Mục tiêu của đề tài này là nhằm xác định bản chất cụ thể của cái tôi trữ tìnhtrong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên - một tiếng ca riêng trong lời ca chung củanhững ngời yêu Tổ quốc.. Trong
Trang 1Lời cảm ơn
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, bản thân tôi đã thực sự cố gắng, đồng thời tôi
đã nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn trờng
Đại học Vinh - đặc biệt là sự hớng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo Ngô Thái Lễ
- cùng với sự động viên khích lệ của bạn bè Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo Ngô Thái Lễ và các thầy cô cùng bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận.
Vinh, tháng 5 năm 2004.
SV : Mai Thị Hải
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Thơ trữ tình là sự tự biểu hiện và cảm thụ của cái tôi trữ tình Cái tôi trữ
tình là sự thể hiện bản chất cá nhân trong cảm thụ trữ tình đối với đời sống Giáo s
Hà Minh Đức đã khẳng định: “Trong thơ, vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có một
nghĩa đặc biệt quan trọng” Cách thức biểu hiện cái tôi trữ tình rất phong phú và
đa dạng Mỗi nhà thơ có thể chọn cho mình một cách biểu hiện riêng về cái tôi trữtình
Cái tôi trữ tình với t cách là một hạt nhân của thể loại trữ tình đã đợc chú ý
và khảo sát ở nhiều phơng diện và cấp độ khác nhau Song những công trình nghiêncứu đó thờng gắn với một giai đoạn, một trào lu, một khuynh hớng của quá trìnhvăn học Rất ít có công trình nào nghiên cứu cái tôi trữ tình của một chặng đờngthơ của một tác giả cụ thể
Trang 21.2. Chế Lan Viên là một hiện tợng văn học độc đáo Cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của Chế Lan Viên nằm trọn trong thế kỷ XX - thế kỷ mà dân tộc ta trảiqua một chặng đờng đầy đau thơng khốc liệt nhng cũng rất chói lọi huy hoàng
Đồng thời đây cũng là thế kỷ mà văn học Việt Nam có nhiều nhà thơ nổi tiếngxứng đáng đợc xếp vào bậc thi bá thi hào Trong đó Chế Lan Viên đợc xem là mộttrong những nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại Trong tiến trình lịch sửthơ hiện đại Việt Nam, hiếm có một nhà thơ nào là chiếm đợc cả ba đỉnh cao ở bathời kỳ sáng tác tiêu biểu trong thế kỷ XX nh Chế Lan Viên : trớc 1945; từ 1945
đến 1975; sau 1975
Là một tác giả lớn có nhiều đóng góp đáng kể cho nền văn học dân tộc, nhngnhận định về giá trị những sáng tác của Chế Lan Viên cha đợc nghiên cứu một cáchhoàn chỉnh Mặt khác, trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên, có thể nói thơ
ca chống Mỹ là một chặng đờng thơ có giá trị rực rỡ nhất - ở chặng đờng thơ nàyChế Lan Viên thực sự đã làm sôi động văn đàn, mở ra một hớng sáng tác mới chonền thơ ca Việt Nam, làm vẻ vang cho cả nền văn học chiến đấu trong chống giặcngoại xâm Yêu mến và khâm phục những dòng thơ xuất phát từ cái Tâm cũng nhcái Tài của nhà thơ, chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài này
1.3. Chế Lan Viên là một tác giả đợc đa vào chơng trình giảng dạy ở trờng
phổ thông Nghiên cứu thơ chống Mỹ của nhà thơ, chúng ta có thể hiểu sâu hơn vềcon ngời và tác phẩm Chế Lan Viên Qua đó giúp cho hoạt động dạy học môn văn
ở trờng phổ thông đạt hiệu quả tốt hơn
2 Mục tiêu của đề tài.
2.1 Thơ trữ tình biểu hiện khát vọng của con ngời nhằm đối diện và khám
phá những trải nghiệm tinh thần của con ngời trớc mọi hiện tợng xã hội và tự nhiên
Biêlinxki đã khẳng định: Thơ trữ tình là “vơng quốc chủ quan” Có thể nói thơ trữ tình là sự bộc lộ chủ quan Nếu nh “nhân vật chính” ở các quá trình văn học là thể loại thì có thể nói “nhân vật chính” của thể loại thơ là cái tôi trữ tình Nói đến cái
tôi trữ tình của nhà thơ là nói đến cách nhìn và cảm thụ thế giới - và là trung tâmchi phối các nguyên tắc tổ chức nên một thế giới nghệ thuật độc đáo
2.2 Mỗi nhà thơ - chủ thể trữ tình - có một tiếng nói riêng để thể hiện cái tôi
trữ tình của mình Việc đi vào nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ củaChế Lan Viên dù chỉ là một chặng đờng nhỏ ( 1954- 1975) cũng nhằm khẳng định
cái tôi độc đáo - “ một cá tính không lặp lại ” - không lẫn với ngời khác của Chế
Lan Viên Đồng thời đó cũng là cái tôi trữ tình đa thanh đa diện Cái tôi ấy khôngnhững luôn trăn trở về cái riêng ta, cái trong ta mà còn luôn đầy ắp cái khác ta
Mục tiêu của đề tài này là nhằm xác định bản chất cụ thể của cái tôi trữ tìnhtrong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên - một tiếng ca riêng trong lời ca chung củanhững ngời yêu Tổ quốc
3 Giới hạn và đóng góp mới của khoá luận.
3.1 Trên nửa thế kỷ làm thơ với một bút lực dồi dào và thái độ lao động
hăng say, Chế Lan Viên đã để lại cho đời một khối lợng tác phẩm đồ sộ Cho đến
nay, với số lợng thơ đã đa vào các tập từ “Điêu tàn” đến “ Di cảo III ” gồm 13 tập
- xấp xỉ 1000 bài Đó là một con số đáng khâm phục Cha kể ông còn viết hàng
Trang 3ngàn trang lí luận, phê bình bằng văn xuôi nh: “Vàng sao” (1942), “Phê bình văn học” (1962), “Suy nghĩ và bình luận” (1972)
3.2 Trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng, vấn đề cái tôi trữ tình
đã đợc bàn đến rất nhiều Trong lịch sử nghiên cứu văn học, đã có khá nhiều côngtrình nghiên cứu bàn về thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên nhng những công trình đómới chỉ dừng lại ở mức độ phát hiện và khái quát Cũng đã có bài đi sâu nh ng chỉ ởmột vài khía cạnh nào đó của một tập thơ, một bài thơ Trong khoá luận nàychúng tôi đi sâu tìm hiểu những phơng thức biểu hiện cái tôi trữ tình của Chế LanViên trong một giai đoạn sáng tác thơ của ông: thơ kháng chiến chống Mỹ cứ nớc.Qua đó, phát hiện nét độc đáo, mới mẻ của cái tôi trữ tình Chế Lan Viên trong vănhọc Việt Nam hiện đại
ở đề tài này, chúng tôi nghiên cứu “Cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ
của Chế Lan Viên ” qua các tập thơ sau: “ánh sáng và phù sa” (1960) , “Hoa ngày thờng, Chim báo bão” (1967) , “Những bài thơ đánh giặc” (1972) , “Đối thoại mới” (1973) , “Hoa trớc lăng Ngời” (1977)
4 Lịch sử vấn đề
4.1 Trên thi đàn Việt Nam, Chế Lan Viên xuất hiện với một phong cách độc
đáo riêng biệt Con đờng thơ của ông khá tiêu biểu cho con đờng của một lớp nhàthơ Việt Nam đến với cách mạng Chế Lan Viên là một ngời có năng khiếu thơbẩm sinh Ông đợc coi là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của phong tràoThơ Mới trớc Cách Mạng Tháng Tám và cho đến nay, Chế Lan Viên vẫn đợc xem
là một trong những cây đại thụ thơ trong khu rừng văn học Việt Nam thế kỷ XX Vìthế, con đờng đi tới khẳng định tiếng nói nghệ thuật của Chế Lan Viên đã thu hút
đợc sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới phê bình văn học Đã có nhiều bài
đánh giá, tham luận, bàn luận về thơ Chế Lan Viên
4.2 Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên:
- Hoài Thanh- Hoài Chân: “Thi nhân Việt Nam ”.NXBVH, tái bản.1995.
- Trần Mạnh Hảo: “Chế Lan Viên- ngời làm vờn vĩnh cửu” NXB Hội nhà
văn Hà Nội 1995
- Nguyễn Văn Hạnh: “Thơ Chế Lan Viên ” Báo văn nghệ số 11/ 1970.
- Huỳnh Văn Hoa: “Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật trong thơ”- Báo
văn nghệ TPHCM số 165.1994
Trần Đình Sử: “Đôi điều mỹ học của thơ Chế Lan Viên ” Báo văn nghệ số
2/1999
4.3 bàn về thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên có một số nhận định sau:
- Xuân Diệu đã nhận xét: “Tập ánh sáng và phù sa cống hiến vào nền thơ
chung của ta hiện nay, một tâm hồn nặng những suy nghĩ, phấn đấu trên hoàn
cảnh cụ thể của mình để tới đợc cái lớn của niềm vui chung” (Đọc ánh sáng và
phù sa - Dao có mài mới sắc)
- Bàn về “Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên”, Nguyễn Xuân Nam
cho rằng: “Trong thơ thời sự của mình, Chế Lan Viên kết hợp đợc óc khái quát và
óc phân tích Các chủ đề của thơ Anh gợi lên từ những luận điểm chính trị, từ việc
tố cáo tội ác, vạch trần âm mu kẻ thù ”.
Trang 4- Trong bài “Những biển cồn hãy đem đến trong thơ”- Lê Đình Kỵ đã viết:
“Hoa ngày thờng, Chim báo bão chứa đựng rất nhiều những tình ý, những lời lẽ
nằm ngay trong đời sống hàng ngày ”.
- Khi bàn về “ Đối thoại mới ” - Hoàng Lan đã khẳng định: “Chế Lan Viên
góp phần đem đến cho thơ trữ tình hiện đại chất anh hùng ca, trầm t lịch sử, nâng tầm vóc thơ trữ tình lên một bình diện mới, vơn tới những vấn đề từ lâu với thơ tởng chừng xa cách ”.
