạp lại, chị cũng mong bù đắpđược phần nào sự thiếu thốn tình cảm người cha cho đứa con trai yêu

Trang 23

thương của mình Chị bỏ ngoài tai mọi điều tiếng ì xèo về dì ghẻ, con riêng,chồng người với hy vọng tìm được mái ấm cho mình và cho con Thế nhưngcuộc hôn nhân thứ hai cũng không tồn tại lâu, chị đã một lần nữa đặt tìnhyêu nhầm chỗ Những tưởng người chồng ấy yêu con mình cũng như nhữngđứa con của anh ta, chị vô tư đi làm và giao đứa con lại cho chồng ở nhàchăm sóc Nhưng anh ta chỉ lo cho những đứa con riêng mà không quan tâm

gì đến con của chị Chị phát hiện ra điều đó khi đứa con nói và không thểchấp nhận được sự ích kỉ của anh chị quyết định chia tay để tìm lại tự do vàniềm vui cho mình và đứa con yêu

Dở dang, nhỡ nhàng là tình đời của Đoàn Thị Lam Luyến, người

đàn bà Đa tình liền với đa đoan/ Tơ duyên đứt - nối lại càng nối thêm

Và để lý giải cho những thua thiệt, những thất bại trong tình trường của

chị có thể nói là do duyên phận Chị là"Người đàn bà dại yêu" (Lê Thị

Hồ Quang), luôn "đặt tình yêu trong tương quan đắt" (Yên Khương).

Chị tin vào tình yêu như con chiên tin chúa và chị trở thành tín đồ, thành

nô lệ của tình yêu Chị đọc nhiều và tin vào tình yêu như tình yêu trongtrang sách Niềm tin ấy chi phối rất lớn đến tình yêu của chị Giữa cuộcđời đen bạc này chị vẫn mong kiếm tìm cho mình một người tình lýtưởng Người tình trong tâm trí chị phải là một người hoàn hảo như viênngọc không tì vết Nhưng con người thật giữa cuộc đời này làm gì có đểchị tin yêu Cũng có lẽ vì chị luôn thần thánh hóa tình yêu nên luôn gặpbất ý trong tình trường Cuộc đời trắc trở, éo le, hạnh phúc tình duyênkhông trọn vẹn, tất cả những trải nghiệm đắng cay ấy đã đi vào thơ chịrất tự nhiên và làm nên một hồn thơ đắng đót cay nồng Đoàn Thị LamLuyến Vì thế, Đông Trình đã xem Đoàn Thị Lam Luyến là người hiến

tế, tạo mẫu cho thơ Chị đã kết tình, làm nhà trên lưng cá voi nên có sựđồng cảm sâu sắc với những số phận bất hạnh trong cuộc đời

Trang 24

Cuộc đời Đoàn Thị Lam Luyến là một cuộc đời bất như ý trong đườngtình duyên hạnh phúc, nhưng chị không buông xuôi, cam phận Chị lao vàokinh doanh và sáng tác văn học nghệ thuật để bù đắp cho những thiếu hụt,những mất mát của hạnh phúc và lấy phúc để lấp đầy cung họa của đời

mình Chị lấy câu thơ trong bài thơ Cảnh đoạn trường của Thái Can để làm

phương châm sống:

Em nên điểm phấn tô son lại Ngạo với nhân gian một nụ cười

1.4.2 Đoàn Thị Lam Luyến và thơ

Đoàn Thị Lam Luyến đến với thơ từ rất sớm, 15 tuổi chị đã ngồi cùngchiếu thơ với Trần Đăng Khoa và một số bạn khác được giải thưởng thơthiếu nhi 1966- 1967 Thơ chính là người bạn, là động lực tinh thần nâng đỡchị không bị gục ngã trước những biến cố gian nan của cuộc đời Chị đã đểlại cho đời một loạt các thi phẩm đặc sắc Năm 1985, chị cho xuất bản tập

thơ đầu tay Mái nhà dưới bóng cây - tập thơ dành cho thiếu nhi Nhưng độc giả chỉ thực sự biết đến Đoàn Thị Lam Luyến khi chị cho ra đời tập thơ Lỡ một thì con gái năm 1989, rồi đến Cánh cửa nhớ bà năm 1990, Chồng chị

chồng em năm 1991, Châm khói năm 1995, Dại yêu năm 2000, Sao dẫn lối

năm 2003, Gửi tình yêu năm 2003, Thơ với tuổi thơ năm 2005 và Tuyển chọn 36 bài thơ năm 2010.

