1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cường độ còn lại của bê tông vỏ hầm hải vân 2 sau khi chịu tác dụng ở nhiệt độ cao

66 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ------ NGUYỄN HOÀNG THANH QUÍ NGHIÊN CỨU CƯỜNG ĐỘ CÒN LẠI CỦA BÊ TÔNG VỎ HẦM HẢI VÂN 2 SAU KHI CHỊU TÁC DỤNG Ở NHIỆT ĐỘ CAO Chuyên ngành: K

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

- -

NGUYỄN HOÀNG THANH QUÍ

NGHIÊN CỨU CƯỜNG ĐỘ CÒN LẠI CỦA BÊ TÔNG VỎ HẦM HẢI VÂN 2 SAU KHI CHỊU TÁC DỤNG Ở NHIỆT ĐỘ CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

- -

NGUYỄN HOÀNG THANH QUÍ

NGHIÊN CỨU CƯỜNG ĐỘ CÒN LẠI CỦA BÊ TÔNG VỎ HẦM HẢI VÂN 2 SAU KHI CHỊU TÁC DỤNG Ở NHIỆT ĐỘ CAO

Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông

Mã số: 85.80.205

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN THÁI

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN HOÀNG THANH QUÍ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý Thầy Cô trong Khoa Xây dựng Cầu Đường – Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua

Tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Văn Thái, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện luận văn này

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của Quý Thầy Cô và tất cả bạn bè./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN HOÀNG THANH QUÍ

Trang 5

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

NGHIÊN CỨU CƯỜNG ĐỘ CÒN LẠI CỦA BÊ TÔNG VỎ HẦM HẢI VÂN 2

SAU KHI CHỊU TÁC DỤNG Ở NHIỆT ĐỘ CAO

Học viên: Nguyễn Hoàng Thanh Quí

Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông

Mã số: 85.80.205 Khóa: 36 Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng Luận văn trình bày kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến cường độ chịu nén của bê tông vỏ hầm Hải Vân 2 Tìm hiểu các chế độ và mốc nhiệt độ làm thay đổi tính chất hóa lý của thành phần bê tông Ngoài ra, luận văn còn mở rộng đối với mác bê tông C25 và C50 để nghiên cứu sự ảnh hưởng của mác bê tông đến cường độ chịu nén Kết quả đạt được có thể giúp cho các nhà quản lý, khai thác hầm Hải Vân nói riêng và các công trình hầm nói chung xây dựng kịch bản phòng ngừa hay đưa ra các cảnh báo sử dụng công trình sau khi xảy ra hỏa hoạn

Từ khóa:

Cường độ chịu nén, bê tông, vỏ hầm, nhiệt độ

RESEARCH STRENGTH OF CONCRETE CONCRETE MARINE SHELLS 2 AFTER USING THE HIGH TEMPERATURE

The thesis presents the research results of the influence of temperature on compressive strength of Hai Van tunnel concrete shell 2 Understanding the regime and temperature landmark that change the physical and chemical properties of concrete components In addition, the thesis also extends to the concrete grades C25 and C50 to study the impact of concrete marks on compressive strength The achieved results can help managers and operators of Hai Van Tunnel in particular and tunnel constructions in general to develop preventive scenarios or issue warnings about using the works after a fire occurs

Keys:

Compressive strength, concrete, tunnel shells, temperature

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu của đề tài: 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 2

6 Cấu trúc luận văn 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3

1.1 Quá trình thủy hóa của hồ xi măng 3

1.1.1 Quá trình thủy hóa của C3S 3

1.1.2 Quá trình thủy hóa của C2S 5

1.1.3 Quá trình thủy hóa của C3A 5

1.1.4 Quá trình thủy hóa của C4AF 5

1.2 Những ứng xử xẩy ra bên trong bê tông khi chịu tác dụng của nhiệt độ 6

1.2.1 Vữa xi măng 8

1.2.2 Cốt liệu 8

1.3 Những thiệt hại của các công trình xây dựng do hỏa hoạn gây ra trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.4 Tổng quan về công trình hầm Hải Vân 2 15

1.5 Kết luận 17

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ CHƯƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM 18

2.1 Mục tiêu 18

2.2 Vật liệu 18

2.2.1 Xi măng 18

2.2.2 Cát 18

2.2.3 Đá 20

2.2.4 Nước 21

2.2.5 Phụ gia 21

2.3 Thiết kế thành phần hỗn hợp bê tông 22

Trang 7

2.3.1 Đúc mẫu 23

2.3.2 Bảo dưỡng 24

2.3.3 Thí nghiệm xác định cường độ nén 25

2.3.4 Kết luận 26

CHƯƠNG III: THÍ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ NÉN CÒN LẠI CỦA BÊ TÔNG SAU KHI CHỊU TÁC DỤNG CỦA NHIỆT ĐỘ CAO 27

3.1 Mục tiêu 27

3.2 Chương trình thí nghiệm 27

3.2.1 Mẫu thí nghiệm và chế độ tác dụng nhiệt 27

3.2.2 Thiết bị thí nghiệm 29

3.2.2.1 Lò sấy 29

3.2.2.2 Lò nung 30

3.2.2.3 Kiểm tra tốc độ gia nhiệt của lò sấy và lò nung 30

a) Tốc độ gia nhiệt của lò sấy 30

b) Tốc độ gia nhiệt của lò nung 31

3.3 Kết quả thí nghiệm 34

3.3.1 Sự ảnh hưởng của tác dụng cưỡng bức nhiệt theo chế độ 1 đến cường độ nén còn lại của các loại bê tông 38

3.3.2 Sự ảnh hưởng của tác dụng cưỡng bức nhiệt theo chế độ 2 đến cường độ nén còn lại của các loại bê tông 40

3.3.3 Sự ảnh hưởng của thời gian tác dụng nhiệt đến cường độ nén còn lại của các loại bê tông 41

3.3.4 Sự hủy hoại của bê tông dưới tác dụng cưỡng bức nhiệt độ 42

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp một số vụ hỏa hoạn xảy ra trong hầm đường bộ 11

