TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN --------HOÀNG DIỆU THUỲ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ CẢNH VÀ NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN
HOÀNG DIỆU THUỲ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT
VỀ CẢNH VÀ NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG
“TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT
VỀ CẢNH VÀ NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG
“TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Người hướng dẫn : TS Phan Huy Dũng
Sinh viên thực hiện : Hoàng Diệu Thuỳ
Lớp : 47B1 - Ngữ văn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của khoá luận 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc của khoá luận 4
Chương 1: VỊ TRÍ “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI TRONG LOẠI “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 5
1.1 Khái niệm “truyện đường rừng” 5
1.2 “Truyện đường rừng” trong văn học Việt Nam hiện đại 6
1.3 Khái quát về vị trí “truyện đường rừng” của Lan Khai 8
1.4 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật theo thi pháp học hiện đại 12
Chương 2: CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ THIÊN NHIÊN MIỀN NÚI TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 17
2.1 Cái nhìn về không gian 18
2.2 Cái nhìn về thời gian 23
2.3 Cái nhìn thiên nhiên đa chiều 27
2.4 Hệ thống ngôn từ sử dụng để miêu tả cảnh thiên nhiên 33
Chương 3: CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 38
3.1 Con người cộng đồng với những phong tục tập quán tiêu biểu 38
3.2 Con người tự nhiên 48
3.3 Tình người muôn điệu 57
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn
TS Phan Huy Dũng, người thầy đã trực tiếp giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho
em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng phản biện đã đọc và có những nhận xét quý báu cho khoá luận này.
Và cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Vinh, gia đình, bạn bè đã động viên em hoàn thành khoá luận.
Vinh, tháng 5 năm 2010 Sinh viên
Hoàng Diệu Thuỳ
Trang 5Với đề tài này, chúng tôi muốn tái hiện, phân tích, lí giải cái nhìn nghệthuật đối với cảnh và người miền núi của một nhà văn tài năng có vốn sốngphong phú, gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số và suốt đời hi sinh vìnghệ thuật, từ đó làm sáng tỏ những nét đặc thù của loại “truyện đường rừng”(vốn nằm trong mảng sáng tác về đề tài miền núi) của văn học Việt Nam hiệnđại.
2 Lịch sử vấn đề
“Truyện đường rừng” của Lan Khai là một trong những thành tựu xuấtsắc của nền văn học Việt Nam hiện đại được nhiều học giả quan tâm ngay từđầu những năm ba mươi của thế kỷ XX Trước Cách mạng tháng Tám, có một
số bài viết và một số tác giả quan tâm đến Lan Khai như Trần Huy Liệu,Trương Tửu, Hải Triều, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan
Đương thời, Trương Tửu trong bài “Ba nhà văn tả cảnh” đăng trên báo
Loa, số 79 thứ năm 22 Aout 1935 đã gọi Thế Lữ, Lưu Trọng Lư và Lan Khai
là “ba nhà văn mới mẻ” vì đã cách mạng lối tả cảnh trong văn học Việt Nam
Trang 6hiện đại ở nhiều bình diện; đồng thời cũng tiên đoán rằng: “Tiểu thuyết của baông nên được hoan nghênh như một tân trào văn học và tên tuổi ba ông sẽ bắtbuộc nhà văn học sử đặt lên một trang danh dự” [9;255] Ưu ái hơn với Lan
Khai, trong bài “Văn Lan Khai” cũng đăng trên báo Loa, số 83 thứ năm 19
September 1935, ông đánh giá cao thành tựu mà Lan Khai đạt được, gọi ông
là “nhà nghệ thuật của rừng rú” vì “đã mở lối cho nghệ thuật bước vào mộtthế giới lạ lùng, đầy rẫy những hình trạng nhiệm màu đột thú Trong phạm vi
ấy ông vẫn chiếm vị trí đàn anh, trơ trọi như cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bátngát” [9;255] Trong các thành tựu nghệ thuật của Lan Khai, ông đề cao ngôn
từ nghệ thuật mà nhà văn Lan Khai sử dụng trong tác phẩm
Giai đoạn tiếp theo, người ta đón đọc “Nhà văn hiện đại” (1942) VũNgọc Phan và cũng nhận ra sự đề cao của ông đối với tập “Truyện đườngrừng” của Lan Khai Theo Vũ Ngọc Phan, Lan Khai đã “dắt người ta mộtcách thân mật vào các gia đình Thổ Mán, và cho người ta thấy những tâm tính
dị kỳ” [15;298] Ông cho rằng sở trường của Lan Khai là những mảng đề tàiviết về miền núi: “Mặc dầu Lan Khai viết nhiều loại từ trước đến nay, ông chỉđáng được nổi tiếng về tiểu thuyết đường rừng hơn cả” [15;298] Cũng nhưTrương Tửu, Vũ Ngọc Phan đã đi vào nhận xét về cách sử dụng ngôn từ nghệthuật trong các truyện đường rừng của Lan Khai
Công trình tiếp theo có thể kể đến là công trình biên khảo “Việt Namvăn học sử giản ước tân biên” (1965 - Tập III) của tác giả Phạm Thế Ngũ.Đến đây, Phạm Thế Ngũ đã đặc biệt đề cao khả năng quan sát của Lan Khai:
“Ông có một vị trí quan sát tinh tế, được phụ giúp bởi một ngôn ngữ chuẩnxác, khúc chiết, nhiều khi giàu những hình ảnh tân kì Ở những tiểu thuyếtđường rừng, khi thì ông huyễn hoặc người đọc bằng những bức tranh thiênnhiên đầy những ấn tượng, hình sắc, âm thanh Khi thì ông đưa cây bút tả thậtbình dị vào những cảnh sinh hoạt, giới thiệu cho chúng ta một cách tinh tế,chính xác, lắm nét phong tục dân thượng” [7;529]
Trang 7Như vậy trong vòng ba mươi năm (1935 - 1965), “Truyện đường rừng”
đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi đề cao Tiếp đó, do hoàncảnh chiến tranh kéo dài và những vấn đề tế nhị, di sản của Lan Khai đã bịthất lạc khá nhiều nên hoạt động nghiên cứu phê bình về tác giả bị hạn chế.Gần đây, trong nhiều công trình đã đi vào khảo sát và nghiên cứu một cáchsâu rộng và toàn diện hơn về các tác phẩm của Lan Khai, trong đó chiếm đa
số là các công trình nghiên cứu về “Truyện đường rừng” của nhà văn Mớiđây nhất có thể kể đến là cuốn “Truyện đường rừng, tác phẩm và chuyênkhảo” (2004), hai tác giả là Trần Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường đã đưa
ra những nhận xét với thành công và hạn chế trong các tiểu thuyết đường rừng
ở cả bình diện nội dung và hình thức
Điểm lại tình hình nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật về cảnh và ngườimiền núi của Lan Khai trong hệ thống truyện đường rừng, chúng tôi thấy đây
là vấn đề đã được đề cập nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện Vì vậy,khoá luận này của chúng tôi là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu cáinhìn nghệ thuật về cảnh và người miền núi của Lan Khai trong các tiểu thuyết
“Truyện đường rừng”
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của khoá luận
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của khoá luận là
Cái nhìn nghệ thuật về cảnh và người miền núi trong “truyện đường rừng” của Lan Khai Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát
một cách có hệ thống sáu truyện tiêu biểu được đưa vào “Truyện đường rừng,tác phẩm và chuyên khảo” (2004) do Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Thanh Trườngsưu tầm, nghiên cứu và tuyển chọn gồm:
- Rừng khuya
- Mọi rợ
- Tiếng gọi của rừng thẳm
Trang 8- Hồng thầu
- Suối Đàn
- Đỉnh non Thần
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Xác định vị trí “truyện đường rừng” của Lan Khai trong loại
“truyện đường rừng” của văn học Việt Nam hiện đại
3.2.2 Phân tích, lý giải cái nhìn nghệ thuật về thế giới thiên nhiên trongcác tiểu thuyết “Truyện đường rừng” của Lan Khai
3.2.3 Đánh giá nét độc đáo trong cái nhìn nghệ thuật của Lan Khai vềcon người miền núi thể hiện qua những “truyện đường rừng”
3.3 Đóng góp của khoá luận
Đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật vềcảnh và người miền núi trong những truyện đường rừng của nhà văn LanKhai, góp phần làm sáng tỏ những đóng góp của Lan Khai cho văn học nướcnhà ở đề tài miền núi
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khoá luận này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phươngpháp chủ yếu sau: Phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình, phươngpháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
5 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khoá luận sẽ được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Vị trí “truyện đường rừng” của Lan Khai trong loại
“truyện “đường rừng” của văn học Việt Nam hiện đại.
Chương 2 Cái nhìn nghệ thuật về thiên nhiên miền núi trong “Truyện đường rừng” của Lan Khai.
Chương 3 Cái nhìn nghệ thuật về con người miền núi trong “Truyện đường rừng” của Lan Khai.