Với chị, thơ là nghiệp, mà đã là nghiệp thì nó đeo bám cả đời Nói làđeo bám nhưng thực lòng chị đã yêu thơ từ thuở nhỏ và nó trở thành niềmđam mê trong sâu thẳm trái tim chị Tâm sự với bạn đọc Vnexpress chị nói:

"Tôi mê làm thơ, đời tôi thăng trầm cũng chính bởi vì nghiệp thơ, nhưng thơkhông ở ngoài cuộc đời tôi" Chị cũng từng nói với tôi khi tôi hỏi chị về thơ:

"Với tôi thơ không phải là nghề mà là nghiệp mới đúng Hầu như mọi ngườiđều quan niệm rằng phải có tâm hồn lãng mạn và bay bổng thì mới làm

Trang 25

đươc thơ, với người đàn bà làm thơ thường truân chuyên trong đường tình

ái Nhưng theo tôi, người làm thơ phải có một tố chất đặc biệt trong tâmhồn, ví như giàu tình cảm, giàu lòng vị tha trắc ẩn"

Trong phần Mấy lời tự bạch ở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại chị đã

tâm sự: Làm thơ với tôi như một nhu cầu tự thân Cuộc sống vất vả từ nhỏ,vào đời không mấy suôn sẻ và đời tư lại éo le, trắc trở, vì vậy có nhiều điềumuốn nói, muốn được giãi bày Ngoài thơ ra không biết lấy ai để bộc bạch

gửi gắm lòng mình Thơ tôi "thật" và đời thường là vì thế.

Nhưng không có nghĩa thơ thật và gần với đời thường là thơ dễ dãi,chị không bao giờ chấp nhận sự dễ dãi trong sáng tác Chị tâm niệm nghệthuật bao giờ cũng cao hơn cuộc sống và để có nhan sắc cho thơ người viếtdám mất đi nhan sắc của chính bản thân mình Cuộc đời người làm thơ phải

có giá thế chấp cho những điều mình viết, mỗi câu thơ đứng được đều có trảgiá, nếu không chịu mất đi một thứ gì chẳng thể có thơ hay Vì thế, chị đãsống và viết rất thật với cảm xúc của mình Chị cho rằng: "Nói dối là mộtnghệ thuật nhưng nói thật là một nghệ thuật cao hơn" Cũng có lẽ vì thế,người đọc luôn thấy mình trong sáng tác của chị và họ yêu thơ chị cũng bởinhững phút giây rất thật với lòng mình như thế

Thơ Lam Luyến hay bởi Lam Luyến dám bộc lộ nỗi niềm riêng tư củachị và thơ của chị là loại thơ nhiều tầng nghĩa, là thơ ý tại ngôn ngoại Chịmượn tình yêu để nói về thời cuộc và mượn thế sự để nói về tình yêu Chịnói nếu thơ lộ hết ý là thơ bình thường, thơ hay cũng như trái đất để quayquanh quỹ đạo của hệ mặt trời nó phải tự xoay quanh nó mới tạo nên được

vẻ hấp dẫn và mới tạo ra lực hút hướng tâm

Với sự kết hợp giữa cái tôi độc đáo cá tính cùng tài năng thiên bẩm vàquan niệm nghệ thuật đúng đắn, chị đã chinh phục độc giả bằng tài năngsáng tạo của mình Độc giả biết đến Lam Luyến vừa là tác giả, vừa là ngườitạo mẫu hiến tế cho thơ

Trang 26

1.4.3 Đoàn Thị Lam Luyến và các chặng đường thơ.

Nhìn lại quá trình sáng tác của Đoàn Thị Lam Luyến, ta thấy chị đã đi

cả một hành trình dài Từ 1966 -1967, chị đã có thơ đăng báo và đạt giảithưởng thơ Thiếu nhi Những vần thơ viết cho thiếu nhi ấy được Lam Luyến

tập hợp lại và mãi đến 1985 chị mới cho in tập thơ đầu tay với tên Mái nhà dưới bóng cây Tập thơ in chung với các tác giả Phan Cung Việt, Nguyễn

Trác, Bùi Công Trường Trong tập thơ ấy là toàn bộ những bài thơ viết vềthế giới qua cái nhìn của trẻ thơ, trong sáng, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, đángyêu Những bài thơ dễ nhớ, dễ thuộc mà có giá trị thực sự Trong con mắtcủa trẻ thơ, mọi sự vật, hiện tượng đều gây sự tò mò muốn được khám phá,muốn được lý giải Bằng tấm lòng yêu trẻ, Lam Luyến đã viết những bài thơ

ấy rất tự nhiên và giải đáp được những thắc mắc cũng như gợi mở liên

tưởng cho tâm trí non nớt của trẻ Từ chuyện Mũ cò và chân ngựa, Bò tập đọc, Dáng hình ngọn gió mỗi bài thơ là một câu chuyện lí thú cho thế giới

trẻ thơ Và bài thơ Dáng hình ngọn gió đã được chọn giảng trong sách giáo

khoa lớp 5 chương trình tiểu học Bài thơ mở ra cho trẻ thơ một thế giới của

vũ trụ bao la, thế giới ấy với bao điều kì lạ, hấp dẫn

Bầu trời rộng thênh thang

Là căn nhà của gió Chân trời như cửa ngõ Thả sức gió đi về

Lam Luyến đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để gợi mở trường liêntưởng mới cho trẻ kéo vũ trụ về gần với trẻ thơ