- Vũ Anh Tuấn đã có một nhận xét xác đáng về “Thơ đánh Mỹ của Chế Lan Viên" rằng: “Anh cố gắng không khuôn những suy nghĩ vào những công thức,
ớc lệ cũ Anh phát hiện và phân tích trí tuệ Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, cách
đánh Việt Nam trên nhiều bình diện, trong nhiều thời điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ ”.
Còn có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn về thơ Chế Lan Viên nhng chúngtôi chỉ trích ở trên một số công trình và một số nhận định tiêu biểu của các nhànghiên cứu Những bài viết đó mới chỉ nói đến một tập hoặc viết khái quát về mộtgiai đoạn thơ Chế Lan Viên Tham khảo những bài viết trên, chúng tôi tiếp tục tìmhiểu cụ thể về cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên
5 Phơng pháp nghiên cứu
Bên cạnh kế thừa phơng pháp của các công trình nghiên cứu trớc, ở khoáluận này chúng tôi chủ yếu sử dụng những phơng pháp sau :
5.1 Phơng pháp tiếp cận hệ thống.
Để tìm hiểu “cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên” chúng
tôi phải tiếp cận toàn bộ thơ Chế Lan Viên từ trớc cách mạng cho đến sau 1975,
đặc biệt là giai đoạn 1954 đến 1975 để thấy đợc sự vận động biến chuyển của cáitôi trữ tình Chế Lan Viên và vị trí của thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên Đồng thờitiếp cận văn xuôi, lí luận phê bình của Chế Lan Viên để biết đợc quan điểm nghệthuật của nhà thơ Từ đó, khái quát những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tìnhtrong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên
5.2. Phơng pháp phân tích, tổng hợp.
Đây là phơng pháp truyền thống, đồng thời là phơng pháp chính mà chúngtôi sẽ sử dụng trong khoá luận này Tiến hành phân tích nhằm chứng minh cụ thểcho từng dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ cuả Chế LanViên
5.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu.
Có thể nói đây là một phơng pháp có hiệu quả cao trong quá trình nghiêncứu Việc so sánh đối chiếu thơ kháng chiến chống Mỹ và thơ ở giai đoạn trớc vàsau đó của Chế Lan Viên để thấy đợc bớc chuyển biến vận động của cái tôi trữ tìnhChế Lan Viên Mặt khác, đặt vấn đề “cái tôi trữ tình trong thơ ca kháng chiếnchống Mỹ của Chế Lan Viên ” trong mối quan hệ với các nhà thơ khác trớc, cùng
và sau thời với ông sẽ giúp chúng ta thấy đợc nét độc đáo riêng biệt của hồn thơChế Lan Viên
6 Cấu trúc khoá luận.
Phần mở đầu: Giới thiệu đề tài
Trang 5Phần nội dung:
Chơng 1: Những vấn đề lí luận xung quanh cái tôi trữ tình trong thơ.
1 Khái niệm về cái tôi và cái tôi trữ tình
2 Hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong tác phẩm.
Chơng 2: 1 Vị trí văn học sử của Chế Lan Viên.
2 Quan niệm nghệ thuật về thơ của Chế Lan Viên.
Chơng 3: Cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên trên
phơng diện nội dung
1 Cái tôi hoà nhập vào cái ta cộng đồng
2 Cái tôi sử thi.
3 Cái tôi triết lý suy ngẫm.
Chơng 4: Cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên trên
phuơng diện nghệ thuật
1 Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình
Trong thơ ca ngời ta thờng nhắc tới khái niệm “cái tôi trữ tình” Vậy “cái tôitrữ tình”đợc hiểu nh thế nào ?
Cái tôi trữ tình là một khái niệm quan trọng đã đợc nghiên cứu, đề cập từ rấtlâu nhng cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận bàn cãi Trớc khi đi vào vấn đề cáitôi trữ tình, cần trở về phạm trù gốc của nó là phạm trù cá nhân và cái tôi
1.1 Cái tôi: là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức
cho con ngời về bản thể tồn tại của mình, để nhận ra mình là một con ngời khác với
tự nhiên, là một cá thể khác với ngời khác
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Cá nhân xuất hiện trong một giai đoạn nhất
định, khi mỗi thành viên của tập thể lại bắt đầu tách ra khỏi chỉnh thể và theo một ýnghĩa nhất định và bắt đầu mâu thuẫn với tập thể đó Đây có thể coi là sự thức tỉnh
đầu tiên của con ngời mỗi cá thể Mỗi cá thể nh một đơn vị tồn tại độc lập với cáthể khác
Khái niệm “cái tôi ” là một khái niệm có nội hàm rộng vừa mang tính chấtxã hội lịch sử và vận động phát triển qua các thời đại
Nhìn chung, tôn giáo không thừa nhận cái tôi cá nhân Mà nếu có nói đến cáitôi cá nhân thì cũng để hoà nó vào những quan niệm siêu hình
Trang 6Cơ đốc giáo quy tất cả giá trị cá nhân vào linh hồn - một sản phẩm của siêunghiệm và nó chỉ thừa nhận hình ảnh một cá nhân khi nó đã tẩy rửa hết những gì làcá biệt của bản thân để gần với hình ảnh của Chúa
Triết lý của Phật giáo đợc xây dựng trên căn bản của thuyết vô ngã Cái tôichỉ là một sự giả tởng
Còn t tởng Nho giáo không dành chỗ cho cái tôi cá nhân Theo Nho giáo thìcon ngời là sự cô đúc của Trời - Đất, là sự kết giao của âm dơng, là sự hội tụ củaquỷ thần, là lí trí tốt đẹp của ngũ hành Bởi thế, cá nhân hiện diện không phải nhhình ảnh của bản thân nó mà cá nhân hoà tan vào bản chất chung của con ngời, conngời của cơng thờng đạo lý
Các nhà triết học duy tâm là những ngời đầu tiên chú ý đến cái tôi khi đề cao
ý thức lý tính trong quan hệ vật chất và ý thức, chủ quan và khách quan, cá nhân vàxã hội
Theo Đề-Các (1596 - 1680) cái tôi thể hiện ra nh một cái thuộc về thể hiệnthực tế biết t duy, nh căn nguyên của nhận thức duy lývà do đó, cái tôi khẳng định
tính độc lập của mình với định nghĩa nổi tiếng: “Tôi t duy tức là tôi tồn tại ”.
Theo Kant (1724 -1804) cái tôi bao gồm hai phơng diện: Thứ nhất, cái tôivới t cách là chủ thể t duy, chủ thể nhận thức thế giới Thứ hai, cái tôi với t cách làkhách thể của nhận thức, cái tôi này trở thành đối tợng để khám phá, tìm hiểu Sựphản ánh cái tôi này là một bớc tiến của nhận thức về cái tôi phong phú và bí ẩncủa con ngời Đồng thời, Kant cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức của
cái tôi: “tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó, mà ở
trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi ”.
Hêghen(1770- 1831), một mặt coi cái tôi nh là sự tha hoá của “ý thức tuyệt
đối ” một mặt nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi : chúng tôi nh là trung tâm của
tồn tại, chúng tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiệnthực
Béc xông(1859- 1941) khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân đã chú
ý chúng tôi thuần tuý ý thức Theo ông, con ngời có hai cái tôi : cái tôi bề mặt vàcái tôi bề sâu cái tôi bề mặt là các quan hệ của con ngời đối với xã hội Còn cái tôi
bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức Đó mới chính là đối tợng của nghệ thuật
Các quan điểm của các nhà triết học duy tâm đã khẳng định cái tôi là phơngdiện trung tâm của tinh thần con ngời, là cốt lõi của ý thức, có khả năng chi phối và
là sự khẳng định nhân cách con ngời trong thế giới Tuy vậy, các quan điểm trên đãtách cái tôi khỏi con ngời xã hội sinh động Cha tìm thấy cơ sở lịch sử cụ thể vàtính tích cực chủ động của cái tôi
Đối lập với những quan điểm tuyệt đối hoá cái tôi cá nhân, tách nó ra khi cácmối quan hệ hiện thực xã hội, triết học Mác xác định giá trị con ngời cá nhân từbản thân con ngời với t cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ xã hội.Theo Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa nh là một “bộ mặt xã hội ” của con ngời, nh làkết quả của việc xã hội hoá cá thể con ngời, có thể nói đến một cá nhân ở bên ngoàixã hội Ngợc lại khái niệm “cá nhân” luôn tìm thấy cặp biện chứng của mình trongkhái niệm xã hội Tự do cho mỗi cái tôi cá nhân trong tự do cho tất cả mọi ng ời,
đó là lý tởng về giải phóng cá nhân của triết học Mác Đồng thời, vai trò của cái tôi
Trang 7cũng đợc khẳng định: “cái tôi là trung tâm tinh thần của con ngời, có quan hệ tích
cực đối với thế giới và chính ban thân mình”.
Bên cạnh đó, các nhà tâm lý học cũng đề cập đến cái tôi khi xây dựng cáchọc thuyết về nhân cách, tuy sự lý giải về nhân cách cũng nh cấu trúc nhân cách rấtkhác nhau, nhng nhìn chung, từ thuyết phản tâm của Frớt, thuyết phát triển trí tuệcủa Piagiê Đến các công trình lí luận về nhân cách của khoa tâm lý họcMácxít( A.N.Lêônchiep, A.G.Côvaliôp ) đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản cấuthành phần ý thức của cá nhân con ngời
Nh vậy, cái tôi thực chất là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổquát Hiện tợng cái tôi vừa mang tính xã hội, vừa phân biệt cái độc đáo và khẳng
1.2 Cái tôi trữ tình: Đó là sự thể hiện một cách nhận thức của cảm xúc đối
với thế giới và con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc
tổ chức các phơng tiện của thơ trữ tình tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc
đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt năng lợng tinh thần ấy đến ngời đọc
Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hợp nhiều yếu tố, là sựhội tụ, thăng hoa theo quy luật nghệ thuật cả ba phơng diện: cá nhân - xã hội -thẩm mỹ trong hình thức thể loại trữ tình
Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc chiếm lĩnh hình thức là nguyêntắc chủ quan- Do tính chất cá cá nhân đậm nét, do cá nhân nhà thơ đóng vai tròsáng tạo duy nhất và tuyệt đối nên cái tôi trữ tình dễ bị hiểu một cách hạn hẹp đợcquay về và có khi bộc lộ nh những chứng tích hiển nhiên, nhng tự thân nó không đủlàm nên cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình khác về chất so với nhà thơ - đó là sự khácnhau giữa cuộc đời và nghệ thuật, giữa gốc rễ và cành lá nảy nở sinh động của nó.Cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ mà nó còn là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi
đợc khách thể hoá, đợc thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Nó có uan
hệ chặt chẽ vớ cái tôi nhà thơ Nhng từ cái tôi nhà thơ đến cái tôi trữ tình còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác
Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình Nếuquan niệm một tác phẩm trữ tình là một hệ thống với các cấp độ, các yếu tố thì cóthể nói mọi thành tố cấu tạo nên bài thơ, từ các biện pháp tu từ cho đến thể thơ,nhịp thơ,vần điệu đều nằm trong ảnh hởng của một trung tâm quy chiếu là cái tôitrữ tình Đó cũng là cơ sở để có thể nói đến các loại hình về hình thức với t cáchnhững đặc điểm hình thức tiêu biểu tơng ứngvới các kiểu cái tôi trữ tình