Trang 9Chương 1
VỊ TRÍ “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI TRONG LOẠI
“TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Khái niệm “truyện đường rừng”
“Truyện đường rừng là truyện viết về miền núi, dưới hình thức phiêulưu, sẵn sàng dung nạp những yếu tố thần kỳ, ma quái” [12;528] Nó tập trungquan sát, thể hiện cái lạ của cảnh và người miền này Không phải mọi sángtác về đề tài miền núi đều là “truyện đường rừng” Những tác phẩm như
“Truyện Tây Bắc”, “Miền Tây” của Tô Hoài, “Đất nước đứng lên”, “Rẻo cao”của Nguyên Ngọc, “Vùng biên ải”, “Đồng bạc trắng hoa xoè” của Ma VănKháng, “Lạc rừng” của Trung Trung Đỉnh… khó được coi là “truyện đườngrừng”, theo nghĩa ban đầu của khái niệm Có lẽ trong một thời kỳ mà phươngpháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được độc tôn, người ta cảm thấy engại khi miêu tả cảnh và người miền núi theo lối “lạ hoá” hay thần bí hoá.Theo đó, khái niệm “truyện đường rừng” cũng bị thay thế bằng một khái niệmkhác là truyện viết về đề tài miền núi Trong khoá luận này, chúng tôi muốnphục nguyên khái niệm “truyện đường rừng” và dùng nó để chỉ bộ phận sángtác về đề tài miền núi theo kiểu những truyện đã ra đời trước cách mạng vàđược các nhà văn, nhà nghiên cứu thời đó gọi là “truyện đường rừng” Mạchtruyện này về sau vẫn được tiếp tục với các tác giả như Lý Văn Sâm (KònTrô), Vũ Hạnh (Cô gái Xà niêng, Lửa rừng)
“Truyện đường rừng có dung lượng và quy mô phản ánh hiện thực khácnhau tuỳ thể loại mà nhà văn chọn lựa như tiểu thuyết, truyện vừa hay truyệnngắn” [12;528] Có loại nghiêng về phong tục, có loại thiên về lịch sử và cóloại truyền kì (mang nhiều yếu tố kinh dị) Về loại được nói sau, có thể lấy ví
dụ từ Lan Khai với những “Người lạ”, “Ma thuồng luồng”, “Đôi vịt con”,
“Người hoá hổ”, “Gò thần” Truyện “Ma thuồng luồng” kể cảnh một con
Trang 10mãnh thú từ hang sâu chui lên cưỡng hiếp vợ một anh phù thuỷ người Dao.Truyện “Người hoá hổ” là truyện ghê rợn về anh chàng Mèo đen (HMông) có
mẹ già tự nhiên hoá hổ, xé xác cháu ăn thịt rồi chạy trốn vào rừng sâu, bị mấthết quần áo, còn toàn thân lông lá mọc đầy… Hay trong các tác phẩm củaTchyA xuất hiện loại ma trành, hoá thân của những cái chết bất đắc kỳ tử.Những cái chết ấy không được siêu thoát, đầu thai Muốn đầu thai kiếp khácphải bắt người khác thế mình Dân gian còn gọi đó là “dớp” (dớp nhà) PengSlao chính là con ma trành, về sau thoát được cảnh làm tôi tớ cho thần Hổ do
đã tìm được người thay thế, người rơi vào cái dớp của kẻ trước: Slao có tiềnduyên với Đèo Lâm Khẳng, một người của gia tộc lớn nhất vùng rừng núiThạch Thành (Thanh Hoá) Nàng đã quyến rũ được anh chàng họ Đèo vàongôi nhà sàn của mình để ân ái Sau cuộc ân ái cuồng si giữa một kẻ là người
và một kẻ là ma, Peng Slao được giải thoát Đó là kho tàng truyện lạ đầy màusắc truyền kì và kinh dị, nửa thực nửa hư, có khả năng khơi dậy tính hiếu kìcủa độc giả, kích thích trí tưởng tượng của người đọc Phần lớn các nhà vănnhư Đái Đức Tuấn, Thế Lữ đều viết loại “truyện đường rừng” này Trongnhững câu chuyện này, dường như sự sống của con người hoàn toàn chìmkhuất giữa núi rừng Ở đây, Đái Đức Tuấn và Thế Lữ quan tâm nhiều hơn cảvào những chi tiết gây sự giật gân, kinh dị nên ít nhiều đã bỏ qua nhữngkhung cảnh nên thơ, những cuộc sống êm đềm giản đơn cũng không kémphần màu sắc của con người vùng cao
1.2 “Truyện đường rừng” trong văn học Việt Nam hiện đại
Đề tài miền núi luôn là khoảng trời hấp dẫn đối với các nhà văn, nhàthơ Việt Nam muốn tự do bay lượn kiếm tìm những điều mới lạ, thú vị
Ngay từ buổi đầu, giai đoạn 1930-1945, các truyện đường rừng có thể
kể đến là “Vàng và máu” của Thế Lữ, “Thần Hổ”, “Ai hát giữa rừng khuya”của TchyA - Đái Đức Tuấn cùng với các truyện lịch sử, phong tục miền núicủa Lan Khai… Những truyện thời kì này mang đậm tính truyền kì Đặc điểm
Trang 11chung của nhiều truyện đường rừng giai đoạn này là cái nhìn còn xa lạ, e dèđối với thiên nhiên miền núi Trong các truyện, miền núi hiện lên như là mộtthế giới bí ẩn, linh thiêng, đầy hiểm nguy và bất trắc, vừa gợi trí tò mò khámphá vừa tạo cảm giác ghê rợn Không gian truyện thường xuất hiện bóng tối
và những hình ảnh, âm thanh có sức tác động, kích thích mạnh vào cảm giáccủa người đọc Các từ "âm u", "huyền bí", "bí mật", "rùng rợn", "ghê rợn",
"kinh dị", "khủng khiếp", "lạnh lẽo", "lạnh buốt" và lối miêu tả với các cụm
từ như “sự dị thường lẩn quất”, “nhiều thanh âm gở lạ”, “những tiếng bí ẩn”,
“tiếng hát quái dị, hình như không phải của người” xuất hiện với tần số cao
có tác dụng khơi gợi tính hiếu kì và cảm giác rùng rợn trong một thế giới nửa
hư nửa thực Cảnh núi rừng, mây, suối thường được các tác giả hình dung nhưnhững quái vật ẩn chứa bao bí mật và sự khủng khiếp So với tác phẩm củaTchyA và các nhà văn đương thời khác, thế giới thiên nhiên trong tác phẩmcủa Lan Khai chân thực, phong phú và gần gũi hơn Bên những gam màu tốilạnh, còn không ít cảnh nên thơ, tươi sáng Các truyện “Suối Đàn”, “Hồngthầu”, “Tiếng gọi nơi rừng thẳm”, “Rừng khuya”, của Lan Khai cho thấy sựsống khá sinh động của nhiều loài thảo mộc và cầm thú nơi hoang dã, vớinhiều màu sắc ứng với nhiều khoảnh khắc thời gian
Đến giai đoạn văn học cách mạng, những vấn đề cơ bản nhất của hiệnthực miền núi được chú ý khai thác Ta bắt gặp ở đó những con người vữngvàng, gang thép như những cây rừng và cũng thuần khiết, trong sáng nhưcuộc đời của người vùng cao Tiêu biểu có tác phẩm: “Đất nước đứng lên”của Nguyên Ngọc, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, “Vùng biên ải” của MaVăn Kháng…
Sang thời kì đổi mới, các nhà văn viết về đề tài này đã kịp thời tái hiện
bộ mặt mới mẻ của miền núi trong kinh tế thị trường, dưới tác động của cácchính sách, dự án của Nhà nước, với những vui buồn, được mất trong đờisống vật chất và tinh thần của con người vùng cao, những khởi sắc và cảnhững bất ổn của nó Ta có thể kể đến những tác phẩm như “Đàn trời” của
Trang 12Cao Duy Sơn, “Bóng của cây sồi” của Đỗ Bích Thúy, “Những ngọn gió HuaTát” của Nguyễn Huy Thiệp…
Trong tương lai, sự góp mặt của những tác phẩm viết về đề tài này vẫnrất cần thiết và là chân trời còn bỏ ngỏ cho những ai muốn chinh phục
1.3 Khái quát về vị trí “truyện đường rừng” của Lan Khai
Lan Khai, tên thật là Nguyễn Đình Khải sinh ngày 24 tháng 6 năm
1906 tại một vùng rừng núi hoang vu bên bờ sông Gâm, tại Bản Luộc, xãVĩnh Lộc, châu Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang Hơn hai mươi năm sau, ngườicon của xứ sở áo chàm đó bằng tài năng và nghị lực đã trở thành một cây bútnổi tiếng trên văn đàn cả nước với bút danh Lan Khai được nhiều người kính
trọng Đương thời, với những truyện đường rừng, ông được gọi là “nghệ sĩ
của rừng rú”, “là đàn anh trong thế giới sơn lâm”, “là cây đa cổ thụ giữa cánhđồng bát ngát” (Trương Tửu) Về năng lực sáng tạo, ông được phong “là lãotướng trong làng tiểu thuyết” (Vũ Ngọc Phan) Với cuộc đời chưa tròn bốnmươi tuổi (1906 - 1946) và mười tám năm cầm bút, ông đã để lại hàng trămtác phẩm đủ các đề tài và thể loại như: tiểu thuyết (tâm lý xã hội, lịch sử, tiểuthuyết “đường rừng”), truyện ngắn, ký, thơ, hội hoạ và dịch thuật, các tácphẩm nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học
Sinh ra nơi núi rừng phía Bắc của Tổ quốc, trong tiếng đưa nôi đã có cảtiếng vi vút của gió ngàn, tiếng khướu bách thanh, tiếng rì rào của những đànong đi kiếm mật Thời thơ ấu, Lan Khai sống gần gũi và gắn bó với cộngđồng các dân tộc Việt Bắc như: Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Đeo Tiền, HàNhì Nơi đây có đường sang Bắc Cạn, đi Cao Bằng và Hà Giang, sang YênBái Cái xứ sở mà Lan Khai cho rằng: “ Phần nhân tạo luôn luôn có cơ bị lấnbởi phần thiên nhiên bao bọc tứ phía mà cái màu xanh xanh bất diệt khôngnhững thôi cả sang quần áo dân bản thổ còn ánh lên cả da mặt kẻ ngụ cư nữa”[3;50] Đó là những năm tháng đẹp để nuôi dưỡng tâm hồn và chất văn
Trang 13chương của nhà văn Lớn lên chút nữa, chàng trai Chiêm Hoá học hành vàsống nơi Hà thành đô hội, nhưng cái chất “đường rừng” vẫn không thể mất đi.Mỗi kì nghỉ hè, Lan Khai lại trở về nơi núi Thần sông Gấm gặp lại bạn bè xưa
và có những cuộc phiêu lưu kì thú vào những làng bản Khải đã tham dựnhiều cuộc vui làng bản bên bếp lửa hồng nghe già bản kể những câu chuyện
xa xưa, được nghe những điệu hát then, ngắm những cô gái bản múa lượn với
“hai bàn chân trắng thấp thoáng dưới đôi ống quần lĩnh hoa chanh cứ rập rờn,chờn vờn, như bước bâng khuâng trên những đợt sóng thanh âm khoan nhặt”[12;270] Nguyễn Đình Khải nhận ra chất “đường rừng” khó lòng mất đi dùông có đến bất cứ nơi nào Hơn hết cả, đọng lại trong ông ngoài những ngọtbùi của món cơm lam, giấc ngủ yên bình dưới mỗi nếp nhà sàn, mùi ngai ngáithơm của cỏ cây mật ngọt khắp đại ngàn là tình người chân chất mà ấm áp,cùng sẻ chia đói no, cùng chung tay một lòng chống lại kẻ thù của tất cả cácdân tộc anh em Sau này, khi phải trở về quê hương do bước đường lập thândang dở, chàng trai trẻ vẫn không dứt nổi cái “say tình” với miền núi Bận vàomình bộ quần áo chàm quen thuộc, kèm theo chiếc giá vẽ và tập giấy, ông đãđắm chìm vào cuộc sống và con người vùng cao để rồi từ đó đã phác hoạ rahàng trăm bức tranh về thiên nhiên tươi đẹp, về những cuộc “sinh hoạt âmthầm bí mật” của đồng bào các dân tộc anh em phía Bắc đất nước Tình yêuvới rừng núi được ông thể hiện mộc mạc mà nặng nghĩa tình qua những vầnthơ:
“Ta yêu cảnh non cao rừng thẳm
Với những chòm cây xanh tốt
Những vách đá chênh vênh
Ta yêu tiếng suối rơi thánh thót năm canh
Tiếng chim mừng hoa sớm, vượn đón trăng thanh
Ta yêu sắc hoa bướm trắng tinh
Sắc hoa mua tím phớt
Ta yêu những ruộng lúa mênh mông
Trang 14Những nương ngô bát ngát
Những trâu bò dê ngựa thả đầy ngàn
Ta yêu những dịp krèng, điệu hát nồng nàn
Những đêm lạnh mơ màng quanh bếp lửa” [12;22]
Qua bài thơ cũng thấy rằng cái duyên, cái nợ của Lan Khai với miềnngược là rất lớn Trong những “truyện đường rừng”, vị thế của ông luôn làngười con rể của đồng bào, người bạn của chốn non xanh nước biếc, ngườinghệ sĩ luôn muốn khám phá cái đẹp ẩn chứa trong rừng núi Những khungcảnh và những con người vùng cao lọt vào con mắt xanh của Lan Khai bỗngtrở nên thật gần gũi, lấp lánh chất thơ, chất nhân văn cao đẹp
“Truyện đường rừng” của Lan Khai là bức tranh đặc sắc về thế giớithiên nhiên muôn màu muôn vẻ của một nhà văn, một hoạ sĩ tài hoa Theo lờinhận xét của Nguyễn Vỹ dành cho Lan Khai: ““Nhà văn đường rừng” là biệthiệu của anh em làng văn Bắc Hà đã tặng cho Lan Khai, vì anh chuyên viếtcác truyện về mạn ngược, nghĩa là về các vùng Thượng du Bắc Việt, nơi anh
đã sinh ra Anh bỏ nghề giáo viên, cũng chỉ vì anh mải nghe tiếng gọi của
“rừng thẳm”, tiếng gọi mà anh ghi chép say sưa thành những bóng vanghuyền bí trong các tác phẩm văn chương và trong các nét họa của anh”[10;335] đã cho thấy cái say sưa, yêu con người và thiên nhiên miền núi đếnthế nào của Nguyễn Đình Khải Thời kì ấy, sau ông còn dấy lên phong tràoviết về miền núi như “Đi săn khỉ” của Vũ Trọng Phụng, “Lan rừng” của NhấtLinh, “Đỉnh non Tản” của Nguyễn Tuân, nhưng rồi tất cả đều lắng xuống đểnhường chỗ cho “một cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát” là Lan Khai nhưTrương Tửu từng nhận xét Những năm ba mươi của thế kỷ XX, trên các tờbáo: “Đông Pháp”, “Đông Phương”, “Tao Đàn” đã xuất hiện những tác phẩm:
“Gió núi trăng ngàn” (1934), “Những câu hát xanh” (1937) của tác giả LâmTuyền Khách - bút danh mới của Lan Khai Đó là “món quà thanh thú” nơi
“rừng xanh đất đỏ” - là di sản văn hoá dân gian của các dân tộc mà nhiều thế
kỷ qua “kho báu” đó bị khuất lấp sau đám mây mù của lịch sử Lan Khai có
Trang 15gần ba mươi năm sống gắn bó với cộng đồng các dân tộc thiểu số, am hiểusâu sắc nhiều ngôn ngữ và phong tục tập quán của đồng bào cùng với nhữngcuộc hành trình trong thế giới sơn lâm ở mọi miền đất nước từ Việt Bắc tớiTây Nguyên, đã tạo nên nguồn nhựa sống dồi dào qua từng trang viết
Có thể xem Lan Khai là người mở đường vào thế giới sơn lâm và tìm rađược một con đường cách tân tiểu thuyết, tiêu biểu với các tác phẩm “Rừngkhuya”, “Mọi rợ”, “Tiếng gọi của rừng thẳm”, “Suối đàn”, “Hồng thầu” Ông đã cho người đọc thấy được trọn vẹn hơn cuộc sống và con người miềnnúi Ở đó không chỉ có u tối, khổ đau và đầy rẫy những nguy hiểm cạm bẫy
mà còn có sự tươi sáng, sống động của tạo vật con người Cùng với non nướchữu tình là tình người ấm áp, trong sáng đoàn kết yêu thương nhau của cácdân tộc anh em Đặc điểm chung trong phần tiểu thuyết đường rừng này là lốimiêu tả chân thực song cũng không kém phần bay bổng về chuyện tình củanhững đôi nam nữ yêu nhau hồn nhiên, tha thiết như trong truyện “Rừngkhuya”, “Suối đàn”, “Đỉnh non Thần”, nhưng rồi tất cả các cuộc tình nồngthắm ấy đều bị chia rẽ bởi những lí do rất khác nhau làm màu sắc cuộc sốngmiền núi càng trở nên phong phú Nếu so sánh với truyện “Vàng và máu” củaThế Lữ, độc giả chỉ thấy trên núi rừng, người ta tranh giành nhau sự sống.Những tính toán, giết hại nhau cũng chỉ vì sự giành giật vật chất mà thôi Sứchấp dẫn của tiểu thuyết “Truyện đường rừng” biểu hiện ở bức tranh phongcảnh đặc sắc, những phong tục mang đậm dấu ấn bản làng, qua đó làm nổi bậtlên chân dung sống động của con người nơi đây Lan Khai là một nghệ sĩ tài
ba đã vận dụng cả nhạc, hoạ, thơ ca để có thể miêu tả cho hết cái đẹp tuyệt
mỹ của hoá công ban tặng cho núi rừng Có thể nói ngòi bút của ông đã chạmvào mọi vật trong rừng từ những ngọn cây, lá cỏ, muôn chim đến đất trời,mây gió Trong đó sâu lắng nhất là tâm trạng con người trước thiên nhiên vàtình người muôn điệu mà càng đi sâu quan sát càng thấy yêu, thấy thấm thía.Xét ở thể loại tiểu thuyết đường rừng, Lan Khai được coi là người đi tiênphong mở đường và là người thành công nhất trong giai đoạn 1930 - 1945
Trang 16Ông cũng là người đi trước Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Ma Văn Kháng,
Vi Hồng, Nguyễn Huy Thiệp về mặt thời gian trong mảng văn học miền núi.Thành công này có được là bởi ông đã sớm lựa chọn cho mình một cuộc sốnggần gũi với thiên nhiên, con người miền núi bằng cả tấm lòng và lí trí
1.4 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật theo thi pháp học hiện đại
Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người có thể thâmnhập vào đối tượng mà vẫn không làm đối tượng bị thay đổi bề ngoài, do vậy
mà cái nhìn trong nghệ thuật có muôn nghìn vẻ M B Khrapchenko có nhậnxét: “Chân lý cuộc sống trong nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìnnghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có của từng nghệ sĩ thực thụ,không tồn tại bên ngoài các đặc điểm về tư duy hình tượng, bút pháp sáng táccủa nghệ sĩ” [5;66] Điều này cho thấy dù là đối với nghệ thuật dân gian, thầnthoại, trung đại hay nghệ thuật hiện đại yếu tố quyết định vẫn là cái nhìn.Phạm trù cái nhìn nghệ thuật đã được các nhà thi pháp Nga đề xuất từ đầu thế
kỉ XX, sau được M Bakhtin nâng cao và ngày nay đang trở thành tài sản củathi pháp học hiện đại Trần Đình Sử cho rằng : “Cái nhìn là một biểu hiện củatác giả Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó nó có thểphát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi,…Cái nhìn bao quát không gian, bắtđầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian và bị không gian, thời gian chiphối Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét.Cái nhìn gắn liền với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiệntrong ví von, ẩn dụ, đối sánh…Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặtbên nhau, hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng”[9;130]
Cùng với trí tưởng tượng phong phú, nhà văn là người có cách quan sátnhững biến thái tinh vi trong cuộc sống Bản chất của con người và cuộc sốngkhông phải lúc nào cũng “nằm lộ thiên” qua các hiện tượng dễ thấy Chỉ cóquan sát kỹ lưỡng, nhà văn mới có thể phát hiện được những ý nghĩa sâu xa
Trang 17trong từng chi tiết cùng những diễn biến đa dạng của nó Các nhà văn đềukhông từ bỏ bất cứ một cơ hội nào đẻ có thể quan sát mọi ngóc ngách trongcuộc sống Đốpgiencô đã nói: “Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉnhìn thấy vũng nước, người kia lại thấy được những vì sao” Điều đó cũnggiải thích vì sao không phải cái nhìn nào cũng là cái nhìn nghệ thuật Cùngnhìn vào một sự vật, một hiện tượng nhưng mỗi người lại cho mình một cáchquan sát và do đó có những cách đánh giá khác nhau Những xúc động tinh vi
và những đào sâu tìm kiếm mọi điều trong cuộc sống là bản chất của nhữngnhà nghệ sĩ Họ nhìn đời, nhìn người bằng muôn nghìn mảnh màu sắc Sự thật
có thể là một, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của nhà văn lại là muônhình vạn trạng Lép Tônxtôi có nhận xét rằng: “Khi ta đọc hoặc quan sát mộttác phẩm nghệ thuật của một tác giả mới thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòngchúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ?Anh ta có gì khác với tất cả những người mà tôi đã biết, và anh ta có thể nóicho tôi biết thêm một điều gì mới mẻ về việc cần phải nhìn cuộc sống chúng
ta như thế nào” Như vậy, có thể thấy cái nhìn nghệ thuật chính là cái nhìnchủ quan của nhà văn Nó đem lại cho nhà văn vốn sống và vốn sáng tạo cầnthiết, như Hemingway nói: “Nếu một nhà văn ngừng quan sát, thế là xong đờinhà văn Nhưng anh ta không cần phải cố ý quan sát, cũng không cần phải tìmcách quan sát thế nào mới có ích Khi mới bắt đầu có lẽ là như vậy Nhưng vềsau mỗi sự việc mà anh nhìn thấy đều đi vào cái kho tàng khổng lồ gồmnhững gì anh ta biết hay những việc mà anh ta thấy” Bồi đắp cho cái vốnsống của một nhà văn là điều tất yếu, cái nhìn nghệ thuật còn có khả năng bồiđắp cho vốn sống của người tiếp nhận nữa Thông qua cái nhìn của anh ta gửigắm vào mỗi tác phẩm, người ta nhận ra những chân giá trị của cuộc sống, cáimuôn màu muôn vẻ mà nó đưa lại Cái nhìn nghệ thuật có thể xét trên haiphương diện: một là điểm nhìn của người trần thuật và nhân vật, hai là cáinhìn thể hiện trong khách thể Điểm nhìn của người trần thuật và nhân vậttheo “Từ điển thuật ngữ văn học” là “vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và