Trang 27

Trong con mắt thơ trẻ hồn nhiên ấy, gió có thể hát, gió có thể dạonhững bản tình ca và có thể nép vào sau vành nón để quạt dịu trưa ve sầu

Những ngày hè oi bức

Cứ tưởng gió đi đâu Gió nép vào vành nón Quạt dịu trưa ve sầu

Không chỉ có thế, gió còn làm được những công việc rất hữu ích chocon người, cho cuộc đời

Gió còn lượn lên cao Vượt sông dài biển rộng Cõng nước làm mưa rào Cho xanh tươi đồng ruộng Gió khô ô muối trắng Gió đẩy cánh buồm đi Gió chẳng bao giờ mệt!

Ai cũng biết về gió, nhưng gió thế nào? Hình dáng gió ra sao thì đố aibiết được Câu đố rất thông minh, gợi sự tò mò cho người đọc Thèm kháttìm hiểu khám phá là cái kết bất ngờ và đầy thú vị của bài thơ

Nhưng đố ai biết được Hình dáng gió thế nào?

Tình yêu dành cho thiếu nhi đã quyện vào hồn thơ Lam Luyến như

món nợ ân tình phải trả, năm 1990 chị cho ra đời tập thơ thứ hai Cánh cửa

nhớ bà - Đây là món quà mà Đoàn Thị Lam Luyến muốn dành tặng riêng

cho lũ trẻ Tập thơ gồm 25 bài thơ, trong đó có 5 bài in lại của tập Mái nhà dưới bóng cây (Nón, Bò tập đọc, Cây chuối, Bầu trời em yêu, Dáng hình ngọn gió) Tập thơ đã cho trẻ thơ những bài thơ chứa đựng tình cảm gia

đình ấm áp, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đồng ruộng Trong tập thơ

có gương mặt dịu dàng của mẹ, có mái tóc bạc phơ của ông, có nỗi nhớ và

Trang 28

những kỉ niệm sâu sắc với bà Cả những trưa nắng hè, cả rừng, cả biển, cảđàn vịt, cả tết, cả cây, cả chùm hoa phượng và cả cái điếu cày cũng có mặt

trong tập thơ ấy Bài thơ Cánh cửa nhớ bà là bài thơ được tác giả chọn làm

tên cho cả một tập thơ Bởi sau cánh cửa ấy có chiếc nón của bà, cái điếucày của ông, có nàng gà mái hoa mơ, có bà chuối mật lưng cong, có ông ngôbắp râu hồng như tơ, và có cả những đêm sao dày như ngàn hoa cải Cánhcửa nhớ bà cũng là cánh cửa mở ra cuộc đời

Ngày cháu còn thấp bé Cánh cửa có hai then Cháu chỉ cài then dưới Nhờ bà cài then trên

Khổ thơ thứ nhất gợi cho người đọc những kỉ niệm về bà rất đỗi thânthương Những năm tháng ấu thơ được sống trong tình yêu thương chở che,bao bọc của bà Có thể nói đó là những tháng năm hạnh phúc

Mỗi năm cháu lớn lên

Bà lưng còng cắm cúi Cháu cài được then trên

Bà chỉ cài then dưới

Thời gian dần trôi, cháu lớn lên cùng năm tháng và bà lưng mỗingày mỗi còng, tóc mỗi ngày mỗi bạc Cả khổ thơ như một sự nuối tiếc,nghẹn ngào tháng năm Dù bà ở rất xa nhưng tình yêu thương và những

kỉ niệm về bà vẫn đầy ắp trong tim, được cháu mang đi làm hành trangcho ngày mới

Nay cháu về nhà mới Bao cánh cửa - ô trời Mỗi lần tay đẩy cửa Lại nhớ bà khôn nguôi.

(Cánh cửa nhớ bà)

Trang 29

Cánh cửa cuộc đời cũng là cánh cửa của thi ca Lam Luyến Độc giả biết

đến Lam Luyến nhiều hơn qua tập thơ Lỡ một thì con gái xuất bản năm 1989

gồm 39 bài thơ Có thể nói, đây mới là tập thơ mở đầu cho thơ tình Lam Luyến

Lỡ một thì con gái là tập thơ gửi gắm nỗi niềm tâm sự về tình yêu, về cuộc đời đã

qua của tác giả Cuộc hôn nhân đổ vỡ nó đã ám ảnh chị và đi vào cả trong nhữngtrang thơ của chị Trong đó có chuyện về anh, mong anh, đợi, cả khoảng trống,

cô đơn, hai nửa, mối tình đã chết và lỡ một thì con gái Chị đã gửi gắm ướcvọng cuộc đời mình vào giấc mộng lứa đôi