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả thí nghiệm của xi măng Nghi Sơn PC40 18

Bảng 2.2 Bảng kết quả thí nghiệm các tính chất cơ lý của cát tại mỏ cát Vân Ly 19

Bảng 2.3 Bảng kết quả thí nghiệm thành phần hạt của cát tại mỏ cát Vân Ly 19

Bảng 2.4 Bảng kết quả thí nghiệm các tính chất cơ lý của đá tại mỏ đá Hố Chuồn 20

Bảng 2.5 Bảng kết quả thí nghiệm thành phần hạt của đá tại mỏ đá Hố Chuồn 21 Bảng 2.6 Bảng thông số kỹ thuật của phụ gia KKS Polymad 738 22

Bảng 2.7 Bảng thành phần cấp phối chuẩn cho 1m3 bê tông 22

Bảng 2.8 Kết quả kiểm tra cường độ nén của mẫu bê tông 25

Bảng 3.1 Số lượng mẫu thí nghiệm 29

Bảng 3.2 Thời gian gia nhiệt của lò sấy 31

Bảng 3.3 Thời gian gia nhiệt của lò nung 32

Bảng 3.4 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 250 34

Bảng 3.5 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 350 34

Bảng 3.6 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 500 35

Bảng 3.7 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 250 36

Bảng 3.8 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 350 36

Bảng 3.9 Bảng tính cường độ chịu nén của bê tông mác 500 37

Bảng 3.10 Cường độ còn lại RT°C /R30°C của các loại bê tông sau khi chịu tác dụng cưỡng bức nhiệt theo chế độ 1 38

Bảng 3.12 Bảng tổng hợp hình ảnh mẫu bê tông ở các cấp nhiệt độ 43

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Tiến trình thủy hóa C3S [1] 3

Hình 1.2 Hình thành dạng gel trên bề mặt của C3A ở giai đoạn bắt đầu của quá trình thủy hóa (a) ; C3A sau 3 phút thủy hoá 5

Hình 1.3 Bê tông chất lượng cao được sử dụng cho các công trình nhà cao tầng, cầu, hầm 7

Hình 1.4 Sự hủy hoại của đường hầm Mont-Blanc do hỏa hoạn năm 1999 7

Hình 1.5 Tiến trình thủy phân của hồ xi măng ở nhiệt độ cao (a) và tiến trình tái thủy hóa của hồ xi măng khi làm nguội (b) [2] 8

Hình 1.6 Phân tích nhiệt lượng của cốt liệu đá vôi (a), đá silic (b) và đá lửa (c) [10] 10

Hình 1.7 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Tauern năm 1999 11

Hình 1.8 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Mont Blanc năm 1999 12

Hình 1.9 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Frejus năm 2005 12

Hình 1.10 Hình ảnh vụ cháy đường hầm cao tốc ở California năm 2007 13

Hình 1.11 Sơ đồ miêu tả vụ cháy đường hầm Manche năm 2008 13

Hình 1.12 Hình ảnh xe tải bị cháy trong Hầm Hải Vân đêm 16/9/2015 14

Hình 1.13 Hầm đường bộ Đèo Cả được thông xe năm 2017 14

Hình 1.14 Hầm đường bộ Hải Vân 15

Hình 1.15 Lễ khởi công Dự án hầm đường bộ Hải Vân 2, năm 2016 16

Hình 1.16 Thi công tại hầm đường bộ Hải Vân 2 16

Hình 2.1 Biểu đồ thành phần hạt của cát 20

Hình 2.2 Biểu đồ thành phần hạt của đá 21

Hình 2.3 Máy trộn bê tông và đúc mẫu thí nghiệm 24

Hình 2.4 Bảo dưỡng mẫu thí nghiệm 24

Hình 2.5 Máy nén bê tông 25

Hình 3.1 Chế độ 1: Tốc độ gia nhiệt DT=3,5°C/phút và thời gian lưu giữ ở nhiệt độ lớn nhất là 60 phút 28

Hình 3.2 Chế độ 2: Tổng thời gian tác dụng nhiệt là 120 phút 28

Hình 3.3 Lò sấy 29

Hình 3.4 Lò nung 30

Hình 3.5 Kiểm soát nhiệt độ của lò sấy bằng nhiệt kế TP101 30

Hình 3.6 Biểu đồ xác định tốc độ gia nhiệt của lò sấy 31

Hình 3.7 Biểu đồ xác định tốc độ gia nhiệt của lò nung 33

Hình 3.8 Biểu đồ kiểm soát tốc độ gia nhiệt của lò nung cho mẫu có cấp nhiệt từ 300oC 33

Hình 3.9 Đường cong biểu diễn cường độ còn lại RT°C /R30° theo chế độ 1 38

Trang 10

Hình 3.10 Cường độ nén còn lại của các loại bê tông [9, 10, 16, 17] 39 Hình 3.11 Đường cong biểu diễn cường độ còn lại RT°C /R30° theo chế độ 2 40 Hình 3.12 Đường cong biểu diễn cường độ còn lại bình quân của các loại bê tông khi chịu tác dụng cưỡng bức nhiệt theo chế độ 1 và chế độ 2 41 Hình 3.13 Đường cong biểu diễn cường độ còn lại của các loại bê tông khi chịu tác dụng cưỡng bức nhiệt theo chế độ 1 và chế độ 2 42

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hầm Hải Vân là hầm đường bộ trên tuyến quốc lộ 1 nối tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng Hầm được khời công xây dựng năm 2000 và khánh thành vào năm 2005 Công trình giúp giảm các vụ tai nạn giao thông, tiết kiệm thời gian, chi phí nhiên liệu so với đèo Hải Vân trước đây

Sau thời gian khai thác, lưu lượng các phương tiện qua hầm đã tăng cao, Bộ Giao thông vận tải đã phê duyệt dự án Hầm Hải Vân 2, được mở rộng từ hầm lánh nạn

Để hoàn thiện công trình và giúp công trình tăng tuổi thọ cũng như thẩm mỹ, bề mặt vỏ hầm được bọc một lớp bê tông xi măng để bao phủ