2 Hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong tác phẩm.
Là một hiện tợng lịch sử, cái tôi trữ tình cũng có những hình thái lịch sử của
nó Có thể nói, lịch sử phát triển thơ ca là lịch sử phát triển của cái tôi trữ tình,là sựthay đổi mô hình quan hệ giữa cái tôi trữ tình và đời sống Trong thơ (của một tácgiả và thời đại) luôn có những yếu tố ổn định cho thấy giới hạn của một kiểu ý thứccủa cái tôi trữ tình Để đi sâu vào sự phát triển thơ ca, cần phải dùng đến khái niệm
Trang 8rộng hơn: kiểu cái tôi trữ tình.Trong sự vận động của tiến trình lịch sử xã hội, lịch
sử của một thời đại, một cá thể, ý thức về cái tôi trữ tình cũng có sự khác nhau:
2.1.Cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca.
Cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca - thể loại cổ xa nhất của văn học trữ tình
- là cái tôi tìm thấy mình trong tiếng nói chung của tập thể, cái tôi có thể chìm đikhông bộc lộ nh một cá nhân riêng biệt mà biểu hiện cái tôi xã hội (cái ta) của tậpthể cộng đồng.Cảm hứng nhà thơ dân gian bắt nguồn từ nhu cầu đực chia sẽ, giaohởng và đồng vọng trong những cảnh ngộ tơng đồng Nhân vật trữ tình cơ bản làngời lao động, dù đó là ngời đang dãi nắng dầm ma trên đồng, kẻ nhọc nhằn dớitruông Họ xuất hiện giữa khung cảnh lao động: vờn chè, bãi dâu, dòng sông,
đồng Đó là thế giới của cuộc sống lao động mà qua đó họ thấy thân phận cuộc
đời họ, thấy quan hệ nghĩa tình của làng xóm quê hơng Cảm hứng chủ yếu là
th-ơng thân và phản kháng Nhng vợt lên tất cả vẫn là bản chất cứng cỏi, ý thức vàkhẳng định nhân cách chung của một tập thể, một cộng đồng
Về cơ bản, cái tôi trữ tình dân gian là cái tôi phi cá thể Hình thức truyềnmiệng, diễn xớng vận động qua không gian, thời gian đã làm ớc lệ (Chiều chiều,hôm nay, bây giờ ) làm cho thời gian cá thể của cái tôi dân gian là cái chung, cáitập thể
2.2.Cái tôi trữ tình trong thơ cổ điển.
Trong văn học cổ, nói chung bản chất con ngời bắt nguồn từ quan hệ cộng
đồng, giá trị cá nhân nằm trong giá trị quần thể Đó là một giai đoạn văn hoá màmỗi cá nhân cảm nhận đặc điểm chung của tầng lớp nh là cá tính tự nhiên củamình Văn học chủ yếu phát ngôn trên t cách siêu cá nhân với những vấn đề của tậpthể, gia đình, giai cấp thống trị, cho lý tởng đạo đức, cho vận mệnh dân tộc Điều
đó tạo nên kiểu nhà thơ cổ điển “phi ngã ”
Trong thơ cổ, cái tôi trữ tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ Cái tôi ca tính đãkhách thể hoá vũ trụ Mỗi sự việc, mỗi khung cảnh đều mang một ý nghĩa triết lý
về quan hệ con ngời và vũ trụ Do không tách mình khỏi vũ trụ, để từ những bí ẩncủa vũ trụ, gián tiếp bộc lộ những bí ẩn của tâm hồn Cùng với sự dân chủ hoá dòngthơ cổ điển, khuynh hớng hiện thực góp phần giúp con ngời ý thức đợc mình với tcách vừa là một thành viên cộnh đồng, vừa là một cá thể với tất cả sự phức tạp bêntrong của nó Xuất hiện cái tôi trữ tình cá nhân - tâm trạng tơng đối phi chuẩn mựctrong các thể ngâm khúc trữ tình Con ngời tâm trạng mở ra khả năng nhìn nhậncon ngời ở chiều sâu nội tâm Đó là bớc chuyển từ con ngời phi ngã đến con ngờihữu ngã dựa trên cảm quan hiện thực, bởi con ngời chứng minh sự hiện hữu tâmtrạng từ sự khép kín tâm trạng đến thành thực cởi mở những cảm giác phức tạp, Từ
ít có quan hệ với hiện thực xã hội đến việc hoà nhập con ngời vào cuộc đời
2.3 Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn.
Kiểu nhà thơ lãng mạn gắn liền với sự tự ý thức về cá nhân nh một cá thểriêng biệt độc đáo Đó là cái tôi cá nhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn Bản thânviệc biểu hiện cái tôi, sự cô đơn, nỗi buồn, tình yêu cha làm nên thơ lãng mạn màchất lãng mạn nằm trong cách cảm nhận, biểu hiện thế giới và con ngời mọt cách
đặc thù Đó là cái tôi nằm ở trung tâm cảm nhận, làm nguyên tắc thế giới quan
Trang 9Khác với cái tôi trong thơ cổ - một cái tôi tĩnh lặng, tự đắc, tự tại, dù ử trongnghịch cảnh, vẫn cảm thấy luôn luôn gắn bó với một cái gì thiêng liêng, bền chặtkhông di dịch, trái lại, nhà thơ lãng mạn để ngỏ lòng mình mà đón nhận tất cả, lắngnghe tất cả.
Thơ lãng mạn là thể hiện của tâm hồn, một tâm hồn đã giải phóng khỏi quyphạm giáo huấn - rất đỗi thành thực - tự bộc lộ mìnhmà không cần một ớc lệ Đồngthời thơ lãng mạn là thơ lấy tâm hồn mình làm trung tâm, không chấp nhận cõithực tầm thờng, bằng phẳng, nhạt nhẽo, vô cảm Tự nó vơn lên bằng tởng tợng khácthờng, bằng ảo mộng, hoài niệm hoặc mỹ hoá phong tục, phong cảnh, truyềnthuyết, ngôn từ chỉ để nhằm một mục đích tự lhẳng định bản chất con ngời củamình Một con ngời tự do thì vừa mạnh mẽ kiêu hãnh,vừa yếu đuối bơ vơ, buồnrầu, cô đơn, tạo thành “ dải phổ ” tình cảm cực kỳ phong phú, tinh tế, phức tạp củakiểu sáng tác thơ lãng mạn
2.4 Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng.
Từ 1945- 1975, tiếng nói trữ tình chủ yếu bộc lộ trên các vấn đề dân tộc, lịch
sử Tinh thần công dân là tinh thần chủ yếu xuất hiện kiểu nhà thơ cách mạng luôn
đứng trong những sự kiện lớn lao của đất nớc với t thế dân tộc, thời đại, giai cấp.Các nhà thơ hiện diện trong trách nhiệm với cuộc sống hiện tại và niềm tin vào t-
ơng lai Vị trí của con ngời trữ tình là vị trí của cái tôi xã hội, cái tôi công dân nênmang một không khí mới mẻ và kiêu hãnh Đây là giai đoạn các nhà thơ tuyên bốrời bỏ cái tôi cá nhân để cái riêng t hoà nhập vào cai ta cộng đồng Nhà thơ giờ đâygiữ trọng trách là ngời phát ngôn t tởng lớn của thời đại, con ngời sống với t thếxông xáo, tự tin, khoẻ khoắn, dứt khoát Thơ cách mạng là thơ của một cái tôi mới,chúng tôi cộng đồng Chủ thể là một phạm trù đa thức Đó là một cá nhân khônglặp lại, cũng có thể là một nhóm ngời cùng chung cảm thức, ý chí, có thể là toàn bộxã hội nói chung, cũng có thể là một kiểu xã hội hình thành một cách lịch sử.Trong cái tôi mỗi ngời có cả một hệ cái tôi khác nhau, trong cái tôi đó có cái tôicộng đồng, mà khi giao tiếp thờng đợc xng là “ta”, “chúng ta” Khác với cái tôi cánhân phân biệt ngời này với ngời khác, cái tôi khẳng định cái chung của mọi ngờicùng sự nghiệp, số phận, cùng khổ đau, vui sớng, cùng sống chết, vinh nhục Cáitôi trong thơ cách mạng dù cá thể vẫn luôn luôn thuộc về cái ta chung, là lơng tâmcủa quần chúng, đoàn thể, tổ quốc,thời đại
Thơ cách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi độc đáo, trong đó có ngờigià, trẻ em, thanh niên, phụ nữ, cán bộ, bộ đội, tiền tuyến, hậu phơng đều sốngtrong một cuộc đời chung khác thờng Thơ cách mạng so với thơ mới thì nó đã thực
sự làm một cuộc cách tân về chất liệu thơ Đó là nghệ thuật độc đáo đích thực củamột thời đại hào hùng mà khắc nghiệt đã làm sống dậy các truyền thống cao đẹpnhất của dân tộc Việt Nam
Có thể nói, những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình trongthơ ca và các hình thức biểu hiện của nó trong tác phẩm qua các giai đoạn văn họckhác nhau từ trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến mộtcách khá đầy đủ Chúng tôi thừa nhận và tiếp thu tinh thần những ý kiến đúng đắncủa các tác giả đi trớc, lấy nó làm cơ sở lý luận cho quá trình thực hiện khoá luậnnày
Trang 10Chơng 2: Vị trí văn học sử của Chế Lan Viên trong tiến trình văn
học Việt Nam hiện đại Quan niệm nghệ thuật về thơ của
Chế Lan Viên.