Từ lâu lâu lắm rồi Giấc mộng về lứa đôi

Âm thầm như quyến rũ

( Lỡ một thì con gái)

Giấc mộng ấy được chị xây bằng sự khát khao mong đợi, nhớ nhung

mãnh liệt, và cả những hy vọng cho một hạnh phúc trọn vẹn: "Cứ mong anh đến nhà/ Dù một lần ít ỏi/ Chẳng cần nghe anh nói/ Chỉ nhìn nhau, nhìn nhau ( ) Anh dịu hiền như đất/ Thân yêu tự bao đời/ Em - hạt mầm chất chứa/ Khát khao được sinh sôi" (Mong anh).

Chị chờ đợi anh - người chị gửi gắm tất cả những khát khao hạnh phúc

với niềm tin yêu cháy bỏng bất chấp cả thời gian, vượt lên cả thời gian "Đợi bạn trăng chưa mọc/ Kìa, trăng lên đỉnh đầu ( ) Đợi bạn từ hoa sữa/ Bây giờ thơm hoa cau/ Be sành nào níu bạn/ Khiến ta chờ đợi nhau" (Đợi).

Mặc dù với chị:

Một ngày xa anh Bằng một năm thương nhớ

Ba ngày qua Bốn ngày qua Xâu lại thời gian Thành chuỗi ngày đáng sợ.

Trang 30

Khi yêu, xa cách là điều không ai muốn bởi nhớ thương luôn chấtchứa trong lòng Thời gian dồn nén đến tột độ khi ở gần và cũng kéo dài đến

lê thê khi xa cách Làm sao những kẻ đang yêu có thể đo đếm chính xácđược thời gian Thời gian ấy không còn là thời gian thực tế nữa mà nó làthời gian của tâm trạng, thời gian trong sự cảm nhận của kẻ đang yêu

Bốn hôm thiếu lửa!

Ngõ cửa Chờ anh Châm nỗi nhớ

Em thắp vàng suốt cả năm canh!

(Châm nỗi nhớ)

Thế nhưng, giấc mộng không thành, tình chia làm hai nửa, mối tình đãchết, chỉ còn là huyền thoại một tình yêu

Ta đã gửi cho anh

Cả con tim dào dạt

Và anh trả cho ta Nỗi buồn đau tan nát

(Gửi tình yêu)

Đó là dư vị đắng đót của tình yêu, của đoạn đời chị vừa bước qua và

nó như tín hiệu dự báo con đường phía trước của cuộc đời chị:

Em như con thuyền lạc bến

Có đi mà chẳng tới bờ

(Chuyện về anh)

Hai năm sau, những khát vọng tình yêu, những suy tư trăn trở, những

góc khuất của cuộc đời được chị bộc bạch trong tập thơ Chồng chị chồng

em xuất bản năm 1991 gồm 35 bài thơ Tập thơ đã được độc giả đón nhận

nồng nhiệt và tạo được dấu ấn trong lòng bạn đọc Đặc biệt là bài thơ mở

đầu chồng chị chồng em cũng là bài thơ mang tên của cả tập thơ đã lọt vào

vòng chung kết cuộc thi thơ do báo văn nghệ tổ chức năm 1990 Nó thể hiện

Trang 31

bản lĩnh và thái độ của người phụ nữ đã một lần dang dở Tình yêu đến vàchị đón nhận nó một cách thản nhiên và cái thản nhiên ấy mới đáng sợ làmsao Thản nhiên đến độ làm người khác phải ngỡ ngàng:

Xưa thì chị, nay thì em Phải duyên chồng vợ nối thêm tơ hồng

Câu thơ khiến người đọc ngỡ như sự tiếp nối bình thường của một cái

gì đó chứ không phải là tình duyên bởi thái độ thản nhiên của tác giả Cáithản nhiên của chị chính là sự chấp nhận tất cả, kể cả những mất mát thuathiệt, những bẽ bàng

Được lúa, lúa đã gặt bông Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa

Sự thản nhiên ấy cũng là khao khát được bắt đầu một tình yêu mới,một cuộc sống mới với người tình "cũ người, mới mình" và chị đón nhậnvới sự thản nhiên

Thản nhiên chị mối tình đầu Thản nhiên em nhận bã trầu về têm.

(Chồng chị chồng em)

Đề tựa cho tập thơ chị viết:

Càng gần cái đích ta mong Càng xa cái chốn mà lòng ta yêu

Tập thơ là trải nghiệm của chị trong tình yêu cũng như trong cuộc đời.Nhiều khi chị ngỡ mình lạc lõng giữa chốn nhân gian

Đi vào cõi ấy, người quên hết Ngoảnh lại, ô hay chỉ một mình Người đẹp đã chờ và đã chết Chỉ còn Tố nữ ngự trong tranh!