Trang 18miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có điểmnhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việctái tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần khôngnhỏ là đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sựđổi thay của nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [4;113] Điểm nhìnnghệ thuật có thể phân chia ra điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian.Ngoài ra có thể kể thêm điểm nhìn tâm lý khi người trần thuật nhìn theo tầmmắt của nhân vật, điểm nhìn quang học, điểm nhìn theo một mô hình văn hoánào đó… Cái nhìn thể hiện trong khách thể là để nói về cái nhìn thể hiệntrong hệ thống các chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn.Trần Đình Sử đánh giá rằng: “Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho tacùng nhìn thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã bước vào phạm vi ýthức của họ, chú ý cái mà họ chú ý Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cáinày, nhà văn kia chú ý cái kia, tức là ta đã nhận ra con người nghệ sĩ của tácgiả” [9;131] Phương diện này cần chú ý đến các yếu tố sở thích của nhà văn,những điều họ am hiểu và quan tâm; chú ý đến màu sắc, âm thanh, mùi vị,cảm giác để thấy sự khác biệt giữa những tác giả khác nhau; chú ý đến hệthống ngôn từ bởi nó là phương tiện để bộc lộ cảm giác của nhà văn đối vớicuộc sống cũng như tài năng của mỗi người Ở công trình này, chúng tôi xinđược nghiên cứu đề tài trên phương diện thứ hai của cái nhìn nghệ thuật Đó
là chứng minh hệ thống chi tiết nghệ thuật đặc sắc, điển hình của riêng LanKhai về miền rừng núi thông qua các yếu tố như đã nói ở trên Chi tiết nghệthuật được hiểu là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc
và tư tưởng Hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm và sống động là nhờ cácchi tiết về phong cảnh, môi trường, chân dung, nội thất, về cử chỉ, phản ứngnội tâm, hành vi lời nói” [4;59] Như vậy, hệ thống chi tiết nghệ thuật trongtác phẩm là rất quan trọng nếu ta muốn nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật củamột nhà văn nào đó Hệ thống chi tiết nghệ thuật nói lên sở thích, mối lưu tâmcủa tác giả, nói lên quan niệm nghệ thuật và phong cách sáng tác của nhà văn
Trang 19Về phía quan niệm nghệ thuật của Lan Khai cũng cho rằng nhà vănphải có sự quan sát tinh tế, có cái nhìn nghệ thuật đối với sự vật, hiện tượngquanh ta Ông cho rằng: “Cái đoạn đường thứ nhất của sự sáng tạo nghệ thuậtchính là một sự tiếp xúc với ngoại vật, một sự thấy biết vô tư kỷ một trạngthái nào đó của thế giới bao la” [11;199] Sự “tiếp xúc” và “thấy biết” mà LanKhai đề cập không gì khác chính là cái nhìn nghệ thuật Ông cũng rất đề cao
sự sáng tạo: “Nghệ sĩ cũng muốn sáng tạo như hoá công vậy( ) Nghệ sĩ đãtìm cách để ghi lại, để làm thành vĩnh viễn hẳn cái trạng thái đặc biệt và mongmanh của thế giới bao la Nó đã khiến nghệ sĩ chú ý và đã gợi mối đồng cảm,đồng tình của nghệ sĩ vậy Nghệ sĩ cố gắng diễn tả nó bằng nét và mầu trênvải, bằng hình dáng trong đất hay đá, hoặc ở trên giấy, bằng tiếng hay dấu.Làm thế nghệ sĩ cứu cho một khoảnh khắc của đời sống” [11;207] Với ông,
“trạng thái tưởng tưởng sáng tạo là sự dỡ tung các trạng thái tâm hồn cũ vàchắp ghép những vật liệu dỡ ra ấy để làm thành những trạng thái mới”[11;207] Điều đó đồng nghĩa với sự quan sát tinh vi và sâu sắc đối với mọivật để từ đó có thể tự mình sắp xếp và tưởng tưởng ra những điều hoàn toànmới dựa trên những điều đã cũ Quan niệm này của ông khi nhìn nhận lạichúng ta thấy rất gần gũi với quan niệm của lí luận văn học hiện thời LanKhai là một nhà văn có khả năng bao quát trên nhiều thể loại Ông tích cựckhám phá cả thể loại tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lí - xã hội, tiểu thuyếtđường rừng; cả truyện ngắn và tham gia cả việc phê bình, nghiên cứu, dịchthuật Mỗi thể loại như vậy, ông lại có cách nhìn và gửi gắm tình cảm, cảmxúc của mình vào đó Trong quan niệm của ông cũng đề cập đến sự đồngcảm, đồng điệu Trong cuốn “Lan Khai - tác phẩm nghiên cứu lí luận và phêbình văn học”, ông lấy dẫn chứng từ nữ sĩ Pháp, Georges Sand trong tập
“Cảm tưởng và kỷ niệm” đã nói cho ông rõ ràng về sự đồng tình: “Có thờikhắc mà tôi cảm thấy thoát hẳn ra ngoài tôi, mà tôi thấy tôi sống trong cáicây, cảm thấy tôi là một sợi cỏ, một con chim, một ngọn cây cổ thụ, một đámmây, một dòng nước chảy, một đường chân trời, một màu, một dáng, trăm
Trang 20nghìn cảm giác thay đổi, hoạt động vô hạn; có những giờ mà tôi chạy, mà tôibay, mà tôi lội, mà tôi uống những giọt nước trong, mà tôi bừng nở trong ánhnắng, mà tôi ngủ dưới lá cây, lượn chơi với chim sơn ca, bò lê với những chúthằn lằn, sáng lấp lánh với sao trời và đom đóm, tóm lại là thời khắc tôi sốngtrong tất cả cái gì là hoàn cảnh, toàn thân tôi như rãn nở mông mênh”[11;202] Đây là một dẫn chứng hay và rất tiêu biểu cho cái gọi là sự hoàmình vào cảnh và vật mà người ta thường nói Sự dẫn dắt này cho thấy quanniệm về sáng tác văn học của ông khá sâu sắc Những quan niệm này đã đượcông áp dụng vào tác phẩm của mình Chính bởi thế mà các tác phẩm của ông
đã có những giá trị đóng góp nhất định cho nền văn học Việt, đặc biệt lànhững truyện đường rừng của ông Vũ Ngọc Phan đã rất ưu ái Lan Khai, ôngđánh giá: “Lan Khai là một lão tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìmđường mới nhưng trước khi ông tới đích, người ta không thể quên lối cũ củaông, lối tiểu thuyết truyền kì nó đã làm cho ông được một hồi nổi tiếng”[16;176]
Trang 21Chương 2 CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ THIÊN NHIÊN MIỀN NÚI TRONG
“TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI
Thiên nhiên từ lâu luôn được ưu ái dành cho vị trí quan trọng trong vănhọc Cuộc sống con người không thể sống ngoài những mối quan hệ với xungquanh, nhất là mối quan hệ với thiên nhiên Trong tâm thức văn hóa phươngĐông, thiên nhiên đã trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó mật thiết với conngười Nó là trung gian chứng giám mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.Vận dụng triết lý “nhân dữ thiên địa tương tham” (người và trời đất chen dựvào nhau), trong suốt hành trình sống của mình, người Việt Nam đã nỗ lựctìm cách tổ chức lại thiên nhiên thành một giá trị văn hóa để cùng tham dựvào cuộc sống nhân văn Cuộc sống càng phát triển thì vị trí của thiên nhiêncàng quan trọng Trong văn học, thiên nhiên là khung cảnh nghệ thuật đểnhân vật xuất hiện, là nơi gửi gắm tình cảm, cảm xúc của nhân vật cũng nhưcủa tác giả Việc miêu tả thiên nhiên như thế nào cũng thể hiện được phongcách nghệ thuật của tác giả đó ra sao Với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, NgôTất Tố thì việc miêu tả thiên nhiên khá ít ỏi, chủ yếu là đi ngay vào sự việcmuốn nói Riêng với Lan Khai, ông rất chú tâm vào việc lột tả cảnh sắc thiênnhiên Mỗi khi ông tả cảnh, ta có cảm giác người nghệ sĩ này đã quan sát rấtlâu và có cái nhìn tinh tế Chúng tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa về cuộcđời của Nguyễn Đình Khải từ thủa nhỏ đã lớn lên trong bao bọc màu xanh củarừng, âm vang của tiếng suối réo rắt, sống động của từng loài chim muông.Chính cái màu xanh bất diệt của rừng “không những thôi cả sang quần áo dânbản thổ còn ánh lên cả da mặt kẻ ngụ cư nữa” [3;50] đã hút hồn Lan Khai, ámảnh ông làm ông muốn viết, muốn vẽ về nó
Giai đoạn này lưu lại khá nhiều tên tuổi viết truyện đường rừng bêncạnh Lan Khai như Thế Lữ và Đái Đức Tuấn Hai nhà văn này đều nghiêng
về miêu tả tính chất rùng rợn và bí hiểm của thiên nhiên để phục vụ mục đích
Trang 22đánh vào tâm lí tò mò của người đọc Phải dựng lên một không gian rừng núi
âm u, heo hút thì mới lột tả được hết cái hiểm nguy và miêu tả cho được cáitruyền kì, ghê rợn của các loại ma và thần trong rừng núi Với Lan Khai, mụcđích của ông khi viết truyện đường rừng bên cạnh sự phiêu lưu kì thú còn làcách mà ông trả món nợ ân tình với một miền đất đã cho ông tuổi thơ êm đẹp
và tràn đầy sức sống, nuôi dưỡng tâm hồn văn chương của ông Bên cạnh đóông cũng muốn đưa đến cho độc giả cái nhìn toàn diện về rừng núi - nơi vừa
có sự bí hiểm, sơ giản, vẫn có chỗ chưa thoát khỏi mông muội như thời cổxưa; vừa có những cảnh thơ mộng thần tiên như trong những câu chuyện cổtích, thần thoại và cả những cảnh rất thân thuộc về con người với cuộc sốngbản làng
Dưới con mắt của Lan Khai, thiên nhiên cũng đã hiện lên muôn hìnhmuôn vẻ ở mọi không gian, thời gian và cả ở chiều sâu tâm trạng Tác giảHoài Anh trong cuốn “Chân dung văn học” đã nhận xét: “Viết truyện lịch sử
và đường rừng vốn không đặt nặng vào tả cảnh, tả người nhưng trong truyệnđường rừng của Lan Khai, ngược lại những đoạn tả cảnh tả người là nhữngđoạn đặc sắc, cụ thể, linh hoạt nhất, nhiều khi tưởng chừng dưới ngòi bút củamột hoạ sĩ hay chuyên gia nghiên cứu phong tục, nếp sống” [1;158] Bằngmột lối viết riêng dưới cái nhìn nghệ thuật, Lan Khai đã tạo nên được nhữngbức tranh thiên nhiên phong phú, sống động
2.1 Cái nhìn về không gian
Đặc sắc của cái nhìn về không gian trong những truyện đường rừng củaLan Khai là sự bao quát cả một hệ sinh thái thiên nhiên rộng lớn ở núi rừng.Không gian trong các tiểu thuyết “Truyện đường rừng” là không gian rộnglớn nhiều tầng bậc đan cài vào nhau Phía trước là “Những chỏm núi xa vươnđến chân mây phơn phớt hồng” [12;103] gợi lên cái trùng điệp của núi nontrải ra hết tầm mắt, “một vài chỏm núi in hình trên nền mây rực rỡ, như nhữngbóng thiên thu muôn vạn cổ” [12;280] Dưới kia lại là những lòng thung: “Tự
Trang 23các lòng thung, sương mù thong thả bốc lên như hơi nồi chõ” [12;86], “Tronglòng thung, lúa chín gục đầu dưới những hạt sương lấp lánh” [12;103], “Dướilòng thung, rừng cây rì rầm như sóng bể, vang lên để rồi im hơi lặng tiếng”[12;342] Cái nhìn tinh tế và lối miêu tả hình ảnh đã mở ra trước mắt ngườiđọc những hình dung ban đầu về một thiên nhiên thơ mộng và tươi đẹp.Không gian này được mở rộng đến vô cùng Trên bát ngát không trung là mặttrời, mặt trăng, là gió, là mây Bầu trời miền sơn cước hiện lên với nhiều góc
độ khác nhau Bầu trời ấy khi thì “xanh trong, ánh nắng chảy lênh láng trên sựvật như tơ tằm óng ánh” [12;47], lúc lại “phẳng lặng, bát ngát đường chân trờinhư một nét chì xanh phai” [12;184], đến lúc trời mưa thì bầu trời vẫn “rọixuống cảnh vật một thứ ánh sáng trắng” [12;133] Cảnh sắc ấy không dễ gì
mà chúng ta có thể nhìn thấy được nếu không gắn bó với rừng núi và có cáinhìn tinh tế, sâu sắc Quan sát được những điều ấy đã khó, miêu tả có hìnhảnh và màu sắc sống động càng khó hơn Trên nền trời đủ sắc màu biếnchuyển theo thời tiết ấy có những vòm mây “lúc mầu vẩn gạo” [12;184], lúclại “chỉ còn phơn phớt mầu son loãng” [12;186], lúc lại làm nền cho màuxanh cây cối: “sắc mây trắng nhoáng màu bạc làm nổi bật những chỏm rừngcây xanh tối” [12;44] Những ngọn gió rừng dường như mang theo cả hươngthơm của những cây cỏ mật và sự huyền bí của miền sơn cước: ‘Từng cơn giónóng ngào ngạt mùi thơm”[ 12;342] Ngọn gió của Lan Khai cũng có nhiều
vẻ nhìn riêng “Gió chảy rì rào qua kẽ lá cây rung” [12;284], gió còn “chạytrên cây”, “gió hiu hắt thổi làm cây rừng xào xạc lá”, gió “len theo màn đêm,xuyên qua những bóng đen thấp thoáng” [12;409] Đẹp nhất là hình ảnh củabầu trời lấp lánh ngàn sao, nhất lại là ngàn sao của núi rừng Lan Khai gọinhững ngôi sao là mắt sao: “mắt sao trời thăm thẳm” [12;17], “vòm trời saothưa lác đác” [12;20] Có những hình ảnh so sánh độc đáo: “sao mai như giọt
lệ, long lanh toả sáng” [12;371] Về đêm, dưới bầu trời đầy sao thì mặt trăngcũng hiện lên với vẻ thơ mộng của nó: “Mặt trăng như cặp sừng trâu, nằm vắtvẻo trên ngọn núi đằng xa Sương mù bao phủ sự vật một tấm màn sa trắng”
Trang 24[12;71] Khi trời đã gần sáng là lúc mặt trăng phải nhường chỗ cho mặt trờithì nó lại hoàn toàn khác hẳn: “Mặt trăng đã ngả về Tây, loè và đỏ như miếngtiết sau lớp sương mờ Chân mây sáng rực như ánh đuốc tàn, làm nổi bật lênnhững vệt núi chênh vênh kỳ dị” [12;36] Tầng trên là vậy, còn lại khoảnggiữa là của đại ngàn, là rừng cây cổ thụ với trăm hình thù Tác giả miêu tả cậncảnh để thấy: “Ngay trước mắt tôi, sừng sững mấy cây trám to, thân thẳng vàtrắng lốp Tôi nhìn cái màu đen thăm thẳm dưới trần lá rậm, cái màu đen thămthẳm và tựa hồ có tuyết mịn như tuyết nhung” [12;275], “những thân cây to,những cột lớn của một ngôi đền chùa vĩ đại” Những cánh rừng cổ thụ ấy khimặt trời buông xuống thì tất cả như nhoè mờ đi thành một khối khổng lồ
“thấp thoáng nhoà bụi phấn sương” [12;280]
Có những nhà văn đến với thiên nhiên như một người khách thamquan, còn riêng với Lan Khai, thiên nhiên là một người bạn Mỗi dáng hình,mỗi động thái của thiên nhiên đều có khả năng chạm thấu đến từng tế bào trí
óc và đánh thức trong tâm hồn ông sự hòa nhập, giao cảm với thiên nhiên vàtìm thấy ở thiên nhiên những vẻ đẹp tiềm ẩn Chính vì vậy mà ông phát hiện
ra vô số những hình ảnh đặc sắc, sống động như thực qua những góc độ khácnhau Trước hết, với Lan Khai, núi rừng là một vườn thượng uyển Ta nhận ra
có biết bao những loài hoa khác nhau ở bất cứ nơi nào trong rừng Lúc tác giảđưa ta đến “gần chỗ thạch bàn” để ngắm “một cây đào chớm nở rung rinhtrong nắng như một cây vàng nạm ngọc hồng và biếc” [12;329], “dưới lá câyxanh, dày đến nỗi ánh mặt trời không lọt qua, một tấm thạch bàn phô vẻ trắngtinh như ngọc giữa những cây cơm lênh, những tràng hoa đỏ, tím buông rủnhư bức màn gấm trăm màu Mặt đất đỏ như son, phủ một lớp nhung rêu óngánh[12;40], ta dường như quên mất mình đang ở nơi mặt đất mà cứ nghĩ đanglạc trên đất tiên, nơi mà chính tác giả cũng thừa nhận “tình cờ gặp nơi cảnh trítuyệt đẹp, đẹp như cảnh thần tiên trong mộng” [12;40] Như một nhà nghiêncứu am hiểu sâu sắc, Lan Khai dẫn người đọc đến với những cây cơi “hoa nởtrắng như hoa mai” [12;329], mời chúng ta thưởng thức “những bông hoa lạ
Trang 25cuối mùa nở tung”[12;423], những bông hoa rừng như “hàng trăm nghìnchiếc lư đồng ẩn khuất, bốc lên những hương vị mê li”[ 12;18], những “hoabướm, hoa kèn, hoa liếp li nở muộn gượng cười” [12;20] ven bờ rậm Cònhình ảnh nào tuyệt vời hơn khi được ngắm nhìn những “chỏm núi đầy hoaRoóc mạy nom chẳng khác từng bó đuốc khổng lồ cháy rực dưới vòm khôngxanh biếc” [12;72], những bông hoa Kroỏng “đỏ tươi bên bìa rừng” hay “sắccây xanh bóng điểm những màu hoa rỡ ràng, nổi rõ trên nền mây trắng rải ráckhắp bầu trời trong vắt”[ 12;156] Thế giới động vật nơi đây cũng sinh độngvới những con “bìm bịp, chích choè, hoạ mi, chèo bẻo vui ca đón ngày tốt đẹptrong khi con diều hâu rít lưỡi báo tin mưa” [12;20], “những bóng gà lôi,chim trĩ, cầy cáo thoáng qua” [12;21], “Dưới lớp trần xanh, trong cái tờ mờtranh tối, tranh sáng, thỉnh thoảng một con công bay là là khoe bộ lông đuôirực rỡ hoặc một con trĩ cất cánh vụt lên ngọn cây cao, lông trắng như quétphấn, hay một con sóc nhảy loắt thoắt trên cành”[ 12;489], “Những con gà lôilông trắng, những con vẹt mỏ đỏ lông xanh bay thấp thoáng” Trong ánh mắt
ưu ái với rừng, đắm chìm trong cảm giác yêu thương, một con hươu hiện lêncũng chinh phục tác giả, khiến tác giả tò mò “đầy những cảm tình yêu dấumuốn cúi xuống ôm con vật lên lòng”: “Ở bờ trước mặt, giữa một đám cỏ rácxanh vàng, một con hươu sao đương cúi xuống uống nước ( ) Sắc lông nóvàng thẫm điểm những nốt trắng tròn Trong khi mõm nó hớp nước nghe lépbép, cái mẩu đuôi nó chỉ bằng hai đốt ngón tay, luôn luôn vãy đi vãy lại”[12;284] Cảnh sắc ấy hiện lên như thực, như ảo, gây trong lòng người đọcnhững ngờ vực và cũng không ít xao xuyến Khu vườn ấy đã có màu sắc lại
có cả thanh âm của “những tiếng chim rất lạ kêu ran trong không khí thanhlãng và xa xa” [12;201], của nào gõ kiến, nào khướu, gầm ghì, hoạ mi, bạc
má, sáo, yểng, vẹt cùng tiếng trùng kêu rủ rỉ, tiếng gà gáy, tiếng tắc kè,tiếng cú kêu tạo thành một bản hợp ca khi réo rắt, lúc trầm bổng ngân nga đểngọn gió cuốn đi “len theo màn đêm khua động rừng đêm âm u tĩnh mịch”[12;409] Nhà văn phóng chiếu cái nhìn của mình về phía thiên nhiên, nhận
Trang 26thức được cái vô giá của tạo vật đang âm ỉ sinh sôi trong từng thớ đất núirừng Ông trân trọng, lắng nghe “tiếng nói vô ngôn” của cây cỏ, muôn thú,vạn vật Tiếng suối của núi rừng cũng làm cho bản nhạc thêm điệu, thêmnhịp Đây là “suối róc rách chảy, tung bọt trắng trên những hòn đá phủ rêuxanh, chim chóc trên cành đua nhau hót” làm cho “không khí mát rượi, thơmtho, vạn vật đều tưng bừng với ánh sáng, với sự thông thoáng, sự thở hút, sựvẫy vùng giữa cái khung cảnh mĩ miều” [12;103] Những ngày nắng tươi đẹp,dòng suối tự tình với bờ sậy: “Dòng suối vẫn rì rầm kể cho hai bờ sậy nghenhững chuyện đem từ những nơi xa lạ đến Và náu hình đâu đó, một conkhướu bách thanh rủ rỉ hót, tiếng nghe êm đềm và hơi đượm buồn, như mộtkhúc nhạc tương tư” [12;329], khi đêm buông xuống suối lại đàn lên nhữngbản nhạc “lơ lửng ngoài sương đêm” [12;266] Có được những âm thanh ấy là
do tác giả đã sử dụng những từ láy tượng thanh, động từ mô phỏng âm thanh
tự nhiên làm sống động như trước mắt người đọc là một khu rừng sinh tháiđẹp chưa mấy người được đặt chân tới Không chỉ đi miêu tả ở bề ngoài, LanKhai còn đặc biệt quan sát cuộc sống của những sinh vật ở miền rừng núi.Lúc này, ông giống như một nhà sinh học đang nghiên cứu với những trảinghiệm thật thú vị và say sưa Ở đây có loài chim sột “là một loài chimchuyên môn phá tổ ong để lấy mật” Cái mưu mẹo của nó làm chúng ta thấybật cười: “Thoạt đầu, nó tìm đến những nơi có tổ ong nằm lộ thiên Những cái
tổ này thực là những công trình kiến trúc đặc biệt Mỗi tổ thường to bằng cáichiếu một, buông từ cành cây cao xuống sát ngọn cỏ Tìm được tổ ong rồi,chim sột ta đỗ ở một cành cây ngay trước tổ, ngắm đích xác nơi bọng mật rồithình lình đâm vút một cái qua cái bọng sáng phía bên kia Toàn thân conchim như thế là dính bết những mật ngọt Giờ nó chỉ việc đỗ lên trên cành cây
và lấy mỏ tuốt cho sạch từng cái lông là đủ no Nhưng cũng có con tham lam
cứ đâm đi đâm lại mãi hai ba lượt, kỳ đến say bứa mới thôi” [12;303] Loàitrăn cũng có những mưu lừa tài tình để bắt chim sâu: “Bên cạnh một gốc câycụt, con trăn đất dựng đứng mình lên, như một cái gốc cụt thứ hai nữa Nó sùi
Trang 27bọt phủ kín cả đầu để con chim sâu không thấy rõ, đoạn cứ thò lưỡi ra thụtlưỡi vào, chẳng khác một loài côn trùng, khiến anh chim sâu phải để ý Quảnhiên, con chim mắc lừa Nó truyền từ cành cao xuống vừa nhảy, vừa ngónghiêng ra ý thăm hỏi và, sau cùng, bay vút xuống đớp Con trăn cũng chỉ chờ
có lúc ấy để há miệng tợp lấy con chim và nuốt chửng” [12;304] Sự ranhmãnh của những con khỉ được ông miêu tả rất thú vị khi chúng bẻ trộm ngô:
“Mỗi khi gặp nương ngô đã có quả, bú dù thường kéo đến rình phá hại.Chúng ranh mãnh lắm; trước khi vào nương, chúng biết chia mỗi gốc một conngồi vắt vẻo tận cành cao để hễ có người là phải báo hiệu cho đồng bạn Sựnghiêm ngặt đã xếp đặt đâu đó rồi chúng mới ùa nhau vào nương, con nàocũng buộc ngang lưng một sợi dây sắn Chúng bẻ ngô, lộn ngược vỏ ngoàibuộc vào dây lưng rồi vọt lên cành cây và chuyền đi mất Không cảnh nàokhiến người đường rừng tức bực và buồn cười bằng cái cảnh một đàn khỉnhảy ríu rít trên cây, lưng mỗi con đeo một xâu ngô như một đàn lính đeo lựuđạn” [12;82] Cảnh tượng ấy được thuật lại một cách chi tiết như một sự quansát tỉ mỉ làm cho người đọc bật lên những tiếng cười sảng khoái như đượcchiêm ngưỡng ngay trước mắt mình Và cũng có những loài chim làm người
ta phải rùng mình đáng sợ như con chim báng với tiếng kêu “đột ngột vàkhủng khiếp: “A i ôi i” báo hiệu có người chết [12;188] Chính những câuchuyện thêm về các loài vật ấy đã làm phong phú thêm cái nhìn của mộtngười nghệ sĩ đường rừng và càng làm hấp dẫn thêm nội dung của những câuchuyện này
2.2 Cái nhìn về thời gian
Đâu phải cứ quan sát là có thể viết ra được những lời văn làm rungđộng lòng người như vậy Lan Khai đã không chỉ nhìn cảnh bằng thị giác,bằng thính giác, bằng xúc giác mà nhìn bằng cả trái tim, tâm hồn Điều đó thểhiện ở việc ông bao quát toàn cảnh trong cả không gian và thời gian Trongnhững truyện đường rừng của ông sự chuyển giao thời khắc được đặc tả qua
Trang 28màu sắc và âm thanh Những nhạy cảm trong cái nhìn đưa lại những bứctranh sinh động như vẽ Ta bỗng ước ao một buổi sáng tỉnh dậy được hít thởbầu không khí trong lành, được nghe tiếng của muôn chim réo rắt và chiêmngưỡng cảnh sắc đang chuyển mình: Khi mặt trời mới mọc thì “những sườnnúi cao, những chỏm cây lớn đều sáng rực một thứ men vàng óng ánh Cảnhrừng (…) từ sớm vẫn im lặng, bỗng rộn rịp những tiếng chim kêu Cuộc sốngcủa muôn loài dường như phải chờ đợi cái tia nắng đầu tiên mới bắt đầu”[12;86] Rồi “Trời dần dần sáng bạch Rừng cây bắt đầu tỉnh giấc Nhữngtiếng chim ngàn rủ rỉ hót trong ánh bình minh còn chưa nhất định Góc trờiđông sáng rực, vàng thẫm rồi vầng mặt trời hiện ra, tráng trên chỏm rừng câyxanh ướt một màu vàng lấp lánh [12;387] Còn khi mặt trời đã mọc cao thì
“ánh nắng lọt qua trần lá cây rung chuyển tắm những vật trong rừng bằng mộtsáng xanh mờ Những gốc cây cổ thụ xù xì rêu mốc, những dây leo chằngchịt, những khóm hoa dại, những bóng gà lôi, chim trĩ, cầy cáo thoáng qua,hết thảy trong cảnh mộng” [12;21] Sự dịch chuyển đó được tác giả thể hiệnbằng góc đứng của mặt trời Lúc góc trời đông sáng rực thì mặt trời bắt đầuhiện ra để bắt đầu ngày mới với vạn vật Cuộc sống của muôn loài cần phảichờ những tia nắng đầu tiên như để ban phát sinh lực Khi “mặt trời đã ngả vềTây thì lúc ấy “trong rừng, vật sắc đã nhoè hoặc mất hẳn vào trong bóngtối ”[12;55] nhường chỗ cho một không khí mới, huyền bí và hoang vắngvới những cảnh, âm thanh chỉ riêng đêm mới có Tinh tế trong cách quan sátthiên nhiên, ông đã dùng màu sắc để miêu tả sự chuyển biến nhiệm màu củathời gian: ‘Thời khắc cứ chuyển dần từ màu vàng rực sang màu đỏ tía, xuốngmàu hồng thẫm rồi tím thẫm”[12;18] Màu vàng rực chính là thứ men vànglóng lánh của mặt trời buổi bình minh Mặt trời khi đã lên cao cũng là lúcmang màu đỏ tía gay gắt Màu hồng thẫm là khoảng hoàng hôn đang từ từbuông xuống Cuối cùng chỉ còn là màu tím thẫm của những rặng núi phủ đầysương và bóng tối Từ “Đêm mỗi lúc một khuya Ngoài sân, sương đã bắtđầu sa trắng xoá Con bìm bịp đã kêu” [12;370] cho đến “Đêm đã khuya
Trang 29lắm( ) Trời cao thẳm, hơi vẩn sương mù tuy mấy ngôi sao nhấp nháy trong
vô tận vẫn còn trông thấy rõ” [12;453] là cả một khoảng thời gian dài nhà văn
đã nghiền ngẫm và khám phá từng chi tiết, sự kiện, từng rung động, nghĩ suycủa cuộc đời cỏ cây, hoa lá cho nên ông có thể cảm nhận từng khắc, từng giờtrôi qua Không thể bỏ qua được sự chuyển mùa tự nhiên, Lan Khai đã viếtlên quy luật tất yếu ấy bằng tất cả vốn hội hoạ và văn học của mình Xen với
sự thay đổi của màu sắc, thời gian trôi đi trong đêm còn được ông thể hiệnbằng âm thanh của các con vật trong rừng: “Con tắc kè, lẩn đâu ngoài vườn
cỏ rậm, lạnh lùng kêu hai tiếng, hai tiếng vang ròn, đột ngột giữa đêm thu”,
“Trong một hốc cây nào đó, con tắc kè đã kêu ba tiếng đều đặn, ba tiếng như
ba giọt nước lạnh rỏ thánh thót trong lòng hang sâu [12;453], “ Con tắc kèvừa buông chín tiếng: Cuối canh hai” [24], “Đôi bìm bịp cất tiếng báo canhtư”[ 12;36] Trong đêm, giữa rừng cây bạt ngàn thì tất cả chỉ là màu tối sẫm,chỉ có tiếng của các con vật là sống động và chân thực biết chừng nào Phải
am hiểu về đêm rừng và những âm thanh của rừng thì ông mới có thể biếttừng tiếng của con bìm bịp hay tắc kè ứng với thời gian nào của đêm Ôngcòn độc đáo ở chỗ tính thời gian bằng những giọt nước: “Thời khắc cứ qua
đi, trong tiếng nước lần rỏ đều đều không ngớt giọt” [12;85] Cách tính ấy đãcho thấy Lan Khai không chỉ đứng ngoài quan sát, ông đã hoà nhập vàothiên nhiên để căng mọi giác quan đón từng bước chuyển đổi tinh vi của thờigian Cái nắm bắt ấy không phải bất cứ nhà nghệ sĩ nào cũng có được
Cái nhìn nghệ thuật có thể hiểu một cách thông thường là cách đặtđiểm nhìn và tài năng thể hiện của người nghệ sĩ Bằng cách nào đó, anh taphải thể hiện được cái anh ta đã nhìn và cái anh ta muốn nói Có thể thấyrằng, Lan Khai đã dày công tái tạo lại cảnh đẹp bốn mùa để cho người đọcchưa một lần đến với núi rừng cũng tưởng tưởng ra được Người ta chỉ cóthể tìm thấy một buổi sáng mùa hè, “dưới ánh chiều dương, cảnh vật tươicười, thảnh thơi, sung sướng Sắc cây xanh bóng điểm những màu hoa rỡràng, nổi rõ trên nền mây trắng rải rác khắp bầu trời trong vắt” [12;156] ở một
Trang 30nơi yên tĩnh, cách xa với cuộc sống thành phố Lan Khai dường như rất sayvới cảnh mùa thu nơi núi rừng phía Bắc Tổ quốc này Ông thu vào tất cảnhững gì tuyệt vời nhất mà rừng núi ban tặng vào tầm mắt mình Có lẽ bởimùa thu luôn là mùa gợi cảm hứng thơ ca nhiều nhất đối với mỗi nghệ sĩ Sự
so sánh độc đáo đã đưa lại những liên tưởng mới lạ đến cho người đọc Quacon mắt lãng mạn của nhà văn thì sự đan xen màu sắc của những cây to bắtđầu vàng lá trên nền xanh và “những cây kroỏng nở hoa đỏ rực” làm cho
“từng mảnh rừng trở nên như một tấm áo của thi sĩ lãng mạn cổ thời bị nhữngvết hoen ố sau một tiệc lớn ở nơi lầu hồng có nhiều giai nhân, nhiều thơ vàrượu” [12;183] Rừng thu đã như là nơi “lầu hồng” tụ hội của những tao nhânmặc khách thời xưa Sự đan cài màu sắc giữa màu đỏ của hoa; xanh, vàng của
lá được ví von như chiếc áo đẹp của thi sĩ lãng mạn do mê mải giai nhân, thơ
và rượu mà làm hoen ố Cảnh chiều thu cũng đi vào truyện đường rừng củatác giả như một thực thể sống động đa thanh sắc Ông đã viết rằng “Chiềuxuống chầm chậm và hết sức gợi cảm như mọi chiều thu”, thế nhưng mỗibuổi chiều lại đem đến một cảm nhận khác nhau: Này là cảnh “Dưới nắngchiều thu, những cây phong bắt đầu thay sắc lá, đỏ rực một vùng ( ) Trongcái tranh tối, tranh sáng của khu rừng tịch mịch, những con gà lôi lông trắng,những con vẹt mỏ đỏ lông xanh bay thấp thoáng Những tiếng chim gõ kiến,chim gầm ghì, chim hoạ mi hót đua nhau thành một khúc nhạc êm đềm Gần
xa chung quanh, trong các bụi rậm, chốc chốc thoáng đưa ra những tiếng xìxào bí mật”[12;423] Và đây nữa “Từ góc trời phía Tây, qua những rèm mâyvàng hoặc da cam, ánh nắng tàn còn để vương lại trên sự vật những màu rấtmong manh, những màu phấn kim nhũ pha màu tím mỗi lúc một phai, một tắtdần” [12;280] Mùa đông đến, bầu trời không còn trong vắt như mùa hạ, thaythế vào đó là “trời lờ lờ nước gạo, núi rừng như tan trong một thứ bụi phấntoả mơ hồ, gió bấc chạy lướt từng cơn đem không khí lạnh lẽo len lỏi vào mãitận rừng sâu” [12;158] Đông qua xuân đến, “hoá công đang phô ra một bứccảnh đầu chiều xuân, nồng nàn, rực rỡ Về bên tay trái, ngọn nước từ phía Đài
Trang 31Thị xô về, bị những hòn ghềnh màu gan gà cản trở, bắn toé lên phản chiếuánh mặt trời, chói lọi như một cây nước phun qua ánh điện Chếch về phíadưới, dòng sông Gấm lại trở nên hiền từ, phẳng lặng, chây lười biếng qua hairặng bờ cỏ xanh non mơn mởn điểm hoa sim Bên kia sông, dải đồi liên tiếpchạy dài như một chuỗi ngọc bích đặt nằm trên nền hộp nhung màu hoa lí Xanữa núi Thần sừng sững trên nền mây vàng rực, nom mơ màng như một thi sĩgià đang tư lự giữa mớ hào quang [12;473] Chính những từ láy được nhàvăn sử dụng khi miêu tả đã đem lại hiệu quả chân thực, sống động và có hồncho từng cảnh sắc Mùa đông, dường như mọi vật đều bị ngưng trệ, bớt đi sứcsống nên bầu trời chỉ “lờ lờ” một màu đục của nước gạo Nhưng khi mùaxuân đến thì cảnh vật tràn đầy sức sống “nồng nàn”, “mơn mởn” Lan Khai đãtái hiện được những bức tranh thiên nhiên của núi rừng thật phong phú, muôn
vẻ Thời khắc nào ứng với màu sắc, âm thanh và cảnh vật ấy Điều đặc biệttrong cách miêu tả là sự chuyển giao thời khắc và sự vận động giao mùa diễn
ra tinh vi và dần dần của màu sắc Sự thay đổi không quá vội vàng, đột ngột.Chúng cứ từ từ thôi sang nhau như sự sắp xếp tự nhiên của tạo hoá
2.3 Cái nhìn thiên nhiên đa chiều
Trong cái nhìn của Lan Khai, thiên nhiên toàn bích với tất cả những vẻđẹp mà tạo hoá ban tặng cho nó Tạo hoá ban cho rừng một vẻ đẹp tự nhiên,thuần khiết nhưng cũng không kém phần hoang dã chính vì vậy người tathường có cái nhìn hoài nghi về nó Miền này thường là nơi để cho con ngườimiền xuôi thêu dệt nên những truyện viết về những truyện rùng rợn, ma mãnhđáng sợ Trong những truyện đường rừng theo thể loại tiểu thuyết của ông thìbên cạnh cảnh đẹp thần tiên như vẽ cũng có những cảnh sắc làm người ta phảirùng mình khi thấy: “Trời mây ủ rũ, cây cỏ phai màu Những dải núi xa thămthẳm chìm ngập trong khoảng sương mù Rừng cây lặng lẽ xác xơ mặt đồngkhông phơi gốc rạ, trống vắng, đìu hiu Thỉnh thoảng con quạ đen thẳngcánh bay xa, kêu mấy tiếng thì tâm hồn người ta cũng như trên cảnh vật, cái
Trang 32sự chết càng bâng khuâng man mác”[12;110], “Trên mặt đầm, mưa bay mùmịt Cây cối ủ rũ, chốc chốc rùng mình trước làn gió lạnh thì lại tuôn nhữnggiọt nước nhỏ rào rào”[12;125] Mặt trăng đôi khi không còn kiều diễm nữa
mà “rụt rè hiện lên bên kia một chòm cây kroỏng và ở tít chân mây xa, dịu lênmột thứ ánh bạc làm cho cái khối rừng âm u càng thêm bí hiểm” [12;268].Tiếng chim báng trong đêm làm người ta liên tưởng đến cái chết chóc và sựnguy hiểm của đường rừng khi “tiếng nó gào vang một cách ghê rợn và lâulâu còn vùng ra, làm sóng sánh bầu không khí yên lặng”[12;70] Dòng suốicũng góp thêm phần đáng sợ ấy: “Gần xa tiếng suối ẩn hình róc rách, sương
rỏ nặng nề, gió vụt cành cây, hươu băng rừng thẳm, cùng như tiếng ma quỷhiện hồn” [12;48] Nhưng những cảnh như thế này không nhiều mà nổi bậtvẫn là những bức tranh lộng lẫy với vô số màu sắc trong bảng màu chỉ riêngLan Khai mới có Trong mỗi bức tranh ấy ta đã thấy được một cái nhìn, mộtkhám phá phát hiện độc đáo, sáng tạo mang đến những cảm giác kì ảo, bấtngờ Ông là người đã “vén bức màn bí mật” về núi rừng và mở đường chomột cuộc thăm thú chiêm ngưỡng cảnh đẹp tuyệt vời bằng ngôn từ đặc sắccủa một cây bút đầy tài hoa
Từ thủa nhỏ, Lan Khai đã sống gần gũi với cuộc sống của người miềnnúi giữa màu xanh bất diệt của rừng Chưa bao giờ tình yêu với núi rừng vàcon người nơi đây phai nhạt trong ông Kể cả khi đã trưởng thành, khi đã lậpgia đình, Lan Khai vẫn trở về đây để làm những chuyến phiêu lưu suốt từTuyên Quang sang Bắc Kạn, Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Yên Bái Nơi nào ông cũng đặt chân Càng đi ông càng nhận ra cuộc sống và con ngườiđường rừng hấp dẫn, lôi cuốn ông Trong những điều ông chiêm nghiệm đượcthông qua những chuyến đi ấy là mối quan hệ thâm giao giữa thiên nhiên vàcon người Thiên nhiên không phải mang vẻ đẹp vô hồn, là một thực thể tồntại khách quan ngoài cuộc sống con người miền núi Thiên nhiên là sự sống,
là máu, là lá phổi, là một phần trong sự trưởng thành của một con người, làminh chứng cho tình yêu của lứa đôi, là nơi để bày tỏ cảm xúc Người miền
Trang 33núi sinh ra giữa cây cỏ, trưởng thành trong sự che chở của nó và chết đi lại trở
về cái nơi duy nhất ấy Mối quan hệ đó không dễ gì chia cắt Bởi vậy màtrong những truyện đường rừng của Lan Khai, thiên nhiên hoà hợp với conngười, thiên nhiên mang hồn người, biểu hiện cảm giác, trạng thái của conngười qua mỗi góc độ, mỗi hoạt động Thiên nhiên trong các tiểu thuyết
“Truyện đường rừng” của Lan Khai ở bất kì đoạn miêu tả nào cũng đều rấtsống động, có hồn Bằng việc sử dụng biện pháp nhân hoá, ông đã cho chúng
ta thấy thiên nhiên cũng có tình cảm, suy nghĩ, cử chỉ và hành động như conngười Chúng cũng biết ủ rũ, biết buồn, biết thì thầm những câu chuyện bímật… Rừng được ông miêu tả như một con người đầy mưu chước bí hiểmvới vẻ mặt đáng sợ: “nổi lên những đám đen quái gở bí mật, vẻ lì lì như đangthầm tính chuyện gì ghê gớm” Gió thì được miêu tả như người có nhiều ưutư: “Thở dài qua kẽ lá” [12;453] Cỏ cây cũng trở thành những con ngườicạnh tranh quyết liệt cho cuộc sinh tồn: “Có lẽ sự biết mình là con cưng củathợ tạo, dù sao cũng chẳng cam long khuất phục hẳn người Nó vẫn rình lúcngười trễ nhác, lẻn vào giữa hoa màu, lấn hiếp giống lúa, phủ kín hẳn vườntược, len lỏi cả vào trong nhà cửa” [12;81] Trong đêm, vạn vật cũng cần cónhau như cần tri âm tri kỉ: “Gần xa, chung quanh các bụi rậm, chốc chốcthoáng đưa ra những tiếng xì xào bí mật” [12;423], “những ngọn dừa rungđộng, rì rào tựa hồ kể lể cùng nhau niềm tưởng nhớ xa xôi” [12;280], “dòngsuối vẫn rì rầm kể cho hai bờ sậy nghe những chuyện đem từ những nơi xa lạđến Và náu hình đâu đó, một con khướu bách thanh rủ rỉ hót, tiếng nghe êmđềm và hơi đượm buồn, như một khúc nhạc tương tư” [12;329] Thiên nhiênbỗng chốc trở thành thế giới riêng Ở nơi ấy, chúng cũng hoạt động, cũng suynghĩ như loài người Cách miêu tả như vậy đã phần nào xoá bỏ đi khoảngcách giữa người miền xuôi và cảnh miền rừng đã từng tồn tại rất lâu tronglòng độc giả, hé mở bức màn bí mật vốn từ lâu đã bị phủ kín bởi những địnhkiến từ ngàn đời Ở bất cứ nơi đâu, khi đứng trước thiên nhiên, con người vẫnthường có rất nhiều cảm xúc Trong những câu chuyện đường rừng của Lan
Trang 34Khai, trước mỗi cảnh vật khác nhau, người ta lại có những xúc cảm riêng biệt.Khi mùa đông đến, khí hậu miền rừng vào lạnh sớm, cảnh vật trở nên buồnbã: “Trời mây ủ rũ, cây cỏ phai màu Những dải núi xa thăm thẳm, chìm ngậptrong khoảng rừng núi Rừng cây lặng lẽ, xác xơ…Thỉnh thoảng con quạ đenthẳng cánh bay xa, kêu mấy tiếng” làm cho “tâm hồn người ta cũng như trêncảnh vật, cái cảm giác sự chết càng bâng khuâng, man mác” [12;110] Trongđêm mưa “sương mù với mưa bụi toả mờ mờ Những chỏm rừng, những dảinúi y như tan trong hơi nước” khiến cho “người có tâm sự không thể bângkhuâng, man mác, buồn vẩn buồn vơ” [12;242] Những cảnh thơ mộng “đồiruộng, rừng cây đầy những tịch mịch và phảng phất một cái buồn mơ hồ.Những chỏm rừng xa càng lên đường chân mây đỏ những mảng ren màu úathẫm” đã làm tâm hồn thi sĩ “bị xâm chiếm bởi cái êm ái vô cùng gợi cảm của
sự vật”, gieo vào lòng người một nỗi tương tư - “tương tư tất cả, không ngâyngất lắm, chỉ vừa đủ mạnh để thâm nhập hết cái thơ mộng của thời cảm”[12;290] Khung cảnh nên thơ còn gợi những khát khao yêu đương, mongmuốn hi vọng được hoà hợp hai tâm hồn giữa đất trời Khao khát đó khôngnằm ở đó là người như thế nào Dù trong “Rừng khuya”, Tsinèng là một tênthầy cúng nham hiểm, độc ác thì trước thiên nhiên tuyệt mĩ cũng không khỏingây ngất, khát khao: “Tình cờ gặp nơi cảnh trí tuyệt đẹp Đẹp như cảnh thầntiên trong mộng Dưới lá cây xanh, dày đến nỗi ánh mặt trời không lọt qua,một tấm thạch bàn phô vẻ trắng tinh như ngọc giữa những dây cơm lênh,những tràng hoa đỏ, tím buông rủ như bức màn gấm trăm màu Mặt đất đỏnhư son, phủ một lớp nhung rêu óng ánh Tsinèng ngắm nghía một lúc, đoạn
từ từ qua nệm rêu xanh, nằm ngả mình trên phiến đá Hơi lạnh thấm thía vàongười khiến Tsinèng hết nhọc nhằn say sưa, hắn thở hút bầu không khí thanhtân Thạch bàn ở ngay bên bờ một con suối Dòng nước từ vách núi mù trắngxoá Trước khi dồn xuống lòng khe nước trong đọng lại một cái chũng lớn, từmấy nghìn năm giọt suối khoét đá thành như một bồn tắm thiên nhiên Quanhbồn tắm, cây lá thưa, ánh dương soi tỏ, trăm thứ hoa rỡ ràng” [12;41] Những
Trang 35năm tháng sống cùng với con người và thiên nhiên miền núi đã giúp cho nhàvăn có cái nhìn toàn diện, phong phú về thế giới xung quanh Ở nơi rừng núi,giữa thiên nhiên tươi đẹp, lúc “ngày mùa đông có mặt trời ấm áp như một trưamùa hạ Ánh nắng và bóng râm in hình loang lổ trên mặt càng làm cho cảnhrừng trở nên tranh tối tranh sáng rất đẹp”, ước muốn của ông là “thả tâm hồn
để tiếp xúc với muôn nghìn thanh sắc của ngoại cảnh” [12;284] Thậm chíthiên nhiên thơ mộng quá làm ông rạo rực với những ý nghĩ được “thả rông,chạy băng băng từ chuyện này sang chuyện khác” [12;284] Có thể vì thế mànhững chuyện của ông cứ kéo dài mãi, lang thang ở khắp nơi và nắm bắt đượcbiết bao cảnh đẹp, sinh động mà với chúng ta rất ít có cơ hội Người ta cũngthường đến với thiên nhiên để tìm sự sẻ chia đồng cảm, nhưng trong văn họcgiai đoạn này, đến với núi rừng tìm kiếm sự đồng cảm là một điều không dễ
gì thấy được Lan Khai đã chạm được đến góc độ này Thiên nhiên chia sẻ vớinhân vật của ông niềm vui: “Dưới ánh chiều dương, cảnh vật tươi cười, thảnhthơi, sung sướng Sắc cây xanh bóng điểm những màu hoa rỡ ràng, nổi rõ trênnền mây trắng rải rác khắp bầu trời trong vắt” [12;156] Cây cỏ mây trời cònchia sẻ với nhân vật những nỗi buồn khi con người lo lắng “Mai Kham nhìntheo lo lắng và buồn bực Cảnh vật thiên nhiên hôm ấy lại là một cảnh khôngvui Rộc núi dài, san sát những lau sậy úa thỉnh thoảng bị gió lạnh xô xát,khua lên những tiếng rền rĩ thảm thê Rải rác hai bên đường đi, những bụixương cây trụi lá, giơ những cành ngẳng nghiu dưới nền trời thấp, nom có vẻrét mướt buồn rầu Đứng dựng lên chân mây là đồi lau xơ xác, những chỏmrừng tối đen, thỉnh thoảng hiện ra một dòng suối, nước lờ đờ như mực loãng,chảy róc rách trong lòng đá xanh rêu Đàn sáo kêu chão choẹt, thấy động baytung, chấm lên cảnh vật những điểm đen buồn Gió thổi gào thét, dán quần áovào người Những giọt mưa bay hắt vào mặt” [12;46] Đặc tả thiên nhiên bằngnhững từ láy, tượng thanh như “xô xát” “rền rĩ”, “thảm thê” mang tính chấtcủa con người, Lan Khai đã cho thấy sự sinh động, có hồn của cảnh sắc làmchúng gần gũi thêm trong cái nhìn của người miền xuôi Thiên nhiên có sự
Trang 36gần gũi thân thiết với con người còn thể hiện ở chỗ nó là nhịp nối giữa quákhứ và hiện tại Nó gợi nhắc về những hồi ức, kỉ niệm xa xưa Đó có khi lànhững kỉ niệm vui, gợi về một kí ức tươi đẹp với căn nhà ẩn hiện giữa thiênnhiên như bức vẽ: “Nhà của Mai Kham là một nếp nhà gỗ đẹp nhất hangđộng, chon von giữa ngọn đồi, chung quanh mận đào mọc kín, hơi gió thoảngqua, cành non rung động thì những cánh trắng, hồng lại rụng bay như đànbươm bướm Dưới chân đồi, qua trước cổng nhà chàng, một vạch suối reocười trên lòng cát sỏi Mai Kham mỗi lần đánh trâu xuống tắm vẫn tần ngầnnhìn suối nước thao thao, cuồn cuộn như mải miết tìm một bờ mộng bến xa”[12;18] Kí ức đẹp đẽ ấy gắn với “Những ngày chàng sống vô tư lự giữakhoảng tự do bát ngát, những ngày tháng cùng cha, chú phóng ngựa trên đồicao, nhịp theo tiếng lách cách của dao rừng cài trong những vỏ gỗ thừng mựctrổ hoa, những ngày ấy, thường ám ảnh chàng mỗi khi nơi thành thị náo nhiệt,linh hồn chàng vẩn vơ, nhớ thương giờ lại hiện ra sáng sủa, rực rỡ, tưngbừng” [12;17] Có khi thiên nhiên lại gợi nhắc những kỉ niệm buồn “Đêmnằm, nghe tiếng suối Đàn lơ lửng trong sương, long tôi khỏi sao nhớ thươngnão nùng, thương nhớ người mà tôi ao ước không được” [12;38] Cảnh sắc tựnhiên đã đánh thức trong lòng người những hồi ức, những kỉ niệm; gợi nhắccho họ về một tuổi thơ êm đềm, nhớ về những người thương yêu đã khuấtbóng Nó chia sẻ niềm vui, nỗi buồn như người bạn tâm giao Nhưng khôngphải lúc nào thiên nhiên cũng đồng cảm với suy nghĩ của con người Cónhững lúc nó lại nằm ở phía đối lập với con người, dường như muốn đe doạ,cảnh báo người và dự báo những dự cảm bất trắc có thể sẽ xảy ra Trong “Mọirợ”, lão Ghình Gúng “rờn rợn” trước một “nỗi sợ hãi vô cớ làm cho người mãphu già muốn chạy trốn, chạy trốn một cái gì, một cái tai nạn sẽ xảy ra khôngchừng” bởi cảnh vật xung quanh hiện ra hết sức ma quái và khắc nghiệt Mộtcon suối “từ đỉnh mây mờ đổ xuống ngang đường, nom xa như một con rắnkhổng lồ đương lồng lộn đi kiếm mồi”, con đường đi thì “mỗi lúc một hẹp vàthêm nhiều đá” [12;75] Chàng trai trong “Suối Đàn” có cảm giác “lòng tê tái
