- Tư bản khả biến v dùng để chỉ về một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động trả lương, thuê mướn công nhân, đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng
Trang 1BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: “Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về thất nghiệp và tình trạng sinh viên việt nam ra trường thất nghiệp”
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin về thất nghiệp
1 Các khái niệm
2 Nguyên nhân
a Trực tiếp
b Gián tiếp
3 Phân loại
4 Hậu quả
5 Ý nghĩa
II Sinh viên ra trường thất nghiệp ở Việt Nam
1 Thực trạng
2 Nguyên nhân
a Khách quan
a.1 Về phía trường Đại học
a.2 Mạng Internet, mạng xã hội phát triển
a.3 Kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo phát triển 6 a.4 Về phía doanh nghiệp
b Chủ quan
b.1 Thiếu kỹ năng mềm
b.2 Thiếu định hướng nghề nghiệp
b.3 Ảo tưởng bản thân, đứng núi này trông núi nọ
b.4 Thờ ơ với việc thực tập, bị động trong tìm việc
b.5 Không chủ động học ngoại ngữ, tin học
3 Giải pháp
a Khách quan
b Chủ quan
4 Liên hệ bản thân
C KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội ngày nay, thất nghiệp đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu, không loại trừ bất kỳ một quốc gia nào từ những nước nghèo đói đến những nước đang phát triển hay có nền công nghiệp phát triển Đối với mỗi một quốc gia, thất nghiệp là sự phí phạm nguồn nhân lực, không thúc đẩy phát triển kinh tế, thậm chí có thể gây biến động về chính trị Đối người lao động, thất nghiệp làm giảm chất lượng đời sống, gây tổn hại tinh thần Một trong những vấn đề của thất nghiệp là sinh viên ra trường khó khăn trong kiếm việc làm, hay câu nói vui là “tốt nghiệp là thất nghiệp” Tình trạng nhiều người có bằng đại học ra làm công nhân, xe ôm hay làm những công việc khác không cần trình độ đại học chả mấy xa lạ Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo Vì vậy đây là nguồn nhân lực rất quan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Vậy nguyên nhân do đâu? Làm thế nào để giảm tình trạng đó?
Sau đây em xin trình bày đề tài “Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về thất nghiệp và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam là tình trạng sinh viên Việt Nam ra trường thất nghiệp”
Trang 5B NỘI DUNG
I Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin về thất nghiệp
1 Các khái niệm
- Tư bản bất biến (c) dùng để chỉ một bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất
và giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm
- Tư bản khả biến (v) dùng để chỉ về một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật của tư bản quyết định và phản ánh những sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản
- Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
- Thất nghiệp theo Mác là tồn tại dưới hình thức nạn thừa nhân khẩu tương đối Nạn nhân khẩu thừa đó gọi là tương đối vì sức lao động thừa chỉ là thừa so với nhu cầu của tư bản về sức lao động
2 Nguyên nhân
a Trực tiếp
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, làm cho cầu tương đối về sức lao động
có xu hướng ngày càng giảm
Giải thích:
Tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa để cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội với mục đích thu lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình và thắng trong cạnh tranh Do đó,