1 Vị trí văn học sử của Chế Lan Viên trong tiến trình phát triển của
văn họcViệt Nam hiện đại.
1.1 Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm
1930 tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình viên chức nhỏ Năm 16,
17 tuổi ông học tại một trờng trung học Quy Nhơn và đã có thơ đăng báo, gây xônxao d luận trong giới bạn đọc và giới phê bình Cách mạng Tháng Tám bùng nổ,
ông tham gia cách mạng ở Quy Nhơn, sau đó gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Chế Lan Viên trở lại Hà Nội và tiếp tục sựnghiệp sáng tác của mình Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông tham gia vàoban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham gia nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế ởnhiều nớc trên thế giới Đất nớc hoàn toàn thống nhất, ông chuyển vào sống ởThành phố Hồ Chí Minh và vẫn tiếp tục viết cho đến cuối đời Ông mất ngày 19tháng 6 năm 1989 tại bệnh viện Thống Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại,Chế Lan
Viên đợc đánh giá là một nhà thơ tài năng, một nhà hoạt động văn hoá có vị tríhàng đầu, có công lao to lớn đối với nền văn học dân tộc trên nhiều phơng diện:sáng tác, xây dựng đội ngũ nhà thơ, phê bình, bình luận Trong những đóng góp ấythì chủ yếu nhất là trên lĩnh vực sáng tác, nghiên cứu thơ Trong hơn năm mơi nămcầm bút, Chế Lan Viên đã để lại một khối lợng tác phẩm lớn và đa đạng: với 13 tậpthơ, hàng chục tập bút ký, tiểu luận, phê bình, đã xuất bản và hàng ngàn trang Di
cảo mới đợc tập hợp bớc đầu in thành 3 tập “Di cảo thơ ”
Vũ Tuấn Anh có nhận xét: “Chế Lan Viên đã sống một cuộc đời của một
nghệ sĩ lớn Một nghệ sĩ gắn mình với những chuyển biến của thời đại, với số phận của dân tộc Một thi sĩ dâng hiến hết mình cho thơ ca với sự đam mê sáng tạo th - ờng trực và bất tận Mà sự sáng tạo đó không chỉ làm giàu cho hiện tại mà còn tạo lực đẩy cho quá trình vận động văn học, có ý nghĩa gieo giống cho mùa sau” [21;
8] Đúng vậy! Trớc cách mạng, mới 17 tuổi với tập “Điêu tàn” Chế Lan Viên đợc
xem là một trong nhiều nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới Với tập thơ đầutay nay, Chế Lan Viên đã thể hiện đợc một phong cách độc đáo Ngay lập tức, ôngkhẳng định đợc chỗ đứng cho mình
Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam ” Hoài Thanh nhận xét về “Điêu tàn”:
“Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở thế kỷ XX, nó sừng sững nh cái Tháp Chàm
Chắc chắn, lẻ loi và bí mật” [217; 9] Giữa lúc Xuân Diệu đang chìm đắm trong
“niềm khắc khoải thời gian”, Huy Cận bất lực vì nỗi sầu nhân gian, Thế Lữ tìm đếncõi tiên nh một giải pháp cho tâm hồn thì Chế Lan Viên đi vào một thế giới đầyyêu ma, quỷ qoái, đầy sọ ngời và những tiếng khóc vật vờ, uất hận Và cho đến
Trang 11cuối đời, Chế Lan Viên vẫn giữ đợc vị trí hàng đầu trong làng thơ ca Việt Nam hiện
đại
1.3 Nếu nh trớc cách mạng, Chế Lan Viên đã khẩng định đợc chõ đứng của
minh bởi “ một niềm kinh dị ” trên thi đàn Việt Nam thì sau cách mạng, vị trí ấy
đ-ợc đẩy lên một tầm cao mới, tầm vóc xứng đáng với nhà thơ - chiến sĩ, nhà thơcách mạng trong thời đại mới
Cách mạng đến nh một vầng sáng nở bừng trớc mắt Chế Lan Viên, kéo nhà thơ ra
khỏi con đờng lạnh lẽo, bế tắc của “Điêu tàn” Vụ gặt hái đầu tiên của Chế Lan
Viên sau hơn mời năm theo Đảng, gắn mình vào cuộc kháng chiến là tập thơ “Gửi
các anh”(1955) Hồn thơ Chế Lan Viên đổi khác Trớc kia ông nhìn vào trong để
biểu hiện mình thì nay ông nhìn ra chung quanh để thể hiện cuộc sống kháng
chiến Tuy “Gửi các anh” cha thực sự thành công, nó còn mang tính khuôn sáo
nh một khẩu hiệu tuyên truyền, cha có cái hồn của chà thơ trong đó, nhng “Gửi các anh” đánh dấu sự chuyển biến lớn lao, căn bản của thơ Chế Lan Viên về cả t tởng
cảm xúc lẫn cách thể hiện con đờng đi đến với cách mạng Thơ Chế Lan Viên chỉthật sự khởi sắc từ sau 1954 đến hết thời kỳ chống Mỹ với hàng loạt tập thơ ra đời
nh “ánh sáng và phù sa”, “ Hoa ngày thờng, chim báo bão”, “Những bài thơ
đánh giặc”, “ Đối thoại mới ”
Không phải ngẫu nhiên mà Trần Mạnh Hảo lại khẳng định: “thung lũng đau
thơng đến cánh đồng vui” là cảm hứng chủ đạo của tập “ánh sáng và phù sa”
(1960)- một thành tựu của nền xã hội chủ nghĩa Tập thơ đợc đánh giá là một đỉnhcao mới của thơ Chế Lan Viên Nó đợc đón nhận ngay khi ra đời và cũng là “niềm
sửng sốt” mới sau “Điêu tàn” Sau chiến thắng, những bài thơ “thời sự ” hào hùng
sâu lắng viết sau ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng
chiến tranh ra Bắc, đánh dấu một bớc phát triển của Chế Lan Viên “ Hoa ngày ờng, Chim báo bão” (1967), “Những bài thơ đánh giặc”(1972), cho đến “Đối thoại mới ”( 1973) là những tập thơ ra đời trong những năm chống Mỹ cứu nớc là
th-những đóng góp đáng chú ý vào thành tựu của nền thơ ca dân tộc
Sau 1975, với những tập thơ: “Hái theo mùa”(1977), “Hoa trên đá”(1984),
3 tập “Di cảo” là minh chứng cho sức viết bền bỉ có cảm xúc của Chế Lan Viên Nếu nh “Hái theo mùa” vẫn còn d vang của âm hởng sử thi trong “ngày chiến
thắng” bên những cảm xúc đời thờng kết thành một chùm tứ tuyệt với hơn 40 bài
thì “Hoa trên đá ” có chất thơ mới, một giọng thơ mới khi nhà thơ bớc vào tuổi 60
đằm chín của hồn thơ sâu lắng, thiết tha, thấm tận đáy lòng ngời đọc
Với những cống hiến đó, Chế Lan Viên xứng danh là bậc thầy thơ ca của nềnvăn học Việt Nam hiện đại
1.4 Thoát ly vào thơ và làm cho thơ thoát ly hiện thực Đó là đặc điểm cốt
lõi nhất của phong trào Thơ Mới nói chung và Chế Lan Viên nói riêng Sau cáchmạng,thời thế thay đổi dẫn đến sự thay đổi t duy ở các nhà thơ mới Đó là nhữngnhà thơ từng là trụ cột của phong trào Thơ Mới nh Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy
Cận, Tế Hanh, Nguyễn Bính Họ tìm cách đến với cách mạng “nh chờ vang tiếng
sét giữa trời mây” Một Xuân Diệu yêu đời, khát sống mà phải luôn rợn ngợp giữa
cô đơn nay tìm ra mái ấm cho tâm hồn mình:
Tôi cùng xơng thịt với nhân dân tôi.
Trang 12Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu.
Một Huy Cận khi xa hay nơ vơ sầu não giơ đây thấy “Trời mỗi ngày lại sáng” trên
“Đất nở hoa” Một Chế Lan Viên từng thấy thân phận mình sờ soạng cùng đám ma
Hời mất nớc, ao ớc vun hết lá vàng để chắn nẻo xuân sang nay gặp cách mạng, vui
mừng mà hát “Xa phu du ma nay đã phù sa”
Từ lãng mạn trở về hiện thực, từ cái tôi hớng đến cái ta, mọi ngời đã cổ vũcho sự trở về với thực tế của các nhà thơ mới Chế Lan Viên đã cho ra đời tập thơ
"ánh sáng và phù sa" với nhận địmh rằng: “ánh sáng soi rọi tôi và phù sa bồi đắp
tôi ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tởng tôi ” Từ một quan niệm thơ
ảnh hởng chủ nghĩa lãng mạn siêu thực, Chế Lan Viên đã chấp nhận th phản ánhhiện thực lịch sử và rồi từ các nhìn lịch sử đơn chiều ông vơn tới caí nhìn lịch sử đachiều Ông đã coi thơ nh là vũ khí đánh giặc Từ 1954 đến 1975 là giai đoạn vănhọc phục vụ hai nhiệm vụ chiến lợc: khôi phục kinh tế và quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc; đấu tranh thống nhất nớc nhà ở miền Nam Thơ chống Mỹ của ChếLan Viên theo sát lịch sử chặng đờng này, góp phần tích cực làm vũ khí động viên
cổ vũ nhân dân ta xây dựng đất nớc và đấu tranh chiến thắng kẻ thù Do đó thơ ông
đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền thơ ca hiện đại nh đặt vào đó mộtviên ngọc quý
2 Quan niệm nghệ thuật về thơ của Chế Lan Viên
2.1 Đời thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều giai đoạn, nhiều khúc quanh.
