1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược mông nguyên của một số quốc gia ở khu vực đông nam á (thế kỷ XIII)

58 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược mông - nguyên của một số quốc gia ở khu vực đông nam á (thế kỷ XIII)
Tác giả Phạm Thị Oanh
Người hướng dẫn Bùi Văn Hào
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 181 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở đây, Goedes chủ yếu đi sâu tìm hiểu cơ sở hình thành của quốc giaĐông Nam á trong đó tác giả đã phân tích ảnh hởng của văn minh ấn Độ đốivới khu vực này, và ít nhiều cũng đã đề cập đến

Trang 1

Trờng Đại học Vinh

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc mông - nguyên của

một số quốc gia ở khu vực đông nam á (thế kỷ XIII)

Chuyên ngành lịch sử thế giới

Giáo viên hớng dẫn: Bùi Văn Hào

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Oanh

Trang 2

rộng lớn để phát triển kinh tế, xã hội nh ấn Độ và Trung Quốc, nhng bù lại nó

có cảnh quan hết sức hấp dẫn, đa dạng

Thêm vào đó Đông Nam á có vị trí chiến lợc hết sức quan trọng, nó

đợc các nhà nghiên cứu phơng Tây gọi là "ống thông gió ","ngã t đờng", là

“hành lang”, “cầu nối” giữa phơng Đông và phơng Tây Nó lai nằm trên con

đờng giao lu giữa hai trung tâm văn minh lớn Trung Quốc - ấn Độ, chính vìvậy suốt quá trình tồn tại, phát triển từ xa đến nay Đông nam á luôn là đối t-ợng nhòm ngó của các thế lực bên ngoài Mà trong đó ta không thể không kểtới mục tiêu của quân xâm lợc Mông Nguyên vào thế kỉ XIII

Vì vậy, cùng với quá trình hình thành và phát triển để tự khẳng địnhmình, để bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc, các quốc gia Đông Nam á đãphải liên tục tiến hành các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Có thể nóilịch sử của nhiều quốc gia Đông Nam á gắn liền với nhng chiến công hiểnhách trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ đất nớc Mà một trong nhữngtrang sử hào hùng của các quốc gia Đông Nam á đó là cuộc kháng chiếnchông quân Mông - Nguyên xâm lợc (thế kỷ XIII)

Vì thế, thông qua việc tìm hiểu ''Các cuộc kháng chiến chống quânxâm lợc Mông - Nguyên của một số quốc gia ở khu vực Đông Nam á (thế kỉXIII )'', cho phép chúng ta hiểu một cách đầy đủ, sâu sắc hơn tiến trình khángchiến chống quân Mông - Nguyên xâm lợc ở khu vực Đông Nam á Cũng nhtinh thần dũng cảm quật cờng của nhân dân các dân tộc trong việc đập tanquân xâm lợc bảo vệ nền độc lập dân tộc Mặt khác qua đó cho phép chúng ta

có một cách nhin toàn diện hơn những tác động của quân xâm lợc MôngNguyên đối với khu vực Đông Nam á

Bên cạnh đó hiện nay với xu thế tăng cờng quan hệ và hợp tác khuvực, việc tìm hiểu lịch sử các quốc gia láng giềng cũng nh lịch sử truyềnthông văn hoá của họ chắc chắc sẽ tạo điều kiện để tăng cờng mói quan hệ

đoàn kết, hợp tác, cùng nhau phát triển và hớng tới tơng lai

2 Lịch sử vấn đề.

Đông Nam á từ lâu đã là khu vực thu hút sự tập trung chú ý của cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nớc trên nhiều lĩnh vực khác nhau(Sử học,Dân tộc học, khảo cổ học, Ngôn ngữ học ) Về cơ bản lịch sử cũng nh mốiquan hệ của các quốc gia Đông Nam á đã đợc làm sáng tỏ Nhiều công trình

đi vào nghiên cứu Đông Nam á trên bình diện chung trong đó phải kể đếncác tác phẩm tiêu biểu nh "Lịch sử các quốc gia cổ đại ở khu vực Viễn Đôngchịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ", của nhà nghiên cứu ngời Pháp Goedes(Viễn Đông Bác Cổ - HN 1994)

Trang 3

ở đây, Goedes chủ yếu đi sâu tìm hiểu cơ sở hình thành của quốc gia

Đông Nam á trong đó tác giả đã phân tích ảnh hởng của văn minh ấn Độ đốivới khu vực này, và ít nhiều cũng đã đề cập đến các cuộc kháng chiến chốngquân xâm lợc Mông - Nguyên một số quốc gia trong khu vực

Còn D.G.E.HALL với tác phẩm "Lịch sử Đông Nam á" tác giả đã đivào nghiên cứu lịch sử quốc gia Đông Nam á từ thời kỳ cận, hiện đại Trongcông trình của mình tác giả đề cập khá nhiều về cuộc kháng chiến chốngquân Mông Nguyên của Chămpa, Đại Việt, Mianma, Riêng Đại Việt với''Ba lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên xâm lợc" của nhà Trần đã córất nhiều công trình nghiên cứu nh : tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm cócuốn ''Cuộc kháng chiến chống xâm xựơc Nguyên Mông thế kỉ XIII", hayNguyễn Lơng Bích với tác phẩm" Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng",V.A Chiurin với cuốn “ Cuộc xâm lợc của đế quốc Nguyên - Mông vào ĐôngNam á (cuối thế kỷ XIII)…

Ngoài ra, còn có nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu lịch sử của từngquốc gia ở khu vực Đông Nam á nh: Nguyễn Đình Lễ với cuốn “Đất nớcchùa vàng”, hay HenRi Đích với cuốn ''Tìm hiểu sơ bộ đất nớc Lào'', BecDinvới ''Lịch sử Thái Lan tóm lợc'', Phan Ngọc Liên với cuốn “Lịch sửInđônêxia” Bên cạnh đó còn nhiều bài chuyên khảo đăng trên tạp chínghiên cứu Đông Nam á đã đề cập đến lịch sử Đông Nam á nói chung cũng

nh các cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Nam á chống quân MôngNguyên xâm lợc nói riêng

Từ những t liệu, tài liệu mà chúng tôi có dịp đợc tiếp cận, chúng tôiquyết định chọn đề tài: " Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc MôngNguyên của một số quốc gia ở khu vực Đông Nam á (thế kỉ XIII)", làm khoáluận tốt nghiệp

3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Nhiệm vụ của đề tài.

Chúng tôi tập trung vào làm nổi bật rã hai vấn đề cơ bản đố là :

Thứ nhất đó là: Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc MôngNguyên của một số quóc gia ở khu vực Đông Nam á(thế kỷ XIII)

Thứ hai là chúng tôi tập trung đánh giá những tác động của các cuộcxâm lợc của quân Mông Nguyên đối với khu vực Đông Nam á

3.2.Phạm vi của đề tài bao gồm.

Về không gian: bao gồm cả khu vực Đông Nam á

Về thời gian: Thế kỉ XIII

4 Phơng Pháp Nghiên Cứu.

Trang 4

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp logic lịch sử Ngoài ra trong quá trình xử lí t liệu chúng tôi còn kết hợp sử dụng vớimột số phơng pháp khác nh: Tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung đề tài đợc cấu tạo làm ba

Trang 5

B Nội dung

Chơng 1 : Khái quát tình hình khu vực Đông Nam á

tr-ớc và trong thời kì quân Mông - Nguyên

xâm lợc.

1.1 Tình hình khu vực Đông Nam á trớc thế kỷ XIII.

Đông Nam á vốn là một khu vực, một chỉnh thể, với những nét riêng của

nó, nhng ngời ta chỉ mới dần dần nhận thấy từ khoảng một nửa thế kỷ trở lại

đây Trớc đó ngời ta không biết gì mấy về lịch sử Đông Nam á thời tiền sử,

mà chỉ biết rằng: con ngời có mặt từ rất sớm ở đây và sinh sống chủ yếu bằngnghề trồng trọt nguyên thuỷ

Từ sau công nguyên, tức là khi các nhà nớc lần lợt hình thành, đời sốngkinh tế, xã hội, văn hoá có điều kiện phát triển, địa vị của nó ngày càng lớn

Đông Nam á giàu sản vật, lại nằm trên đờng hằng hải giữa Đông và Nam á,nên từ rất sớm đã có nhiều nhà du lịch đi qua, nhiều thơng nhân tới mua bánhàng Các hải cảng của ngời Chăm pa, Khơ me, Malaixia, Inđônêxia, trởthành những địa điểm dừng chân và buôn bán của khách thờng nhiều nớc

Do vậy, có thể khẳng định lại một lần nữa về vị trí quan trọng của ĐôngNam á trong toàn bộ lịch sử thế giới từ những bớc đi đầu tiên của lich sử loàingời, do nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi của khu vực, và trong những chặng

đờng lịch sử còn do vị trí địa lý của khu vực, không phải ngẫu nhiên mà mốiliên hệ của khu vực này với thế giới đã đợc xác lập thờng xuyên trong mấychục thế kỷ qua Và cũng không phải ngẫu nhiên mà ngay từ thời cổ ĐôngNam á nói chung còn đợc gọi bằng một cái tên là Suvanabuni (Suvanabhuni)nghĩa là" đất vàng."

Nhân dân ở đây có một nền văn hoá vật chất và tinh thần rất cổ Lại nằmgiữa hai quốc gia rộng lớn, hai nền văn hoá lâu đời và Trung Quốc và ấn Độ

Nó không thể không tiếp thu ảnh hởng của hai nền văn hoá đó Tuy nhiênriêng Đại Việt hầu nh chỉ chịu ảnh hởng của văn hoá Trung Quốc, còn tất cảcác quốc gia khác lại chủ yếu tiếp nhận văn minh ấn Độ Trong buổi đầu thời

đại văn minh , văn hoá ấn Độ và Trung Quốc đã góp phần quan trọng trong

sự phát triển của các quốc gia Đông Nam á Nhng thực ra, sự phát triển củacác quốc gia Đông Nam á, là kết quả của một quá trình vận động tiến bộ củabản thân các quốc gia này Sức sống của nó rất mãnh liệt, những yếu tố bênngoài này không thay thế mà chỉ bổ sung và nâng cao thêm Có thể nói: Ng-

ợc lại, chính là các yếu tố văn hoá bên ngoài này đã đồng hoá ở mỗi quốc gia,tạo nên trong mỗi dân tộc đó một nền văn hoá vừa độc đáo lại vừa có nhữngnét gần gũi với nhau

Trang 6

Trong năm thế kỷ đầu, Đông Nam á bớc đầu hình thành các quốc gia cótính bản địa qua sự tiếp thu những ảnh hởng của thể chế ấn Độ Một điềuquan trọng là: Trớc khi có ảnh hởng của các yếu tố này, Đông Nam á đã đợchình thành một chỉnh thể.

Thế kỷ VI-VIII khu vự Đông Nam á nói chung tiếp tục phát triển, đặcbiệt là sự lớn mạnh hơn của các quốc gia Inđônêxia và sự thành lập một sốquốc gia của ngời Miến - Piao (Đơ va ra va ti và Sơ ri sê tơ ra)

Đến thế kỷ X đây là thế kỷ không kém phần quan trọng, nhiều nhànghiên cứu đã coi thế kỷ X là thế kỷ bản lề trong qúa trình phát triển lịch sửcủa các nớc Đông Nam á Nếu nh từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX là thời kỳ "tíchluỹ" của các vơng quốc phong kiến "dân tộc" thì đến những thế kỷ IX, X toàn

Đông Nam á lại có một sự hứng khởi mới đồng loạt đánh dấu một bớc nhảyvọt mới trên toàn miền và mở đầu một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lậpdân tộc, mở dầu cho một thời đại phục hng trên toàn Đông Nam á , với đặc

điểm nổi bật là trở lại chính mình, là sự khẳng định ý thức dân tộc, một nềnvăn hoá dân tộc đã định hình

Thế kỷ X ở Việt Nam đợc mở ra với họ Khúc, đợc định hình chắc chắnvới Ngô Quyền và đợc hoàn thành với Lê Hoàn Đó là sự kết thúc của mộtthời kỳ thời Bắc thuộc và mở đầu cho một thời đại mới - Thời đại độc lập dântộc, phục hng dân tộc, phục hng văn hoá Việt Thế kỷ X làm nhiệm vụ lịch sửkết thúc chặng đờng dài gian khổ ngàn năm chống Bắc thuộc về chính trị ,quân sự và tái cấu trúc nền văn minh Đại Việt với những "mảnh vụn" của vănminh Viêt cổ và những nhân tố ngoại sinh, ảnh hởng của Trung Hoa, ấn

Độ,

ở bán đảo Trung ấn, ngoài quốc gia đại Việt, vơng quốc Chăm Pa bắt

đầu bớc vào giai đoạn phát triển thịnh đạt dới vơng triều Indrapura, để rồi gọi

đó là: " Nớc đó có núi vàng, đá đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng Vàng ban

đêm bay ra giống nh đom đóm"

Nhà nớc Cămpuchia từ thế kỷ IX cũng bắt đầu bớc vào thời kỳ Ăng Co

(802-1434) huy hoàng và trở thành một trong những cờng quốc mạnh và ham

chiến trận nhất trong khu vực Bên cạnh đó thế kỷ XII là thời kỳ tiếp tục sựphát triển của thế kỷ IX - X khi biểu hiện rõ rệt nhất là vơng quốc Pagan, pháttriển cả về lãnh thổ và cả về kinh tế - xã hội - văn hoá Pagan đã trở thành mộttrung tâm phật giáo nổi tiếng Các thợ giỏi đã khôi phục trung tâm phật giáoBôtgaia Thời gian này ngoại thơng cũng có một vai trò quan trọng trong nềnkinh tế các vơng quốc Các văn bia thời đó cho biết những nơi có quan hệ th-

ơng mại với Inônêxia nh Ân Độ, Chăm pa, ngời Mã lai, Môn, Khơ me

Trang 7

Inđônêxia thời kỳ này cũng không thể không kể đến việc mở rộng củalãnh thổ, và việc buôn bán, hiễu hảo với các nớc láng giềng Bên đó còn làthành tựu rực rỡ của nền văn hoá dân tộc , khác với thời kỳ đầu xây dựng v-

ơng quốc là thời kỳ Inđônêxia tiếp thu mạnh mẽ ảnh hởng của văn hoá ấn

Độ

Nhìn chung qua một thời gian dài hơn 9 - 10 thế kỷ "dựng nớc " và "giữnớc ", những yếu tố đồng bằng, biển, núi đã đợc khẳng địnhvà tuỳ theo từngvùng mà yếu tố này hay yếu tố kia là chủ đạo trên cơ sở là nền nông nghiệptrồng lúa nớc Cũng sau thời gian này, qua bao nhiêu phen thăng trầm, bằngnhững cuộc tranh chấp lẫn nhau với các quốc gia phong kiến, các nớc ĐôngNam á dần dần xác lập và ổn định lảnh thổ nh ngày nay

1.2 Tình hình khu vực Đông Nam á thế kỷ XIII.

1.2.1 Tình hình chính trị.

Sự cấu thành đời sống xã hội Đông Nam á không thể thiếu đợc một yếu

tố quan trọng là tình hình chính trị, ở đây chỉ xin đi sâu vào một số vấn đề:Thể chế chính trị các giai cấp và sự phân hoá giai cấp dới góc độ những nét

sự ra đời của hàng loạt quốc gia "dân tộc" khác tự khẳng định mình về thểchế Xét chung toàn bộ khu vực Đông Nam á mà chỉ có Đại việt là lớn mạnh

và trở thành vơng quốc duy nhất đập tan ba cuộc xâm lợc của Mông Nguyên.Sau thắng lợi Mông Nguyên, Môgiôpahít (Inđônêxia) ra đời và trở thành cờngquốc thơng mại trong khu vực; các quốc gia Thái ra đời và đã thống nhấttrong vơng quốc Thái Ayuthay vào thế kỷ sau (thế kỷ XIV), thực thi chínhsách "đại Thái" rất tích cực Cũng trong thế kỷ XIII này, một bớc ngoặt lớnlao bớc đầu đến bởi các bộ tộc ở Lào Trải qua một quá trình phát triển lịch sửlâu dài, đây là thời gian hội tụ dần dần từng bớc, từng vùng lãnh thổ và cuốicùng đã tạo nên đợc một bớc nhảy vọt vào giữa thế kỷ XIX, khi Pha Ngừmtiến hành cuộc đấu tranh hợp nhất lãnh thổ Lào thành một quốc gia thốngnhất Nói tới các quốc gia một dân tộc ở đây tức là nói tới đại đa số cơ bảntrong dân c của một nớc bởi vì không có một quốc gia nào đơn độc một trăm

Trang 8

phần trăm Bao trùm trong quốc gia dân tộc là một ngời chủ thể ,nhóm c dânnông nghiệp chiếm đại đa số (trùng hợp với đa số hiện nay đang tồn tại ở từngquốc gia ).

Nhìn chung, thể chế chính trị ở khu vực Đông Nam á mang đặc điểmchung của các quốc gia phơng Đông Đó là một chế độ quân chủ chuyên chếtập quyền quan liêu, ở đó quyền hành tập trung trong tay nhà vua Quyềnhành đó là sự kết hợp giữa thần quyền với vơng quyền tạo thành 2 dạng đặcbiệt:

Đê va ra gia (Vua thần); Bu đa ra gia {Vua phật}

Khác phơng tây, ở Đông Nam á ông vua quân chủ chuyên chế có thêmchức năng tôn giáo tối cao Hoặc chấp nhận sự đồng tôn giữa các tôn giáo( các tín ngỡng kết hợp của nhiều thứ tôn giáo phức tạp khác nhau); Hoặc tônmột tôn giáo nào đó tuỳ theo sự sùng bái của ông Vua cầm quyền hành quốcgiáo? (Những vấn đề về tôn giáo xin đợc đề cập tới ở phần sau)

Nh trong vấn đề kinh tế chúng ta nhận thấy có một sự đồng nhất giữaruộng đất phong kiến và ruộng đất nhà chùa, nhà thờ, đền Vua có quyền tốicao về mọi vấn đề của nhà nớc: Từ tuyên chiến, đình chiến cho tới khen thởngban tặng Nói chung Vua đợc coi là ngời cha của toàn vơng quốc Sự thểhiện quyền lực tơng đối của ông ta ở chổ.Thần dân phải đóng thuế, làm laodịch cho Vua cũng nh các nghia vụ quân sự theo ý muốn của Vua Loại trự ởMiến Pa Gan do nhiều yếu tố đặc thù quốc gia nh: Sự hạn chế quyền lực củanhà Vua bởi các tàn tích của một chế độ dân chủ nguyên thuỷ (Hội đồng quýtộc Kiyoske) phật giáo đợc sùng bái một cách đặc biệt biệu hiện ở sự hiệndiện của tăng đoàn phật giáo, kiểu chính quyền và sự ép chế của nó theo kiểu

“vòng tròn đồng tâm” đã làm tăng thêm sự phức tạp của dân c ở Miến vốn đãrất lớn Tất cả những yếu tố này khiến cho quyền lực của Vua bị hạn chế trênthực tế

Xét trên bình diện chung mà nói, thì những chức năng của các nhà nớc

Đông Nam á thế kỷ XIII – thực tế là chức năng của ông Vua chuyên chế Vì

ở đây, Vua có quyền hành tối cao, đảm bảo chức năng của một nhà nớcchuyên chế phơng đông điển hình

Dới vua là bộ máy quan lại cồng kềnh do chính Vua cử ra Đứng đầu cáchàng ngũ quan lại là các đại thần dới những tên gọi khác nhau nh: Thợng th(Mianma), Tể tớng (Lào), Bộ trởng (Thái, Cămpuchia) Đây là đôị ngũ trợthủ giúp việc đắc lực cho nhà Vua Tuỳ theo từng quốc gia mà số lợng là mấyngời

Trang 9

Một nét đặc biệt của khu vực là ngay trong việc thực hiện chức năngquân sự và các chức năng tôn giáo, cũng đều chủ yếu do các đại thần dân sphụ trách Tích chất chuyên chế của một ông Vua phơng Đông thể hiện rất rõ

ở điểm này Số lợng những vị quan lại ít hay nhiều không thành vấn đề, màcăn cứ vào những công việc quan trọng là chủ yếu Khi bàn về chức năngcủa nhà nớc phong kiến Mác đã nhận xét:

“ Các chính phủ ở phơng đông trớc kia bao giờ cũng có ba bộ: Bộ Tàichính (làm việc cớp bóc nớc mình), Bộ chiến tranh (làm việc cớp bóc nớc vànớc ngoài), Bộ Công trình công cộng (Chăm lo các công trình thuỷlợi)”[1;49 ]

Tuy nhiên còn có những khác biệt nữa ở khu vực đó là:

Gắn liền với chức năng thuỷ lợi, một chức nặng quan trọng của nhà nớc,

là việc tổ chức xây dựng các công trình tôn giáo

Chế độ đa thê điển hình, ngoài các hoàng hậu vợ chính của vua, Vua còn

có nhiều thê thiếp và cung tần mỹ nữ (ví dụ: một ông Vua Cămpuchia có tới 5

vợ và 3 – 5 ngàn cung tần mỹ nữ, gọi là chế độ haren) chế độ đa thê nàycũng góp phần tạo ra khái niệm hùng mạnh cho nhà vua, kéo theo đó là cácchức quan Thế kỷ XIII, trong các quốc gia Đông Nam á, các chức quan lớntrong triều đều do vua bổ nhiệm, và đa số đó là những ngời bà con, họ hàngthân tộc với nhà vua Duy chỉ có nhà Trần ở Đại Việt là tuyển chọn quan lạitheo một hình thức riêng (Chọn tuyển bằng chế độ thi cử) Để phản ánh việcchiếm quyền, đã đặt ra chế độ hai vua: Thái Thợng Hoàng và Vua chính trịvì

Căn cứ vào nền kinh tế, thể chế xã hội thì thấy rõ ràng, vào thế kỷ XIII

Đông Nam á không có một tầng lớp địa chủ chuyên bóc lột ngời sản xuấttrực tiếp mà chỉ có tầng lớp quan lại quý tộc, đợc cử giữ các chức vũ quantrọng trong chính quyền trung ơng hoặc các tỉnh, có bà con họ hàng với vua,làm thành giai cấp thống trị đợc hởng đặc quyền Đó là giai cấp ăn bám thực

sự và không có một nghề nghiệp nhất định Đó là bộ máy nhà nớc phong kiếnhết sức cồng kềnh, quan liêu các quốc gia Đông Nam á thế kỷ thứ XIII.Nguyên nhân đó có thể là do nguồn gốc sau: Nhà nớc - ông vua với quyền lựctối cao của mình đã sử dụng “ ban phong tớc vị” nh một hình thức khen tặngduy nhất với những bậc đại thần có công với với ngai vua của ông ta Và đểtránh việc xung đột, tranh dành ngôi thứ trong nội bộ hoàng tộc, càng sử dụnghình thúc đó với bà con nội tộc của mình, dẫn tới việc vua ban ruộng đất chocùng với quyền kế thừa sử dụng

Trang 10

Ngoài giai cấp thống trị quan liêu, ăn bán hởng đặc quyền còn có giai cấpnông dân và các bộ phận nô lệ Nông dân chiếm số đông và là lực lợng sảnxuất chính của xã hội, họ sinh sống trong các công xã nông thôn tự do, giữa

họ với nhau có những mối quan hệ làng xóm láng giềng bền vững, với nhữngphong tục tập quán lễ nghi cỗ truyền ở đây, dù nhà Vua có quyền lợi tối caotới đâu đi nữa thì cũng không thể vơn tới để cai quản đợc hết đời sống của ng-

ời dân trong từng công xã Do vậy đôi khi có những luật lệcủa Vua ban racũng không có hiệu lực bằng những luật lệ của làng, ngời ta nói “phép Vuathua lệ làng” là vì nh thế

Song song với quá trình phân hoá giai cấp thống trị là quá trình phân hoángời nông dân Một trong số ít đã trở thành các chủ đất nhỏ lẻ, mối quan hệcủa những ngời này với công xã không ngừng suy yếu Đại bộ phận nông dân

tự do chuyển thành lệ nông trực thuộc chủ đất Có hai loại nông dân bị lệthuộc: Loại thờng gặp là nông dân bị lệ thuộc ớc lệ do nợ thuế hay vay nặnglãi Số này có địa vị gần giống với nông dân tự do Cũng có thể họ bị lệ thuộcvào các chủ đất là phong kiến quan liêu hoặc bị lệ thuộc vào các phong kiếntập quyền Loại thứ hai là số nông dân bị lệ thuộc đặc biệt, mặc dù về mặtpháp lý họ là những ngời tự do gần những thành viên công xã bị bần cùngphải làm thuê những ngời cùng công xã hoặc làm thuê cho cả làng Nhữngphong kiến cở lớn đợc sự đồng ý của nhà nớc đã đứng ra tập hợp những nôngdân bị lệ thuộc này thành những công xã đặc biệt Đại đa số những thànhviên của loại hình này thờng làm công việc hầu hạ, phục vụ tầng lớp phongkiến thành thị

Xã hội Đông Nam á thế kỷ XIII còn có một bộ phận nữa là nô lệ Trong

số này có một số bị mất hoàn toàn tự do, một số khác bị mất một phần tự dotrong quan hệ xã hội, đông đảo hơn cả là một số nô lệ trong các chùa chiền,

và bên cạnh đó là một số ít nô lệ phục dịch, hầu hạ trong gia đình các quanlại, quý tộc và cung đình

Nói chung, vào thế kỷ XIII số nô lệ ở Đông Nam á có đông hơn các thế

kỷ trớc một chút đó là do sự phát triển tôn giáo và các nghi lễ khác còn vốnbản thân nó chỉ tồn tại một bộ phận rất nhỏ trong xã hội Tính chất của nócũng không triệt để: Nguyên do là: một phần bản thân các cuộc chiến tranh

để cớp dân về "làm dân" chứ không phải biến họ thành những nô lệ Nh thế

có nghĩa là chế độ nô lệ ở Đông Nam á không phải là chế độ nô lệ điển hìnhTóm lại, ở thế kỷ XIII khi một số quốc gia dân tộc tiếp tục phát triển ởmức độ cao hơn, và một số quốc gia dân tộc ra đời Đông Nam á có một nétchung là sự tạo thành "một khu vực tơng đồng" cả về kinh tế, chính trị, văn

Trang 11

hoá Bản thân sự ra đời của các quốc gia cũng là một nét tơng đồng đặc thùtrong khi ở Nam và Đông á các quốc gia vẫn phát triển theo con đờng cũ, lậpthành các đế quốc và giữ nguyên các mối quan hệ rất bảo thủ của nó Nhà nớc

ở đây đã thực hiện những chức năng và mang tính chất đặc thù, vừa mang tínhchất phổ biến của kiểu nhà nớc phong kiến chuyên chế phơng Đông và theomột mô hình chung:

Vua ( ĐÊ VA GIA ) - BU ĐA RA GIA Quý tộc - Quan lại Nông dân công xã

Nô lệ ( Nô tỳ)Bên cạnh những nét chung của một khu vực tơng đồng mỗi quốc gia

Đông Nam á đều có những điều kiện, hoần cảnh lịch sử riêng của nó, do vậychúng có thể lý giải một cách dễ dàng Sau khi làn sóng xâm lợc MôngNguyên tràn xuống có một số vơng quốc trong khu vực vẫn đứng vững và một

số khác lại bị suy yếu đi hoặc đi tới sụp đỗ

Sẽ sai lầm nếu cho rằng sức mạnh của đội quân Mông Cổ tính chất thiệnchiến và kỹ năng bắn cung phi ngựa tuyệt vời của họ là nguyên nhân chủ yếukhiến cho nhiều quốc gia và dân tộc phải chịu ách thống trị của kẻ thù hunghãn hoặc không còn trên bản đồ thế giới Tài năng quân sự của Trin ghit Khen( Thành Cát T hãn) và nhiều ngời kế thừa y có góp phần vào chiến thắng củangời Mông Cổ, nhng điều đó không phải là quyết định Mà ta phải tìmnguyên nhân chủ yếu sự bại vong của các quốc gia đó ở "bên trong " Chính

sự chia rẽ, phân tán, suy nhợc của giai cấp phong kiến thống trị các nớc đó đãlàm mất đi sức chiến đấu trớc sự xâm lợc các quân Nguyên Mông Lịch sửcủa tất cả các nớc bị xâm lợc đã nói lên điều đó Các vơng quốc ở Trung á,rồi các công quốc Nga (Xa đơ đan, Xmôlen, Kiép ) đều bị vó ngựa Mông Cổgiày xéo vì chế độ phong kiến bây giờ đã làm cho giai cấp thống trị không thểnào đối kháng với nhau và huy động đợc nhân dân kháng chiến Ngay cả ở n-

ớc Kim cũng chịu chung một số phận Bọn phong kiến thống trị lấn át lẫnnhau, nhân dân Truong Quốc liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị ngoại tộc

đã làm cho vơng quốc kia hoàn toàn suy yếu

Trên bán đảo Đông Dơng, số phận của nớc Mianma cũng không khá hơn.Năm 1284 khi bị Mông Cổ tấn công, Vua Miến là Marasihapati chết, con trai

là Sihasura đã giết anh để đoạt ngôi Tình trạng chém giết lẫn nhau đã làmcho vơng triều Pagan suy nhợc Năm 1287, quân Mông Cổ đánh chiếm đợckinh đôn Pagan, vơng triều Pagan sụp đổ

Trang 12

Vào những năm đầu của thế kỷ XIII, Campuchia vẫn tiếp tục giữ địa vịmột nớc trong những vơng quốc mạnh nhất của khu vực Lu vực sông Mê nanchắc đã chịu sự kiểm soạt hoàn toàn, Miến điện cũng phải chụi thuần phục,còn Chăm Pa thì bị biến thành một tỉnh của Cămpuchia từ năm 1203 do đó

để cũng cố đợc địa vị của mình, nhất là đối với Chăm pa, vơng quốcCămpuchia lại chuyển sang tấn công Đại Việt ít nhất ba lần nữa vào các năm

1207, 1216, và 1218 trong đó đặc biệt vào năm 1207 còn có cả một số đơn vịMiến Điện, những đều không kết quả gì Tuy nhiên, chỉ một thời gian khônglâu(sau thời Giay a vac man VII, những ngời kế tục ông gồm 6 đời Vua, ởngôi từ sau 1201 - 1336) (1) Mặc dù vẫn sông trong cảnh thái bình, nhng sựthịnh vợng đã không còn nữa Các công trình xây dựng không thấy đợc tiếptục Sau những năm 1218, những cuộc tấn công ra bên ngoài cũng chấm dứt;không những thế , năm 1220 Cămpuchia đã trao trả chủ quyền cho Chăm pa,cho đến nay, việc này đợc biết nh một hoạt động đơn phơng, chủ động, biểuhiện sự mệt mỏi chán nản, chứ không thấy một cuộc đấu tranh một vụ biến

động nào

Cuối đời Vua thứ III (Giay A vac man VIII) ngời Thái từ thợng nguồnsông Mê Công tràn xuống, lấn chiếm lu vực sông Mê nan, lập nên nhữngquốc gia riêng của họ, mà không gặp phải một sự phản ứng nào của vơngquốc Cămpuchia Hơn nữa, họ còn lấn chiếm cao nguyên Cò Rạt và tấn côngvào tận kinh đô (Ăng Co)

Một phái bộ ngoại giao Trung Hoa đến Cămpuchia năm 1296, năm đầucủa đời Vua thứ IV, khi trở về, một thành viên của đoàn là Chu Đạt Quan đãviết lại những điều quan sát đợc của mình Qua tài liệu này ta đợc biết thêm:

Đất nớc vừa trãi qua một cuộc chiến tranh xâm lợc của ngời Xiêm; làng mạc

bị tàn phá, trong triều chính thì hỗn loạn; Vua mới lên ngôi là rễ Vua trớc, đãsai chặt chân và giam con cháu Vua trớc, tức là em vợ của mình vì âm mu lật

đỗ, ông Vua này cũng nh các Vua trớc, rất ít khi đi ra ngoài "để đề phòng bấttrắc" và nếu có đi thì cũng phòng vệ rất cẩn thận

Qua đó cho thấy đấu hiệu đầu tiên của sự suy thoái đã xuất hiện; nguyênhân của sự suy thoái này theo một học giả là ở chổ hàng loạt công trình xâydựng của Giay a vac man VIII đã trở nên quá nặng nề đối với nhân dân đã bịquyệt quệ vì những cuộc chiến tranh và những kiến trúc của thời Surya vacman II Chính vì vậy, khi quân Nguyên Mông xâm lợcvào đã thúc đẩy đếquốc Ăng co nhanh chóng sụp đổ

Đầu thế kỷ XIII, ở Inđônêxia dới triều Vua Xơrivigiaya có tới 15 nớcthần phục trong đó có Liga (Malaya), Sun đa (tây gia va), Si lan (xay lan)v.v

Trang 13

còn Gia Va thì có đảo Bali, tây nam Calimanten và quần đảo Malaica Sựphồn thịnh của các vơng quốc đợc xây dựnh trên sự bóc lột hà khắc giai cấpnông dân và những ngời phụ thuộc còn bọn quý tộc thì ngày càng giàu lên vàtrở thành kẻ có thế lực lớn, chúng không ngừng tranh chấp và xung đột lẫnnhau và thậm chí còn tìm cơ hội để cớp ngôi Chính vì vậy, vào đầu thế kỷXIII các vơng quốc Inđônêxia xu thế cát cứ ngày càng nổi rõ ở Gia Va, một

số vơng quốc mới nổi lên và luôn luôn xung đột với nhau nh Ka đi ri (ở trungbộ) Tu ma pan, mang quân đi tiêu diệt Ka đi ri và thành lập vơng quốc mới làSin ga xa ri (Singhasari)

Tình hình ở Đại Việt thế kỷ XIII khẳn với các nớc trên Chính quyềnphong kiến Đại Việt lúc bấy giờ là chính quyền tập trung chứ không phảiphân tán nh nhiều quốc gia châu Âu, nó cũng không giống nh chíng quyềntập trung đang ngoắc ngoải của Nam Tống; Sau khi chấm dứt đợc tình trạngcát cứ mới thời kỳ nhà Lý, vơng triều Trần đã xây dựng đợc một chính quyềntập trung mạnh mẽ, đời sống của nhân dân đợc ổn định, sức sản xuất đợc pháttriển Vào lúc đế quốc Mông Cổ tiến hành chiến tranh xâm lợc mâu thuẫngiữa giai cấp phong kiến Đại Việt và nông dân còn đợc hoà hoãn, cha phải đãphát triển tới mức gay gắt Đứng trớc cuộc chiến tranh xâm lợc của kẻ thù,giai cấp phong kiến Đại Việt đã đoàn kết đợc toàn dân đứng dậy kháng chiếncứu nớc Bấy giờ, giai cấp phong kiến còn giữ đợc vai trò lịch sử của nó Từkhi xây dựng nhà nớc phong kiến tự chủ vào đầu thế kỷ X, giai cấp phongkiến còn mang trong bản thân nó tinh thần dân tộc Đó là ý thức xây dựngmột nhà nớc tự chủ độc lập Tinh thần đó đợc đứng đầu bằng những trang sửchống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc với biểu tợng của các anh hùng dântộc : Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thờng Kiệt giai cấp phong kiến Việt Namthế kỷ XIII còn giữ đợc tinh thần đó qua những thế kỷ hùng tráng bớc đầuthời kỳ kinh tế tự chủ Trớc nguy cơ đất nớc rơi vào tay giặc ngoại xâm, quýtộc phong kiến nhà Trần đã quyết tâm kháng chiến đến cùng Quyết tâm đókhông những giải thích đơn giản bănghf yêu cầu bảo vệ thái ấp, điền trang vàcác quyền lợi vật chất khác Quyết tâm đó còn nói lên tinh thần yêu nớc nồngnàn của họ lúc Tổ quốc lâm nguy, tầng lớp quý tộc Trần đã đoàn kết lại thànhmột khối, không những thế họ còn tập hợp đợc quần chúng nhân dân quanhmình để đánh giác giữ nớc Do vậy, nhân dân Đại Việt đã ba lần đánh quânNguyên toàn thắng ở thế kỷ XIII Không những làm cho đất nớc mình đợcbền vững, mà còn làm cho nhiều nớc khác ở khu vực Đông Nam á khỏi mắcphải thảm hoạ chiến tranh xâm lợc cũng là điều dễ hiểu

Trang 14

Đó cũng là lời giải thích cho câu hỏi: Tại sao sau thảm hoạ xâm lăng củaquân Mông Cổ vào Đông Nam á chỉ có Đại Việt là vẫn tiếp tục hành trìnhlịch sử của mình với một tốc đọ mạnh mẽ Nói một cách khác , các cuộc xâmlợc của Nguyên Mông không thể ngăn chặn đợc bớc phát triển của quốc gia

Đại Việt theo hớng đã định: Một quốc gia phong kiến quân chủ trung ơngtập quyền, loại hình phơng đông, với những nét độc đáo đậm đà bản sắc, bản

địa, mang tính dân tộc cao

1.2.2 Tình hình kinh tế

Thế kỷ XIII nền kinh tế khu vực có những thay đổi khá quan trọng, kinh

tế nông nghiệp vẫn gi vai trò chủ yếu trong đó việc trồng lúa nớc trở thànhmột đặc điểm chung của toàn khu vực Nghề trồng lúa nớc vẫn giữ vai trò chủyếu và ngày càng phát đạt Năng suất lao động nông nghiệp tăng lên nhờ cócông cụ và kỷ thuật canh tác mới, ngời ta đã đi đến kết luận: Đông Nam á làmột trung tâm giống cây và thuần dỡng lúa Ngay từ tổ xa, các dân nôngnghiệp Đông Nam á đã có thể quay vòng vụ do biết thuần dỡng và tạo giốngmới Việc tăng năng xuất và sản lợng lơng thực là một trong những yếu tốxuất hiện rất mới vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, nghề trồng lúa kinhdoanh Điều này thể hiện nền kinh tế hàng hoá đã có mầm mống, manh nhangay trong nền kinh tế cổ điển và bảo thủ nhất Mặt khác, kinh tế hàng hoá đãgóp phần thúc đẩy nội thơng và ngoại thơng phát triển Thêm vào đó, việcchuyên canh các loại cây không phải lơng thực cũng phát triển khiến cho việctrao đổi tích cực hơn trên một phạm vi khá rộng Thông thờng kinh đô đợc

đóng ở những vùng có địa thế thuận lợi cho chính trị, quân sự và cũng là vựalúa lớn của quốc gia ở đó, vấn đề thuỷ lợi có ý nghĩa rất quan trọng Tuynhiên, do đặc trng thời tiết và diện mạo môi trờng trong khu vực có khác nhaunên các phơng thức thuỷ lợi cũng rất đa dạng ậ Thái là các "mờng phai” ởCămpuchia là các “baray” Hồ chứa nớc tạo với hệ thông kênh rạch chằngchịt; ở Đại Việt là hệ thống đê đồ sộ quanh các con sông lớn; ở Mianma lànhững con đập ngăn sông hoặc các hồ trữ nớc Một điều đặc biệt là, lúc đầuvấn đề thuỷ lợi lại trùng với ý thức tợng trng tôn giáo hoặc ý nghĩa của nó gắnthêm vai trò của tôn giáo, những công trình xây dựng đền chùa của các “ôngVua” Khơme đều xuất phát từ ý đồ xây dựng “một mẫu hình thu nhỏ của vũtrụ bị bao bọc bởi những dãy núi và đại dơng theo quan điểm của ÂN Độ''[12;89]

Cũng không phải ngẩu nhiên mà ngời Miến đã xây dựng gần 5000 ngôichùa bên cạnh hệ thống thuỷ nông lớn Iremơuđan tới nớc cho hàng ngàn mẫuruộng ở thung lũng sông Iraoađi Một Krômna(Bô nông nghiệp) ở Ayuthai

Trang 15

phải chịu trách nhiệm về công việc tới nớc và và các việc phục vụ cho nôngnghiệp phát triển, thậm chí, hàng năm ngời đứng đầu Krômna phải đích thânxuống cày luống cày đầu tiên vào buổi lễ đầu năm Xét về ý nghĩa tôn giáo,thì điều đó tợng trng cho việc cầu ma thuận, gió hoà, cây cối tốt tơi, mùamàng bội thu Trong cuốn “Bàn về các xã hội tiền t bản” Mác viết: “ Chứcnăng lao động mà tất cả các chính phỉ châu á đều buộc phải thực hiện, cụ thể

là chức năng tổ chức những công trình công cộng Hệ thống nâng cao độ phìnhiêu của đất đai một cách nhân tạo tuỳ thuộc vào chính phủ trung ơng và lậptức bị suy tàn khi chính phủ đó sao nhãng những công việc tới nớc và tiêu n-ớc.”[1;57]

Một điều quan trong là các công xã nông thôn tự do, nền tảng của chế độphong kiến đã tồn tại dai dẳng trong suốt thế kỷ XIII và kéo dài tận đầu thế

kỷ XV Do sự phát triển của tầng lớp thợ thủ công làng xã và sự tiếp súc cạnhtranh mạnh mẽ với các thợ thủ công thành phố, nên cơ sở của tổ chức xã hộivẫn là đại đa số những nông dân của các công xã nông thôn tự do Nhữngnông dân này đợc chia ruộng đất và tự do canh tác trên đất đó trớc hết lànhằm đảm bảo đời sống của mình Tuy nhiên họ cũng phải nộp một phần hoalợi cho nhà nớc và làm nghĩa vụ quân sự đối với chính phủ Thậm chí nhAyuthai (thái) những tù binh bị bắt trong các cuộc chiến tranh cớp dân( chứkhông phải hoàn toàn là các cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thổ), khôngnhững đợc chia ruông đất mà có thể đợc cấp cả súc vật, công cụ để làm nôngnghiệp (dĩ nhiên là về mặt pháp lý thì họ vẫn là nô lệ của Vua, ông ta cóquyền tặng lại cho bọn phong kiến mà ông ta yêu mến)

Nét đặc trng rất phơng đông, biểu hiện rõ trong tất cả các quốc gia ĐôngNam á là ruộng đất tập trung trong tay nhà Vua Nói một cách khác, các ôngVua thự hiện quyền lực của ngời sở hữu tối cao về ruộng đất bằng việc thu tôthuế và trong sự khống chế tất yếu của quốc gia đối với mọi sự biến đổiquyền sở hữu ruộng đất Ngoài số ruộng đất nhà Vua và gia đình ông ta sửdụng nh bất kỳ một phong kiến nào và ruộng đất của công xã, còn có một nét

đặc biệt nữa là ruộng đất tập trung khá nhiều trong các chùa và nhà thơ đạoIxlen ở những quốc gia của đạo hồi thì việc t hữu ruộng đất ít phát triển vớigiáo lý của đạo này; khẳng đinh quyền lực vô hạn của thánh Ala và điều đó đ-

ơng nhiên thừa nhận quyền sở hữu vô hạn của các xuntan (sulltas có nghĩa làVua) về đất đai Vì xuntan là sứ giả của thánh Ala ở đây đó trên một vàivùng của khu vực điều này vẫn còn tồn tại đến bây giờ ở những quốc gia cònlại thì do nhiều nguồn gốc khác nhau do các thí chủ cúng chùa hoặc do cáccông xã cúng chùa Bên cạnh những loại ruộng đất này là số ruộng đất do

Trang 16

Vua ban tặng cho các quan lại có công hoặc ban cấp cho những ngời anh emtrong họ tộc ngoài ý nghĩa tăng cờng mối quan hệ thân tộc, việc ban cấp nàykhiến cho những kẻ đợc ban cấp trở thành tên đại quý tộc ở một số nơi đãxuất hiện hiện tợng mua bán ruộng đất tuy mức đọ cha cao và cha cấu thành

hệ thống :có thể đó là sự trao đổi dới hình thức vật đổi vật Điều đó chỉ chứng

tỏ quan hệ tiền tệ cha thực sự phát triển và cha trở thành động lực thúc đẩymua bán ruộng đất Trong nét chung vầ vấn đề ruộng đất của toàn bộ khu vựcmỗi quốc gia nông nghiệp lúc đó cũng có những đặc điểm riêng Ta có thể lấytình hình ở hai quốc gia Cămpuchia và Indônêxia làm ví dụ:

ở Cămpuchia, cho đến cuối thế kỷ XIII, việc buôn bán ruộng đất trởthành hiện tợng bình thờng trong đời sống xã hội

ở Inđônêxia không chỉ riêng thế kỷ XIII mà tới tận thế kỷ XV, chế độcông hữu ruộng đất vẫn là hình thức chủ yếu, đại đa số thành viên công xã ch-

a ý thức đầy đủ về quyền sở hữu t liệu sản xuất vấn đề số một của ngời nôngdân lúc này

Nh vậy, vào những thập niên của thế kỷ XIII, hình thức ruộng đất phổbiến nhất là hình thức sở hữu công xã Ngoài số ruộng đất thuộc quyền sở hữutrực tiếp của Vua cũng có một số ruộng đất thuộc quyền sở hữu và chiếm hữuruộng đất của t nhân Tuy nhiên, khác hẳn so với các khu vực khác, ở khu vực

Đông Nam á nhìn chung do đất đai rộng nên việc tranh chấp ruộng đất ít xảy

ra Thậm chí, “mục đích cuối cùng của hầu hết các cuộc chiến tranh là: hoặcnhằm hớng các mâu thuẩn nội tại ra bên ngoài, hoặc nhằm cớp dân ( mà điểnhình là các cuộc di dân của ngời Thái) chứ ít khi có khái niệm là chiếm đất”

Đấy là đất đai ở đồng bằng và các trung tâm lớn, còn ruộng đất ở vùng núi,biên cơng chỉ đơn thuần thuộc lảnh thổ quốc gia ở Đại Việt lại khác, ngay từthế kỷ XIII việc khẩn hoang đã trở nên cấp thiết nhằm giải quyết vấn đề lao

động thừa và đảm bảo đời sống do việc tăng dân số Các nhà Đông Nam á học

ở Liên Xô đã nhận xét: “ Chế độ sở hữu ruộng đất tối cao đã bao trùm lên tấtcả các hình thức sở hữu khác mà những hình thức sở hữu đó ở mức độ nàyhay khác đều luôn luôn là tạm thời [5;53]

Quay trở lại vấn dề canh tác của ngời nông dân công xã, ta nhận thấy:Nhìn chung ruộng đất công xã phân cho ngời nông dân, thờng đợc chia lạivào cuối vụ sản xuất hoặc vài ba năm chia lại một lần, nhà nớc lấy việc thuthuế địa tô của ngời nông dân công xã tự do làm nền tảng kinh tế; Một quốcgia đều có quy định về chế độ thu thuế và tô rất cụ thể, có một số lúa còn sótlại cho thấy: Hầu hết, mức thuế không căn cứ vào đo đạc chính xác về diệntích đất ruộng mà dựa trên ớc chừng tơng đối đềalu nhau để đảm bảo tính

Trang 17

“công bằng” Dới đây là một vài vụ điển hình về những nghĩa vụ của ngời

đứng đầu quốc gia Thái – Sukhô Thai, đợc viết vào năm 1245:

“ 1 không có quyền thu thuế của dân chúng quá 1/10 mùa màng

2 ông ta phải giải phóng ngời những nông dân ở những vùng mấtmùa khỏi việc đóng thuế

1 ông ta chỉ có thể bắt dân chúng chỉ thực hiện những công việc xãhội vừa phải và phải giải phóng ngời già khỏi những việc này

2 ông ta không đợc bắt những ngời phụ thuộc mình nộp nhữngkhoản thuế quá nặng nề.” [6; 98]

Việc thu thuế đối với những ngời nông dân công xã lúc đầu đảm bảo haimặt: Thứ nhất đảm bảo số thuế Về sau do nhu cầu không ngừng tăng lên của

bộ máy nhà nớc quan liêu cồng kềnh và để thoả mãn nhu cầu của quan lạiphong kiến, việc thu thuế tăng lên không ngừng Thêm nữa ngoài việc đánhthuế địa tô vào đời sống nông dân , nhà nớc còn bắt nộp thuế riêng với từng

hộ, hiện tợng này ngày càng trở nên phổ biến Một sự bất bàn nữa là nhà nớcthu thuế các chủ đất phong kiến thế quyền nhẹ hơn rất nhiều việc thu thuế vớicác hộ nông dân công xã trực thuộc nhà nớc

Nguyên nhân chính là do các chủ đất phong kiến này phần lớn có quan

hệ huyết thống với nhà Vua Khi viết về chế độ sở hửu nhà nớc thông qua ôngVua và việc bóc lột địa tô của những nhà nớc mang “ phơng thức sản xuấtChâu á” và phân biệt nó với các phơng thức bóc lột khác Mác viết:

“ Sự chiếm hữu địa tô là hình thái kinh tế dới đó quyền sở hữu ruộng đất

đợc thực hiện, và mặt khác , địa tô gia đình phải có quyền sở hữu ruộng đất ,tức là gia đình phải có một số ngời nào đó là những kẻ sở hữu , đó có thể là

đại biểu của một công cụ nh ở châu á, ở Ai Cập ” [1; 237]

Kèm theo việc nộp thuế, ngời nông dân còn phải thực hiện một loạt cácnghĩa vụ khác ; Việc tăng cờng các cuộc cớp dân khiến cho trai tráng phảithực hiện nghĩa vụ quân sự Đầu thế kỷ XIII, trớc nguy cơ bành trớng củaquân Nguyên Mông, ý thức dân tộc trổi dậy, việc thực hiện nghĩa vụ là hoàntoàn tự nguyện đặc biệt ở Đại Việt, một quốc gia nông nghiệp vốn có truyềnthống dựng nớc và giữ nớc lâu đời, do yêu cầu giữ nớc luôn đặt ra cho mỗi thế

hệ nên ngay từ thế kỷ XI (đời Lý) đã có chính sách “ngụ binh nông”.Tức khi

đất nớc có chiến tranh, ngời nông dân trai tráng phải có nghĩa vụ gia nhậpquân đội, khi đất nớc thanh bình họ lại trở lại làm nghĩa vụ của ngời nông dân

nh bao nông dân khác Cũng chính do chính sách này, vào thế kỷ XIII, với lựclợng quan hùng hậu triều Đại Việt đã ba lần đánh tan quân Mông Nguyên,

Trang 18

ngăn chặn đợc làn sóng xâm lợc ồ ạt của Mông Nguyên xuống các nớc khácthuộc khu vực Đông Nam á

Tuy nhiên, việc làm này cũng mang những hạn chế của nó, thnah niêntrai tráng bị bắt phải thực thi nghĩa vụ quân sự trở thành gánh nặng đối vớimỗi hộ nông dân công xã khi ở mối hộ nông dân công xã bị thiếu đi một hoặcvài nhân lực lao động chính thì sự yên ổn của nền sản xuất bị phá vỡ Bêncạnh đó những công trình tôn giáo, thuỷ lợi, các công trình kiến trúc cung

đình đồ sộ cũng ngốn đi một số lợng rất lớn của cải và nhân công khiến chongời nông dân công xã phải thực hiện nghĩa vụ lao dịch hết sức nặng nề Trong thủ công nghiệp, do nhu cầu của nội tại và ngoại thơng, nhữngngành thủ công vốn có đợc hoàn thiện và mở rộng hơn, đồng thời những nghềmới đợc xuất hiện Ngay trong các công xã nông thôn, thợ thủ công thànhphố Nói chung nghề thủ công đợc phát triển mạnh mẽ nhờ nguồn đặt hàngcủa nhà nớc và đảm bảo tiêu thụ Đấy là cha kể nó bị kìm hãm bởi các nhà n-

ớc phong kiến đã quy định về giá cả Nét khác biệt của Đông Nam á với khuvực Tây Âu còn thể hiện ở chổ: Suốt trong giai đoạn này phổ biến ở các quốcgia là các làng thủ công chung bán sản phẩm tại chổ hoặc tại các chợ quanhvùng, trong đó có một số làng chuyên làm theo đơn đặt hàng của nhà nớchoặc t thơng, lúc này đã có đội ngũ khá lớn Một số thành thị ở Đông Nam á

đã xuất hiện vào thế kỷ XIII, ở đó các ngành thủ công nghiệp đợc thay thếbằng thủ công nông thành thị

Một tấm bia có niên biểu 1292 đã cung cấp cho ta một bức tranh sinh

động về đời sống kinh tế, vật chất của quốc gia Sukhôthay: “ Dới triều Vua

Ra MaKhămHeng, thành thị Sôkhuthay này thật thịnh vợng Dới nớc có cátrên ruộng có lúa Vua quan không thu thuế của những thần dân đi theo từng

đoàn trên đồng lúa hò reo trao đổi và cỡi ngựa đi buôn bán Ai muốn muabán coi ngựa thì cứ việc mua bán, ai muốn mua bán vàng bạc thì cũng tuỳ ý”.[9; 10 ]

Vai trò của thành thị và nền kinh tế của nó ngày càng phát triển nhanhchóng trong đời sống xã hôi Đông Nam á , các quan hệ kinh tế giữa thành thị

và nông thôn đợc tăng cờng Nếu nh trớc đó, chỉ có các kinh đô mới đóng vaitrò kinh tế tơng đối, còn lúc này, ở thế kỷ XIII mỗi khu vực nông nghiệp cũng

đều có thành thị của mình : Đó vừa là trung tâm hành chính, vừa là trung tâmthủ công, thơng mại Nhờ sự cạnh tranh tích cực nh vậy, sự trao đổi hàng hoá

và thậm chí cả kỷ thuật cần thiết trong nội bộ quốc gia, nội bộ khu vực rấtphát triển

Trang 19

Đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hôi của Đông Nam á

là những khu thơng nghiệp thủ công có nguồn gốc khởi thuỷ từ những làngxóm có nguồn nguyên liệu nằm ven các bến đò, bến xe hoặc các làng có nghềthủ công Dần dần những làng này (tức khu thơng nghiệp thủ công) biếnthành những thị trấn thủ công nghiệp (ví nh calaung của Inđônêxia) hoặc biếnthành những thành phố cung cấp những loại hàng hoá nhất định cho mộtvùng dân c rộng lớn, hơn thế nữa là cho cả quốc gia Kéo theo là các trungtâm thơng mại nội địa, lợng trao đổi hàng hoá có khi còn nhiều hơn cả kinh

đô Mặc dù vậy, xét một cách toàn diện thì kinh đô vẫn có một vai trò hơnhẳn Không một thành phố nào cạnh tranh đợc cả về ý nghĩa, sự giàu có vàsầm uất Từ lâu thơng mại vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Có ý kiến cho rằng: Đông Nam á cổ đại đợc chia thành hai kiểu loại kinh tế

là “nông nghiệp” và “thơng mại” Dĩ nhiên sự phân chia kiểu này chỉ xét trênnét đặt thể và không phải không có lý do Từ rất xa xa ở khu vực, ngời ARập

và Ba T đã có những hoạt động thơng mại tích cực Cho tới thế kỷ XIII sựhoạt động đó vẫn tiếp tục đợc tăng cờng và cũng đó là sự gia nhập đạo hồi vàocác quốc gia Đông Nam á Thơng mại Đông Nam á có vai trò tơng đối quantrọng trong nền kinh tế , thơng mại phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triểnkinh tế nội địa, làm cho việc khai thác nội địa phát triển hơn Quan hệ kinh tếnội địa và ngoại thơng ngày càng đợc mở rộng và đóng vị trí quan trọng trongnền kinh tế quốc gia chứ không đơn giản trong phạm vi chi tiêu của giai cấpthống trị hay nền thơng mại nào Theo đó các mối quan hệ kinh tế trong khuvực đợc mở mang, có thể tạm xếp các quốc gia , thành hai kiểu loại nh sau:

1 Các quốc gia “thơng mại” gồm Mianma, khu vực hải đảo (gồmMalacca, Sumatơra, thuộc Srivigaya sau nữa cuối thế kỷ XIII là Môgiôpahit)

2 Các quốc gia còn lại thuộc kiểu loại “nông nghiệp", minhchứng cho điều này là một thực tế ở quốc gia Srivigiaya Một trong hainguyên nhân sụp đổ của Srivigiaya là do chính sách trọng thơng quá đáng củanó

Nh vậy, rõ ràng ở những quốc gia “thơng mại” nền kinh tế chủ yếu lànền kinh tế thơng mại

Tất cả sự hoạt động thơng mại đều trở nên nhộn nhịp hơn bởi sự tạothành một thị trờng khu vực chung, có nghĩa là nhiều trung tâm thơng mại

đều có quan hệ về mặt kinh tế với nhau, Nguyễn Thế Anh nhận xét:

“ Song song với vai trò của Malacca, trở nên đại thị trờng của thơngnghiệp Nam dơng, các hoạt động của các trung tâm khác có gia tăng haykhông là tuỳ theo sự liên lạc của chúng với Malacca” [14; 156]

Trang 20

Vì vậy, có thể khẳng định rằng thế kỷ XIII nằm trong giai đoạn phát triểnthịnh vợng của nền kinh tế khu vực, hình thành những vùng kinh tế quantrọng, có khả năng cung cấp một khối lợng lớn thóc, lúa củ , sản phẩm thủcông (vải, hàng sơn, đồ sứ, thuốc nhuộm, chế phẩm kim khí) và nhất là cácsản phẩm thiên nhiên (các loại gỗ quý, hơng liệu , gia vị, đá quý, ngọc trai,sừng tê, cánh kiến, thiếc ) Đã có một thời lái buôn của những nớc trên thếgiới đỗ xô đến đây buôn bán, mang sản vật Đông Nam á về nớc họ haynhững vùng xã xôi hơn riêng ở vơng quốc Pa gan (Miến Điện) đầu thế kỷXIII, kinh tế bớc đầu suy thoái do phải bận tâm đối phó với các thế lực bênngoài, hoạt động buôn bán của Miến Điện không đợc mạnh nh trớc nữa Mộtnguồn thu nhập lớn của vơng quốc bị giảm sút, trong lĩnh vực nông nghiệptrải qua hàng thế kỷ phung phí nhân lực, đất đai cho các đền chùa, tu việnnguồn thu nhập của tài chính giảm xuống Các chi phí cần thiết cho quân đội,cho bộ máy hành chính bị ảnh hởng, tại khu vực Pa Gan, đất đai trở nên cằncỗi một phần bởi nạn lấy gỗ làm nguyên liệu nung gạch Tới 20 năm của thế

kỷ XIII, thời đại xây dựng các công trình tôn giáo chấm dứt nổ lực cuối cùngcủa vua Narathihapati nhằm xây dựng một công trình kiểu nh vậy đã khôngthực hiện đợc

Nhng nhìn chung, nền kinh tế Đông Nam á trong suốt thế kỷ XIII có tốc

độ phát triển tơng đối đồng đều so với tiến độ chung của khu vực châu á vàmang những đặc thù khu vực rõ rệt Cũng nh các quốc gia khác ở châu á, tớithế kỷ XIII ở Đông Nam á đã xuất hiện nhiều những thành phố thơng cảngsầm uất buôn bán với bên ngoài khu vực đợc mở rộng, thủ công phát triểnv.v Do ảnh hởng lớn của khí hậu gió mùa, Đông Nam á có những đặc thùriêng của nền kinh tế Ngoài những giống cây lúa đợc thuần dỡng, Đông Nam

á còn có những loài cây cỏ, cây gia vị và hơng liệu rất đặc trng

Bên cạnh những nét đặc thù khu vực, ở mỗi quốc gia do rất nhiều yếu tố:

Điều kiện tự nhiên (đất đại, khí hậu), điều kiện xã hội (nh con ngời, môi ờng) mà nền kinh tế có những nét riêng biệt khác nữa Xét một nét đặc thểnền kinh tế khu vực Đông Nam á thế kỷ XIII vẫn là nền kinh tế nông nghiệptrồng lúa nớc, do điều kiện địa hình hoặc có biển, hoặc hệ thống sông, ngòi,

tr-ao, hồ, mà đánh cá là một trong những yếu tố của nền kinh tế nông nghiệptrồng lúa nớc một nét tơng đồng của khu vực là sự hứng khởi của trung tâmthơng mại khu vực Xét về mặt xã hội thì nó khiến cho đời sống xã hội ĐôngNam á thêm phần nhộn nhịp Xét về mặt kinh tế thì nó góp phần tích cựckhai thác nội địa

1.2.3 Tình hình Văn hoá.

Trang 21

Ngay từ thời cổ xa cho đến tận thế kỷ XIII sinh hoạt tín ngỡng luôn luônchiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của c dân Đông Nam á.

Nó luôn luôn đợc cải biến để cho phù hợp với mỗi thời đại lịch sử Quyền lựcthiêng liêng của một ông Vua khi ông ta sống đợc các ông Vua kế theo biếnthành một quyền lực tợng trng huyền bí và không kém phần thiêng liêng ởphơng đông nói chung và ở Đông Nam á nói riêng, có một sự hoà nhập vàonhau của thế quyền và thần quyền Sự hoà nhập này có sứ mạng thiêng liêng ởdạng tục thờ các tiên vơng biến thánh

Trớc thế kỷ XIII, toàn bộ đời sống văn hoá và thậm chí cả thể chế chínhtrị chính trị đều mang dấu ấn của ấn Độ giáo và đạo phật đại thừa

Nhng từ thế kỷ XIII hoặc lớn hơn một chút, đạo phật tiểu thừa từ Stanca

đợc du nhập vào Đông Nam á với vai trò tích cực của ngời Môn và sau đó làbởi sự di c của ngời Thái tới lu vực các con sông: Mê Nam và Mê Công đạophật tiểu thừa vào các quốc gia Đông Nam á diễn ra khá lâu dài Ví nh ởMiến -Pagan chẳng hạn: Đạo phật đợc truyền bá vào Miến từ lâu nhng tớinăm 1190 đạo phật tiểu thừa mới xuất hiện ở Miến – và sau đó mới trở thànhquốc giáo của Pagan Đạo phật Tiểu thừa nhanh chóng đi vào mọi mặt của đờisống xã hội, ảnh hởng tới t tởng văn hoá, kinh tế của đất nớc “ thời đại vàngson” của vơng quốc Pagan đã qua đi, nhng nó đã để lại cho nhân thế lớn hơn

5000 chùa Hơn 5000 ngôi chùa trên trên một diện tích chừng 50 km2 Xét á

về góc độ tôn giáo thì đó là minh chứng hùng hồn về sự phát triển và vị trí của

đạo phật Ngoài ra những tín ngỡng cổ truyền của ngời Miến vẫn đợc duy trì,tục thờ cúng các thần linh ma quỹ và đạo Balamôn vẫn đợc coi trọng

Ngày nay, Cămpuchia vẫn đợc mệnh danh là “đúc chùa tháp” và nhchúng ta đã thấy, mỗi cái danh đều mang một ý nghĩa nhất định, tên “đúcchùa tháp” cũng nh thế Các ông Vua Khơme thời Ăng Co huy hoàng đã đểlại những kỳ tích chùa chiền hùng vĩ Nền văn hoá vật chất mà l phiên bảncủa nền văn hoá tinh thần đạo phật Việc tôn sùng các tôn giáo nhất địnhtrong quốc gia tuỳ thuộc vào ông Vua trị vì Nhng vào thời nào thì trên toànlãnh thổ Cămpuchia, đại đa số dân cũng theo phật giáo và nhất là khi đạo phậttiểu thừa cha đợc du nhạtp vào và từ đó tới nay đạo phật vẫn luôn giữ một vaitrò quan trọng trong đời sống của ngời dân Cămpuchia

Đợc du nhập vào Thái thế kỷ XIII sau khi các quốc gia Thái trẻ tuổi ở

đây vừa ra đời, đạo phật tiểu thừa đã giữ một vai trò hết sức quan trọng trongviệc cũng cố xã hội mới Những công trình tôn giáo cũ đồ sộ làm hào kiệt sứclực của nhân dân la một trong nhiều nguyên nhân kiến cho đạo phật Tiểu thừanhanh chóng đợc chấp nhận

Trang 22

ở Inđônêxia đất nớc của 3000 hòn đảo, thế kỷ XIII đã diễn ra một quátrình hoà hợp cao độ giữa đạo phật Tiểu thừa và các tín ngỡng cổ truyền là

đạo phật phù chú

Đồng thời với sự du nhập của đạo phật Tiểu thừa vào Đông Nam á thế kỷXIII, đạo Hồi đợc du nhập từ Ân Độ vào và bản thân nó tự giảm sức ảnh hởngvào các khu dân c sùng bái đạo phật ở phần các quần đảo phía Đông Nam á,

từ năm 1281, hồi giáo đợc du nhập vào với vai trò của các nhà buôn từ các nơikhác tới ở đây, đạo Hồi đến và trú ngụ nh một thứ tôn giáo bình đẳng, đơngiản và thích nghi với điều kiện địa phơng Giáo lý của đạo Hồi giản đơn nên

nó nhanh chóng phát triển và lấn át các tôn giáo ở vùng này Đến cuối thế kỷXIII đã có vơng quốc đạo Hồi đầu tiên ở vùng Sumatơra Kể từ đó, đạo Hồixâm nhập các Tiểu quốc phía Nam hớng Malaixia Malacca trở thành trungtâm truyền bá đạo Hồi, dân c ở đây cũng nhanh chóng theo đạo Hồi do vậy

ông Nguyễn Thế Anh đã viết: "Trên phơng diện kinh tế, sự xuất hiện của Hồigiáo phù hợp với sự xuất hiện của thơng mại, song song với vai trò củaMalacca trở nên đại thị trờng của thơng mại của thơng nghiệp Nam Dơng[14;156]

Nh thế, rõ ràng ở Đông Nam á những thập niên của thế kỷ XIII có mộtnét rất đăc biệt, đó là sự đồng tồn của nhiều tôn giáo Tuỳ theo mỗi đời Vuavì đồng tôn giáo nào thì tôn giáo đó sẽ giữ địa vi quốc giáo Sự đồng tồn nàythể hiện quá trình ảnh hởng lẫn nhau, sự tiếp tục ở những mức độ cao hơnquá trình du nhập tôn giáo

Thế kỷ XIII đợc đánh dấu bằng sự thịnh vợng cha từng thấy của nghệthuật tạo hình , văn học, luật học của các đế quốc lớn mạnh với tục thứ th-ợng đế nh một nền văn hoá, kiến trúc và nghệ thuật tạo hình, có những tácphẩm đặc sắc đợc liệt vào hàng báu vật của văn hoá thế giới: Nh khu kiến trúcPagan, Ăng co, Panamaran , nền văn hoá văn hoá kì vĩ Gia Va kiến trúc vănhọc thể tục và sử biên niên Việt Nam và Miến Điện '' [5; 56- 57] Tất cảnhững cái đó không ngừng nói lên vẻ đặc sắc, độc đáo và sự giàu có tuyệt vờicủa văn hoá Đông Nam á mà còn cho thấy một nền tảng chung của sự pháttriển văn hoá, cho thấy sự giống nhau của nền văn hoá khu vực

" Sự phục hng văn hoá cha từng thấy ở khu vực Đông Nam á thế kỷ XIII

đã làm cho khu vực này trở thành một trong những vùng phát triển cao nhất

về mặt nghệ thuật của thế giới lúc đó " [ 5; 56- 58 ] Nghệ thuật kiến trúc

đạt tới đỉnh cao theo hai khuynh hớng: Thứ nhất, sự tái hiện nghệ thuật kiếntrúc bản xứ, làm biến đổi các nét chính của nghệ thuật điêu khắc tạo nênnhững đờng nét mềm mại, uyển chuyển Nói chung những yếu tố ảnh hởng

Trang 23

của nghệ thuật ấn Độ ngày càng bị cải tiến đi hoà nhập vào bản sắc đậm đàtính dân tộc của khu vực; khuynh hớng thứ hai, độc lập hoàn toàn với khuynhhớng trớc do ảnh hởng của đạo phật tiểu thừa Nhìn chung đó là sự "đơn giản

" và "thô cứng" của nghành kiến trúc Khuynh hớng này ảnh hởng tới các loạihình: Hội hoạ, đồ chạm và chạm khắc, trang trí Càng về sau, khuynh hớngthứ hai càng trở thành mô típ phổ biến nhờ tính chất đơn giản và đại chúngcủa nó

Khắp nơi đều không ngừng hoàn thiện, phát triển phong cách dân tộc vàchủ đề thế tục đợc đề cập mạnh mẽ Đến lợt mình nó lại toả đi những chấtsống mãnh liệt làm giàu thêm cho các nền văn minh khác trong khu vực , ng -

ời ta dễ dàng nhận ra sự giống nhau của nó

- Ngời Môn có trình độ văn hoá phát triển cao đã có ảnh hởng tớitính chất của chế độ nhà nớc và văn hoá của ngời Miến

- Cùng với ngời Khơme, ngời Môn cũng có ảnh hởng tới các quốc giaThái và Lào cả về tôn giáo cũng nh ngôn ngữ, chữ viết, kiến trúc.v.v

- Văn hoá Việt và Chăm không ngừng làm phong phú cho nhau ởInđônêxia, Malaixia đã diễn ra những quá trình tơng tự

Qua một thời gian dài, đến thế kỷ XIII, cùng với sự ra đời của các quốcgia dân tộc, các nền văn hoá dân tộc cũng bớc đầu đợc hình thành và ngàycàng trở nên phong phú ở những quốc gia dân tộc đang phát triển các yếu tốvăn hoá này không ngừng đợc nâng cao hơn: Ngôn ngữ dân tộc đã thâm nhậpvào đời sống xã hội, đẩy lùi ngôn ngữ vay mợn

Nhìn chung, thế kỷ XIII, trên toàn bộ khu vực Đông Nam á, nền văn hoá

có nhịp độ phát triển chung và khá cao Trong khi Tây Âu còn đang chìm

đắm trong "đêm trờng trung cổ", thì nền văn hoá Đông Nam á đã "phục hng"

và toả sáng Nình nh ở Tây Âu, tôn giáo mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫnvới cả triết học, khoa học thì ở Đông Nam á không những không có sự kỳthị tôn giáo mà chính nó là cho nền văn hoá thêm phong phú Sự phong phú,

đậm đà bản sắc dân tộc là sự tự khẳng định mình sau quá trình "khu vực hoá"các yếu tố ngoại lai của nền văn minh ấn Độ và Trung Quốc Xê Đốp nhậnxét:" ảnh hởng văn hoá ấn Độ nh lớp vécni đánh bên ngoài" và thực tế lịch sử

Đông Nam á thế kỷ XIII là một minh chứng hùng hồn về điều đó

Tóm lại, qua tình hình kinh tế , chính trị, văn hoá nói trên bên cạnh những nétchung thống nhất trên toàn khu vực, mỗi quốc gia Đông Nam á thế kỷ XIII

đều bộc lộ đợc những nét riêng mang đậm đà bản sắc dân tộc Tất cả những

điều đó đều muốn nói lên rằng: thế kỷ XIII là thời kỳ thịnh trị của các quốcgia phong kiến Đông Nam á (trừ Campuchia đã bớc đầu có những biểu hiện

Trang 24

của sự suy thoái) đó là sự hng thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế Trung

đông tập quyền kiều phơng đông, cũng nh sự hng thịnh của nền kinh tế nôngnghiệp trồng lúa nớc Và một điều đặc biệt nữa chúng ta nhận thấy ở đây là sựkhác nhau rõ nét giữa các quốc gia Đông Nam á vơi các quốc gia phong kiếnChâu Âu, các quốc gia phong kiến đang đi vào giai đoạn phân tách, các thànhthị trung đại ra đời thì ở khu vực Đông Nam á chế độ quân chủ chuyên chếtrung ơng tập quyền đang ở thời kỳ thịnh trị Điều đó là lời giải thích cho câuhỏi: Tại sao sau thảm hoạ xâm lăng của quân Mông Cổ chỉ có các quốc giathuộc khu vực Đông Nam á là vẫn đứng vững (trừ Côpagan là bị Mông Cổchiếm đóng) và tiếp tục hành trình lịch sử của mình với tốc độ mạnh mẽ, còncác quốc gia phong kiến Châu Âu lại nhanh chóng bị đè bẹp dới vó ngựa tr-ờng chinh của quâm xâm lợc

Trang 25

Chơng 2: Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc

mông - nguyên của một số quốc gia

ở khu vực đông nam á

Không chỉ riêng khu vực Đông Nam á mà trên tất cả các lục địa á - Âu,thế kỷ XIII đợc đánh dấu bởi uy thế của ngời Mông Cổ Ngay sau khi lênngôi năm 1206, trên cơng vị Đại Hán (Kou Bi Lai Khan) cháu nội của ThànhCát T Hãn (GL Gia Khan) - ngời đã xâm chiếm Trung Quốc và sáng lập mộttriều đại mới - nhà Nguyên, tìm bắt vua các nớc ngoài, ch hầu của nhà Tốngphải tuyên thề phục tùng Nguyên triều Trên đà thắng lợi ở các nớc á - Âu,quân Trung Quốc - Mông Cổ (còn gọi là quân Nguyên Mông) đã tiến hànhxâm lợc các nớc khác thuộc khu vực Đông Nam á, nhng tại đây chúng thờngvấp phải thất bại hoặc đạt đợc một số thắng lợi không vững chắc Hoạt độngcủa quân xâm lợc Nguyên Mông đã tác động tới vùng này, đặc biệt là tạo

điều kiện cho sự lớn mạnh của dân tộc Thái ở khu vực sông MêNam và ởMiến Điện, đồng thời ảnh hởng tới CPC, đến các công quốc ở sông Mê Công

và ở bán đảo Malaixia

Mặt khác, nh đã nói ở chơng trớc, ngay từ thời tiền sử và sơ sử, trên địabàn Đông Nam á ngày nay đã có rất nhiều dân tộc sinh sống và giao lu mãnhliệt về văn hoá, kinh tế và nhân chúng đã diễn ra Cùng với sự hình thành cácquốc gia cổ đại, dần dần mối quan hệ chính trị giữa Nhà nớc trong khu vựcvới nhau đợc xác lập Sự giao lu trên mọi mặt của các quốc gia trong khu vựcthế kỷ XIII là sự tiếp tục những quan hệ vốn có nhng ở mức độ đặc biệt hơn

do hoàn cảnh lịch sử tạo nên nó Đó là thế trận mới - thế trận tập trung chốnglại cuộc xâm lợc của Mông Cổ, khiến cho các quốc gia trong khu vực xích lạigần nhau hơn Để tìm hiểu kỹ quá trình xâm lợc của Nguyên Mông, qua đóthấy đợc sức sống mãnh liệt, tinh thần đấu tranh chống kể thù chung của nhândân Đông Nam á đế quốc Mông Cổ đã hình thành và phát triển nh thế nào?

2.1 Đế quốc Mông - Nguyên với tham vọng bành trớng thế giới.

Cái tên Mông Cổ đợc nói đến sớm nhất trong sử sách Trung Quốc từthế kỷ VIII, nhng trớc đó rất lâu các bộ lạc của ngời Mông Cổ đã xuấthiện

Trớc thế kỷ XIII, ngời Mông Cổ sống thành bộ lạc hay liên minh các bộlạc, các bộ lạc Mông Cổ này lúc đầu sống trên vùng thảo nguyên Châu á, Ph-

ơng Bắc đến hồ Bai Can (tức là vùng Đông Bắc nớc CHDCND Mông Cổ ngàynay), thợng lu sông Iênixêi và sông Lêc-tu-sơ, phía Nam sa mạc Gôbi, đếngần Trờng thành Về sau ngời Mông Cổ lập thành một liên minh bộ lạc do bộlạc Tata (Tatar) cầm đầu Chính vì vậy trong một thời gian khá dài ngời ta th-

Trang 26

ờng dùng tên "Tata" hay "Tacta" để chỉ chung cho ngời Mông Cổ, mà sử sáchTrung Quốc phiên âm là "Thát Sát".

Sinh hoạt chủ yếu của họ là chăn nuôi ngựa, súc vật có sừng, ngoài xe,

có một phận sống trong rừng, đi săn và đánh cá Ngựa đóng vai trò rất lớntrong cuộc sống du mục của ngời Mông Cổ Triệu Hồng đời Tống, tác giả

"Mông thái bi lục" đã viết: "Ngời Thái (tức ngời Mông Cổ) lớn lên trên yênngựa, tự luyện tập chiến đấu, từ mùa xuân tới mùa đông, ngày ngày săn bắn,

đó là kinh tế của họ" (1)

Ngời Mông Cổ sống du mục theo hình thức curien (tiếng Mông Cổ cónghĩa là lều trại) Cứ mỗi curien bao gồm 1000 lều Cùng với sự tan rã củachế độ Nguyên thuỷ, các gia đình, cá thể giàu có mở rộng uy phong, xuấthiện tôi tớ nô lệ Nô lệ gia đình có tác dụng không nhỏ trong quá trình hìnhthành xã hội có giai cấp của ngời Mông Cổ, nhng nó không trở thành hìnhthái kinh tế chiếm hữu nô lệ Do ảnh hởng của các c dân định c phong kiến(đặc biệt là Trung Quốc) và do sự phát triển của quan hệ tông pháp trong các

bộ lạc du mục, ngời Mông Cổ đã chuyển thẳng từ hình thái Công xã nguyênthuỷ sang hình thái Phong kiến không trải qua quá trình Chiếm hữu nô lệ.Dới chế độ Công xã nguyên thuỷ, bãi chăn nuôi và đàn gia súc đều là tàisản của thị tộc Mông Cổ Khi chế độ CXNT ta rã, đàn gia súc biến thành tàisản của gia đình cá thể, còn bãi chăn nuôi thì vẫn là tài sản của thị tộc trongthời gian rất dài nhng dần dân tầng lớp quý tộc Mông Cổ chiếm đoạt đất đai,bãi chăn nuôi của công xã và biến những ngời tự do (A lát) trực tiếp sản xuấtthành tầng lớp lệ thuộc bị nô dịch cố định trên đất đai A rát phải cung cấp củi

đốt, vắt sữa, chế sữa và đi chăn các đàn gia súc cho Nôyan Lao động cỡngbức đã phát sinh và phát triển nh vậy

Giữa thế kỷ XII, đầu XIII thủ lĩnh các bộ lạc hay liên minh bộ lạc đã vàotập đoàn quý tộc Nôyan và đội thân binh (Nôke) tiến hành các cuộc chiếntranh cớp bãi chăn nuôi, đất săn bắn, tranh đoạt uy lực Thảo nguyên Mông

Cổ cuốn bụi và thấm máu vì những cuộc chiến tranh bộ lạc tàn khốc Đó cũng

là quá trình xây dựng quốc gia thống nhất Mông Cổ Ngời chiến thắng cuốicùng là Têmusin

Têmusin sinh ra trên bờ sông Ônon, trong bộ lạc Taytriút Sau khi chamất và một thời gian lu lạc, Têmusin dần dàn tập hợp đợc lực lợng, vàokhoảng năm 1200 Têmusin bắt đầu cuộc đi chinh phục các bộ lạc khác Từnăm 1204, 1205 tất cả các bộ lạc chủ yếu của Mông Cổ lần lợt hàng phục dới

vó ngựa Têmusin

Trang 27

Năm 1206 một đại hội quý tộc (Khurintai) đợc mở trên bờ sông Ônôn,giai cấp quý tộc Mông Cổ đã tôn Têmusin làm Tringhitkhan (hay còn gọi làThành Cát T Hãn - có nghĩa là đại thủ lĩnh của những con ngời vĩ đại kiên c-ờng) cuộc chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc kết thúc, một Nhà nớc quân

sự độc tài tập quyền ra đời Quan hệ phong kiến nảy sinh sớm trong xã hộiMông Cổ từ cuối thế kỷ XII, nay đã phát triển mạnh mẽ Quá trình hình thành

bộ lạc Mông Cổ đợc đẩy mạnh, khắc phục tình hình phân tán bộ lạc, kinh

tế và văn hoá có điều kiện phát triển Chính vì thế, chúng ta thấy rằng việcthống nhất quốc gia Mông Cổ của Tringhít Khan có một ý nghĩa tiến bộ lớn.Ngay sau đó, Tringhít Khan và tập đoàn quý tộc phong kiến đó đem tấtcả sinh lực của bộ lạc Mông Cổ vừa hình thành dốc vào các cuộc chiến tranhxâm lợc và nô dịch dân tộc khác Những đoàn kỵ binh Mông Cổ lại ồ ạt kéosang Phơng Đông và Phơng Tây, gieo rắc kinh hoàng và chết chóc xuốngnhững vùng xa hơn ở Châu Âu và Châu á

Đầu tiên Tringhít Khan đem quân cớp đất miền Bắc Hoàng Hà nớc Kim,buộc Kim phải cầu hoà Tiếp đó, mang quân đánh xuống phía Tây, bình địnhcác nớc vùng Trung á, cho quân đánh Nga và diệt Tây Hạ ở Phơng Đông.Các nhà sử học đã gọi đây là một cuộc chiến tranh "mở cõi" dã man và ghêsợ

Sighi Khutukhu (Siri Cutugu) một thân binh của Tringhít Khan, đã viếtnên cuốn lịch sử bí mật Mông Cổ ca tụng sự nghiệp Tringhít Khan (tức ThànhCát T Hãn) có đoạn viết:

"Bầu trời đầy sao đang quay cuồng Các bộ lạc đánh nhau không dứt"

Chính Thành Cát T Hãn cũng đã hết sức tự cao trong câu nói bất hủ: Dớitriều đại chúng ta, hễ có ngựa Mông Cổ đi tới đâu là nớc sông phải cạn, núiphải tan, cây cối phải cúi mình, trên trời thiên đình phải vắng ngắt, xuốngbiển là long cung phải hoảng sợ

Dới sự chỉ huy của Thành Cát T Hãn, võ ngựa Mông Cổ dẫm nát cácbình nguyên bao la, đạp tung cát bụi sa mạc, tiến vào kinh đô Trung Hng phủ.Biết không thể chống đợc đoàn quân viễn chinh của Thành Cát T Hãn, vuaTây Hạ xin hàng và xin 1 tháng sau sẽ nộp thành Nhng trớc thời hạn ấy mấyhôm, Thành Cát T Hãn chết trên đờng viễn chinh ở huyện Thanh Thuỷ (CamTúc) phía Tây nam Lục Bàn sơn

Thế là, chỉ hơn 20 năm, bằng những cuộc chiến tranh thần tốc huỷ diệt,Thành Cát T Hãn đã dựng nên nột đế chế phong kiến - đế chế Mông Cổ rộnglớn Bớc đầu từ phía Bắc kéo dài đến hồ Bai Can, phía Nam tới Hoàng Hà,

Trang 28

Đông đến sông Tùng Hoa, Tây đến Lý Hải Nghĩa là bao gồm phần đất liênminh Mông Nam Silucric Bắc Trung Quốc, Trung á và một phần ngoạiCapcadơ (Capcase).

Năm 1227, Tringhít Khan chết, đế quốc Mông Cổ phân thành 4 nớc.Những ngời kế thừa Tringhít Khan đã tiếp tục mở rộng chiến tranh xâm lợc

Từ năm 1235 đến 1242 Ba Tu tiến hành cuộc xâm lợc lớn vào Đông Âu, gọi

là "Cuộc Tây chinh của Batu" ở Đông Âu cũng nh ở Trung á, quân độiMông Cổ tràn tới đâu thì diễn ra ở đó cảnh chết chóc, cớp bóc, tàn phá khủngkhiếp Hàng trăm nghìn ngời bị giết, những thành thị bị biến thành những

đống gạch vụn, những vùng nông thôn biến thành những cánh cu hoang, dânphải bỏ chạy vào rừng, số còn lại phải nộp cống nặng nề

ở Trung á, cháu của Tringhít Khan là Hulagu cũng tiến hành chiến tranh

mở rộng quốc gia, và tại đây cảnh tàn phá, chết chóc cũng chẳng kém gì ở cácnơi khác

Cũng trong thời gian này, ở phía Đông quân đội Mông Cổ tiếp tục xâmlợc Trung Quốc, chiếm nốt miền Nam Trung Quốc, tiêu diệt Nam Tống.Chính quyền Nam Tống lúc này đã quá suy yếu, không ngăn cản nổi cuộcxâm lợc của quân Mông Cổ, Nhng nhân dân Trung Quốc đã anh dũng chiến

đấu chống quân xâm lợc, quân Mông Cổ phải mất hơn hai chục năm mới bình

định đợc Trung Quốc, ở thời Hốt tất Liệt (Khubi Lai) Năm 1271, Hốt TấtLiệt lên ngôi Hoàng đế và đổi tên nớc là Nguyên, dời đô xuống Yên Kinh(Bắc Kinh) Lực lợng quân Mông Cổ vốn đã lớn mạnh lại càng lớn mạnh hơn.Một số đế quốc rộng mênh mông trải ra gần khắp Châu á và lan sang cảnhiều nớc ở Châu Âu đã hình thành đế quốc Mông Cổ bao gồm 4 nớc lớn:

1 Nớc sát hợp dài (do con trai đầu của Thành Cát T Hãn thống trị) baogồm 1 phần quan trọng của miền Trung á

2 Vơng quốc Húc Liệt Ngột (Hulagu) do cháu Thành Cát T Hãn là HúcLiệt Ngột thống trị bao gồm miền đất chủ yếu là Iran, Irắc ngày nay

3 Kim Trơng Hãn Quốc (Lahorob dor) bao gồm miền Nam Xibêri vàmiền Nam nớc Nga chủ yếu là đồng đỏ của sông Vonga

4 Bản địa đất Mông Cổ và Trung Quốc do Hốt Tất Liệt thống trị quânMông Cổ liên tục tràn xuống phía Nam phá vỡ quốc gia Nam Chiếu, thúc đẩynhững ngời Thái vốn đã định c xung quanh Nam Chiếu phải thiên di ồ ạtxuống các nớc khác trong khu vực

Lịch sử bí mật Mông Cổ và Rasitsuđin cho biết rằng kĩ thuật quân độiMông Cổ rất chặt chẽ, ai vi phạm quân kỉ bị trừng phạt tất nặng Để rồi thamvọng bá chủ trung nguyên đã dẫn tới Mông Cổ ồ ạt tiến suống mọi nơi ,và

Trang 29

Đông Nam á là một trong những bàn đạp tiến hành trên con đờng thực hiện

âm mu của chúng Sở dĩ chúng quá tin tởng vào chiến lợc chiến thuật củamình mà Bành Đại

Nhã đời Tống ,tắc giả Hắc Thái sử lợc đã chép :'' Về đánh trận , họ lợi

ở tà chiến ,không thấy lợi, không tiến công Trăm quân kị quay vòng ,có thẻbọc đợc vạn ngời , nghìn quân kị tản ra , có thể dài đến trăm dặm địch phântất phân, địch hợp tất hợp ,cho nên kị đòi là u thế của họ ,hoặc xa hoặcgần ,hoặc nhiều hoặc ít , hoặc tụ hoặc tán ,hoặc hiện hoặc ẩn, đến nh rơi trênxuống ,đi nh chớp giật '' [8; 63 ]

2.2 Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên của một số quốc gia ở khu vực Đông Nam á (thế kỷ XIII).

2 2 1 Cuộc kháng chiến của nhân dân Đại Việt

Lời xa: Nhiễu điều phủ lấy giá gơng

Ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng.

Con ngời Việt với tấm lòng nhân ái tuyệt vời, tình cản yêu thơng thiếttha nồng thắm của cha ông thuở trớc, yêu đồng bào, đồng tộc, yêu nớc,yêu nhà; cả nớc đùm bọc thơng yêu nhau, cả dân tộc thành một khốithống nhất

Đó chính là nguồn sức mạnh vô biên để ta đánh thắng đế quốc NguyênMông hung hãn, tàn bạo nhất thế kỷ XIII Để rồi 3 lần liên tục đánh Nguyêntoàn thắng vang dội khắp năm châu bốn biển Để cho tới giờ nhìn lại quá khứcủa dân tộc, chúng ta căm giận những tội ác tày trời của giặc thì càng khâmphục sự kiên trì chiến đấu của tổ tiên chúng ta: Trong lịch sử mấy nghìn nămcủa mình, hiếm hoi thay lẫn cơ hội tơng đối lâu dài cho phép dân tộc này đợcyên tâm xây dựng cuộc sống độc lập, tự do của mình trong hoà bình và hữunghị với dân tộc khác

2.2.1.1 Cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Nh chúng ta đã biết, năm 1279 sau tiêu diệt xong Nam Tống, đế quốcMông Cổ rộng mênh mông trải gần hết Châu á và lan sang cả nhiều nớc ởChâu Âu đã hình thành bao gồm 4 nớc, trong đó thì đất Hốt Tất Liệt thống trị(bao gồm bản địa Mông Cổ và Trung Quốc) là rộng lớn nhất, giàu có nhất và

đông ngời nhất Hốt Tất Liệt đã lợi dụng sức mạnh của ngời Trung Quốc vớinhững chiến thắng lẻ tẻ để tiến vào Đại Việt, Campuchia, Indônexia, Mianma

và Bắc Thái Lan Đã từ lâu, Đông Nam á với vị trí chiến lợc đặc biệt quantrọng và giàu tài nguyên khoáng sản, đó là miếng mồi ngon béo bở thu hút sựchú ý của mọi kẻ xâm lợc Với đế quốc Mông Cổ cũng vậy, bằng con mắtcủa một nhà quân sự, Hốt Tất Liệt đã nhìn rõ vai trò quan tọng của n ớc

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. C.Mac-PH.Ăng Ghen -V. I .LêNin: ''Bàn về các xã hội tiền t bản'', NXB khoa học 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Bàn về các xã hội tiền t bản''
Nhà XB: NXBkhoa học 1975
[2]. C.Mac-Ph. ¡ngGhen TuyÓn TËp , T.1-2 ,ST .H .1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mac-Ph. ¡ngGhen TuyÓn TËp
[10]. Lơng Ninh, "Lịch sử trung đại thế giới phần phơng Đông”. NXB Đại học và THTN, H.1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử trung đại thế giới phần phơng Đông
Nhà XB: NXB Đại họcvà THTN
[11]. Lơng Ninh, Nghiêm Đình Vì, Đinh Ngọc Bảo: ''Lịch sử các quốc giaĐông Nam á''. Phần lịch sử Lào, trờng ĐHSPHNI Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Lịch sử các quốc gia"Đông Nam á''
[15]. Nguyễn Lệ Th ''Th tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam á”, UBKHXH Việt Nam, Ban Đông Nam á, H, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Th tịch cổ Việt Nam viết về Đông Nam á
[16]. Nguyễn Đình Lễ ''Đất nớc chùa vàng'' NXBGD-1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Đất nớc chùa vàng''
Nhà XB: NXBGD-1988
[18]. Phan Ngọc Liên, ''Lợc sử Inđônêxia'', T liệu gốc ĐHSPHNI Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Lợc sử Inđônêxia''
[19]. Trơng Hữu Quýnh, ''Đại cơng lịch sử Việt Nam ' ” Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Đại cơng lịch sử Việt Nam '
[20]. V.A .Chiurin, ''Cuộc xâm lợc của đế quốc Nguyên Mông vào Đông Namá (cuối thế kỉ XIII)'' Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Cuộc xâm lợc của đế quốc Nguyên Mông vào Đông Nam
[22]. Nhiều tác giả về "Lịch sử Đông Nam á thời cổ ” UBKHXH VN, ViệnĐNA, Viện ĐNA xuất bản H, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam á thời cổ
[3]. C.Mac -ĂngGhen: "Các hình thái có trớc nền sản xuất t bản'' Trích thông tin KHLS số 1 năm 1968 ,Viện sử học Khác
[5]. Đinh Ngọc Bảo, Nghiêm Đình Vì dịch ra tiếng việt "Đông Nam á trong lịch sử thế giới '' của tập thể tác giả viện phơng Đông thuộc viện hàm khoa học Liên Xô. NXBKH. 1977 Khác
[6]. E.D. Becdin: "Lịch sử Thái Lan tóm lợc'', NXBKH, Nguyễn Thị Th, Hoài Anh , Đinh ngọc bảo dịch ,t liệu trờng ĐHSPHNI. 1967,1977 Khác
[7]. G. Goe des. "Lịch sử các nớc ở Viễn Đông chịu ảnh hởng của văn minh ấn Độ '',bản dịch viện Đông Nam á Khác
[8]. Hà Văn Tấn , Phạm Thị Tâm ''Cuộc kháng chiến chống xâm lợc Nguyên Mông thế kỉ XIII'' Khác
[9]. Lơng Ninh ,"Lịch sử thế giới trung đại'' NXBGD, 1976 Khác
[13]. Nguyễn Lơng Bích ''Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng'' Khác
[14]. Nguyễn Thế Anh''Lịch sử các quốc gia Đông Nam á( trừ Việt Nam )&#34 Khác
[17]. Phan Ngọc Liên, Nghiêm Đình Vì , Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị Vinh ''Lợc sử Đông Nam á'' Khác
[21]. GS. Đặng Bích Hà, Phạm Nguyên Long, Nguyễn Lệ Thi, Nguyễn Duy Thiệu, Vũ Lông Quý, Nguyễn Hào Hùng , Trần Cao Thành ,'' Lịch Sử Lào'' Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w