( Viết về một thuở)

Trang 32

Với chị, tình yêu thật khó khăn không thể có được nếu bản thân khôngtích cực chủ động Và để có được tình yêu chị đã phát động cuộc chiến tranhtình ái để giành giật lấy nó

Em đã đoạt anh từ tay người đàn bà kia Giống như người đàn bà kia

đoạt anh từ tay người đàn bà khác.

Tưởng rằng bằng cách đó có thể chiếm đoạt và giữ được trái tim củaanh, có thể có được tình yêu trường tồn vĩnh cửu nhưng ngay khi giành giậtđược, niềm tin ấy đã bị hoài nghi

Em đón anh về Nhưng chắc gì giữ anh được lâu hơn?

thơ Đoàn Thị Lam Luyến là người yêu đến nát cuộc đời cho thơ, làm thơ lànhu cầu tự thân, muốn được bộc bạch, giãi bày tâm sự:

Lỡ rồi còn biết làm sao Đắng cay số phận ngọt ngào cho thơ

Càng say càng gặp tình vờ Non non nước nước lập lờ lứa đôi.

Rồi em đến tuổi năm mươi Cũng yêu đến nát cuộc đời cho thơ!

(Yêu để cho thơ)

Trang 33

Nhu cầu muốn được bộc bạch, muốn được giãi bày đã thôi thúc nữ sĩ

họ Đoàn không ngừng sáng tác Năm 1995, chị tiếp tục cho ra đời đứa con

tinh thần tiếp theo của mình đó chính là tập thơ Châm khói Tập thơ Châm khói là tập thơ minh chứng cho những nỗi đau, những vết thương không

thành sẹo của chị Tập thơ gồm có 39 bài thơ, bài nào cũng để lại cho ngườiđọc những nỗi niềm trăn trở

Ban đầu tập thơ có nhan đề là Hát theo Thị Mầu Chị muốn hát theo Thị

Mầu để chòng ghẹo thách thức với cuộc đời sau những truân chuyên, thua thiệt

và muốn vươn lên thoát khỏi những nghiệt ngã, thách thức của số phận

Em không muốn sao cứ là tất cả

Lẽ đâu sắp đặt tại mệnh trời?

Em muốn hồng nhan mà không bạc phận

Có thể nào khác được chị Kiều ơi!

(Gọi Thúy Kiều)

Với mong muốn đó, chị đã châm khói vào thơ, châm khói vào cuộcđời để nhen lại lửa lòng, sưởi ấm cho thơ

Ngoài bốn chục chưa khỏi điều non nớt

Cả tin nghe, cả tin nói, cả tin cười Que diêm mảnh cứ châm bờ rạ ướt Khói lửa nào đắng đót trái tim côi

(Châm khói)

Trải qua những biến cố, những khúc rẽ của cuộc đời, Lam Luyến vẫnyêu vẫn khát nhưng yêu bằng cả sự hoài nghi Lam Luyến thấy mình trongnàng Kiều - tài sắc đa đoan, mười lăm năm đoạn trường có lẻ, thấy mìnhtrong Hồ Xuân Hương thông minh sắc sảo, làm lẽ ba lần cũng chẳng hết côđơn, thấy mình là bóng dáng của Xúy Vân, cả tin yêu để trở thành điên dại,thấy mình trong nàng Chiêu Quân thuở ấy, sang cống Hồ vẫn ôm trọn mối

Trang 34

tình xưa Cuộc đời có những ngã rẽ bất ngờ, nào ai có thể thay trời tínhđược, Lam Luyến tự xẻ mình ra để cật vấn nhưng câu trả lời vẫn chỉ là khổđau, là nỗi trống vắng, cô đơn.

Bóng từ mình một mảng vỡ ra thôi Nhưng từ bóng không trở về ta nữa

Ta vĩnh viễn mất đi một nửa

Và cô đơn chiếc bóng mãi trên đời.

(Hai nửa)

Có thể nói tập thơ Châm khói là bài thơ tình của cuộc đời Lam Luyến.

Nó là tâm trạng, là nỗi niềm của người đàn bà dở dang, nhỡ nhàng trong tìnhduyên, trong cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc

Năm năm sau, Lam Luyến cho ra đời tập thơ Dại yêu Có lẽ "dại yêu"

chính là nguyên nhân mà chị nhận ra từ những thất bại, những đắng cay củacuộc đời Khát yêu, vồ vập yêu, cả tin yêu là tình yêu của Lam Luyến Cái

"dại yêu" của mình được chị tái hiện qua bài thơ Em gái Bài thơ vừa cho thấy sức mạnh của tình yêu đồng thời cũng chính là cái "dại yêu" cái cả tin

của người con gái trên đường tình Tình yêu không chỉ có hoa hồng mà còn

cả gai của nó nữa Nó sẽ làm ta chảy máu, và làm ta đau

Em đầy ngộ nhận như tôi Cũng yêu chí chết cái người mình yêu Cũng tìm những lối phong rêu

Để rồi bước trật bước trèo - uổng công Rồi mai em giống chị mình Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui!

(Em gái)

Trang 35

Chị tin vào quy luật nhân - quả "Làm phúc mong được phúc" nhưng niềm tin của chị đã bị đánh cắp " Đâu ngờ thành trắng tay" (Dại của, dại yêu)

Cây gặp nước ngỡ hồi sinh Ngờ đâu tan nát cõi tình người ơi

(Giàu như vua)

Sau những đắng cay phải nếm trải, chị đã đưa ra định nghĩa về chữtình Tình là chi mà làm chị đau khổ đến thế? Và chị tìm được câu trả lờiđúng với bản thân, hoàn cảnh của mình:

Tình là đá để như vôi Tình là nước để chảy xuôi qua cầu Tình là giả, thật chi đâu

Tình là ảo để thay màu trắng đen Tình là nợ để mau quên

Tình là hận để đảo điên cuộc tình.

( Giàu như vua)

Tình là bi kịch, là những khổ lụy của cuộc đời Lam Luyến Với LamLuyến, tình bạc như vôi, tình tuột trôi như nước chảy, tình là ảo, là cáikhông có thật, tất cả chỉ là cái bóng để Lam Luyến kiếm tìm Lam Luyếnkiếm tìm tình duyên mong hạnh phúc nhưng gặp toàn những Mã Giám Sinh,

Sở Khanh, Thúc sinh mà không tìm ra Từ Hải nơi đâu

Không hoang cây, chỉ hoang đồi

Em hoang con bởi có người đi hoang

Số cầm tinh con dã tràng

Có viên ngọc cát biển mang đi rồi.

(Đứa con mang họ mẹ)

Trang 36

Chị bươn trải cùng dòng đời ngược xuôi, xuôi ngược, ngỡ rằng đã lọc

lõi,"tưởng chừng sâu sắc giếng khơi" (Hạt giống cầu may) chị vẫn thấy mình cả tin yêu, dại yêu "Như khi bé dại của/ Lớn rồi thì dại yêu"(Dại yêu).

Và "Khi đã dấn thân yêu/ Biết đâu mà lọc lõi" (Em không là thánh thần) Tập thơ Dại yêu của chị đã cho bạn đọc thấy con đường tình của chị

đầy ngộ nhận, ảo tưởng, đầy những khó khăn, thử thách, chông gai Dù biết

là dại yêu nhưng chị không từ bỏ tình yêu mà vẫn yêu vẫn muốn tìm cho

mình một thiên tình cuối để hưởng hạnh phúc đời thường:

Tình đầu hay là tình cuối

Để mình sớm có con chung Gái trai cũng thèm một đứa Cho anh bế bế bồng bồng Anh ơi bởi thiên tình cuối Cho mình biết cách thương nhau

(Thiên tình cuối)

Ước mơ có được một thiên tình cuối nhưng vẫn chưa tròn mơ ước.Duyên tình vẫn lận đận dở dang Có phải chăng, cái dở dang, dang dở ấy là

do sao dẫn lối hay chăng mà đến năm 2003, chị cho xuất bản tập thơ có tên

là Sao dẫn lối Tập thơ gồm 72 bài thơ, là kết tinh của chị trong cách cảm và

nhìn nhận cuộc đời Tập thơ đã đạt giải thưởng của hội nhà văn Việt Namnăm 2003 và khẳng định vị thế của thơ chị trong lòng độc giả Nó khôngcòn là thơ tình thuần túy như trước mà chị đã mượn tình yêu để nói về thế

sự và mượn thế sự để nói về tình yêu, nói về cuộc đời Đó chính là nét mới,

hấp dẫn trong tập thơ Sao dẫn lối của chị Trong con mắt của Lam Luyến,

cuộc đời có nhiều khía cạnh nhưng không thể tách bạch rạch ròi mà là sựxáo trộn đan xen giữa thật và giả, giữa thiện và ác, giữa trắng và đen, giữatốt và xấu Và cuộc đời được tạo nên là thế

Trang 37

Thiên hạ bây giờ Tào Tháo quá Chẳng biết tin ai sống thực mình?