Ông từng là một thi sĩ - lãng mạn, một thi sĩ - chiến sĩ và cuối đời ông là một thi triết nhân Ban cạnh đó ông còn là một nhà lý luận quan niệm về thơ
sĩ-Trong lịch sử văn học đã có nhiều quan niệm về thơ Thời trung đại, nhà hiện
thựcơ Phan Phong Tiên đã quan niệm: “ thi dĩ ngôn chí ”, nghĩa là mục đích của
thơ không phải chỉ nhận thức và phản ánh hiện thực mà còn là để bộc lộ ý chí, tìnhcảm của mình
Trong trào lu thơ lãng mạn Việt Nam 1932- 1945, những nhà thơ mới xemthơ nh một liệu pháp tinh thần để giải toả tâm lý bế tắc chán chờng của một tầnglớp trí thức tiểu t sản cùng đờng:
Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
(Xuân Diệu)cùng thời với các nhà thơ mới (Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Thế Lữ ) thì các nhàthơ cách mạng (Tố Hữu, Hồ Chí Minh, Sóng Hồng ) lại có quan niệm hoàn toàn
khác Khi nói “Thi sĩ hỡi đi tìm chi vớ vẩn” là Tố Hữu muốn thơ phải gắn với cách
mạng, thơ ca phải phục vụ sự nghiệp đấu tranh của toàn thể dân tộc Hồ chí Minh
đã định hớng cho các nhà thơ đang bế tắc trong công cuộc nhận đờng rằng:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Còn Sóng Hồng đã biến thơ thành vũ khí sắc bén trực tiếp đấu tranh làm biến độngxã hội, cùng dân tộc chiến đấu:
Dùng cán bút làm xoay vần chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền.
Trang 132.2 Chế Lan Viên quan niệm nghệ thuật về thơ có sự vận động theo thời
gian qua các thời kỳ và ở thời kỳ 1954- 1975 có sự đấu tranh chống giặc ngoại xâmmạnh mẽ và quyết liệt nhất
Trớc cách mạng, Chế Lan Viên quan niệm: “Làm thơ là làm sự phi thờng”.
Ông nói: “Hàn Mặc Tử nói làm thơ tức là điên tôi thêm, làm thơ là làm sự phi
th-ờng Thi sĩ không phải là ngời, đó là ngời mơ, ngời say, ngời điên Nó là tiên, là
ma, là quỷ, là yêu, là tinh Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm t ơng lai Ngời ta không hiểu đợc nó vì nó nói nhiều đến cái vô nghĩa, tuy rằng cái vô nghĩa hợp lý ” [7; 14]
Với quan niệm đó, Chế Lan Viên thực sự đã làm nên cái phi thờng khônggiống ai trong thơ ca Ông triền miên suốt ngày, ngụp lặn mà vùng vẫy, mà kêu gào
trong cõi âm ghê rợn: “Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cời, Cái gì của nó cũng tột
cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cời tràn cả tuỷ là tuỷ ”:
Hồn ma ơi hồn ma có nhớ Nơi mi hằng chôn gửi hận Trần Gian?
Nơi đã khô của mi bao máu đỏ Bao tuỷ nồng đã trắng với xơng tàn?
Cách mạng Tháng Tám đến, vận mệnh dân tộc, vận mệnh con ngời đợc thay
đổi Nỗi xót xa bế tắc của một kẻ mất nớc trớc kia đã trở thành lòng yêu thiết thacộng đồng bây giờ Cách mạng uốn nắn lại tâm hồn thi sĩ giúp Chế Lan Viên nhận
ra và phát huy đúng bản chất của mình Nhà thơ nói: “Không có cách mạng, không
có thơ Chế Lan Viên ” Để đến đợc với cách mạng, với nhân dân, Chế Lan Viên đãphải vật lộn với cái cũ, tiếp nhận cái mới đầy vất vả Và trong hành trình quay trởlại Ngời bộ hành không mệt mỏi ấy đã đợc nhân dân tiếp sức Thơ ông tắm mìnhtrong dòng suối mát lànhcủa cộng đồng, của nhân dân để từ đó mà lột xác Đảng,nhân dân cuộc sống đã dang rộng cánh tay đón chào đứa con lạc loài trở về Hồn
thơ Chế Lan Viên đợc tiếp thêm sinh lực cho một sự thay đổi Trong “Th gửi các anh” ông đã cố gắng nêu lên quan niệm thơ hoàn toàn mới, ban đầu còn non nớt,
nhng sau cứng cáp dần:
Xa tôi hát bây giờ tôi tập nói Chỉ nói thôi mới nói hết đợc đời.
Với " ánh sáng và phù sa" ông đã “từ thung lũng đau thơng bớc ra cánh
đồng vui ” “ Từ chân trời một ngời đến chân tất cả ” (Ê Luya) Thơ Chế Lan Viên
giai đoạn này mang âm hởng sử thi của thơ ca chống Mỹ Cảm hứng chủ đạo thiên
về ngợi ca, cái tôi hoà nhập vào cái ta cộng đồng Nhà thơ đã đặt ra và trả lời nhữngvấn đề cách mạng đang cần nhằm cải tạo cuộc sống:
Thơ xa chỉ hay than mà ít hỏi
Đảng dạy ta thơ phải trả lời.
Chế Lan Viên còn viết:
Th không chỉ đa ru mà còn thức tỉnh Không chỉ ơ hời mà còn đập bàn quát tháo lo toan.
Cùng với việc nâng thơ lên một cơng vị mới, Chế Lan Viên đả nâng tầm vóccủa nhà thơ lên một tầm cao mới: Nhà thơ chiến sĩ:
Trang 14Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ Bên dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đông và hạ trực thăng rơi.
Không những thế,Chế Lan Viên còn muốn thơ vừa phải có sức mạnh quậtkhởi nhng đồng thời thơ vừa là một nhành hoa bé bỏng cho đời thêm sắc:
Ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc Thành một nhành hoa mát mắt cho đời.
Coi trọng nhiệm vụ, vai trò của thơ ca đối với cộng đồng trong thời đại mới,Chế Lan Viên cũng rất đề cao tác động chi phối của cộng đồng đối với thơ ChếLan Viên đã trả lời câu hỏi mà trớc đây ông cha cha thể trả lời:
Ta là ai? Nh ngọn gió vô hình Câu hỏi h vô thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay nào thắp lại triệu chồi xanh.
Về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ, ngời ta thờng ví nội
dung và hình thức nh hai mặt của một tờ giấy Chế Lan Viên phát biểu: “ Hình thức
thơ là hình thức gắn liền với một nội dung mang tính quan niệm chứ không phải là hình thức một nơi mà nội dung một nẻo” Đề cao hình thức của thơ, ông mạnh dạn
đa ra tuyên ngôn của mình:
Hình thức cũng là vũ khí Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lý.
Khi đất nớc chấm dứt chiến tranh,trở về với những lo toan thờng nhật, conngời có điều kiện nhìn lại bản thân mình - Chế Lan Viên đã có sự thay đổi trong
quan niệm về thơ, từ giọng cao: “ đập bàn quát tháo” trở về giọng trầm: “giọng
cao bao nhiêu giừ anh hát giọng trầm” Chế Lan Viên từ việc đề cao vai trò của
nhà thơ - “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ” ông trở về tự nhận mình là “nhà
thơ cỡi trâu”, thậm chí ông còn tự hạ thấp vai trò nhà thơ của mình: “Vị trí nhà thơ
nh rác đổ thùng” ở đây ta thấy Chế Lan Viên đẫ tự vẽ chân dung mình Ông đã
tổng kết về cái tôi đích thực của mình trong “Tháp Bayon bốn mặt”:
Anh là tháp Bayon bốn mặt Dấu đi ba còn lại đấy là hai Chỉ mặt đó mà nghìn trò cời khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi vô hình.
Có ngời bảo Chế Lan Viên đã phủ nhận phần thơ chống Mỹ của mình, rằngChế Lan Viên là ngời cơ hội, gió chiều nào xoay chiều ấy Nhng theo tôi, ý kiếntrên kà cha xác đáng Bởi nếu đặt trong hoàn cảnh của mỗi thời đại thì ta sẽ thấy đ-
ợc cái Tâm chân thành của nhà thơ đối với dời, đối với nghề Thời chống Mỹ thơ
ông chỉ sống một phầm cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ Vì có một thời cáichung lấn át cái riêng - do cuộc sống đòi hỏi nh vậy Vì thế mà ai cũng nhiệt tình,hồn nhiên chân thành vì sự nghiệp cách mạng chung Nhà thơ tự nguyện dâng hiếnmình cho sự tồn vong của đất nớc Nhng sau 1975, do môi trờng sử thi không hoàntoàn thuần khiết , với cái nhìn hiện thực sự lý tởng hoá không còn Dới sự thay đổicủa điều kiện lịch sử xã hội, ý thức về vận mệnh lịch sử nhạt dần Con ngời nghiêngcái nhìn sang một lĩnh vực khác, đó là cái tôi đạo đức, đời t, thế sự Con ngời đợcgiải phóng cả tính trở về với hình ảnh con ngời đích thực của cuộc đời Bây giờ, con
Trang 15ngời khống đồng nhất với sức mạnh dân tộc để có một sức mạnh vô hạn nữa màcon ngời hiện diện giữa trời đất với t cách cá nhân nên ý thức vô hạn chuyển sang ýthức hữu hạn Nhà thơ tự thấy mình bé nhỏ trớc cuộc đời bon chen, h danh Càng vềcuối đời thì những suy ngẫm về thơ về đời của Chế Lan Viên càng da diết hơn.Những mâu thuẫn ấy nảy sinh trong thơ Chế Lan Viên khẳng định sự bế tắc trongsuy nghĩ,trong tâm hồn của nhà thơ lúc về già Ông luôn có những trăn trở, nuốitiếc xót xa và ông muốn làm một cái gì đó để biết mình vẫn sống, vẫn có ích Vì
vậy nhà thơ luôn nổ lực sống hết mình, “phải tranh thủ làm thơ giữa hai chớp
mắt”, viết một cách gấp gáp:
Viết đi! Viết đi! Viết!Viết Thời gian nớc xiết
Viết thêm, viết nữa, viết vào.
Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm ngời cầm bút của Chế Lan Viên
Có thể nói, quan niệm về thơ của Chế Lan Viên sau 1945 là quan niệm vănnghệ của Đảng đợc trình bày bằng thơ một cách sinh động trong các trang viết củamình Và thực tế, Chế Lan Viên đã góp phần qan trọng làm phong phú thêm chokho tàng lí luận Việt Nam
Chơng 3: cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ của Chế Lan Viên
trên phơng diện nội dung.