Trang 37bởi cái cảnh cô độc của mình giữa sự thờ ơ của cả vũ trụ” khi thấy “Chungquanh cây cỏ vẫn thờ ơ Dòng suối vẫn rì rầm kể chuyện Cây đào vẫn mỉmcười qua trăm nụ thắm”…Có thêm những chi tiết ấy trong tác phẩm, thiênnhiên hiện lên chân thực hơn, sống động và gần gũi với chúng ta hơn rấtnhiều
2.4 Hệ thống ngôn từ sử dụng để miêu tả cảnh thiên nhiên
Cái nhìn tác giả còn thể hiện trong hệ thống ngôn từ Ngôn từ là chấtliệu của văn học Tất cả những gì nhà văn muốn nói cho chúng ta biết đều thểhiện qua hệ thống ngôn từ Ngay cả tài năng, phong cách nhà văn ra sao cũngđều thể hiện qua hệ thống này Mỗi nhà văn khác nhau sẽ xây dựng những lớp
từ riêng cho mình, qua mỗi mảng đề tài khác nhau lại có những lớp từ riêng.Càng viết nhiều, những nhà văn càng bồi đắp cho kho từ vựng của mìnhphong phú và đặc sắc
Chính từ việc thôi thúc của lòng mình như ông từng tâm sự: “Tôi sinhtrưởng ở đường rừng nên thường một mình đứng trước thiên nhiên muôn màunghìn dáng Những lúc đó lòng tôi băn khoăn, thắc mắc như muốn nói gì rấtnhiều” [11;115] mà nhà văn có bút danh là “Lâm Tuyền Khách” này đã dốchết lòng và tài năng của mình với thiên nhiên và con người miền núi Thiên
về miêu tả thiên nhiên núi rừng với nhiều màu sắc và âm thanh, Lan Khaichọn cho mình một hệ thống ngôn từ riêng Chúng tôi thấy rằng ông đã sửdụng rất nhiều các tính từ chỉ màu sắc và tính chất Có thể thấy mật độ dàyđặc của các loại màu sắc khác nhau Nếu là màu trắng cũng có biết bao nhiêuloại: Màu “sáng trắng như bạc”, “trắng tinh như ngọc”, “trắng xoá”, “trắngnhoáng”, “trắng ngần”, “trắng lờ lờ màu nước gạo” Nếu là màu vàng thì nào
là màu “vàng rực”, “vàng da cam” Màu xanh cũng phong phú không kém:Màu “xanh vàng nhạt”, màu “xanh mờ”, nối tiếp “màu xanh rêu” là màu
“xanh lam”, màu “xanh dịu”, màu “xanh trong” rồi lại màu “xanh biếc” Màu
đỏ, màu hồng cũng được ông sử dụng khá nhiều: Này là màu “đỏ tía”, “đỏ
Trang 38son”, “đỏ như miếng tiết”, này là “đỏ lờ mờ”, “đỏ rực” Kia là màu “hồngthẫm”, đây lại là màu “phơn phớt hồng” Rồi thì màu tím cũng góp phần đadạng bằng màu “tím thẫm”, rồi lại “tím mờ” Có những loại màu rất đặc trưng
mà chỉ có trong bảng màu của nghệ sĩ Lan Khai Ấy là màu “vàng già lửađỏ”, “phớt màu lòng trứng”, “men vàng lóng lánh”, “úa màu rạ héo”, “màuphấn kim nhũ pha màu tím” Màu sắc chủ đạo để miêu tả ông thường sử dụnggam màu nóng, sáng rực rỡ, thể hiện quan niệm của ông về núi rừng khôngphải là nơi rừng thiêng nước độc mà là nơi phong cảnh hữu tình, rực rỡ, xinhđẹp Rất hiếm khi bắt gặp những màu sắc tối, u ám trong những câu chuyệnnày Với ông, dù là đêm đen thì vẫn điểm xuyết vào đó lác đác những vì saolấp lánh Những tính từ chỉ tính chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới tựnhiên theo chúng tôi khảo sát thì đa số là những từ láy Như “thăm thẳm”,
“đột ngột”, “mơ màng”, “mập mờ”, “tần ngần”, “tưng bừng”, “chênh vênh”,
“rực rỡ”, “rung rinh”, “nồng nàn”, “lâng lâng”, “lạnh lẽo”, “rầu rĩ”, “thảmthê”…Từ láy vốn là lớp từ có giá trị biểu cảm rất cao, gồm có láy tượng thanh
và láy tượng hình Trong những tác phẩm này, nhà văn đường rừng cũng sửdụng khá thành công lớp từ tượng thanh Những từ đơn miêu tả âm thanh sửdụng trong văn học vốn đã làm cảnh sắc sinh động, sử dụng được từ láy lạicàng làm cảnh và người náo nức, vui tươi lên gấp bội Những âm thanh “rìrầm”, “xì xào”, “róc rách” của suối; “rì rào” của những lá dừa; “thánh thót”,
“lanh lảnh” của những loài chim…Hiệu quả của nó là tạo được thế giới thanh
âm chân thực, phong phú, tươi mới và hết sức gần gũi với con người Lớp từtượng hình làm cho thiên nhiên sống động như tất cả đang hiện ra trước mắt
ta, chỉ cần với tay là có thể nắm lấy mọi thứ Hình ảnh của dòng suối “hiền từ,phẳng lặng, chạy lười biếng qua hai rặng bờ cở xanh non mơn mởn” [12;473],mặt trăng thì “vắt vẻo trên ngọn núi đằng xa” [12;71], những ngọn núi thìtrăm dáng trăm điệu khác nhau, có lúc “mơ màng trong làn sương mỏng”[12;31], lúc “lấp ló dải đồi tranh tím thẫm” [12;29], khi “chênh vênh”, lúc lại
“sừng sững như một thi sĩ già ngồi tư lự với mớ hào quang” Chưa kể đến các
Trang 39loài cây mỗi loài một vẻ, loài thì “xù xì rêu mốc”, loài thì “xơ xác, khẳngkhiu”, những bụi xương cây, bụi lá cằn cỗi thì “vặn vẹo, giơ những cànhkhẳng khiu dưới nền trời thấp” [12;46] Khảo sát thêm các tác phẩm cùng thờicủa Thế Lữ hay Đái Đức Tuấn có thể thấy bức tranh thiên nhiên của Lan Khai
về miền rừng bao chứa rất nhiều màu sắc và âm thanh tươi đẹp, trong khithiên nhiên trong “Vàng và máu” của Thế Lữ là một thế giới ma quái, kì dị.Ông miêu tả hang Thần như một quái vật rừng sâu: “Hang Thần trông cũngkhông to: bề cao bằng nửa cây gạo già mọc trước cửa Miệng hang loe ra nhưcái miệng hũ Phía trên toác ra như cái môi rách, phía dưới có hai tảng đá dài
và nhọn đâm lên ở hai bên mép như hai cái nanh Trông vào trong hang càng
xa càng rộng, càng đen tối thêm thăm thẳm sâu vô cùng tận Trên cửa hangchi chít các giống thảo mộc kỳ dị lấp lánh vì nước mưa phùn mới rửa Từtrong kẽ đá, bò ra những khúc cây tròn và mốc, bám chặt vào miệng hang.Những dây những rễ; những lá đỏ, lá xanh, lớn bé lẫn lộn, mọc đầy mép hang;những cụm trúc rất nhỏ với những đám cỏ xác xơ chen nhau ở bên nhữngkhóm si con và những vừng tóc tiên xanh tốt” [15;8] Còn Đái Đức Tuấn khimiêu tả cảnh sắc thiên nhiên như báo hiệu sự chết chóc nơi rừng thiêng nướcđộc: “Ló đầu ra ngoài cửa sổ để nhìn phong cảnh, ta chỉ thấy mặt đá trơ trơ,dựng cao như bức tường, và chung quanh toàn là thứ cây sậy khẳng khiu, mọc
ở ven sườn đá Một khi tàu chui qua khỏi núi ra tới nơi đất phẳng thì lại chỉ làmột khoảng đất mênh mông bát ngát, lởm chởm những đá, trên mọc xanh umkín mít những thứ cây nhỏ không tên tuổi, lan rộng khắp vùng; trông bụikhông ra bụi, đồng không ra đồng, chỉ thuần một màu xanh thẫm, không thấymặt đất đâu nữa Thứ cây đó chả hiểu là những loại gì, nó thấp lè tè, quá mặtđất độ hơn nửa thước, mọc chen lẫn với lau và sậy, với cỏ, với rêu, biếnquãng bình địa ra một khu hoang vu xanh thẫm, rừng cây không ra rừng cây,nội cỏ chẳng ra nội cỏ Trong muôn vàn thứ cây đó, thứ mọc nhiều nhất là câysăng, cây sim; có thứ lại có hoa trắng và hoa tím, điểm một nét diễm lệ trên vẻtrơ tẻ cằn cỗi của ngàn lau” [8;3] Chúng tôi còn nhận thấy rằng trong những
Trang 40truyện ngắn đường rừng viết theo kiểu truyền kì, kinh dị, Lan Khai cũng rấthay sử dụng gam màu tối, khác hẳn với khi ông viết những tiểu thuyết đườngrừng Màu đen được sử dụng nhiều lần “Trời tối đen như mực”, “mây đenkéo khắp trời”, “núi đồi chỉ là một hốc sâu đen tối” Toàn cảnh không có màutươi sáng mà chỉ có những màu “ố”, “phai”, “úa” như để tạo không khí kì bícho những câu chuyện có tính chất “liêu trai” Như vậy việc chọn lựa những
từ ngữ miêu tả có tính chất quyết định đối với mục đích mà mỗi tác giả muốnhướng đến Cũng phải kể thêm những biện pháp tu từ đã làm cho bức tranhthiên nhiên của nhà văn thêm phần hấp dẫn, đặc sắc là so sánh và nhân hoá
So sánh là biện pháp cụ thể hoá đối tượng được nói đến, giúp người đọc tiếpcận đối tượng qua thấu kính vạn hoa của nhà văn Cách so sánh của ông cóthể gọi là lối so sánh độc đáo và rất Lan Khai Ông so sánh “mặt đường rải rácnhư vũng nước nhỏ lộn bóng trời mây nom như những mảnh gương nát vụn”[12;44] làm ta có cảm giác đa chiều về hình ảnh So sánh tiếng của con tắc kènhư “giọt nước lạnh rỏ thánh thót trong lòng hang sâu” [12;453] lại gợi lên sựkhông cùng của không gian đêm vắng và độ vang của tiếng động trong khônggian ấy Ông so sánh “chỏm núi in hình trên nền mây rực rỡ như những bóngtương tư thiên vạn cổ” là hình ảnh khá độc đáo và gợi nhiều liên tưởng”[12;280] Ấn tượng nhất có lẽ phải kể đến là sự so sánh màu sắc của nhữngcây to bắt đầu vàng lá trên nền xanh và “những cây kroỏng nở hoa đỏ rực”làm cho “từng mảnh rừng trở nên như một tấm áo của thi sĩ lãng mạn cổ thời
bị những vết hoen ố sau một tiệc lớn ở nơi lầu hồng có nhiều giai nhân, nhiềuthơ và rượu” [12;183] Cùng với đó là biện pháp nhân hoá làm cảnh vật cóhồn, sinh động, gần gũi với con người hơn Chúng cũng biết “ủ rũ”, biết
“phảng phất cái buồn mơ hồ”, biết “rì rầm kể” những chuyện đem từ nơi xa lạđến Chúng còn biết “thầm tính” những chuyện “ghê gớm”, “lấn hiếp giốnglúa”…
Như vậy, có thể thấy, khi miêu tả các bức tranh thiên nhiên trong
“Truyện đường rừng”, Lan Khai đã đặt nó trong toàn bộ không gian, thời gian