Ngày nay người tốt lấy chi làm bằng

Ra đường gặp phải Sở Khanh Với muôn giọng hứa lấp bằng chông gai

(Người xưa) Thật dễ nhận thấy tập thơ Sao dẫn lối là một tập thơ khác với những

tập thơ đã xuất bản của Đoàn Thị Lam Luyến Chị đã phả vào thơ một hơithở mới, một sức sống mới Chị đã gửi vào đây những cảm nhận, nhữngsuy tư chiêm nghiệm về tình yêu, về con người, về cuộc đời, về vùngmiền địa danh chị đã đi qua trên dải đất Việt Nam cong cong hình chữ S.Tập thơ đã in dấu chân Lam Luyến trên hành trình theo dặm dài đất nước.Chị đã cho độc giả trở về Làng Dóng, về bến Đục Chùa Hương, về nơi TừThức đã lên tiên Cùng thăm lại Đèo Ngang nghe vang tiêng cuốc, ghé lầuBảo Đại ôn lại chuyện xưa, ngắm Huế mộng mơ, và đến Đà Nẵng để nếmtrải khúc căng của đất, đến Cần Thơ để hóng gió Hậu Giang Đó là tìnhyêu mà chị dành cho quê hương, đất nước này Với tập thơ này, LamLuyến không chỉ nhìn đời bằng con mắt của kẻ đang yêu, thèm yêu màcòn là cái nhìn đa chiều, sâu sắc trong cách cảm, cách nghĩ cũng như cáchthể hiện Đó là cái nhìn tỉnh táo không còn chủ quan, ngộ nhận như trước

Trang 38

kia Không chỉ là những vần thơ dành cho đôi lứa mà còn là tình yêu dànhcho cuộc đời, cho mọi người.

Cũng trong năm ấy (2003), Lam Luyến cho xuất bản tập thơ Gửi tình yêu là tập thơ tình yêu chọn lọc của chị Tập thơ có 81 bài thơ mà theo chị

nó thể hiện rõ nhất, tập trung nhất cái tôi trữ tình của chị Đó là những bàithơ mà chị tâm đắc trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình Có thểnói, gia tài thơ của chị được gói ghém gửi vào tập thơ này Nó là đứa conyêu trong gia sản giàu có ấy

Tiếp đến năm 2005 chị xuất bản tập thơ Đoàn Thị Lam Luyến Thơ với tuổi thơ Với 22 bài thơ như thuật lại chính cuộc đời của chị Những bài thơ

được sắp xếp như một thước phim quay về cuộc đời của người phụ nữ tàisắc đa đoan- Đoàn Thị Lam Luyến

Sau năm năm, chị đã cô lại những tác phẩm thơ của mình trong Tuyển

tập 36 bài thơ Với sức yêu và sức viết như chặng đường thơ chị đã đi qua

chúng ta có thể tin tưởng những tập thơ tiếp theo sẽ ra mắt bạn đọc trongthời gian tới

Đánh giá lại chặng đường thơ mà Lam Luyến đã đi qua, đã làm được,

ta thấy chị là một cây viết nữ dám yêu hết mình và cũng cháy hết mình chothơ Mỗi tập thơ đều mang dấu ấn cuộc đời chị, là sự trải nghiệm trong tìnhyêu, trong cuộc đời, là những vui buồn những khát khao cháy bỏng Sức yêu

và sức viết luôn song hành cùng chị Với chị, làm thơ là để giãi bày, là đểthể hiện mình cũng là khẳng định mình Chị dám sống thật với mình và dámnói thật tất cả, kể cả những vấn đề mà người ta né tránh không nói ra.Nhưng nếu không có cái thật thà, chân thành ấy chắc gì thơ Lam Luyến đãđược yêu và sống được đến bây giờ

Trang 39

CHƯƠNG 2 CÁC SẮC THÁI THẨM MỸ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

2.1 Cái tôi và cái tôi trữ tình.

Cái tôi và cái tôi trữ tình là hai khái niệm vừa có nghĩa tương đồngvừa có nét khu biệt Để hiểu rõ hơn về cái tôi trữ tình, chúng ta cần hiểukhái niệm cái tôi

2.1.1 Khái niệm cái tôi

Về khái niện Cái tôi, có nhiều quan điểm khác nhau Trong triết học,

"cái tôi" được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đónhững đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác Trong phân tâmhọc, "cái tôi" là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnhhưởng của tác động xã hội Theo Sigmund Freud - Người đặt nền móngnghiên cứu phân tâm học, "cái tôi" cùng với "nó" và "cái siêu tôi" là ba miềncủa tâm thức "Cái tôi" được hình thành ngay từ khi con người sinh ra vàqua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư xử sao cho kiểmsoát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận Cái tôi

có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêuchuẩn nhân cách và xã hội

Trong triết lý Phật giáo, cái tôi thường gọi là "ngã", là "cái tôi" đượcthiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh

tử Đạo Phật không công nhận sự hiện diện của một "ngã" như thế

Như vậy, con người ngay từ khi ra đời đã tồn tại cái tôi Cái tôi làkhái niệm thể hiện ý thức tồn tại của mình, để nhận ra mình là một cáthể độc lập khác với các cá thể khác Đó là cái tôi gắn liền với sự tựnhận thức của một người về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính

Trang 40

mình, đặc biệt là để phân biệt mình với thế giới bên ngoài và các cánhân khác Nhờ đó mà trong cuộc sống hàng ngày ta có thể phân biệtđược người này với người khác, với tư cách tồn tại độc lập mỗi ngườimang trong mình một phẩm chất, tính cách riêng không trộn lẫn với bất

kì ai Chính vì thế, cái tôi của người nghệ sĩ là nền tảng để tạo nên sựđộc đáo riêng biệt trong sáng tạo nghệ thuật Khi cái tôi được thể hiệntrong tác phẩm là cái tôi nhân cách đã trở thành cái tôi trữ tình

2.1.2 Cái tôi trữ tình.

Khái niệm cái tôi trữ tình gắn liền với thơ trữ tình Trong lịch sử líluận văn học và mĩ học, các nhà lí luận, mĩ học và người sáng tác dù không

đề cập trực tiếp đến khái niệm cái tôi trữ tình nhưng họ đều ý thức về bản

chất chủ quan của thơ trữ tình Từ thời cổ đại, trong Nghệ thuật thi ca,

Arixtot đã nhận thấy trữ tình là sự thay mặt, nhân danh để trình bày cái cánhân, cái chủ quan không được nhắc đến nhưng được quan niệm như sựthay thế về ngôi kể và đối tượng kể

Đến thế kỉ XVIII, ở Châu Âu ý thức về giải phóng cá tính phát triển và

vì thế quan niệm về cái chủ quan trong thơ trữ tình tiến thêm một bước.Trong công trình mĩ học đồ sộ của mình, HeGhen đã xác định bản chất củathơ trữ tình là "cái nội cảm", "cái tinh thần", "chủ thể", "trực giác bêntrong", "cái tôi" [ 47, 7]

Đến thế kỉ XX, ý thức về cá nhân cá tính phát triển, cái tôi trữ tình đãđược chú ý ở phương diện "cái chủ quan", "chủ thể" mang tính đặc thù củathể loại trữ tình Có thể nói khái niệm cái tôi trữ tình là một khái niệm thểhiện cái độc đáo cá nhân, tính nhất quán về ý thức nghệ thuật, ý thức xã hộicủa một tác giả, một khuynh hướng, một thời đại

Ở Việt Nam, cái tôi trữ tình đã được các nhà lí luận phê bình quantâm Cái tôi trữ tình hiện diện trong thơ trữ tình với tư cách là một dạng biểu

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1998), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1998
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại họcquốc gia Hà Nội
3. Xuân Cang, Chân dung nhà văn (Soi chiếu bằng ánh sáng Kinh Dịch ), ( Tài liệu do tác giả cung cấp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung nhà văn (Soi chiếu bằng ánh sáng Kinh Dịch
4. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
6. Đài tiếng nói Việt Nam (2000), Thơ bốn phương cùng bình, Nxb Văn học 7. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004) Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ bốn phương cùng bình", Nxb Văn học7. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004) "Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Đài tiếng nói Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học7. Phan Cự Đệ (chủ biên
Năm: 2000
8. Nguyễn Đăng Điệp (2002) Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Nhà XB: Nxb Văn học
9. Nguyễn Đăng Điệp-Nguyễn Văn Tùng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp-Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10. Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
11. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức (Chủ biên, 1999) Lý luận văn học, nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: nxb Giáo dục
13. Hà Minh Đức (1999), Văn học Việt Nam hiện đại, nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: nxb Hà Nội
Năm: 1999
14.Trinh Đường (1998), Bài thơ Em gái của Đoàn Thị Lam Luyến (Tài liệu do tác giả cung cấp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài thơ Em gái của Đoàn Thị Lam Luyến
Tác giả: Trinh Đường
Năm: 1998
15. Ngân Hà (Tuyển chọn và biên soạn, 2006), Thơ Xuân Quỳnh những lời bình, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Quỳnh những lờibình
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 1997) Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Lê Bá Hán ( chủ biên 1998), Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
20. Bùi Công Hùng (2000), Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Vănhoá thông tin
Năm: 2000
21. Ngô Thị Thanh Huyền (2010), Thế giới nghệ thuật thơ Đoàn Thị Lam Luyến, luận văn thạc sĩ Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Đoàn Thị LamLuyến
Tác giả: Ngô Thị Thanh Huyền
Năm: 2010
19. Thái Doãn Hiếu, Đoàn Thị Lam Luyến- Người đơn phương phát động cuộc chiến tranh tình ái, http://thaidoanhieu.blogspot.com Link
45. Vũ Nho (2009), Đoàn Thị Lam Luyến - Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ, http://vn.360plus.yahoo.com/vunho_bgd Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w