Trớc Cách mạng Tháng Tám, Chế Lan Viên là một nhà thơ lãng mạn Nhàthơ đã từ bỏ cuộc sống thực tại để quay về với quá khứ dĩ vãng nhng càng chìm
đắm vào thế giới mộng ảo siêu hình Chế Lan Viên càng bế tắc Có lúc ông tự hỏi:
“Ai bảo giùm ta có ta không? ”
Chính Đảng và Bác Hồ đẫ soi rọi ánh sáng con đờng đi tìm chân lý cho mộtnhà thơ cách mạng, một Chế Lan Viên hoàn toàn khác trớc hoà trong văn mạch hàohùng của một thời đại văn học mới Chế Lan Viên tự nguyện dùng tiếng thơ củamình ca ngợi cuộc sống mới, ca ngợi Tổ quốc Việt Nam, ca ngợi Đảng, Bác Hồ vĩ
đại, đồng thời lên tiếng đanh thép tố cáo tội ác kẻ thù xâm lợc Đó là những dòngthơ vừa trữ tình đằm thắm vừa triết luận gân guốc của một tâm hồn yêu đời, yêucuộc sống của một trí tuệ uyên thâm
1 Cái tôi hoà nhập vào cái ta cộng đồng
1.1 Khái quát về thơ chống Mỹ trong văn học Việt Nam
Văn học thời kỳ 1954- 1975 đợc mở đầu bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và kếtthúc bằng đại thắng mùa xuân 1975
ở miền Bắc, thời kỳ 1954- 1964, văn học ca ngợi thành tựu khôi phục kinh
tế, xây dựng chủ nghiã xã hội của đất nớc Từ 1964- 1975 văn học phản ánh hainhiệm vụ chiến lợc: xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nớc nhà
Trang 16Trong thơ Tố Hữu, ở tập “Gió lộng” vẫn đang là những vần thơ tơi trẻ ca ngợi con ngời và cuộc sống mới Mãi đến tập “Ra trận” thì thơ ông mới mang nhiệm vụ
chiến đấu chống giặc ngoại xâm
Đối với miền Nam, từ 1954 văn học đã phản ánh cuộc đấu tranh của cáchmạng Việt Nam Nhng đến 1964-1975, khi quân Mỹ leo thang bắn phá miền Bắcthì văn học nói chung và thơ ca nói riêng ở thời kỳ này phản ánh cuộc đấu tranhchống Mỹ cứu nớc gay go, quyết liệt và lên đến đỉnh điểm của cao trào Nó mang
âm hởng sáng tạo hoành tráng
Văn học thời kỳ 1954-1975 phát triển mạnh mẽ và đã đạt đợc nhiều thànhtựu rực rỡ Đặc biệt là thể loại thơ Cha bao giờ đội ngũ các nhà thơ lại đông đảo,hùng hậu cả về số lợng lẫn chất lợng nh bấy giờ Đội ngũ nhà thơ đợc mở rộng mộtcách nhanh chóng Đó là các nhà thơ là các vị lãnh đạo cách mạng nh: Tố Hữu, Tr-ờng Chinh, Hồ Chí Minh, Xuân Thuỷ Đó là những nhà thơ lớp trớc nổi lên từ thời
kỳ chống pháp nh: Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoang Trung Thông, ChínhHữu Và những nhà thơ chuyển từ dòng thơ lãng mạn (trớc cách mạng ) sang dòngthơ hiện thực cách mạng nh: Xuân Diệu, Chế Lan Viên , Huy Cận, Tế Hanh Đócòn là lực lợng các nhà thơ trẻ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vàtrong hoà bình nh: Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phơng, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa
Điềm, Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn Các tác giả ấy đã xây dựng thành công
một số hình tợng nghệ thuật nh: Hình tợng Tổ quốc ( “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ”của Chế Lan Viên , “Mặt dờng khát vọng” của Nguyễn Khoa
Điềm ) ; Hình tợng ngời mẹ ( “Mẹ Tơm”, “Mẹ Suốt” của Tố Hữu , “Đất quê ta mênh mông” của Dơng Hơng Ly ) ; Hình tợng ngời phụ nữ ( “Em gái Trờng Sơn” của Nguyễn Đình Thi , “Ngời con gái Việt Nam” của Tố Hữu ) ; Hình tợng ngời lính ( “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu , “Dáng đứng Việt Nam”
của Lê Anh Xuân ) Thơ ca chống Mỹ mỗi bài thơ là một ngọn chông hớng vàoquân thù, chông càng vót càng sắc nhọn, bài ca càng về sau càng điêu luyện nghệthuật, và ngời làm thơ là ngời chiến sĩ với lòng yêu nớc tràn đầy và lòng căm thùgiặc sâu sắc
1.2.Cái tôi Chế Lan Viên xác định lại vị trí trong cái ta cộng đồng và ca ngợi cuộc sống mới.
Cái tôi khép kín trớc cách mạng bắt đầu hoà nhập với cuộc sống mới saucách mạng là tinh thần chung của các nhà thơ mới nh: Chế Lan Viên, Xuân Diệu,Huy Cận Những tháng năm có ý nghĩa nhất đối với thơ Chế Lan Viên chặng đờngsau cách mạng là những năm miền Bắc bớc vào cao trào xây dựng chủ nghĩa xã hội
và cả nớc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc Nếu nh Tố Hữu muốn
đóng góp cho đất nớc “những vần thơ tơi xanh” và “những vần thơ lửa cháy” thì
Chế Lan Viên cũng đã thể hiện tấm lòmg mình đối với Tổ quốc không kém mặnnồng tha thiết:
Tôi muốn thơ tôi thành hầm chông giết giặc Thành một nhành hoa mát mắt cho đời.
Thơ ca chống Mỹ của Chế Lan Viên tập trung vào hai mảng đề tài: xây dựngchủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nớc Ông đã tự xác định vị trí của minh thànhmột thi sĩ - chiến sĩ trong cuọc đấu tranh của nhân dân bằng cách mỗi lời thơ, ý thơ
Trang 17đều có tác dụng và mục đích rõ rệt để “mỗi câu thơ cho một trận tuyến tâm tình”.
Chế Lan Viên khong tìm trong đau thơng hạt giống của sự màu nhiệm nh thời kỳtrớc cách mạng mà ông luôn luôn cố gắng vợt khỏi cái cô đơn bé nhỏ để hoà vàocái chung của mọi ngời :
Trong thung lũng đau thơng vẫn tìm ra vũ khí Phá cô đơn ta hoà hợp với ngời.
Nếu trong thơ mới, việc khẳng định con ngời cá nhân đợc xem là một bớctiến thì đến thời kỳ này việc khẳng định con ngời cá nhân trong cái ta cộng đồngcũng nên xem nó là một yêu cầu tự nhiên của một nền thơ Việc khẳng định conngời cá nhân cũng là việc khẳng định nhân cách tự chủ, t thế tồn tại và bản lĩnhsáng tạo
Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nớc đã đẩy quá trình phát triển thơ của ChếLan Viên lên một bớc mới Đó là thơ ca phải gắn liền với cuộc sống; thơ ca là sựsống, là tâm tình của mọi ngời Bớc sang thời kỳ sáng tác trong hoà bình, Chế Lan
Viên thờng có những lời sám hối khá nặng nề về một thời kỳ “Thơ xuôi tay nh nớc
chảy xuôi dòng” Ông rút ra bản kiểm điểm có phần cực đoan:
Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân Lần thứ nhất nha văn đi học cấy Bỗng nuối tiếc nghìn câu thơ nớc chảy Chửa vì ngời bằng một bữa cơm ăn.
Khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc bớc vào thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội, cuộc sống tuy còn nhiều gian lao vất vả song niềm tự hào dântộc, niềm vui chiến thắng của đất nớc ở miền Bắc đang từng ngày “đổi thịt thayda”, tất cả đã trở thành niềm vui lớn của thời đại Vì thế cảm hứng chủ đạo trongthơ ca giai đoạn này là cảm hứng ngợi ca cuộc sống mới Chế Lan Viên ngợi cahình ảnh đất nớc giàu đẹp tràn đầy nhựa sống ngay cả trong chiến tranh:
Một trung châu đất mật lúa vàng Một mùa dâu mang lụa đến cho tằm.
Nhà thơ có một niền tin tuyệt đối vào tơng lai tơi sáng:
Trong đắng cay ta phải thấy trớc ngọt ngào
Đối diện với lòng anh gieo hạt mùa sau.
Cuộc sống mới với những con ngời mới có ý quyết tâm xây dựng đất nớc và
ở mỗi con ngời cũng chứa chan tình cảm yêu thơng Cái tôi Chế Lan Viên ca ngớicmới là ca ngợi mối quan hệ tốt đẹp giữa con ngời với con ngời Qua thơ ông,ta nhậnthấy Chế Lan Viên là ngời có đời sống tình cảm dạt dào Ông có một nỗi nhớ mẹrất sâu sắc Nỗi nhớ mẹ da diết khiến cho cái thực và cái mộng hoà lẫn vào nhau.Nỗi nhớ đó vợt thời gian đi theo Chế Lan Viên, Đi đến trăm miền Tổ quốc :
Xa mẹ mời năm đi khắp nớc Trăm quê cha dễ thực quê nhà.
Chế Lan Viên cũng đã viết rất nhiều thơ về con, và hơn thế nữa dờng nh suốtcả cuộc đời nhà thơ luôn dõi theo bớc chân con Từ lúc con nằm trong nôi cho đếnkhi con biết tập đàn, tập hát rồi con đi bộ đội Dù con khôn lớn, con ở đâu thì tìnhthơng của cha mẹ vẫn hớng về con:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Trang 18Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.
Khi bàn về thơ tình yêu của Chế Lan Viên, có ngời nhận xét: “Chế Lan Viên
không phải là pho tình yêu nh Xuân Diệu, không phải lúc nào cũng đắm đuối nh Nguyễn Bính, nồng nhiệt nh Hàn Mặc Tử nhng cũng không kém phần duyên dáng ”.
Mặt khác thơ giàu chất suy t hơn, nó thấm đợm chất lý tởng của một thời can trờngsay đắm Cái độc đáo của nó là ở vẻ đẹp trí tuệ của phong cách thơ Chế Lan Viên.Trí tuệ, hào hoa, cộng với sự xôn xao rạo rực pha lẫn sự thâm trầm lắng đọng- ý nhị
đằm thắm và có phần trang trọng (Hoa trắng đỏ, Mây của em, Lòng anh làm bến thu) Tình yêu ấy đấy gắn liền với hoàn cảnh cụ thể của đất nớc chiến tranh và gắn
với trách nhiệm của con ngời trớc cuộc đời Khi xa em, anh buồn anh nhớ nhngkhông bi luỵ mà hi vọng chờ mong với một niềm tin sâu sắc:
Buổi sáng em xa chi Cho chiều mùa thu đến
Để lòng anh hoá bến Nghe thuyền em xa chi.