tư bản tích lũy ngày càng giành đầu tư nhiều hơn vào việc hiện đại hóa guồng máy sản xuất, làm cho kết cấu hữu cơ (c/v) của tư bản thay đổi theo hướng: tư bản bất biến (c) tăng lên cả về giá trị tuyệt đối và tương đối trong khi tư bản khả biến (v) tăng lên tuyệt đối, nhưng giảm tương đối do kỹ thuật hiện đại vừa đắt tiền vừa làm giảm số lượng công nhân vận hành máy móc Cấu tạo hữu cơ của tư bản thay đổi theo hướng tăng lên như vậy dẫn đến giảm mức cầu về sức lao động trong khi số lượng của giai cấp công nhân tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa
b Gián tiếp
Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vì quan hệ sản xuất của tư bản chủ nghĩa dựa trên quan hệ bóc lột trong đó giai cấp công nhân sử dụng chính sức lao động của mình còn giai cấp tư sản thì lại sử dụng sức lao động của giai cấp công nhân làm giàu cho chính mình Cả xã hội tư bản chủ nghĩa là một thị trường lao động lớn
và thường thì cung ứng lao động nhiều hơn yêu cầu lao động
3 Phân loại
a Nhân khẩu thừa lưu động:
- Là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này nhưng lại tìm được việc làm ở xí nghiệp khác
- Chỉ mất việc làm từng lúc
b Nhân khẩu thừa tiềm năng:
- Là nhân khẩu trong nông nghiệp
- Đó là những người nghèo ở nông thôn, thiếu việc làm không tìm được việc làm trong công nghiệp, sống vất vưởng
Trang 6c Nhân khẩu thừa ngưng trệ:
- Là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnh thoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt
- Sống lang thang, tạo thành tầng lớp dưới đáy của xã hội
4 Hậu quả
Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp công nhân đến bần cùng hoá Bần cùng hoá tồn tại dưới hai dạng:
- Sự bần cùng hoá tuyệt đối giai cấp công nhân biểu hiện ở mức sống bị giảm sút + Sự giảm sút này xảy ra không chỉ trong trường hợp tiêu dùng cá nhân tụt xuống một cách tuyệt đối, mà cả khi tiêu dùng cá nhân tăng lên, nhưng mức tăng đó chậm hơn mức tăng nhu cầu do chi phí lao động nhiều hơn
+ Mức sống của công nhân tụt xuống không chỉ do tiền lương thực tế giảm, mà còn
do sự giảm sút của toàn bộ những điều kiện có liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của họ như nạn thất nghiệp – một mối đe dọa thường trực, sự lo lắng cho ngày mai, sự bất an về mặt xã hội
- Sự bần cùng hoá tương đối giai cấp công nhân biểu hiện ở tỷ lệ thu nhập của giai cấp công nhân trong thu nhập quốc dân ngày càng giảm, còn tỷ lệ thu nhập của giai cấp tư sản ngày càng tăng
+ Ở nơi này, lúc này, bộ phận này sự bần cùng hoá biểu hiện ra một cách rõ rệt; trong khi đó, ở nơi khác, lúc khác, bộ phận khác, sự bần cùng hoá lại không rõ nét lắm Chính cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã “đặt giới hạn cho sự tiếm đoạt bạo ngược của tư bản”
5 Ý nghĩa
Thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Khi dùng vốn để đầu tư máy móc phát triển, họ không cần nhiều nhân công nữa nên
sẽ sa thải để bớt chi phí vốn dùng cho chi trả lương cho nhân công để duy trì được lợi nhuận Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp
II Sinh viên ra trường thất nghiệp ở Việt Nam
1 Thực trạng
- Hàng năm, hơn 100.000 tấm bằng đại học "bỏ không" Con số này nhìn thoáng qua có thể không lớn so với 5 triệu lao động có trình độ tương ứng Nhưng nếu so với số sinh viên ra trường hàng năm thì con số này không hề nhỏ (Mỗi năm có khoảng 300.000 cử nhân ra trường)
- Thực tế ngày nay, hàng chục nghìn cử nhân không kiếm được việc làm, trong khi hàng chục nghìn người tốt nghiệp trường nghề, có công việc ổn định, mức lương khá Nhưng ở nhiều địa phương, người dân vẫn còn tâm lý thích học đại học, không cần biết xin được việc hay không
- Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, 72% sinh viên ra trường phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp
- Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2018, trong số hơn 60% cử nhân tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, chỉ có 40% tìm được việc liên quan đến chuyên môn đã được đào tạo Trong số gần 1 triệu “xe ôm công nghệ”, có tới 80% là sinh viên và cử nhân Nhiều người tốt nghiệp kế toán lại đi làm sale, tốt nghiệp tài chính ngân hàng thì đi làm nhân viên kinh doanh bảo hiểm, tốt nghiệp
Trang 7công nghệ thông tin lại có thể nhận chức danh nhân viên chăm sóc khách hàng để làm,…
Năm (Quý) Số người thất nghiệp từ hệ đại học
trở lên (đơn vị: nghìn người)
2018
Bảng số liệu sinh viên thất nghiệp từ hệ đại học trở lên qua các quý năm 2017-2019
Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy:
+ Năm 2017, số lượng người thất nghiệp hệ đại học trở lên biến động nhưng có xu hướng tăng
+ Năm 2018, số lượng người thất nghiệp hệ đại học trở lên biến động nhưng có xu hướng giảm nhưng không đáng kể
+ Năm 2019, số người thất nghiệp hệ đại học trở lên có xu hướng tăng nhưng vẫn chưa cao bằng 2017 cùng kỳ
+ Nhìn chung số lượng người thất nghiệp bậc đại học trở lên có xu hướng giảm từ
2017 trở lại đây nhưng không đáng kể
- Việc dư thừa lao động có trình độ đại học không chỉ lãng phí tiền bạc, thời gian của bản thân sinh viên và bố mẹ của họ, lãng phí cả sức trẻ, sức sáng tạo, sự năng động vốn có của tuổi trẻ Họ nên dùng những điều đó để làm việc, để cống hiến Nhưng nhiều bộ phận sinh viên lại để những thứ quý giá vốn có ấy “ngủ quên” mà đánh thức để giúp bản thân, để xây dựng đất nước
2 Nguyên nhân
a Khách quan
a.1 Về phía trường Đại học
Các trường đại học vẫn chưa chú trọng đến thực hành Nhiều trường có rất nhiều ngành đào tạo nhưng nhiều ngành không chuyên môn dẫn đến việc sinh viên ra trường có số lượng mà không có chất lượng Bên cạnh đó, khâu tổ chức hướng nghiệp còn sơ sài dẫn đến việc sinh viên đăng ký theo ngành học mình không yêu thích, đam mê Họ học cho có lệ, học đại học để bằng bạn bằng bè, học chẳng mấy mặn mà và chỉ dành một ít thời gian cho các môn học Điều dĩ nhiên là khi ra trường họ không có đủ kiến thức, cũng chẳng có đủ kinh nghiệm và càng không thể phát huy năng lực của chính bản thân mình Do đó, sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc làm công việc trái ngành, làm các công việc chân tay cũng là điều không mấy bất ngờ Nhiều cơ sở đào tạo còn chưa quan tâm xem sinh viên của mình có được
Trang 8thị trường lao động chấp nhận không, tìm việc như nào, các doanh nghiệp tiếp nhận
ra sao
a.2 Mạng Internet, mạng xã hội phát triển
Mạng xã hội phát triển, có vô số thông tin được đưa lên Thông tin đúng có, sai có
và khiến nhiều nhiều người suy nghĩ lệch hướng trong cuộc sống Mạng Internet phát triển sinh viên dựa dẫm vào nó nhiều hơn Có công cụ để tìm kiếm thông tin thì rất tốt nhưng bên cạnh tìm hiểu thông tin thì họ sao chép luôn thông tin của người khác, hình thành một bộ não lười vận động, lười suy nghĩ, sống ỷ lại Điện thoại là vật bất ly thân đối với giới trẻ Sử dụng điện thoại nhiều cũng khiến đầu óc của con người chậm đi, ít nếp nhăn hơn Không có số liệu thống kê về số lượng sinh viên nghiện internet nhưng trên thực tế, đa số các bạn sinh viên dành nhiều giờ hoặc
cả ngày để truy cập internet Theo ông Nguyễn Quốc Huy - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong cuộc giao lưu trực tuyến “Bàn về văn hoá ứng xử của giới trẻ trên không gian mạng” do Báo Pháp luật Việt Nam tổ chức ngày 5/11/2019 thì Việt Nam là quốc gia đứng thứ 18 trên thế giới về tỉ lệ người dân sử dụng Internet và là 1 trong 10 nước có lượng người dùng Facebook, YouTube cao nhất thế giới, trong đó thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ lớn Một kết quả khảo sát gần đây cho thấy, thời lượng sử dụng mạng xã hội trong một ngày của giới trẻ Việt Nam trung bình là 7 giờ, khá cao so với khu vực và thế giới Một bộ phận giới trẻ dành quỹ thời gian cho mạng xã hội rất lớn, gây nên tình trạng “nghiện” mạng xã hội ngày càng phổ biến Các bạn chơi game, nghe nhạc, xem phim, vào mạng xã hội mà quên mất việc học tập, rèn luyện bản thân
a.3 Kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo phát triển
Thời gian đào tạo sinh viên trung bình mất khoảng 3,5-4 năm, trong khoảng thời gian đó thị trường lao động có những biến đổi không ngừng Kỹ thuật, công nghệ, trí tuệ nhân tạo AI phát triển dẫn đến cơ cấu nguồn nhân lực thay đổi do những dây chuyền sản xuất, hệ thống tự động hóa có thể thay thế làm một số công việc của một
số bộ phận nhân lực, làm giảm số lượng nhân viên lẽ ra phải có cho một công việc
ví dụ sổ ghi kế toán tự động hóa có thể làm công việc của thư kí kế toán, mức chi trả để mua phần mềm rẻ hơn khi phải trả cho một người, hay GrowthBot có thể nghiên cứu thị trường về các doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh lân cận bằng một lệnh Slack đơn giản
a.4 Về phía doanh nghiệp
Có rất nhiều doanh nghiệp không muốn tuyển dụng sinh viên mới ra trường vì họ thiếu kinh nghiệm, doanh nghiệp phải mất công đào tạo lại từ đầu Nhiều doanh nghiệp kết nối với các cơ sở đào tạo chưa được chặt chẽ Họ chưa được tham gia sâu vào việc góp ý về chương trình đào tạo, giáo trình hay tiêu chuẩn
Đặc biệt, năm 2020, là năm nhân lực chịu nhiều tác động về các yếu tố khách quan (tác động của dịch bệnh, khiến thế giới biến động hết 5 tháng đầu năm, Việt Nam sau đó phục hồi nhẹ trong trạng thái bình thường mới Sau đó lại phải hứng chịu các đợt thiên tai, bão liên tục các tỉnh miền Trung) Nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản, hoặc nhiều doanh nghiệp cắt giảm nhân sự dẫn đến hệ quả một bộ phận lao động không nhỏ bị mất việc làm, bị giảm giờ làm, thu nhập thấp dịch bệnh khiến nhu cầu tuyển dụng thêm nhân lực giảm nhưng nguồn cung lại vẫn dồi dào, nhiều hơn rất nhiều so với cầu lao động Vì vậy, công việc trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết, các đơn vị tìm kiếm nguồn nhân lực mới sẽ có yêu cầu và chọn lọc cao hơn Yêu cầu về chuyên môn và kỹ năng làm việc của các đơn vị tuyển dụng
Trang 9cũng cao hơn so với các năm trước Vậy nên một sinh viên mới ra trường rất khó để
có thể lọt vào mắt xanh của các chủ doanh nghiệp để có cơ hội vào làm việc
b Chủ quan
b.1 Thiếu kỹ năng mềm
Kỹ năng mềm là những yếu tố liên quan đến trí tuệ cảm xúc như hành vi ứng xử của con người, các tương tác với bạn bè, đồng nghiệp, cách làm việc nhóm,… Có thể nói, kỹ năng mềm là nghệ thuật sống mà bất cứ người nào cũng nên hoàn thiện
để hài hòa các mối quan hệ trong cuộc sống Nó giúp chúng ta tự tin và tạo ra nhiều
cơ hội phát triển mới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kỹ năng mềm quyết định 75% thành công của con người còn kỹ năng cứng (hay kiến thức, trình độ chuyên môn) chỉ chiếm 25% Sinh viên ra trường có bằng giỏi, xuất sắc nhưng kỹ năng mềm lại yếu nên không được các nhà tuyển dụng đánh giá cao sau thời gian thử việc Nhiều sinh viên khi ngồi trên ghế nhà trường chỉ biết học Cuộc sống chỉ xoay quanh việc lên trường về nhà rồi đi chơi gặp bạn gặp bè lại lên trường và nếu có học thì họ cũng chỉ học để đối phó, học những thứ có trong sách một cách thụ động và không
áp dụng vào thực tế được Họ ngại ra ngoài “va chạm” với xã hội bên ngoài Họ ngại bước ra khỏi vùng an toàn của mình, họ định làm cái này cái kia, họ định tham gia câu lạc bộ, họ đi định làm thêm nhưng họ sợ không có thời gian tham gia, họ sợ mình không phù hợp với công việc đó, hay đơn giản họ lười Nhiều sinh viên chỉ có kiến thức trên sách vở, chưa xác định được mình thực sự muốn gì
b.2 Thiếu định hướng nghề nghiệp
Một là không có định hướng, nghĩa là không biết mình học để làm gì Hai là định hướng sai lệch, không có lòng phấn đấu vì đam mê mà đơn giản chỉ học để lo toan cuộc sống Có bao giờ bạn tự hỏi: "Mình học đại học để làm gì và cho ai?" Theo kết quả khảo sát nhanh đối các sinh viên năm cuối (có hơn 300 sinh viên tham gia làm khảo sát) thì có gần 30% sinh viên chưa có định hướng nghề nghiệp cụ thể sau khi ra trường, và có đến 76,2% sinh viên chưa tham gia thực tập ở bất kỳ một đơn
vị nào Khi được hỏi: “Bạn có thường tham gia các chương trình định hướng nghề nghiệp, trang bị kỹ năng thực hành xã hội trong trường không?” Thì có đến 49,4% sinh viên cho biết là chưa sắp xếp tham gia được Cá biệt có nhiều trường hợp cho biết không thích tham gia các hoạt động này Một bộ phận lớn sinh viên sau khi đã học gần xong, chuẩn bị đi làm, thì họ còn thiếu một định hướng đầy đủ và cụ thể cho nghề nghiệp của mình Nhiều sinh viên nghĩ chỉ cần vào trường top là được Và
cố gắng thi đại học để vào trường top không quan trọng ngành đó là ngành gì để có cái bằng của trường top với mong muốn xin việc dễ hơn Nhiều gia đình ở quê mong muốn cho con đi học đại học cho bằng bạn bằng bè, để mát mặt với làng xóm, để con tiếp xúc với môi trường đại học vì thấy nó khác với môi trường ngoài đời Họ sợ con cái ra đời chưa đủ chín chắn nên bắt con đi học đại học mà cũng không quan trọng ngành gì, trường gì,… Nhiều bạn trẻ còn chọn theo ngành “hot”
mà chưa tìm hiểu kĩ về nó nên không đam mê, không có định hướng, mục tiêu nên lười học, học để qua môn, học để ra trường Khi ra trường rồi họ vẫn mông lung với ngành mình đã học Chính vì thế, chất lượng nhân lực đầu ra trở nên hạn chế và tình trạng thất nghiệp lại tiếp tục tăng
b.3 Ảo tưởng bản thân, đứng núi này trông núi nọ
Đỗ đại học như là một thành công lớn đối với rất nhiều bạn sinh viên Họ coi tấm bằng đại học như một công cụ thần thánh giúp họ kiếm được công việc “ngon”,
Trang 10tốt là đủ “Em muốn mức lương khởi điểm trên 10 triệu”, “Làm việc không quá căng thẳng”, “Làm việc tại một môi trường có nhiều sự giúp đỡ hỗ trợ, không quá
áp lực”, “Có cơ hội đi làm việc tại nước ngoài”, “Được làm ngay tại dự án thật và vị trí tương ứng” Dựa trên kết quả khảo sát khoảng 300 sinh viên năm cuối thì có 33,2% sinh viên mong muốn có mức lương từ 7 đến dưới 10 triệu đồng hàng tháng,
có 18,6% sinh viên mong muốn có mức lương từ 10 triệu đồng trở lên Nhiều sinh viên lý tưởng hóa công việc, nghĩ khi đi làm sẽ vui, thú vị như những gì họ xem trên mạng nhưng thực tế lại khác, công việc áp lực khiến họ mệt mỏi nhàm chán rồi
họ lại mong muốn kiếm việc ở nơi khác “ có lẽ nơi này không hợp với mình? Mình phải tìm chỗ khác thôi” Họ đứng núi này trông núi nọ, lúc nào cũng thấy có chỗ làm việc tốt hơn
b.4 Thờ ơ với việc thực tập, bị động trong tìm việc
Hầu hết sinh viên nghĩ thực tập sẽ là chân sai vặt, là đi lấy đồ giúp anh chị đã vào công ty lâu, hay làm những việc không tên, làm những công việc không thuộc chuyên môn của mình, luôn kè kè bên cạnh máy photo hoặc fax… Điều đó làm họ
ám ảnh, trì trệ không hứng thú đi thực tập dẫn đến việc không hoàn thành mục tiêu
là đi từ lí thuyết đến thực hành để cọ xát với nghề Sinh viên ra trường còn viết hồ
sơ hời hợt, không làm nổi bật được hồ sơ của mình so với hàng trăm hồ sơ cùng nộp vào công ty, viết hồ sơ mà không ghi vị trí tuyển dụng, các kỹ năng ghi chung chung, không cụ thể Họ còn không tìm hiểu kỹ về công ty, chỉ thấy công ty đang tuyển dụng hoặc công ty có tiếng tăm nên nộp đơn xin việc vào, hoặc thậm chí rải đơn khắp các công ty, công ty nào gọi thì phỏng vấn Nhiều sinh viên còn xem thường các buổi phỏng vấn, nghĩ nó không quan trọng nên cũng không chuẩn bị kĩ càng Khi phỏng vấn thì kỹ năng giao tiếp kém, không tự tin, run sợ nên được các nhà tuyển dụng đánh giá cao
b.5 Không chủ động học ngoại ngữ, tin học
Thời đại toàn cầu hóa, đất nước đang mở cửa kết nối với nước ngoài một cách mạnh mẽ, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhiều, công nghệ ngày càng phát triển vượt bậc, thế hệ trẻ bây giờ phải có trình độ tiếng anh và kĩ năng tin học một cách căn bản Đó là điều cần thiết chứ không phải là điều nên làm nữa Sinh viên khi ngồi trên ghế nhà trường không nhận thức được điều đó hoặc có nhận thức được thì cũng trì trệ không học tiếng anh và tin học Khả năng ngoại ngữ tin học và ngoại ngữ của sinh viên rất yếu Khi đi thì làm loay với cái máy in, máy fax hay là chỉnh sửa một bản word, bản excel một cách nhanh chóng cũng khó khăn, chật vật… Họ cảm thấy học một ngôn ngữ mới khá khó, thấy nó như là một nỗi ám ảnh hoặc lấy lí do bận không đi học tiếng anh được Khi không có tiếng anh, cơ hội kiếm được việc như ý hay thăng tiến trong công việc của bản thân cũng không dễ dàng gì
3 Giải pháp
a Khách quan
Các trường đại học nên kết nối mạnh mẽ với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp
sẽ là người cung cấp những thông tin để các cơ sở đào tạo nắm bắt được nhu cầu thị trường lao động Một số trường đại học áp dụng mô hình đại học-doanh nghiệp như Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Duy Tân, Đại học Đại Nam,… Các trường đại học nên tổ chức nhiều chương trình hội thảo mời các doanh nghiệp đến nói về doanh nghiệp của họ, về những điều họ muốn nguồn nhân lực của mình phải có Bên cạnh đó các doanh nghiệp có thể hỗ trợ các