Trong quá trình khai thác, không tránh khỏi nguy cơ hỏa hoạn có thể xảy ra trong hầm, dẫn đến sự mất ổn định của bê tông dưới các dạng bong tróc bề mặt, nứt nẻ và có thể bị nổ Trên thế giới cũng đã từng chứng kiến các vụ hỏa hoạn tại hầm Manche (1996 và 2008) nối liền Anh và Pháp, Tauern (1999) ở Áo, Mont Blanc (1999) nối liền Pháp – Ý, hay như công trình dân dụng như tháp Windsor – thủ đô Mandrid, Tây Ban Nha (2005) là những minh chứng cho sự mất ổn định này Sự mất ổn định của bê tông sau hỏa hoạn làm cho kết cấu chịu lực bằng bê tông không còn đảm bảo điều kiện làm việc như ban đầu

Vấn đề đặt ra là sau hỏa hoạn, kết cấu bê tông của công trình mà cụ thể là vỏ hầm

có còn duy trì khả năng chịu lực như ban đầu hay không?

Xuất phát từ lý do trên, đề tài “ Nghiên cứu cường độ còn lại của bê tông vỏ hầm Hải Vân 2 sau khi chịu tác dụng ở nhiệt độ cao ” là rất cần thiết Kết quả đạt

được có thể giúp cho các nhà quản lý, khai thác hầm Hải Vân nói riêng và các công trình xây dựng nói chung có những kịch bản phòng ngừa hay đưa ra các cảnh báo sử dụng sau khi hỏa hoạn xảy ra

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu đề tài này nhằm đạt được những mục đích sau:

 Đánh giá cường độ nén còn lại của bê tông vỏ hầm Hải Vân 2 (mác 350) sau khi chịu tác dụng ở nhiệt độ cao từ 30 đến 600°C

 Việc đánh giá này cũng được thực hiện mở rộng trên các loại bê tông có cường độ 25 và 50 MPa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bê tông xi măng vỏ hầm Hải Vân 2 đang được xây dựng ở thành phố Đà Nẵng

 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cường độ còn lại của bê tông vỏ hầm Hải Vân 2 – mác 350 và các loại bê tông có cường độ 25, 50 MPa sau khi chịu tác dụng ở các nhiệt độ: 80, 150, 300, 450 và 600°C với các tốc độ gia nhiệt khác nhau

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm:

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý thuyết của bê tông xi măng và những ứng xử cơ – nhiêt xẩy ra bên trong bê tông khi chịu tác dụng của nhiệt độ

 Phương pháp thực nghiệm: đánh giá cường độ nén còn lại trên các mẫu đúc sau khi chịu tác dụng của nhiệt

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

 Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ được sự tổn thất về cường độ của các loại bê tông xi măng dưới tác động của nhiệt

 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho nhà quản lý dự án hầm Hải Vân nói riêng và các công trình sử dụng vật liệu bê tông nói chung hiểu rõ sự tổn thất về cường độ của bê tông khi chịu tác động của nhiệt độ,

từ đó xây dựng kịch bản phòng ngừa hay đưa ra các cảnh báo sử dụng công trình sau khi hỏa hoạn xảy ra

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

 Chương 1: Tổng quan

 Chương 2: Vật liệu và thiết kế thành phần bê tông xi măng

 Chương 3: Thí nghiệm đánh giá cường độ còn lại của các loại bê tông dưới tác dụng của nhiệt độ

 Kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Quá trình thủy hóa của hồ xi măng

Bê tông xi măng là vật liệu đá nhân tạo, được tạo thành từ việc đông rắn hỗn hợp sử dụng chất kết dính thủy hóa là xi măng và các loại cốt liệu rời rạc: cát, sỏi, đá dăm sau khi được nhào trộn với nước theo một tỷ lệ thích hợp

Sở dĩ hỗn hợp bê tông trở nên đông cứng và hình thành cường độ là do phản ứng hóa học giữa xi măng và nước – gọi là phản ứng thủy hóa của xi măng, mà kết quả là hình thành các Hydrat khoáng - CSH Các hydrat này không tan và hoàn toàn

ổn định trong môi trường nước và an toàn dưới tác động của các chất hóa học

Các thành phần chính của xi măng bao gồm:

- Tricanxi silicat - 3CaO SiO2, ký hiệu C3S, chiếm khoảng 40-60%;

- Dicanxi Silicat - 2CaO SiO2, ký hiệu C2S, chiếm khoảng 15-35%;

- Tricanxi aluminat - 3CaO Al2O3, ký hiệu C3A, chiếm khoảng 4-14%;

- Alumoferit- 4CaO Al2O3 Fe2O3, ký hiệu C4AF, chiếm khoảng 10-18%;

- Thạch cao (Gypsum) dưới dạng: CaSO42H2O (CSH2); thạch cao khan CaSO4 0.5H2O (CSH0.5) hay CaSO4 (CS)

- Vôi CaO và Oxit khoáng

Khi nhào trộn với nước, quá trình thủy hóa xẩy ra giữa các thành phần chính của xi măng với nước diễn ra theo các giai đoạn như sau:

1.1.1 Quá trình thủy hóa của C3S

Quá trình thủy hóa C3S xẩy ra theo 3 giai đoạn được mô tả như (Hình 1.1)

Hình 1.1 Tiến trình thủy hóa C3S [1]

Trang 14

- Giai đoạn ngủ:

Khởi đầu là sự thủy hóa C3S do tác động của ion OH‾ diễn ra khi tiếp

xúc với nước để hình hành C-S-H (Calcium Silicate Hydrate - C3S2H2) theo công thức sau:

2Ca3SiO5 + 6H2O → 6Ca2+ + 8OH‾ + 2H2SiO4 ‾ + Q 3Ca2+ + 2H2SiO4 ‾ + 2OH‾ → Ca3H2Si2O7(OH)2 + 3H2O Như vậy:

2C3S + 6H → C3S2H2 + 3CH + Q; với Q = 120cal/g Trong vài giây đầu, dung dịch là quá bão hòa bởi silicat canxi (C3S) Sự hình thành ion silicate ở giai đoạn đầu này rất nhanh Tuy nhiên, sự gia tăng ngày càng lớn nồng độ pH doion (OH)- đã làm giảm tốc độ phản ứng

Dung dịch ngày càng bão hòa do sự hình thành Portlandite CH (Ca(OH)2) Kết thúc giai đoạn nghỉ - dormante

3Ca2+ + 6OH‾ → 3Ca(OH)2

- Giai đoạn ninh kết:

Sự hình thành C-S-H ngày càng nhiều Các tinh thể portlandite và các sợi C-S-H đan xen lẫn nhau và lấp đầy dần dần các lỗ rỗng Vật liệu ngày càng trở nên đặc và cứng hơn

Mức độ thủy hóa theo thời gian (t) được đánh giá bằng tỷ số giữa lượng

C3S bị thủy hóa tại thời điểm t và lượng C3S ban đầu:

𝛼𝑡 = 𝑀𝐶3 𝑆(𝑡)

𝑀𝐶3𝑆(𝑡 = 0)Bằng thực nghiệm, mức độ thủy hóa cũng được xác định bởi công thức:

𝛼𝑡 = 1 − 𝑒−(𝑘 𝑁 𝑡)𝑛

với kN và n là những hằng số được xác định từ thực nghiệm

- Giai đoạn đông cứng:

Bắt đầu từ giờ thứ 12, lớp vỏ thủy hóa bao bọc các hạt C3S trở nên đủ dày để làm giảm sự khuếch tán của các ion và của nước Sau vài tháng, tiến trình ngưng

Theo Nonat, CSH biến đổi theo 3 dạng:

- CSH(): với tỷ số giữa C/S vào khoảng 0.7 đến 1.0

- CSH(): với tỷ số giữa C/S vào khoảng 1.0 đến 1.5

- CSH(): với tỷ số giữa C/S trên 1.8

CSH có một cấu trúc là các lớp xếp chồng lên nhau Cấu trúc này tùy thuộc vào tỷ lệ của C/S Các CSH có cấu truc dạng sợi liên kết, góp phần rất lớn vào cường độ ban đầu của hồ xi măng

Trang 15

1.1.2 Quá trình thủy hóa của C2S

Phản ứng thủy hóa C2S dưới hình thức đơn giản sau:

2C2S + 5H → C3S2H4 + CH + Q, với Q vào khoảng 250J/g

Kết quả phản ứng này rất gần với kết quả thủy hóa của C3S

Quá trình thủy hóa C2S diễn ra tương tự như C3S tuy nhiên tiến trình này tỏa nhiệt rất ít và xẩy ra rất chậm Điều này cho thấy là sự đóng góp của C2S vào cường độ của hồ xi măng sẽ bị chậm ở thời gian ban đầu Tuy nhiên, trong kỳ hạn lâu dài, nó đóng góp rất lớn cho cường độ của bê tông xi măng Portland

1.1.3 Quá trình thủy hóa của C3A

C3A phản ứng rất nhanh với nước để hình thành gel tự chuyển hóa thành các hydrat hexagon (C2AH8 và C4AH13)phát triển thành dạng vẩy mỏng và không đều

Hình 1.2 Hình thành dạng gel trên bề mặt của C3A ở giai đoạn bắt đầu của quá

trình thủy hóa (a) ; C3A sau 3 phút thủy hoá (b)

Phản ứng thủy hóa C3A như sau:

Với nhiệt lượng Q5 vào khoảng 867 J/g

Khi có sự hiện diện của thạch cao CSH2, phản ứng tạo thành các tinh thể Ettringite (Trisulfoaluminate de calcium hydrate - TSA):

3CaO Al2𝑂3+ 3[CaSO4 2𝐻2O] + 25𝐻2O → [𝐶𝑎2𝐴𝑙(𝑂𝐻)6]2𝐶𝑎2(SO4)325𝐻2𝑂 Hay: C3A + 3CSH2+ 25H → C6𝐴S3H31

1.1.4 Quá trình thủy hóa của C4AF

Quá trình thủy hóa của C4AF xẩy ra với tốc độ chậm hơn và tỏa nhiệt ít hơn khi so với C3A và hình thành các hydrat chứa Fe2O3

Trang 16

Phản ứng thủy hóa C4AF như sau:

3C4AF + 30H → 4C3(A,F)H6 + 2(A,F)H3 + Q Với nhiệt lượng Q vào khoảng 420 J/g

Khi có sự hiện diện của thạch cao CSH2, phản ứng sẽ hình thành:

C3(A, F)3CaSO4𝐻32 (Ettringite), C3(A, F)CaSO4𝐻12 và C3(A, F)𝐻6

Chẳng hạn, sự hình thành Etringite :

C4AF + 3CSH2+ 30H → C6𝐴S3H32+ 𝐶𝐻 + 𝐹𝐻3Như vậy quá trình thủy hóa xi măng đã tạo ra các CSH Các CSH góp phần rất lớn vào sự hình thành cường độ cho hồ xi măng

Trong cấu trúc bê tông, hồ xi măng bao bọc các loại cốt liệu và lấp đầy vào lỗ rỗng giữa các cốt liệu Vì thế, các thuộc tính cơ học của bê tông bị chi phối nhiều vào đặc tính của hồ xi măng

1.2 Những ứng xử xẩy ra bên trong bê tông khi chịu tác dụng của nhiệt độ

Nhờ có được những thuộc tính cơ học tốt, bền vững với môi trường, thời gian, dễ tạo dáng và tận dụng được nguồn nguyên vật liệu địa phương, ngày nay bê tông là loại vật liệu rất phổ biến được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình dựng dân dụng, công nghiệp; thủy lợi; cầu đường

Khi bổ sung thêm phụ gia, chất độn hoạt tính như bụi silic, bê tông lại sở hữu được cường độ cao và rất cao (Hình 1.3)

Seattle, 1989 (120 MPa) Burj Al Arab Hotel, Dubai (80 Mpa)

Trang 17

Cầu Stolma, Norway (70.4Mpa)

St Clair River Tunnel (76.3 Mpa)

Hình 1.3 Bê tông chất lượng cao được sử dụng cho các công trình nhà cao tầng,

cầu, hầm

Tuy nhiên, thực tế cho thấy khi chịu tác dụng của nhiệt độ như trong trường hợp hỏa hoạn, bê tông không còn duy trì được những thuộc tính cơ học như ban đầu mà đánh mất sự ổn định làm suy yếu khả năng chịu lực của kết cấu bê tông Sự hủy hoại của đường hầm Mont-Blanc do hỏa hoạn năm 1999 là một minh chứng (Hình 1.4)

Hình 1.4 Sự hủy hoại của đường hầm Mont-Blanc do hỏa hoạn năm 1999

Ta biết rằng, bê tông là một vật liệu tổng hợp bao gồm chất kết dính xi măng, cốt liệu (sỏi, cát), nước và chất phụ gia Ngoài vai trò thủy hóa xi măng, nước còn giúp

Trang 18

cho hỗn hợp có được độ dẻo thích hợp để có thể dễ dàng trong việc đổ khuôn khi thi công Trong bê tông, nước tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước tự do, nước bị hấp phụ và nước liên kết hóa học

Do tính không đồng nhất của bê tông, nên khi tiếp xúc với nhiệt độ, các thành phần trong bê tông trải qua các biến đổi hóa - lý khác nhau

 130 - 170°C : Thạch cao CSH2 bị phân hủy [7]

 Các CSH bị phân hủy khi nhiệt độ tăng 100°C đến 450°C [2, 3]

 450 - 550 °C : Sự phân hủy của portlandite tạo thành vôi và nước Ca(OH)2 → CaO+H2O [2, 3, 5, 6]

 600 - 700°C : CSH tiếp tục bị phân hủy và hình thành các dạng β-C2S [5] Và CaCO3 bắt đầu bị phân hủy thành CaO và CO2 khi nhiệt độ vượt quá 600°C [2,

5, 6]

Trong giai đoạn làm nguội sau khi nung, tiến trình tái thủy hóa diễn ra chậm và hình thành các gel CSH và Portlandite mới [2] (Hình 1.5-b)

Hình 1.5 Tiến trình thủy phân của hồ xi măng ở nhiệt độ cao (a) và tiến trình tái

thủy hóa của hồ xi măng khi làm nguội (b) [2]

1.2.2 Cốt liệu

Trong bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ xương bê tông và chiếm khoảng 60-80% khối lượng của bê tông Cốt liệu được sử dụng để sản xuất bê tông có nguôn gốc từ tự nhiên như đá xây, sỏi và cát sông suối

Khi tiếp xúc với hồ xi măng, các hạt cốt liệu có thể là phản ứng hoặc trung tính Các hạt cốt liệu có nguồn gốc đá vôi cho thấy liên kết mạnh với hồ xi măng vì các

Trang 19

phản ứng hóa học xảy ra theo thời gian Các hạt cốt liệu trung tính (silic) không phản ứng với hồ xi măng nên có liên kết yếu

Khi bê tông chịu tác dụng của nhiệt độ, ứng xử của cốt liệu cũng xẩy ra tùy thuộc vào bản chất khoáng học và thành phần hóa học của cốt liệu

Các cốt liệu đá vôi khá ổn định khi nhiệt độ lên đến 650°C Khi vượt quá ngưỡng này, sự phân hủy CaCO3 xẩy ra dẫn đến sự hình thành khí (CO2) và vôi tự do (CaO) Điều này đưa đến sự mất mát khối lượng vào khoảng 40% (Hình 1.6-a) Trong giai đoạn nguội, vôi (CaO) phản ứng với độ ẩm của không khí để tạo ra Portlandite (CH)

Sự hình thành Portlandite dẫn đến sự gia tăng các vết nứt trong bê tông sẽ dẫn đến giảm cường độ còn lại của bê tông [5, 8]

Các cốt liệu thạch anh (silica) (Hình 1.6-b), cũng cho thấy sự ổn định khi nhiệt độ lên đến 575°C Từ nhiệt độ 575°C, một sự thay đổi cấu trúc từ α sang β xẩy ra đưa đến

sự gia tăng thể tích từ 1% đến 5,7% và làm hủy hại trong bê tông [5]

Cốt liệu đá lửa mất khoảng 1% khối lượng (Hình 1.6-c) Tuy nhiên, các cốt liệu này lại mất ổn định khi nhiệt độ vượt quá 110 °C [9],[10] Đặc tính không ổn định ở nhiệt độ tương đối thấp dường như có liên quan đến sự hiện diện của nước bị trong các

lổ rỗng siêu nhỏ hoặc từ quá trình khử hydrat hóa của các nhóm silanol

(a)

Trang 20

 Hệ số biến dạng nhiệt thấp

 Không tồn tại biến dạng dư ở giai đoạn làm nguội sau khi nung

 Độ ổn định nhiệt tốt, tức là ít xuất hiện các đỉnh trên đường cong phân tích nhiệt vi sai và đường cong phân tích nhiệt lượng, nghĩa là ít hoặc không có sự thay đổi pha

 Cốt liệu có cấu trúc đơn khoáng

Trang 21

1.3 Những thiệt hại của các công trình xây dựng do hỏa hoạn gây ra trên thế giới

và ở Việt Nam

Ngay khi chịu tác dụng bởi nhiệt độ cao, bê tông cho thấy sự mất ổn định dưới các dạng bong tróc bề mặt, nứt nẻ và có thể bị nổ Những hỏa hoạn xẩy ra ở các công trình dân dụng như tháp Windsor – thủ đô Mandrid, Tây Ban Nha (2005), hay công trình giao thông như hầm Manche (1996 và 2008) nối liền Anh và Pháp, Tauern (1999) ở Áo, Saint-Gothard (2001) ở Thụy sỹ là những minh chứng cho sự mất ổn định này Sự mất

ổn định này là do những chuyển hóa xẩy ra bên trong bê tông [12-14]

Những thiệt hại của các vụ cháy này được ghi nhận tại Bảng 1.1

Bảng 1.1 Tổng hợp một số vụ hỏa hoạn xảy ra trong hầm đường bộ

STT Công trình Quốc gia Năm sự cố Thiệt hại

hỏng nghiêm trọng

bị thương

thương

5 Hầm cao tốc California Mỹ 2007 3 người chết, 10 người bị

thương

- Vụ cháy đường hầm Tauern (Áo) xảy ra vào ngày 29 tháng 5 năm 1999 làm 12 người chết, 42 người bị thương Mất 3 tháng sửa chữa, khắc phục hậu quả, hầm Tauern mở của trở lại vào ngày 28 tháng 5 năm 1999

Hình 1.7 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Tauern năm 1999

Trang 22

- Vụ cháy đường hầm Mont Blanc (nối liền Pháp và Ý) xảy ra vào ngày 24 tháng

3 năm 1999 làm 39 người chết Ngọn lửa của vụ cháy được dập tắt sau 53 giờ, nhiệt độ lúc cao nhất là hơn 1000oC

Hình 1.8 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Mont Blanc năm 1999

- Vụ cháy đường hầm Frejus (nối liền Pháp và Ý) xảy ra vào ngày 04 tháng 6 năm 2005 làm 2 người chết, 17 người bị thương Ngọn lửa của vụ cháy có nhiệt độ tăng lên tới 1650oC Sau 6 năm kể từ ngày xảy ra vụ cháy tại hầm Mont Blanc nằm gần hầm Frejus, hệ thống đường hầm xuyên qua dãy Alps lại có một vụ cháy lớn

Hình 1.9 Hình ảnh sau vụ cháy đường hầm Frejus năm 2005

Trang 23

- Vụ cháy đường hầm cao tốc California (Mỹ) xảy ra vào ngày 23 tháng 10 năm

2007 làm 3 người chết, 10 người bị thương Ngọn lửa của vụ cháy có nhiệt độ cao đã làm nứt và hư hỏng diện tích lớn bề mặt bê tông vỏ hầm, khiến hầm được dự báo có nguy cơ bị sụp

Hình 1.10 Hình ảnh vụ cháy đường hầm cao tốc ở California năm 2007

- Vụ cháy đường hầm Manche hướng từ Anh sang Pháp (nối liền Anh và Pháp) xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2008 Vụ cháy không có thiệt hại về người tuy nhiên

có nhiều người đã phải nhập viện do ngạt khói và bị thương nhẹ Mất 5 tháng sửa chữa, khắc phục hậu quả, hầm Manche đã trở lại hoạt động vào ngày 09 tháng 02 năm

2009 tiêu tốn 60 triệu Euro chi phí sửa chữa

Hình 1.11 Sơ đồ miêu tả vụ cháy đường hầm Manche năm 2008

Trang 24

Tính đến năm 2019, nước ta có 6 hầm đường bộ: hầm Thủ Thiêm (Hồ Chí Minh), hầm Hải Vân (Đà Nẵng – Huế), Hầm A.Roàng (Huế), Hầm Đèo Ngang (Quảng Bình – Hà Tĩnh), Hầm Đèo Cả (Phú Yên), Hầm Cù Mông (Bình Định – Phú Yên) Trong quá trình vận hành, các công trình trên đã xảy ra các vụ cháy, với mức độ thiệt hại không lớn, chưa có thiệt hại về người và công trình Tuy nhiên, với định hướng rút ngắn thời gian di chuyển thì số lượng công trình hầm đường bộ ngày càng nhiều, nguy cơ xảy ra cháy nổ sẽ càng lớn

Hình 1.12 Hình ảnh xe tải bị cháy trong Hầm Hải Vân đêm 16/9/2015

Hình 1.13 Hầm đường bộ Đèo Cả được thông xe năm 2017

Các vụ hỏa hoạn xảy ra trong hầm có những nguy hiểm đặc biệt, nhiều hơn so với các vụ cháy xảy ra ở môi trường bên ngoài

Trang 25

- Đầu tiên, tỷ lệ giải phóng nhiệt cao (HHR) Trong không gian hạn chế của đường hầm, lượng nhiệt giải phóng ra lớn hơn nhiều so với không gian mở, HHR cao gấp 4 lần Các thử nghiệm trong đường hầm cho thấy một vụ cháy xe có thể tạo ra 2,5MW đến 5MW, xe chở hàng nặng từ 20MW đến 30MW và tàu chở dầu từ 50MW đến 200MW

- Thứ hai, các khí độc hại: CO, CO2, SO2, NO2, HCl,… lẫn trong khói tích tụ trong không gian hẹp (tốc độ gió bằng không) lớp khói bị hạ nhiệt độ, phân tầng và lan rộng với tốc độ nhanh trong hầm Ngoài ra, lượng khói tỏa ra còn làm giảm nồng độ oxy không khí xung quanh vùng xảy ra cháy và làm giảm tầm quan sát nhanh chóng,

từ mức giới hạn 65%/100m xuống dưới 10%/100m Nồng độ oxy giảm 14 đến 16% thể tích gây khó thở, nếu giảm dưới 9% sẽ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng nếu không kịp thoát hiểm

- Thứ ba, nhiệt độ đám cháy trong đường hầm là rất cao, có thể lên tới 1000oC hoặc thậm chí cao hơn, nhiệt lượng cháy tỏa ra lớn có thể dẫn đến biến dạng các kiến trúc, kết cấu của đường hầm, đối với các đám cháy lớn và kéo dài thậm chí có thể làm sụp đổ cục bộ một phần đường hầm

1.4 Tổng quan về công trình hầm Hải Vân 2

Hầm đường bộ Hải Vân gồm 1 hầm chính với chiều dài hơn 6,2km gồm: 1 hầm lánh nạn dài hơn 6,2km chạy song song với hầm chính, 1 hầm thông gió dài 1,9km và

3 hầm lọc bụi tĩnh điện cùng 15 ống hầm thông ngang Sau khi đưa vào sử dụng, hầm đường bộ Hải Vân không chỉ rút ngắn đáng kể đoạn đường qua đèo từ 21km xuống còn hơn 6,2km, bảo đảm an toàn cho các phương tiện qua lại đèo Hải Vân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ cho các địa phương trong khu vực

Hình 1.14 Hầm đường bộ Hải Vân

Trang 26

Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của khu vực miền Trung, mật độ phương tiện lưu thông trên Quốc lộ 1A, đặc biệt là đoạn qua miền Trung nói chung, hầm đường bộ Hải Vân nói riêng ngày càng gia tăng mạnh mẽ Nên sau gần 10 năm khai thác, đến nay, hầm đường bộ Hải Vân đã trở nên quá tải, nhất là vào những lúc cao điểm, dẫn đến mất an toàn giao thông, gây ra ùn tắc, hỏa hoạn, v.v Vì vậy, việc đầu tư mở rộng Hầm đường bộ Hải Vân nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông vận tải hiện tại và trong tương lai là vô cùng cần thiết

Hình 1.15 Lễ khởi công Dự án hầm đường bộ Hải Vân 2, năm 2016

Dự án mở rộng hầm lánh nạn Hầm đường bộ Hải Vân thành hầm chính có điểm đầu thuộc thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc (TT-Huế) và điểm cuối thuộc phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) với tổng chiều dài hơn 12,6km, trong đó, đường dẫn phía Bắc (nằm ở thị trấn Lăng Cô) dài 2,1km, đường dẫn phía Nam (nằm ở phường Hòa Hiệp Bắc) dài 4,3km, đường hầm dài hơn 6,2km, rộng 9,75m và tĩnh không hầm là 5m Công trình được khởi công năm 2016, dự kiến hoàn thành năm 2019

Hình 1.16 Thi công tại hầm đường bộ Hải Vân 2

Trang 27

1.5 Kết luận

Khi nhào trộn xi măng với nước, quá trình thủy hóa xẩy ra giữa các thành phần chính của xi măng với nước để tạo thành các CSH Nhờ có các CSH này mà hồ xi măng đông cứng và hình thành cường độ

Trong cấu trúc bê tông, hồ xi măng bao bọc các loại cốt liệu và lấp đầy vào lỗ rỗng giữa các cốt liệu Vì thế, các thuộc tính cơ học của bê tông bị chi phối nhiều vào đặc tính của hồ xi măng

Khi tiếp xúc với nhiệt độ, các thành phần trong bê tông trải qua các biến đổi hóa

- lý khác nhau Cùng với sự gia tăng của nhiệt độ là sự ra đi của nước trong bê tông (nước tự do, nước hấp phụ và nước liên kết) Sự phá vỡ các CSH, CH và CaCO3 của vữa xi măng là những tiến trình không đảo ngược mà làm cho bê tông đánh mất những thuộc tính cơ học ban đầu của nó

Chiếm khoảng 60-80% khối lượng của bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ khung xương cho bê tông Vì thế sự ổn định nhiệt của bê tông phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của cốt liệu Những ứng xử của cốt liệu tùy thuộc vào bản chất khoáng học và thành phần hóa học của cốt liệu Những nghiên cứu khoa học cho thấy rằng, các cốt liệu đá vôi khá ổn định khi nhiệt độ lên đến 650°C Tuy nhiên, khi nhiệt độ vượt quá ngưỡng này, sự phân hủy CaCO3 xẩy ra và đưa đến sự sụt giảm khoảng 40% khối lượng Trong giai đoạn nguội, vôi (CaO) phản ứng với độ ẩm của không khí để tạo ra Portlandite (CH) Sự hình thành Portlandite dẫn đến sự gia tăng các vết nứt trong bê tông sẽ dẫn đến giảm cường độ còn lại của bê tông Với cốt liệu thạch anh (silica) cũng cho thấy sự ổn định khi nhiệt độ lên đến 575°C Tuy nhiên khi vượt quá ngưỡng này, một sự thay đổi cấu trúc từ α sang β xẩy ra đưa đến sự gia tăng thể tích từ 1% đến 5,7% và làm hủy hại trong bê tông Với cốt liệu là đá lửa, sự tổn thất khối lượng khá ít chỉ vào khoảng 1% Tuy nhiên, nó lại mất ổn định khi nhiệt độ vượt quá 110°C Một khi cốt liệu có hệ số biến dạng nhiệt thấp, không tồn tại biến dạng dư sau khi chịu tác dụng nhiệt, không tồn tại sự thay đôi pha trong quá trình tác dụng nhiêt và có cấu trúc dơn khoáng sẽ giúp cho bê tông có được sự ổn định khi nhiệt độ gia tăng

Những thiệt hại từ hỏa hoạn gây ra cho các công trình sử dụng kết cấu bê tông là

to lớn Nó xẩy ra bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào Hầm đường bộ Hải Vân 2 không là ngoại lệ khi phải đối mặt với nguy cơ cao trong quá trình khai thác với lưu lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng trong tương lai Nghiên cứu sự suy giảm cường độ của bê tông kết cấu vỏ hầm Hải Vân 2 sẽ đề cập trong các chương kế tiếp

Trang 28

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ CHƯƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM

2.1 Mục tiêu

Vỏ hầm Hải Vân 2 sử dụng kết cấu bê tông nhằm mục đích bảo vệ kết cấu bên trong của hầm, chống các xâm nhập của nước,… ngoài ra còn tăng tính thẩm mĩ cho hầm Chính vì vậy kết cấu này cũng cần được bảo vệ trước các nguy cơ tiềm ẩn và đặc biệt là nhiệt từ các vụ cháy có thể xảy ra

Tiến hành thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của cốt liệu đá, cát, xi măng, nước và phụ gia, nhằm đánh giá các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu sử dụng có phù hợp với các tiêu chuẩn đã quy định không trước khi tiến hành các bước nghiên cứu tiếp theo

Khi các nguồn vật liệu đảm bảo yêu cầu đề ra, tiến hành thiết kế thành phần cho hỗn hợp BTXM mác 250; 350 và 500 Trong đó thành phần cho hỗn hợp BTXM mác

350 được sử dụng cho chế tạo vỏ hầm

Kết quả

Yêu cầu

kỹ thuật TCVN 2682:2009

1 Độ mịn – Lượng nằm trên

sàng 0,09mm

3 Thời gian ninh kết (Bắt đầu) TCVN 6017:1995 phút 114,0 ≥ 45

4 Thời gian ninh kết (Kết thúc) TCVN 6017:1995 phút 197,0 ≤ 375

6 Độ ổn định thể tích theo Le

Chatelier

7 Cường độ chịu nén (3 ngày) TCVN 6016:2011 N/mm2 32,09 ≥ 21

8 Cường độ chịu nén (28 ngày) TCVN 6016:2011 N/mm2 50,5 ≥ 40

2.2.2 Cát

Dự án hầm Hải Vân 2 lựa chọn cát tại mỏ cát Vân Ly, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để chế tạo bê tông vỏ hầm Kết quả thí nghiệm của cát được thể hiện trong Bảng 2.2, Bảng 2.3 và Hình 2.1

Trang 29

Bảng 2.2 Bảng kết quả thí nghiệm các tính chất cơ lý của cát tại mỏ cát Vân Ly STT Các chỉ tiêu thí nghiệm Phương pháp thí

nghiệm

Đơn vị tính

Kết quả

Yêu cầu

kỹ thuật TCVN 7570:2006

Không được thẫm hơn mẫu chuẩn

Trang 30

Hình 2.1 Biểu đồ thành phần hạt của cát 2.2.3 Đá

Dự án hầm Hải Vân 2 lựa chọn đá tại mỏ đá Hố Chuồn, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng với kích thước hạt 5-20 (mm) để chế tạo bê tông vỏ hầm Kết quả thí nghiệm của đá được thể hiện trong Bảng 2.4, Bảng 2.5 và Hình 2.2

Bảng 2.4 Bảng kết quả thí nghiệm các tính chất cơ lý của đá tại mỏ đá Hố Chuồn STT Các chỉ tiêu thí nghiệm Phương pháp thí

nghiệm

Đơn vị tính

Kết quả

Yêu cầu

kỹ thuật TCVN 7570:2006

ngang mẫu chuẩn

Không được thẫm hơn mẫu chuẩn

Trang 31

Bảng 2.5 Bảng kết quả thí nghiệm thành phần hạt của đá tại mỏ đá Hố Chuồn

Nước là thành phần giúp xi măng phản ứng tạo ra các sản phẩm thủy hóa làm cho cường độ của bê tông tăng lên Nước còn tạo ra độ lưu động cần thiết để quá trình thi công được dễ dàng Yêu cầu kỹ thuật của nước dùng cho bê tông được nêu trong TCVN 4506:2012

Dự án hầm Hải Vân 2 sử dụng ngồn nước ngầm tại núi Hải Vân

2.2.5 Phụ gia

Dự án hầm Hải Vân 2 sử dụng phụ gia KKS Polymad 738 KKS Polymad 738 là phụ gia có tính năng duy trì độ sụt cho bê tông Thành phần bao gồm các polymer

Trang 32

polycarboxylate ether (PCE), được chế tạo để tạo độ xốp và phát triển cường độ sớm cho bê tông

- Ưu điểm:

+ Khả năng giảm nước cao

+ Duy trì độ sut lâu dài từ 2 – 4 giờ

+ Độ chảy lỏng tốt, giảm đáng kể công tác đổ và đầm rung

+ Giảm đáng kể lượng xi măng sử dụng nhưng vẫn đạt mác bê tông thiết kế + Thúc đẩy sự phát triển cường độ sớm nhanh hơn

+ Cải thiện khả năng kháng từ biến và co ngót

- Ứng dụng:

+ Bê tông cường độ cao

+ Bê tông chất lượng cao đúc tại công trình

+ Bê tông cọc nhồi cường độ cao

+ Bê tông vỏ hầm, cầu và các kết cấu đúc sẵn

+ Các cấu kiện thanh mảnh có cốt thép dày đặc

KKS Polymad 738 có các thông số kỹ thuật được ghi trong Bảng 2.6

Bảng 2.6 Bảng thông số kỹ thuật của phụ gia KKS Polymad 738

Chỉ tiêu chất lượng Đơn vị KKS Polymad 738

Giảm lượng nước so với bê tông không dùng phụ gia % 20 - 40

2.3 Thiết kế thành phần hỗn hợp bê tông

Dựa vào thành phần cấp phối hỗn hợp bê tông xi măng mác 350 đang thi công, tiến hành thiết kế thêm hai thành phần cấp phối bê tông cho mác 250 và 500 khi sử dụng các loại vật liệu tương tự Tỷ lệ các các thành phần hỗn hợp bê tông được ghi trong Bảng 2.7

Bảng 2.7 Bảng thành phần cấp phối chuẩn cho 1m 3 bê tông

Trang 33

2.3.1 Đúc mẫu

Dựa vào thành phần cấp phối bê tông được nêu trong Bảng 2.8, tiến hành cân đong đủ khối lượng cho 1 mẻ trộn Máy trộn được sử dụng là máy trộn bê tông 200 lít (Hình 2.3)

Quy trình trộn bê tông bằng máy:

+ Sau khi kết thúc quá trình làm việc phải vệ sinh máy sạch sẽ, dùng chổi và cọ

để cọ sạch xi măng bám dính vào thùng trộn rồi rửa sạch bằng nước Sau khi vệ sinh sạch sẽ máy xong thì ngắt toàn bộ nguồn điện để đảm bảo an toàn

Sử dụng các khuôn hình lập phương có kích thước 15x15x15cm để đúc mẫu Trước khi đổ các khuôn đúc cần được vệ sinh sạch bề mặt, quét lớp dầu nhớt, sắp xếp gọn gàng Các công việc này cần hoàn thành trước khi tiến hành trộn vữa bê tông Sau khi trộn đều vữa bê tông trong máy trộn, tiến hành lấy mẫu để kiểm tra độ sụt Nếu độ sụt đảm bảo yêu cầu kỹ thuật thì mới sử dụng vữa bê tông của mẻ trộn đó Tiến hành đổ vữa bê tông vào các khuôn đúc, sao cho bề mặt của bê tông được làm phẳng

Ngày đăng: 15/07/2021, 14:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w