Không chỉ viết về ngời thân trong gia đình mà với ngời không quen biết ChếLan Viên cũng dành cho họ một tình cảm thiết tha, trân trọng rất đáng quý- một
tấm lòng nhân hậu đối với con ngời (Chớ hái hoa trong bệnh viện):
Chớ hái! Phòng bên anh bạn ốm Trông hoa hàng tháng để khuây ngời.
Chế Lan Viên là một thi sĩ - chiến sĩ trong thời kỳ đất nớc đang còn nằmtrong vòng tay của địch, do đó tronh thơ Chế Lan Viên cảm hứng sử thi đợc đặt ở vịtrí số một, lúc ấy ngời ta cần những vần thơ có “chất thép” Chế Lan Viên đã đápứng nhu cầu ấy của thời đại , những vần thơ chiến đấu ấy có mặt kịp thời để cổ vũtinh thần đánh giặc cho dân tộc Song chiến tranh không làm cho con ngời khô cằn
về tình cảm, thi sĩ vẫn không quyên dâng cho đời những vần thơ tơi xanh nhẹ
nhàng giàu cảm xúc, đợc chắt lọc từ cuộc sống đời thờng “Những nhành hoa mát
mát cho đời” đó mở ra bát ngát tình thơng và trách nhiệm trong nét suy t trầm lắng,
khơi dậy lòng yêu đời, yêu ngời ở mỗi con ngời
2 Cái tôi sử thi
Tác phẩm viết theo khuynh hớng sử thi là tác phẩm đề cập đến những đề tài
có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Nhân vật chính là những con ngời tiêubiểu cho lý tởng và phẩm chất của cộng đồng, nhân danh cộng đồng, chiến đấu vìcộng đồng Thơ văn nói chung trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, mang khôngkhí anh hùng ca
Một trong những đặc điểm cơ bản của văn học thời kỳ 1945- 1975 là khuynhhớng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn, tạo nên một chủ nghĩa anh hùng cáchmạng- cổ vũ tinh thần chiến đấu- giúp nhân dân ta vợt qua những thử thách tởngchừng không thể vợt qua đợc:
Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc
Mà lòng phơi phới dậy tơng lai.
Văn học thời kỳ 1954- 1975 mang đậm chất sử thi.Khuynh hớng sử thi đã
đ-ợc các nhà văn, nhà thơ khai thác một cách triệt để ở hàng loạt các tác phẩm nh:
“Đất nớc đứng lên” của Nguyên Ngọc, “Ngời mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi,
Trang 19“Sống nh anh” của Trần Đình Vân, “Việt Nam máu và hoa” của Tố Hữu, “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, “Đất nớc ” của Nguyễn Đình Thi
Cái tôi trữ tình trong văn học Việt Nam có thể gọi một cách khái quát đó làcái tôi sử thi vì nó phản ánh một quá trình lịch sử dân tộc Nhất là giai đoạn 1964-
1975, cái tôi sử thi phát triển mạnh mẽ Từ sau ngày 5- 8- 1964, giặc đánh phámiền Bắc, cả nớc cùng ra trận thì thơ ca cũng vào trận cùng dân tộc Cái tôi sử thithơ chống Mỹ tiếp nối cái tôi sử thi giai đoạn trớc và tiếp tục phát huy trong hoàncảnh mới Nó vẫn mang những phẩm chất cơ bản của cái tôi kháng chiến Đó là cáitôi yêu nớc, cái tôi hành động, cái tôi ân nghĩa, cái tôi ngợi ca hiện thực cách mạngnhng nó đã mang một kích thớc mới đạt đến một chiều sâu Đây là một giai đoạnphát triển đến đỉnh cao của cái tôi trữ tình công dân để trở thành cái tôi nhân danhcái ta dân tộc và thời đại Nh vậy, cảm hứng lịch sử - dân tộc - thời đại, một chủnghĩa yêu nớc đợc biểu hiện sáng chói, cờng độ mạnh của cảm xúc thơ là dấu hiệucơ bản của cái tôi sử thi
Với Chế Lan Viên, có thể nói, cái tôi nổi bật nhất trong thơ kháng chiếnchống Mỹ của ông là cái tôi sử thi Nhà thơ ý thức đợc trách nhiệm của ngời cầmbút trớc lịch sử đã chủ động dùng thơ nh một vũ khí sắc bén để chiến đấucùng dântộc So sánh với thơ Chế Lan Viên giai đoạn chống Pháp ta thấy rõ sự phát triển cáitôi sử thi trong giai đoạn chống Mỹ Sau 1954, hiện thực chiến tranh, khí thế hàohùng của đất nớc kích thích t duy sử thi Là một nhà thơ chiến sĩ, Chế Lan Viên rấtnhạy bén với chính trị Ông dùng thơ nh một phản ứng tức thời trớc sự kiện tạo ra
tính thời sự - khả năng ứng chiến trong thời kỳ chống Mỹ: “Thơ chỉ sống một phần
cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ” Cái tôi sử thi trong thơ kháng chiến chống
Mỹ của Chế Lan Viên đợc thể hiện trên nhiều phơng diện:
2.1 Cái tôi ca ngợi Tổ quốc anh hùng
Tổ quốc là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam và xuất hiện rấtsớm Trong thơ ca từ đầu thế kỷ XX cho đến phong trào Thơ Mới ngời ta đã đề cập
đến hình tợng Tổ quốc Nhng đến thơ ca kháng chiến thì hình ảnh Tổ quốc đợc tậptrung đề cập trong thơ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Huy Cận Cũng nh những nhà thơ lớn trong văn học Việt Nam, Tổ quốc là một hình t ợng baotrùm trong toàn bộ thơ Chế Lan Viên sau cách mạng Tổ quốc là đề tài trung tâmcủa Chế Lan Viên và chủ yếu xuất hiện từ 1954 - 1975 Trong vòng 20 năm ấy hìnhtợng Tổ quốc đợc Chế Lan Viên ca ngợi trên nhiều mặt Hầu nh ở mỗi tập thơ hìnhtợng Tổ quốc lại có thêm một vể mới, nghĩa là hình tợng Tổ quốc nó không đứngyên, bất động mà có sự vận động, phát triển và hoàn thiện dần trên mỗi chặng đờngthơ Sự vận động này song song với sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tìnhtrong thơ Chế Lan Viên
Huy động tối đa trí tuệ và cảm xúc, Chế Lan Viên phân tích, khai thác, tổngkết vẻ đẹp, chiều sâu của khái niệm “Tổ quốc” Hình ảnh Tổ quốc từ trong thơkháng chiến chống Pháp của Chế Lan Viên đã đợc nâng lên một tầm cao mới:
Ôi Tổ quốc vinh quang Tổ quốc Nghìn muôn năm dân tộc ta ơi!
(Đến thời kỳ chống Mỹ khi chúng ta chiến thắng giặc Mỹ thì địa vị của Tổ quốc
đ-ợc nâng cao hơn trên trrờng quốc tế, tràn đầy tinh thần tự hào dân tộc:
Trang 20Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỷ hai mơi.)
Kháng chiến chống pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bớc vàothời kỳ xây dựng cuộc sống mới Sự hồi sinh của đất nớc bỗng gặp gỡ một hồn thơvừa mới hồi xuân sau những ngày lột xác Sự trùng hợp đó đã làm cho những vầnthơ viết về Tổ quốc của Chế Lan Viên trở nên đằm thắm thiết tha hơn Hình ảnh Tổquốc hiện lên với vẻ đẹp sinh động muôn màu muôn vẻ, trở nên tơi đẹp lộng lẫy:
Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy nghìn núi trăm sông diễm lệ Con ngọc trai đêm hè đáy bể Uống thuỷ triều bỗng sáng hạt châu
Thơ ca chống Mỹ hầu hết các bài thơ viết về Tổ quốc thời gian này đềumang âm hởng trữ tình ngợi ca Nhng mỗi tác giả lại có một cách cảm nhận vàkhám phá riêng Tố Hữu thiên về vẻ đẹp của cuộc sống mới dới bầu trời tự do độclập:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt.
Còn trong thơ Chế Lan Viên ta thấy hình ảnh về đất nớc đợc khai thác về cănbản với mối sầu hận mất nớc trong những trang thơ buổi đầu tay Còn bây giờ đâu
đâu ta cũng thấy Tổ quốc đang vơn mình sống dậy nh trời đất trong buổi bìnhminh:
Chim bạn hữu rực cờ bay quốc tế
Ôi tơng lai nh hải cảng lắm tàu.
Đất nớc đang có chiến tranh đau thơng mất mát nhiều, xót xa nhng khôngbao giờ bi quan Thơ Chế Lan Viên luôn khơi dậy niềm tin và hi vọng, làm cho ng-
ời ta tỉnh táo và có ý thức trách nhiệm ở đây, cái tôi Chế Lan Viên bắt gặp cái tôi
Tố Hữu cũng nh Maiacốpxki - thích nhất Tổ quốc bây giờ đang sinh thành và tái
tạo, với tất cả những bi kịch và hùng ca của nó : “Dù mai sau với muôn vạn lần
hơn” Thơ Chế Lan Viên nói chung và thơ viết về Tổ quốc nói riêng sử dụng rộng
rải yếu tố chính luận nhìn sự vật trong, quá trình phát triển và chuyển hoá trongnhững bài viết về dân tộc Chế Lan Viên có một tình cảm rất đặc biệt Ông đã biểuhiện tình yêu Tổ quốc nh một tình cảm thiêng liêng trong tim mình
Ôi Tổ quốc ta yêu nh máu thịt
rằng: “ánh sáng và phù sa thiên về nắm bắt và thể hiện hình dáng núi sông của Tổ
quốc soi bóng vào tâm hồn ta” [341; 5] Đi sâu vào vẻ đẹp tự nhiên của đất n ớc, cókhi Chế Lan Viên dừng lại lâu ở vùng rừng vàng biển bạc và tạo nên những bứctranh thiên lộng lẫy đất trời mà thấm đợm tình tình ngời:
Trang 21Vịnh Hạ Long không một bóng rồng lên Sóng vợt trăm dặm mình xanh biếc
Trời tháng sáu rừng cời bể bạc Từng bể hoa vỗ trắng thân thuyền.
Phản ánh trực tiếp hiện thực không phải là thế mạnh của Chế Lan Viên ChếLan Viên không xây dựng những hình tợng cụ thể nh Mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý, emLợm mà ông khái quát về hình tợng Tổ quốc, vì thế mà ông nói về cái giàu cái
đẹp của Tổ quốc không rơi vào lối tả cảnh tự nhiên mà mang tính biểu hiện sâu sắcnhờ những hiện tợng bay bổng, nên thơ nhng vẫn hiện thực độc đáo :
- Xanh biếc màu xanh, bể nh hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm
hồn nằm đọng lại Sóng nh hàng nghìn tra xanh trời đã tan thành bể và thôi không trở
nh vừa thực vừa mơ, nh cuốn ta vào một “vùng thơ ” lộng lẫy sắc màu của đất trời
và của lòng ngời
Nhng Chế Lan Viên không ca ngợi đất nớc với cái nhìn hời hợt bề ngoài
Đất nớc trong thơ Chế Lan Viên không chỉ đẹp ở cảnh sắc thiên nhiên mà còn đẹp
ở tình ngời Hình ảnh Tổ quốc lúc này đã vơn tới một vẻ đẹp nội dung, vẻ đẹp củacái anh hùng và truyền thống ngàn năm văn hoá Từ trên mảnh đất nóng bỏng củahiện tại, Chế Lan Viên nhìn về cội nguồn lịch sử, ông đặt câu hỏi thì cũng đồngthời trả lời và khẳng định vẻ đẹp của đất nớc hôm nay Tình cảm yêu kính đất nớc
xuyên suốt trong thơ Chế Lan Viên Trong “Điêu tàn”, Chế Lan Viên đã từng ca
ngợi và khóc thơng tiếc nuối cho nớc non Chàm uy nghi tráng lệ đã mất:
Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi Trong thơ ta xơng máu khóc không thôi
Đến thời chống Mỹ,nhà thơ tiếp tục ca ngợi Tổ quốc anh hùng trong quá khứ
và làm đòn bẩy để ca ngợi Tổ quốc hôm nay:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng Cha đâu và cả những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết truyện Kiều đất nớc hoá thành văn Khi Nguyễn Huệ cỡi voi vào cửa bắc
Hng Đạo diệt quân nguyên trên sóng Bạch Đằng.
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn
Xa đất nớc hùng mạnh cả văn lẫn võ - vừa kiên cờng bất khuất, vừa thấm
đ-ợm nhân tình Nhng “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”, “Những ngày tôi sống
đây là những ngày đẹp hơn tất cả ” Khi so sánh hiện tại với quá khứ, tác giả so
Trang 22sánh với cái thớc đo tầm cỡ của chiến công, tác giả bỗng nhận ra rằng Tổ quốc tathời chống Mỹ vẫn là thời điểm huy hoàng rực rỡ nhất trong chiều dài của thờigian Phải có một tình yêu tha thiết nồng nàn với cuộc sống, với đất nớc thì mới cónhững cảm xúc say sa nh vậy Đó là niềm tự hào về Tổ quốc đang trong thời đại rựcsáng của dân tộc ta trong quá khứ Ta nhớ đến hình ảnh đất nớc trong thơ Huy Cận
đợc miêu tả qua một hình ảnh tợng trng : Một dũng sĩ với một thanh gơm đầy chiếncông, một cây bút mang đậm tính nhân văn và giàu sức sáng tạo Con ngời dũng sĩ
và con ngời nhân văn kết hợp hoà quyện với nhau làm nên hình ảnh đất nớc:
Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững Lng đeo gơm tay mềm mại bút hoa
Trong và đục sáng hai bờ suy tởng Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà.
Tổ quốc trớc cách mạng và trong cuộc chiến đấu chống Mỹ là điều mà cácthế hệ cha ông xa.Niềm tự hào về Tổ quốc, dân tộc là cảm hứng chủ đạo trong thơChế Lan Viên - ta tự hào về những thời đại rực sáng của dân tộc ta trong quákhứ.Ta lại càng tự hào hơn về Tổ quốc trong thời kỳ chống Mỹ Sự mạnh mẽ lớnlao, t thế và vị trí của kia cha thể có đợc:
Cha ông xa có bao giờ bố trí các binh đoàn Trên đỉnh Trờng Sơn dọc bờ Đông Hải Tên Tổ quốc vang ngoài bờ cõi
Ta đổi triệu tấn bom mà hái mặt trừi hồng
Ta mọc dậy trớc mắt nhìn nhân loại Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa vứi anh hùng
Suy nghĩ về Tổ quốc, về dân tộc, về cuộc chiến đấu của nhân dân là nhữngsay mê lớn lao của Chế Lan Viên và bao giờ cũng làm nổi bật lên tính chất hàohùng kỳ vĩ Qua đó ta có thể hình dung đúng bộ mặt tinh thần thời đại của cả mộtdân tộc
Trong “Tuỳ bút một mùa xuân đánh giặc”, một cành đào trên tay nhà thơ,
trên tay những ngời đang chiến đấu vừa là điểm tụ vừa là điểm gợi mở nhữmg suytởng đẹp về sức sống của dân tộc, về niềm vui đánh Mỹ, về tầm cao và thế đứngViệt Nam:
Cầm nhành hoa Việt Nam Chói ngời trong thế kỷ Cầm cành đào thiên lý
Ta đi qua thời gian
Khi nói về Tổ quốc, dân tộc, nguồn cảm xúc của Chế Lan Viên luôn phongphú tơi mới Đồng thời trí tuệ ông luôn luôn thể hiện rõ sự phát triển đào sâu hình
ảnh Tổ quốc trong thơ Chế Lan Viên đẹp đẽ muôn phần nh vậy một phần nhờ tácgiả đã thi vị hoá, lãng mạn hoá nó lên Nhng ông vẫn không quên khắc hoạ nhữngtrang “văn xuôi” của cuộc sống để tạo cho hình tợng Tổ quốc một sự hoàn chỉnh.Nói về Tổ quốc ông không chỉ nói về sự hào hùng tráng lệ mà còn nói về đất nớc
đau thơng:
Tôi nhìn xa thấy máu thịt quê hơng
Nh đang dâng thành núi đọng thành cồn
Trang 23Ca ngợi non sông gấm vóc và cuộc đời đổi mới ở miền Bắc nhng Chế LanViên vẫn đau đáu nhớ về nỗi đau chia cắt, song vẫn thể hiện một niềm tin nớc nhà
đợc thống nhất khi nói đến miền Nam:
Tiếng đau thơng ngời dở mái kêu trời Tiếng đồng chí gọi nhân dân tiếng thét
Ngay trong chủ đề đấu tranh thống nhất này, Chế Lan Viên cũng đã tạo đợcmột sự gắn bó chặt chẽ giữa cái riêng và cái chung Ông biểu hiện tình cảm củamiền Bắc đối với niền Nam ruột thịt thông qua tình cảm của chính mình Niềmmong ớc của ông đã hoá thành niềm mong ớc của mọi ngời:
Ôi! Tôi yêu đất Bắc bởi miền Nam Bởi cháy ruột trong một ngày thống nhất
Tổ quốc là mảnh đất ngàn đời yêu dấu mà “trăm muôn thế hệ của giống nòi”
đã chuyền tay nhau giữ gìn bảo vệ cho đến hôm nay ở thời điểm này, Tổ quốcbỗng chói sáng hơn , rực rỡ hơn nhờ bàn tay của Đảng Đứng ở tầng cao của hiệntại, nhìn về quá khứ xa xa, tác giả bỗng thấy lịch sử ngàn năm nh thu nhỏ lại Ôngthơng cho cha ông xa phải bó tay trớc cuộc đời tăm tối:
Cha ông xa từng đấm nát tay trớc cửa cuộc đời Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá.
Nhng cũng trên mảnh đất mà ông cha ta đã từng vật vã trăn trở ấy, ngày naychàu con đã vơn mình đứng dậy Hiện tại tiếp nối quá khứ , cháu con đã trả lời đợc
“câu hỏi lớn” về Tổ quốc, về dân tộc, về con đờng đi tới mai sau Dân tộc ta phảianh hùng, nhân dân ta phải anh hùng , Đảng ta và mỗi chúng ta phải anh hùng đểgiành lại độc lập tự do Vẻ đẹp của Tổ quốc không chỉ biểu hiện ở sắc màu thiênnhiên mà còn là vẻ đẹp của cái anh hùng Nhng cái anh hùng ở đây không chỉ lànhững chiến công lừng lẫy, những thắng lởi huy hoàng mà cái anh hùng còn mangphẩm chất, tâm hồn và cốt cách của con ngời Việt Nam - Anh hùng mà giản dị:
Kẻ chiến thắng không cần chi phải hét
ở đất này im lặng cũng xung phong.
Để cho cái anh hùng đó có đợc một cơ sở thực tiễn vững chắc, đi đôi với việcbiểu hiện lòng căm thù giặc sâu sắc.Khích lệ lòng căm thù giặc là một nhiệm vụquan trọng của thơ ca chống Mỹ Vì thế không thể nhìn thấy cái anh hùng mà cònnhìn thấy vết sẹo đau thơng trên mình Tổ quốc Đa cái đau thơng vào thơ cũngnhằm mục đích nâng cao cái anh hùng Tố Hữu có nói đến sự hi sinh mất mát nhngnhẹ nhàng hơn chứ cha đến mức đau thơng nh Chế Lan Viên :
Việt Nam ôi Tổ quốc yêu thơng Trong đau khổ Ngời đẹp hơn nhiều.
Còn Chế Lan Viên gây cảm giác nhức nhối bằng hình ảnh đối lập gay gắthay những nhận xét sắc sảo nh cồn lên những đợt sóng căm thù:
Cứ trong hai câu thơ Việt Nam Một còn đang rách xé
Cứ trong hai dòng sông dãy núi Việt Nam Một đang cày lên vì bom đạn Mỹ
Nỗi đau chia cắt trong thơ Chế Lan Viên lôn sắc nhọn, cồn cào bằng nhữnghình ảnh phân đôi: