Từ thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải đổi mới phươngpháp dạy học, áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho họcsinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS TS Cao Cự Giác - Trưởng Bộ môn Lí luận và phương
pháp dạy học hoá học, khoa Hóa trường Đại học Vinh, đã giao đề tài, tận tìnhhướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
- Thầy giáo PGS TS Nguyễn Xuân Trường và PGS TS Lê Văn Năm đã
dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng cácthầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoáhọc trường ĐH Vinh và ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtcho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệuTrường THPT Nguyễn Mộng Tuân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tp Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Oanh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Giới hạn của đề tài 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tư duy và việc phát triển tư duy cho học sinh 4
1.1.1 Khái niệm tư duy và tư duy hóa học 4
1.1.2 Đặc điểm của tư duy 8
1.1.3 Các giai đoạn của tư duy 9
1.1.4 Các loại hình tư duy 10
1.1.5 Các thao tác tư duy 19
1.1.6 Vai trò của tư duy 21
1.1.7 Điều kiện của tư duy 22
1.2 Cơ sở lý luận về kỹ năng so sánh 23
1.2.1 Kỹ năng 23
1.2.2 So sánh 25
1.2.3 Kỹ năng so sánh 27
1.3 Thực trạng sử dụng kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học 27
1.3.1 Điều tra cơ bản 27
1.3.2 Kết luận 28
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 30
2.1 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học 30
Trang 42.1.1 So sánh về đặc điểm cấu tạo các chất 30
2.1.2 So sánh về tính chất vật lí 31
2.1.3 So sánh về tính chất hóa học 32
2.1.4 So sánh về phương pháp điều chế 33
2.1.5 So sánh về ứng dụng của các chất 33
2.1.6 So sánh về phương pháp giải bài tập 34
2.2 Sử dụng các kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học 35
2.2.1 So sánh trong dạy học lí thuyết 35
2.2.2 So sánh trong dạy học giải bài tập 112
2.2.3 So sánh trong dạy học thực hành 149
Tiểu kết chương 2 155
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 156
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 156
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 156
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 156
3.2 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 156
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 157
3.3.1 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 157
3.3.2 Xử lí kết quả thực nghiệm 158
3.3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 160
Tiểu kết chương 3 161
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ NGHỊ 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang trong thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức, kỹ năng của con ngườiđược xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Trong xã hội tương lai, nềngiáo dục phải đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển, thông minh và sángtạo Muốn có được điều này, ngay từ bây giờ nhà trường phổ thông phải trang bịđầy đủ cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn ViệtNam và thế giới Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiệnnay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việcphát huy tính tích cực của học sinh, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề vàkhả năng tự học không được chú ý rèn luyện đúng mức Luật giáo dục, điều 28.2 đãghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của học sinh,…, bồi dưỡng phương pháp tự học,…, đem lại hứng thú trong họctập cho học sinh” Từ thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải đổi mới phươngpháp dạy học, áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho họcsinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, các kỹ năng cần thiết.Năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, các kỹ năng như là một phẩmchất quan trọng của con người hiện đại, đặc biệt là từ khi thế giới đã bắt đầu chuyểnmạnh sang nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức ở nước ta, yêu cầu đó cũng đã đượcnhiều nhà giáo dục đề nghị đưa vào như là một nội dung quan trọng của một triết lýgiáo dục cho nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Xuấtphát từ những yêu cầu xã hội đối với sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ, từnhững đặc điểm của nội dung mới và từ bản chất của quá trình học tập buộc chúng
ta phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tư duy sángtạo, năng lực giải quyết vấn đề, các kỹ năng cho học sinh
Theo cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Giáo dục ở nhà trường điều chủ yếukhông phải là rèn trí nhớ mà là rèn trí thông minh” Sản phẩm của giáo dục và đàotạo là tạo ra lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, có kỹ năng, có phẩm chấtđạo đức góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.Việc học tập tự giác tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức
về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực trong thúc đẩy bản thân họ tư duy để
Trang 6đạt được mục tiêu đó Để việc học tập của học sinh có hiệu quả thì giáo viên cần rènluyện cho học sinh các phương pháp và học sinh cần phải biết cách vận dụng các kỹnăng vào quá trình học tập Một trong các kỹ năng góp phần quan trọng trong việckhắc sâu kiến thức, rèn trí nhớ và trí thông minh cho học sinh là kỹ năng so sánh.
Kỹ năng này giúp học sinh tìm ra được những điểm giống và khác nhau giữa cáckhái niệm, các hiện tượng Kỹ năng so sánh có thể được rèn luyện trong tất cả cácmôn học nói chung và môn hóa học nói riêng
Việc bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, các
kỹ năng, trong hoạt động dạy học hóa được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuynhiên, việc bồi dưỡng tư duy bằng kỹ năng so sánh thông qua dạy học hóa học ởtrường trung học phổ thông thì chưa khai thác và đi sâu vào nghiên cứu cụ thể Vì
vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn này là: “Các biện pháp rèn
luyện kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông”.
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định những biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh có tính phương phápluận và hệ thống bài tập cần khai thác để phát triển kỹ năng so sánh nhằm phát triểnnăng lực tư duy cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra cơ bản tình hình sử dụng kỹ năng so sánh trong dạy học ở phổthông của học sinh và giáo viên
- Xây dựng hệ thống các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy họchóa học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những nội dung mang tínhphương pháp luận và hệ thống bài tập để khai thác Đối chiếu kết quả thực nghiệmvới kết quả điều tra ban đầu, rút ra kết luận về khả năng ứng dụng những nội dung
và biện pháp đã nêu ra vào quá trình dạy học hóa học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học ở trường phổ thông
Trang 74.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh và sử dụng bài tập đểrèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa hóa học trung học phổ thông
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.3 Phương pháp thống kê toán học
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, nếu người giáo viên có một hệ thống phương phápluận đúng đắn về các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh và xây dựngmột hệ thống bài tập có nội dung thích hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả dạy học hóahọc ở trường phổ thông, giúp học sinh khắc sâu các kiến thức đã học
7 Giới hạn của đề tài
Đề tài giới hạn nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh trongphạm vi chương trình hóa học trung học phổ thông
8 Những đóng góp của đề tài
- Tổng quan những cơ sở lý luận về kỹ năng so sánh và ứng dụng kỹ năng sosánh trong dạy học hóa học
- Làm rõ thực trạng sử dụng kỹ năng so sánh ở trường phổ thông
- Xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học
- Xây dựng hệ thống bài tập sử dụng để rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạyhọc hóa học
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tư duy và việc phát triển tư duy cho học sinh
1.1.1 Khái niệm tư duy và tư duy hóa học
1.1.1.1 Khái niệm tư duy
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đemnhững cảm giác của con người sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vậtchất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa,
Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cáchđặc biệt - bộ não người - tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạngcác khái niệm, sự phán đoán, lý luận v.v
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệtđối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất.Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạtđộng và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tự biện mà thôi" KarlMarx nhận xét: "Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóadưới tên gọi "ý niệm" là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bềngoài của ý niệm"
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vậtchất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: "Vậnđộng kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào
và được cải tạo/tái tạo trong đầu óc con người duới dạng một sự phản ánh" Nhữngluận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của Ivan Petrovich Pavlov,nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga Bằng các thí nghiệm tâm - sinh lý áp dụngtrên động vật và con người, ông đi đến kết luận: "Hoạt động tâm lý là kết quả củahoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc"
Ví dụ: Khi chúng ta phải làm một bài tập toán, chúng ta phải đọc kỹ để tìmhiểu đề bài, phải đánh giá về dạng toán, các dữ kiện đã cho, các yêu cầu cần phảigiải đáp, sau đó phải tìm phương pháp giải, các công thức, các định lý cần ápdụng nghĩa là chúng ta cần phải tư duy trước khi làm bài
Trang 9Những quá trình tư duy, dù nhanh hay chậm, dù nhiều hay ít, dù nông cạnhay sâu sắc đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ương Chúng không diễn
ra trong mắt hay trong tim Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh Hay tư duy làmột hoạt động của hệ thần kinh
Một thực tế hiện nay là chưa có một định nghĩa về tư duy mang tính kháiquát thể hiện đầy đủ tính chất, đặc điểm, vai trò của tư duy Ăng - ghen là ngườinghiên cứu rất sâu sắc về tư duy nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về tư duy.Những điều này làm hạn chế năng lực tư duy (bởi chưa hiểu về tư duy) mặc dù đã
có nhiều công trình nghiên cứu về phát huy năng lực tư duy
Trước hết cần khẳng định rằng tư duy là một hình thức hoạt động của hệthần kinh Khẳng định điều này để giới hạn việc nghiên cứu về tư duy Tư duykhông có trong các loài thực vật, không có ở ngọn núi, mỏm đá hay dòng sông,cũng không ở ngoài hệ thần kinh và có thể chỉ trong một số hệ thần kinh và chỉ ởtrung ương thần kinh
Tư duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiệnghi nhớ Tư duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự địnhhướng điều khiển hay định hướng hành vi Tư duy cũng không phải là giấc mơ mặc
dù nó có thể xuất hiện trong một số giấc mơ và có những điểm giống với giấc mơ
Tư duy không có ở ngoài hệ thần kinh Tư duy là một hình thức hoạt động của hệthần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ đượcchọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xungquanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống Tư duy là sự hoạtđộng, là sự vận động của vật chất, do đó tư duy không phải là vật chất Tư duy cũngkhông phải là ý thức bởi ý thức là kết quả của quá trình vận động của vật chất
Theo M N Sacdacop: “Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật vàhiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chấtcủa chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật và hiện tượng mới,riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hoá đã thu nhận được”
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ và quy luật bên trong của sự vật hiện tượng trong hiện thựckhách quan mà trước đó ta chưa biết Tư duy là một mức độ nhận thức mới về chất
so với cảm giác và tri giác
Trang 101.1.1.2 Tư duy trong dạy học hóa học
Trong thế kỉ XXI, nhiều thay đổi trong giáo dục trên thế giới đã ảnh hưởngđến nền giáo dục Việt Nam Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, cách dạy và cáchhọc cũng thay đổi Việc nhớ tất cả các kiến thức là không thể, vậy cách học ở đâykhông còn đơn thuần học kiến thức cơ bản mà còn là học cách học, học cách tư duy
I N Tônxtôi đã viết: “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thànhquả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ” Như vậy, trong quátrình học thì cái mà học sinh lĩnh hội được chính là cách tư duy, cách tư duy sẽ cònlại trong mỗi người học trong khi kiến thức có thể bị quên đi trong trí nhớ Qua quátrình tư duy con người ý thức nhanh chóng, chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mụcđích cần đạt được và con đường tối ưu đạt được mục đích đó Khi có kĩ năng tư duythì người học có thể vận dụng để nghiên cứu các đối tượng khác Điều cần thiếttrong tư duy là nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng từ đó vận dụng vào cáctình huống khác nhau một cách sáng tạo Thông qua hoạt động tư duy người học cóthể phát hiện ra vấn đề và đề xuất hướng giải quyết cũng như biết phân tích, đánhgiá các quan điểm, các phương pháp, lí thuyết của người khác, đưa ra ý kiến chủquan, nêu ra lí do, nội dung để bảo vệ ý kiến của mình
Qua quá trình dạy học hóa học, học sinh có thể được trang bị và rèn luyện 6loại tư duy:
- Tư duy độc lập: Trong hóa học, tư duy độc lập đối với học sinh là rất cần
thiết, học sinh có thể rèn tư duy độc lập khi được thực hiện các nhiệm vụ vừa sứcvới mình Điều này dễ gây hứng thú đối với học sinh đồng thời tạo điều kiện chohọc sinh nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá trình nhậnthức Dạy học theo mođun hoặc dạy học theo dự án cũng là cách mà giáo viên rèncho học sinh cách tư duy độc lập
Khi dạy một số vấn đề trong chương trình hóa học phổ thông mà những bàihọc này mang tính giới thiệu thực tế hay mở rộng như “Chu trình nitơ trong tựnhiên”, “Phân bón hóa học”, “Công nghiệp Silicat”, “Khái niệm về tecpen” (SGK
11 nâng cao)… giáo viên có thể cho học sinh về nhà tự tìm hiểu, lấy mẫu vật, hìnhảnh, phản ứng hoặc phương trình hóa học để chứng minh những nhận định củachính học sinh trong quá trình tìm hiểu bài
Trang 11- Tư duy logic: Tư duy logic là một trong những kĩ năng không thể thiếu
trong lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên Đối với môn hóa học, việc rèn tư duylogic cho học sinh còn là nhiệm vụ quan trọng Thông qua các bài tập hóa học, họcsinh được rèn luyện tư duy logic, điều này được thể hiện rất rõ
Ví dụ khi giải quyết bài tập: Cho hỗn hợp hai kim loại Fe và Al vào dungdịch CuSO4 Sau phản ứng hoàn toàn thu được chất rắn A và hỗn hợp B gồm 2muối Hãy xác định các chất có trong A
Ở trong bài toán trên, chắc chắn trong B phải có muối Al2(SO4)3, muối kiaphải là FeSO4 vì nếu là muối CuSO4 thì sẽ bị Fe phản ứng tiếp Như vậy trong Akhông thể có Al vì khi Fe tan thì Al đã hết Vậy trong A chắc chắn có Cu được tạothành và có thể có Fe còn dư
Một ví dụ khác là khi học sinh học về bảng tuần hoàn, khi nắm được các quyluật của bảng tuần hoàn thì học sinh có thể vận dụng từ vị trí – cấu tạo – tính chất
- Tư duy trừu tượng: Với trình độ của khoa học ngày nay, các nguyên tử
chưa được nhìn thấy bằng mắt, vậy làm sao để có thể mô tả được các hiện tượngxảy ra trong hóa học bằng bản chất của các hiện tượng đó Tư duy trừu tượng được
sử dụng như một công cụ đắc lực hỗ trợ cho quá trình nhận thức Qua tư duy trừutượng, đám mây electron được mô tả bằng các obitan nguyên tử, các phân tử liênkết với nhau được mô tả bằng công thức hóa học, quá trình diễn ra trong phản ứnghóa học được mô tả bằng các phương trình hóa học, sự cho nhận electron được mô
tả bằng các quá trình oxi hóa, khử
Với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trình tạo tư duy trừu tượngcho học sinh được dễ dàng hơn Ví dụ: phản ứng hóa học được mô hình hóa trênmàn hình máy tính, quá trình tan của tinh thể muối ăn được mô tả bằng hình ảnhtrực quan, các cơ chế được dựng thành phim hoạt hình… Có thể nói, phát triển
tư duy trừu tượng cho học sinh là một việc quan trọng, làm thế nào để học sinh
tư duy đúng bản chất của hiện tượng, của quá trình là điều quan trọng Khi đãđược trang bị kĩ năng này, môn hóa học đối với học sinh sẽ trở nên rõ ràng hơn,
dễ học hơn
- Tư duy biện chứng: Môn hóa học là một bộ môn khoa học mang tính thực
tiễn cao, nó mô tả các tất yếu khách quan các hiện tượng dưới góc độ hóa học Tất
Trang 12cả các hiện tượng đều xảy ra trong một quy luật biện chứng Vậy rèn tư duy biệnchứng cho học sinh cũng là nhiệm vụ của môn hóa học Thông qua thuyết cấu tạonguyên tử, học sinh được biết là vật chất được cấu tạo từ những thành phần giốngnhau, được sắp xếp khác nhau nên có tính chất khác nhau Như vậy giữa kim loại vàphi kim có tính chất đối lập nhưng lại thống nhất với nhau trong cấu tạo Từ cấu tạolớp vỏ electron cho thấy, không có sự đứng yên, chỉ có sự chuyển động Các kiếnthức về định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn electron, bảo toàn điệntích, bảo toàn nguyên tố cho thấy “vật chất không tự sinh ra cũng không tự mất đi”.Định luật tuần hoàn của Mendeleev cho thấy quy luật sự biến đổi về lượng dẫn đến
sự biến đổi về chất, quy luật bước nhảy… Rất nhiều kiến thức cho thấy sự vận động
và biến đổi của vật chất nằm trong các quy luật của phép biện chứng
- Tư duy phê phán: Trong học tập, tư duy phê phán sẽ giúp cho người học
luôn tìm ra được hướng đi mới trong suy nghĩ và hành động, tránh rập khuôn, máymóc Khoa học luôn phát triển theo quy luật phủ định của phủ định, tuy nhiên luôn
có tính kế thừa để phát triển
- Tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo là một hình thức tư duy cao nhất trong
quá trình tư duy, việc tư duy sáng tạo giúp cho người học không gò bó trong khônggian tri thức của người thầy đặt ra
1.1.2 Đặc điểm của tư duy
Có 4 đặc điểm:
- Tính có vấn đề: Tư duy ở con người cụ thể chỉ nảy sinh khi cá nhân gặptình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống chưa có đáp số nhưngđáp số đã tiềm ẩn bên trong tình huống chứa những điều kiện giúp ta tìm những đáp
số đó Tình huống có hai mặt: khách quan và chủ quan Muốn tình huống có vấn đềkích thích được ta tư duy thì tình huống có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy
đủ và chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân (nghĩa là cá nhân phải xác địnhđược cái gì đã biết, đã cho, cái gì chưa biết, cần phải đi tìm)
- Tính gián tiếp: trong quá trình tư duy con người sử dụng các phương tiện,công cụ khác nhau để nhận thức về sự vật, hiện tượng Mặt khác tư duy được phảnánh bằng ngôn ngữ
- Tính trừu tượng hóa và khái quát hóa:
Trang 13+ Tính trừu tượng hóa: là khả năng con người dùng trí óc để gạt bỏ nhữngliên hệ, những mặt, những thuộc tính không cần thiết mà chỉ giữ lại yếu tố cần thiết
tư duy mang tính gián tiếp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, mối liên hệ giữa tư duy
và ngôn ngữ là mối liên hệ biện chứng, nó là mối liên hệ giữa nội dung và hìnhthức Tư duy bao giờ cũng liên hệ gắn bó mật thiết với nhận thức cảm tính Nhậnthức cảm tính là cửa ngõ của tư duy liên hệ với thế giới bên ngoài, nhận thức cảmtính cung cấp chất liệu cho tư duy và cuối cùng toàn bộ sản phẩm của tư duy đượckiểm nghiệm trong hoạt động thực tiễn
1.1.3 Các giai đoạn của tư duy
Gồm 5 giai đoạn:
- Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề: Tư duy ở mỗi cá nhân chỉ nảy sinh khi
cá nhân gặp tình huống có vấn đề, nhận thức được vấn đề nghĩa là xác định đượcnhiệm vụ tư duy và biểu đạt nó một cách chính xác
- Huy động các tri thức, kinh nghiệm có liên quan đến vấn đề đã được xácđịnh nghĩa là làm xuất hiện trong đầu những liên tưởng nhất định Việc huy độngnhững tri thức, kinh nghiệm làm sống lại những liên tưởng nào mà cần và khai thácchúng theo hướng nào, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệm vụ tư duy đã đặt ra
- Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết: những tri thức, những liêntưởng đầu tiên được xuất hiện ở giai đoạn trên còn mang tính chất rộng rãi, baotrùm chưa phân biệt và khu hóa kỹ càng cho nên chúng thường được sàng lọc, lựachọn kỹ càng cho phù hợp nhất với nhiệm vụ tư duy đã đặt ra Giả thuyết là mộtcách giải quyết có thể của nhiệm vụ tâm lý
- Kiểm tra giả thuyết: việc kiểm tra giả thuyết có thể diễn ra trong đầu haytrong hoạt động thực tiễn, kết quả của việc kiểm tra có thể dẫn đến sự khẳng định,phủ định hoặc chính xác hóa giả thuyết đã nêu Nếu giả thuyết bị phủ định thì mộtquá trình tư duy mới lại bắt đầu hoạt động
Trang 14- Giải quyết nhiệm vụ tư duy: đây là khâu cuối cùng của hoạt động tư duy.Khi giả thuyết đã được xác định và chính xác hóa thì nó được thực hiện tức là điđến câu trả lời cuối cùng cho vấn đề đã được đặt ra.
1.1.4 Các loại hình tư duy
Nhân loại đã đặt cho tư duy rất nhiều loại hình tư duy như tư duy lôgic, tưduy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoahọc, tư duy triết học v.v Về bản chất, tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thànhmới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ Sự phân chia ra các loạihình tư duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệthần kinh Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây
1.1.4.1 Phân loại theo cách thể hiện
Phân loại theo cách thể hiện được chia ra thành tư duy bằng hình tượng và tưduy bằng ngôn ngữ Tư duy bằng hình tượng gồm có sự tư duy hình ảnh, âm thanh
Tư duy hình tượng còn được gọi bằng cái tên khác là tưởng tượng Tư duy bằngngôn ngữ là tư duy bằng hệ thống tiếng nói Tư duy bằng ngôn ngữ còn được gọi làsuy nghĩ, nhiều khi tư duy ngôn ngữ cũng được gọi là tưởng tượng Trong tư duyhình tượng, các phần tử xuất hiện trong quá trình tư duy là các hình ảnh, còn tư duyngôn ngữ là các lời văn Các hoạ sỹ tưởng tượng về bố cục, các hình ảnh, màu sắccho một bức tranh sẽ vẽ Nhà văn tưởng tượng về các khung cảnh mà nhân vật hoạtđộng, suy nghĩ (hay tưởng tượng) về lời thoại của nhân vật, nhà hiền triết suy nghĩ
về những điều mình sẽ nói Tư duy hình tượng có tính phổ biến cao hơn tư duyngôn ngữ Các con chó hoang nhìn hành vi của con đầu đàn là biết được con đầuđàn chọn con mồi nào trong đàn linh dương Tư duy ngôn ngữ chỉ có ở loài ngườibởi chỉ có loài người có tiếng nói (và chữ viết)
1.1.4.2 Phân loại theo cách vận hành
- Tư duy kinh nghiệm: Kinh nghiệm bao hàm toàn bộ mọi sự hiểu biết, mọicách ứng xử mà một cá nhân tiếp thu được trong cuộc đời Kinh nghiệm có thể do
cá nhân tự rút ra được trong quá trình hoạt động của mình hoặc do tiếp thu từ ngườikhác Mọi tri thức của nhân loại cũng là kinh nghiệm bởi chúng được rút ra từ quátrình phát triển của loài người với mức độ cô đọng, sâu sắc Tư duy kinh nghiệm là
sự vận dụng kinh nghiệm vào một quá trình nhận thức mới hay thực hiện một công
Trang 15việc mới, thực hiện một công việc cũ trong điều kiện hoặc hoàn cảnh mới Tư duykinh nghiệm xem xét, đánh giá các sự vật, sự việc mới theo những cách thức có sẵn,
cố gắng đưa sự nhận thức những sự vật, sự việc đó về những cái đã biết và do đóthường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc, vấn đề có nhiều sựkhác lạ Tư duy kinh nghiệm dễ tạo nên các đường mòn tư duy và tạo thành các thóiquen trong tư duy Tư duy kinh nghiệm có thể làm thay đổi sự vật, sự việc, vấn đề
về quy mô, hình dạng, địa điểm, thời gian nhưng không làm thay đổi tính chất củachúng, nói cách khác nếu tư duy có thể làm thay đổi được cái gì đó thì sự thay đổichỉ có về mặt lượng chứ không thay đổi về chất Tư duy kinh nghiệm là sự giảiquyết các vấn đề hiện tại theo những khuôn mẫu, cách thức đã biết với một vài biếnđổi nào đó cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại Tư duy kinh nghiệm vận hành trên
cơ sở các liên kết thần kinh được tạo do tác động từ bên ngoài do đó năng lực tưduy phụ thuộc vào lượng kinh nghiệm tích lũy và phương pháp tác động tạo liên kếtghi nhớ Khi lượng kinh nghiệm còn ít, các liên kết ghi nhớ chỉ được thực hiệntrong từng vấn đề, sự vật, sự việc, đối tượng thì tư duy kinh nghiệm mang tính máymóc, giáo điều, lặp lại mọi cái đã được ghi nhớ, thực tế trường hợp này có thể coi làchưa có tư duy mặc dù hệ thần kinh thực hiện hoạt động tái hiện lại những cái đãghi nhớ Sự tích lũy nhiều kinh nghiệm giúp cho việc tìm ra cách giải quyết các vấn
đề hiện tại nhanh hơn và giải quyết được nhiều vấn đề hơn Trong một số trườnghợp sự phản ứng nhanh của hệ thần kinh tích lũy nhiều kinh nghiệm dễ bị nhầm với
sự thông minh hay thông thái Trường hợp này xảy ra khi tại địa điểm và thời gian
đó không còn ai ngoài người giải quyết được vấn đề có đủ kinh nghiệm Tư duykinh nghiệm chỉ là sự chấp nhận và sử dụng các kinh nghiệm đã có
- Tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo cũng có yêu cầu về sự tích lũy kinhnghiệm hay tích lũy tri thức Nhưng tư duy sáng tạo vận hành không hoàn toàn dựatrên các liên kết ghi nhớ được hình thành do các tác động từ bên ngoài mà có nhiềuliên kết do hệ thần kinh tự tạo ra giữa các vấn đề, các sự vật, sự việc tác động riêng
rẽ lên hệ thần kinh Tư duy sáng tạo tìm ra cách giải quyết vấn đề không theo khuônmẫu, cách thức định sẵn Trong tư duy kinh nghiệm, để giải quyết được vấn đề đòihỏi người giải quyết phải có đủ kinh nghiệm về vấn đề đó, còn trong tư duy sáng tạochỉ yêu cầu người giải quyết có một số kinh nghiệm tối thiểu hoặc có kinh nghiệm
Trang 16giải quyết những vấn đề khác Tư duy sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giảiquyết vấn đề này cho những vấn đề khác Người chỉ có tư duy kinh nghiệm sẽ lúngtúng khi gặp phải những vấn đề nằm ngoài kinh nghiệm, còn người có tư duy sángtạo có thể giải quyết được những vấn đề ngoài kinh nghiệm mà họ có Tư duy sángtạo tạo nên các kinh nghiệm mới trên các kinh nghiệm cũ và do đó làm phong phúthêm kinh nghiệm, nó tạo nên sự thay đổi về chất cho các vấn đề, sự vật, sự việc mà
nó giải quyết Biểu hiện của tư duy sáng tạo là sự thông minh, dám thay đổi kinhnghiệm Tư duy sáng tạo góp phần tạo nên kinh nghiệm
- Tư duy trí tuệ: Tư duy trí tuệ cũng vận hành giống tư duy sáng tạo nhưng ởmức độ cao hơn… Tư duy trí tuệ được vận hành trên cơ sở các liên kết ghi nhớ làkhông bền và các phần tử ghi nhớ có phổ tiếp nhận kích thích thần kinh rộng Liênkết ghi nhớ không bền khiến cho các con đường tư duy cũ dễ bị xoá, phổ tiếp nhậnkích thích thần kinh rộng khiến cho các phần tử ghi nhớ có thể được kích hoạt bởicác kích thích thần kinh từ các phần tử không nằm trong cùng liên kết ghi nhớ trước
đó và vì vậy hình thành nên các con đường tư duy mới Nếu như tư duy kinhnghiệm đi theo những con đường cho trước, quá trình tư duy chỉ mang tính chỉnhsửa, uốn nắn con đường đó cho phù hợp với hoàn cảnh mới thì tư duy sáng tạo cónhiều con đường để đi hơn và tư duy trí tuệ hoặc không thể đi được do các conđường cũ bị xoá, hoặc tạo nên các con đường mới cho tư duy Tư duy kinh nghiệmchỉ tìm ra được một cách giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo có nhiều cách giải quyết
và chọn lấy cách giải quyết tốt nhất, còn tư duy trí tuệ tạo ra con đường mới Tưduy kinh nghiệm giải quyết vấn đề mới bằng kinh nghiệm cũ, tư duy sáng tạo giảiquyết vấn đề cũ bằng kinh nghiệm mới hoặc kết hợp giữa cũ và mới, tư duy trí tuệgiải quyết mọi vấn đề bằng các cách thức mới do tư duy tìm ra Tư duy kinh nghiệmtương ứng với phương thức hoạt động phản ứng của hệ thần kinh, tư duy sáng tạoxuất hiện trong phương thức hoạt động sáng tạo, còn tư duy trí tuệ xuất hiện trongphương thức hoạt động trí tuệ Tư duy trí tuệ không đi theo kinh nghiệm đã có màphát triển theo những con đường mới và do đó nó sẽ tìm thấy nhiều vấn đề mới.Lượng kinh nghiệm, tri thức tích lũy được là lớn nhưng nếu chỉ có tư duy kinhnghiệm thì kết quả của quá trình tư duy cũng chỉ quẩn quanh trong những điều đãbiết Sự thông thái trong tư duy kinh nghiệm chỉ là sự học thuộc sự thông thái của
Trang 17người khác Tư duy kinh nghiệm không tạo nên bản sắc riêng cho tư duy Trongnhiều trường hợp, tư duy kinh nghiệm mang tính chất của sự bảo thủ, giáo điều vàkhó hoặc không chấp nhận sự đổi thay, sự sáng tạo, các ý kiến khác hoặc ý kiến tráingược Một điều tệ hại hơn đó là có những người mà hệ thần kinh của họ có khảnăng ghi nhớ tốt, họ đã tiếp nhận được rất nhiều kinh nghiệm, tri thức và họ tự chomình đã ở đỉnh cao của tri thức nhân loại trong khi họ chỉ có năng lực tư duy kinhnghiệm, họ không thừa nhận sự đổi mới trong tư duy và lấy lượng tri thức mà họtích lũy được làm quyền lực để phủ định những kinh nghiệm, những tri thức mới,
họ làm chậm sự phát triển Tư duy trí tuệ vẫn dựa trên nền tảng các kinh nghiệm,các tri thức đã được bộ não ghi nhớ, nhưng với việc thiết lập các liên kết mới, tưduy trí tuệ thực hiện sự tổ chức lại tri thức, tạo nên những nhận thức mới vượt rangoài những kinh nghiệm, tri thức được tiếp nhận và đây là cái được gọi là tự ýthức Khi những nhận thức xuất hiện từ quá trình tự ý thức vượt lên trên những kinhnghiệm, những tri thức đã có và phù hợp với thực tiễn thì chúng trở thành tri thứcmới Tư duy trí tuệ tạo ra tri thức Nhưng tư duy trí tuệ không dựa trên cơ sở cácquy luật tự nhiên thì cũng có thể dẫn đến các sai lầm nghiêm trọng và biểu hiện rõnhất là các lập luận hoang tưởng
- Tư duy phân tích: Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, sự việc, vấn đề, sựkiện , gọi chung là các đối tượng, thành các thành phần để xem xét, đánh giá vềcác mặt cấu trúc, tổ chức, mối liên hệ giữa các thành phần, vai trò và ảnh hưởng củatừng thành phần trong các đối tượng và trên cơ sở các phân tích, đánh giá đó xácđịnh mối quan hệ và ảnh hưởng của đối tượng được phân tích tới các đối tượngkhác Tư duy phân tích là tư duy về một đối tượng, tìm các thành phần tham gia vàođối tượng, các mối liên kết, quan hệ giữa các đối tượng, xác định các đặc điểm, tínhchất, đặc trưng, vai trò của đối tượng trong mối quan hệ với các đối tượng khác (gọichung là các yếu tố) Với việc xác định các yếu tố của một đối tượng, tư duy phântích mang tính tư duy theo chiều sâu Mức độ sâu sắc của tư duy được đánh giá qua
số lượng các yếu tố mà tư duy phân tích tìm được
- Tư duy tổng hợp: Ngược với sự chia nhỏ đối tượng, tư duy tổng hợp tậphợp các yếu tố cùng loại, các yếu tố có liên quan với nhau cho đối tượng Sự phântích cho thấy tất cả hay phần lớn các yếu tố của đối tượng, nhưng vai trò của từng
Trang 18yếu tố trong những hoàn cảnh, những thời điểm khác nhau có thể thay đổi, có yếu tốchủ yếu và không thể thiếu, có yếu tố hỗ trợ, có yếu tố cần cho hoàn cảnh nàynhưng không cần cho hoàn cảnh khác Tư duy tổng hợp giúp đánh giá được các tínhchất đó của từng yếu tố thuộc đối tượng và xác định thành phần, đặc điểm, tính chấtcủa đối tượng phù hợp với hoàn cảnh hiện tại Tư duy tổng hợp được thực hiện khixem xét một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại những địa điểm và thời gian khácnhau, các đối tượng cùng dạng hoặc các đối tượng khác nhau Vì vậy tư duy tổnghợp cũng có thể được chia thành nhiều dạng và dẫn đến những kết quả khác nhau.
Tư duy tổng hợp thực hiện trên một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại nhiều địa điểmkhác nhau nhằm đánh giá được các yếu tố xuất hiện thường xuyên nhất và có vai tròchính của đối tượng Tư duy tổng hợp xem xét đánh giá sự giống và khác nhau giữacác đối tượng cùng dạng và qua đó xác định xem giữa chúng có mối liên hệ haykhông và nếu có là những mối liên hệ như thế nào Một đối tượng xuất hiện nhiềulần tại các địa điểm khác nhau nhiều khi cũng được xem xét như các đối tượng cùngdạng Tư duy tổng hợp thực hiện trên các đối tượng khác nhau là tư duy tìm kiếmcác mối quan hệ giữa các đối tượng đó hoặc tìm kiếm các yếu tố trong các đốitượng đó có thể hợp thành một đối tượng mới Tìm kiếm các mối quan hệ nhằmđánh giá sự ảnh hưởng, sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng Tìm kiếm các yếu
tố có thể và liên kết chúng lại với nhau trong những mối quan hệ nào đó tạo nênmột nhận thức mới về thế giới hoặc một phương thức hành động mới Sự liên kếtlôgic mang đến sự nhận thức đúng đắn về thế giới hoặc một phương thức hành động
có kết quả đúng đắn Sự liên kết không lôgic sẽ đem đến sự vô nghĩa, sự nhận thứcsai lầm hoặc phương thức hành động mang đến kết quả tiêu cực Tư duy tổng hợpphát triển đến trình độ cao sẽ có khả năng tóm tắt, khái quát hoá Khái quát hoá là
sự tóm lược đến mức cô đọng nhất các yếu tố cơ bản, các mối quan hệ chính của đốitượng nhưng không làm mất đi các tính chất của đối tượng, đối tượng không bị hiểusai Khái quát hoá có vai trò quan trọng khi các đối tượng có rất nhiều yếu tố cấuthành, có mối quan hệ phức tạp, lượng tri thức là quá lớn so với khả năng ghi nhớcủa bộ não Bộ não cần biết về sự tồn tại, vai trò và một số đặc điểm, tính chất củađối tượng, nếu ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của một đối tượng thì bộ nhớ của não sẽkhông còn đủ chỗ cho việc ghi nhớ về các đối tượng khác và do đó sẽ hạn chế một
Trang 19số khả năng tư duy Sử dụng thêm các phương pháp ghi nhớ ngoài để ghi nhớ đầy
đủ các yếu tố của đối tượng là sự hỗ trợ tốt cho tư duy
Trong các loại tư duy trên đây thì ba loại nêu trước mang tính cá thể, chúngthể hiện cho năng lực cá nhân và mang tính bẩm sinh Chúng không lệ thuộc vàokinh nghiệm hay lượng tri thức được tích lũy Kinh nghiệm và tri thức mà hệ thầnkinh tích lũy được chỉ là cơ hội cho chúng được thực hiện Hai loại tư duy sau vừachứa đựng yếu tố thuộc về cá nhân, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về môi trườngsống (và chủ yếu là môi trường văn hoá giáo dục) Yếu tố thuộc về cá nhân mangtính sinh học giống như ba loại tư duy trên nhưng thể hiện chủ yếu trên phương diệnliên kết các phần tử ghi nhớ các yếu tố của các đối tượng với hệ thống giác quan.Khi các phần tử nhớ có liên hệ trực tiếp với các giác quan thì chúng dễ được kíchhoạt bởi kích thích đến từ các giác quan Nếu chúng thuộc nhiều đối tượng khácnhau thì chúng sẽ được kích hoạt đồng thời Sự hoạt động này dễ tạo ra các mối liên
hệ giữa các đối tượng khác nhau và quá trình tư duy dựa trên các liên kết này sẽ trảiqua nhiều đối tượng, xem xét trên nhiều đối tượng và tư duy tổng hợp hình thành.Nếu các yếu tố của đối tượng không có liên hệ trực tiếp với các giác quan và chúngchỉ được kích hoạt bởi các phần tử ghi nhớ mới khác thì khi có một yếu tố của đốitượng được kích hoạt, các yếu tố khác trong cùng đối tượng hoặc các yếu tố có quan
hệ trong các đối tượng khác được kích hoạt Đây là quá trình tư duy phân tích bởi
nó được thực hiện chủ yếu trên một đối tượng Ảnh hưởng của môi trường thể hiệnqua phương thức tích lũy kinh nghiệm, tích lũy tri thức trong hệ thần kinh, nếuphương thức tích lũy tạo ra liên kết giữa các yếu tố của cùng đối tượng hoặc các yếu
tố khác có liên quan thì dẫn đến khả năng tư duy phân tích, còn nếu phương thứctích lũy tạo ra các liên kết giữa các đối tượng khác nhau thì dẫn đến khả năng tư duytổng hợp
1.1.4.3 Phân loại theo tính chất
- Tư duy rộng hay hẹp (còn gọi là tư duy theo chiều rộng hay tư duy theodiện): được đánh giá qua số lượng các đối tượng, các vấn đề, các sự vật, sự việckhác nhau được đề cập trong một quá trình tư duy Tính chất rộng hẹp của tư duycho thấy mức độ xem xét đối tượng tư duy trong mối quan hệ với các đối tượngkhác, trong các môi trường khác là nhiều hay ít Đối tượng được xem xét kỹ càng
Trang 20hơn, đánh giá đúng đắn hơn về sự cân đối, hài hòa với các đối tượng khác, với môitrường khi tư duy tìm được càng nhiều các đối tượng có quan hệ tương hỗ với nó.
Tư duy rộng cũng làm cho việc tiếp nhận những tri thức, kinh nghiệm mới, những
sự thay đổi trong tư duy trở nên dễ dàng, tính sáng tạo dễ được thực hiện Điều kiện
để có tư duy rộng là hệ thần kinh phải được tiếp nhận tri thức về rất nhiều đối tượngkhác nhau và phải tạo được những mối liên hệ giữa các đối tượng đó Một đối tượng
có thể phát huy hay hạn chế một số đặc điểm, tính chất, vai trò nào đó trong một sốmối quan hệ với các đối tượng khác Vì vậy khi cần phát huy hay hạn chế một sốyếu tố nào đó của đối tượng, có thể đặt đối tượng vào những mối quan hệ tươngứng Nếu tư duy chỉ xác định được một số mối quan hệ nào đó (tư duy hẹp) thì đốitượng chỉ có thể phát huy hoặc bị hạn chế một số yếu tố tương ứng
- Tư duy sâu hay nông: Loại tư duy này được đánh giá qua số lượng các yếu
tố của một hay một nhóm đối tượng có liên quan trực tiếp được đề cập đến trongquá trình tư duy Tư duy càng sâu khi các yếu tố của đối tượng được đề cập đếncàng nhiều và khi đó đối tượng sẽ trở nên rõ ràng hơn, đầy đủ hơn trong nhận thức
và ý thức, đối tượng được hiểu rõ hơn và đúng hơn Tính chất tư duy sâu hay nôngđược thực hiện trên một hoặc một nhóm đối tượng, vì vậy tính chất này cũng đượcgọi là tư duy theo chiều sâu và có các khái niệm tư duy nông cạn hay sâu sắc và vaitrò của tư duy cũng được thể hiện trong từng trường hợp cụ thể Tư duy theo chiềusâu chịu ảnh hưởng của phương pháp thiết lập các mối liên kết thần kinh Nếu liênkết thực hiện chủ yếu giữa các yếu tố của đối tượng thì tư duy càng sâu khi có nhiềuyếu tố được liên kết với nhau Kích thích thần kinh được di chuyển từ các phần tửghi nhớ này đến phần tử ghi nhớ khác trong não mà không cần có nhiều kích thíchđến từ hệ thống cảm giác Tư duy theo chiều sâu tạo nên sự tập trung trong tư duy
- Tư duy lôgic: Tư duy lôgic là tư duy về mối quan hệ nhân quả mang tính tấtyếu, tính quy luật Vì vậy các yếu tố, đối tượng (gọi chung là các yếu tố) trong tưduy lôgic bắt buộc phải có quan hệ với nhau, trong đó có yếu tố là nguyên nhân, làtiền đề, yếu tố còn lại là kết quả, là kết luận
- Tư duy phi lôgic: Tư duy phi lôgic là tư duy không dựa trên các mối quan
hệ giữa các yếu tố của đối tượng hoặc giữa các đối tượng Các yếu tố không thuộcđối tượng nhưng được gán cho đối tượng, các đối tượng không có quan hệ với nhau
Trang 21bị buộc cho những quan hệ nào đó và ngược lại những yếu tố thuộc đối tượng lại bịtách khỏi đối tượng, một số mối quan hệ tất yếu giữa các đối tượng bị cắt bỏ Tưduy phi lôgic có nguồn gốc từ sự lôgic của tư duy Lôgic của tư duy là sự kết nối cónhững biểu hiện của lôgic Lôgic của tư duy xuất hiện khi sự trùng lặp xuất hiệnnhiều lần Nếu sự trùng lặp mang tính quy luật thì tư duy theo sự trùng lặp này là tưduy lôgic Nhưng nếu sự trùng lặp là kết quả của những quá trình riêng rẽ và khôngảnh hưởng đến nhau thì tư duy sẽ là phi lôgic nếu tư duy gán cho các quá trình nàynhững mối quan hệ Đây là hậu quả của sự xuất hiện các liên kết thần kinh giữa cácphần tử nhớ cùng được hình thành tại một thời điểm hoặc đang cùng được kích hoạthoặc có những yếu tố để chúng dễ dàng liên kết với nhau Tư duy phi lôgic xéttrong một số giới hạn hay trường hợp cụ thể cũng biểu hiện đầy đủ tính chất của tưduy lôgic, do đó chúng tạo khó khăn khi phân biệt chúng với tư duy lôgic
- Tư duy đơn giản hay phức tạp: Tính đơn giản hay phức tạp biểu hiện ở sốlượng các yếu tố, các đối tượng, các mối quan hệ, các mối liên kết xuất hiện trongmột quá trình tư duy Số lượng càng lớn thì quá trình tư duy càng phức tạp Tínhchất này biểu hiện cho khả năng tư duy của cá nhân và phụ thuộc vào hai yếu tố:phương thức hoạt động thần kinh và số lượng các yếu tố, các đối tượng, kinhnghiệm, tri thức mà bộ não ghi nhớ được Với cùng một lượng tri thức được ghinhớ, hệ thần kinh hoạt động trí tuệ sẽ có tư duy phức tạp hơn bởi nó có thể tạo ranhiều liên kết thần kinh hơn so với hệ thần kinh có phương thức phản ứng thầnkinh Nhưng nếu lượng tri thức thấp thì tư duy trí tuệ cũng không thể có được tưduy tốt Tính phức tạp nói chung là biểu hiện của tư duy tốt, nhưng nếu phức tạpdẫn đến tình trạng không thể trình bày hay thể hiện ra được thì cũng không hay bởi
sẽ không có ai hiểu và tiếp nhận được quá trình tư duy đó
- Tư duy lý luận: Nếu tư duy lôgic xem xét các đối tượng trong mối quan hệnhân quả, một chiều từ nguyên nhân tới kết quả thì tư duy lý luận xem xét mọinguyên nhân dẫn đến cùng một kết quả và ngược lại, từ kết quả tìm đến các nguyênnhân, xem xét ảnh hưởng của sự kết hợp các nguyên nhân tới kết quả Tư duy lýluận chỉ ra mọi yếu tố đã có và có thể có của đối tượng, chỉ ra các mối quan hệ đã
có và có thể có giữa các đối tượng Tư duy lý luận xem xét đối tượng trên mọi góc
độ, mọi khía cạnh và theo chiều sâu của đối tượng Tư duy lôgic có thể được thể
Trang 22hiện bằng hình ảnh hoặc bằng lời văn, còn tư duy lí luận chỉ được thể hiện bằng lờivăn Tư duy lý luận là sự phát triển cao nhất của các quá trình tư duy.
1.1.4.4 Phân loại theo nội dung
Phân loại theo nội dung là phân loại dựa trên các nội dung, phương pháp,phạm vi tư duy và các điều kiện về tư duy Theo cách phân loại này, tư duy có rấtnhiều loại và cũng không khó cho việc đặt tên Dưới đây là một số loại:
- Tư duy khoa học: Tư duy khoa học là tư duy có mục đích đảm bảo sự chínhxác, hợp với các quy luật tự nhiên và dựa trên các chứng cứ xác thực Vì vậy tư duykhoa học là tư duy lôgic biện chứng duy vật Yêu cầu đối với tư duy khoa học là cáckết luận của tư duy khoa học phải kiểm chứng được và được kiểm chứng Khoa họcnghiên cứu sâu về từng hiện tượng, sự vật và các mối quan hệ trực tiếp, vì vậy tínhchất chủ yếu của tư duy khoa học là phân tích, hay đặc trưng của tư duy khoa học là
tư duy phân tích
- Tư duy nghệ thuật: Tư duy nghệ thuật là tư duy tìm kiếm mọi hình thức thểhiện của nội dung các sự vật, sự việc, các vấn đề, nói chung là nội dung của các đốitượng tư duy và tìm những cách thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất, đầy đủ nhất, ấntượng nhất của các nội dung đó Nếu nói chức năng của khoa học là tìm kiếm cácyếu tố, các mối quan hệ của đối tượng thì có thể nói khoa học đi tìm nội dung củacác đối tượng đó, còn nghệ thuật lại tìm kiếm các hình thức thể hiện của các đốitượng đó Sự tiến triển của lịch sử đã làm cho nghệ thuật chỉ tập trung vào chứcnăng tìm kiếm cách thể hiện ấn tượng nhất, nghĩa là thể hiện cái đẹp Hai thủ phápchính để nghệ thuật thể hiện cái đẹp là đặt cái đẹp lên vị trí cao nhất và đặt cái đẹpvào vị trí tương phản với cái xấu Tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật có mốiquan hệ chặt chẽ Nếu không tìm được nội dung thì nghệ thuật chẳng có gì để thểhiện, ngược lại nếu khoa học không biết cách để thể hiện những cái mà khoa họctìm ra thì chẳng ai có thể biết hoặc hiểu đó là cái gì và nó như thế nào Tư duy nghệthuật cũng còn liên quan đến nhiều loại hình tư duy khác
- Tư duy triết học: Tư duy xem xét các yếu tố, các đối tượng trên mọi mốiquan hệ, cả trực tiếp và gián tiếp Đặc trưng của tư duy triết học là tư duy tổng hợp.Yêu cầu đặt ra cho quá trình tư duy triết học là phải đặt các đối tượng tư duy trongmôi trường vận động của nó xem xét đồng thời nhiều đối tượng hoặc một đối tượng
Trang 23trong nhiều môi trường khác nhau để tìm ra cái chung nhất, mối quan hệ phổ biếnnhất giữa các đối tượng hoặc cái đặc trưng nhất của đối tượng Với đặc trưng của tưduy khoa học là phân tích và của tư duy triết học là tổng hợp, khoa học và triết họcngày nay có mối quan hệ khăng khít và bổ sung cho nhau trong quá trình nhận thứcthế giới (quan niệm này trước đây chưa có)
- Tư duy tín ngưỡng: tư duy tín ngưỡng là tư duy dựa trên niềm tin khôngdựa trên các cơ sở khoa học Niềm tin xuất hiện trên cơ sở những giải thích hợp lýtrong một phạm vi nào đó về các hiện tượng Có các niềm tin dựa trên các giảithích của khoa học và có các niềm tin không cần các cơ sở khoa học mà chỉ cầntạo nên một chỗ dựa tinh thần Loại niềm tin thứ hai này tạo nên tín ngưỡng Tìmchỗ dựa cho tư duy là nhu cầu của con người trước các nguy cơ đe dọa đến sự sinhtồn Khi khoa học chưa đủ sức hoặc chưa thâm nhập sâu vào đời sống của từng cánhân thì tất yếu tư duy phải tìm đến chỗ dựa tinh thần là tín ngưỡng Tư duy tínngưỡng chủ yếu nhằm đạt đến sự cân bằng trong đời sống tinh thần, giảm căngthẳng cho hoạt động thần kinh và không sử dụng được trong nghiên cứu khoa học.Nhưng nếu tư duy tín ngưỡng chuyển thành tư duy mê tín thì kết quả có thể làmcho hoạt động thần kinh trở nên căng thẳng Định hướng tư duy tín ngưỡng cũng
là một việc quan trọng
Cần phân biệt giữa các loại tư duy theo phân loại này với các lĩnh vực màchúng thực hiện Tư duy theo phân loại này, ngoài sự liên quan đến nội dung, nócòn có ý nghĩa về phương pháp Vì vậy có thể áp dụng loại hình tư duy này vào cáclĩnh vực khác, ví dụ có thể áp dụng tư duy triết học trong nghiên cứu khoa học vàngược lại Không bắt buộc loại tư duy nào thì chỉ thực hiện trong lĩnh vực đó Cóthể kết hợp nhiều loại hình tư duy để tìm được kết quả tốt nhất và nhanh nhất
1.1.5 Các thao tác tư duy
- Phân tích: “Là quá trình tách các bộ phận của sự vật, hiện tượng tự nhiên
của hiện thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ vàquan hệ giữa chúng theo một hướng xác định”
Xuất phát từ góc độ phân tích các hoạt động tư duy đi sâu vào bản chất thuộctính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và những kết luận khoa học Trong họctập hoạt động này rất phổ biến
Trang 24Ví dụ: Muốn giải một bài toán hóa học, phải phân tích các yếu tố dữ kiện từ
đó mới giải được
- Tổng hợp: “Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong
việc xác lập tính thống nhất của các phẩm chất, thuộc tính của các yếu tố trong một
sự vật nguyên vẹn có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất vàxác định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn đó,trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy đã thu được một sự vật vàhiện tượng nguyên vẹn mới”
Như vậy tư duy tổng hợp cũng được phát triển từ sơ đẳng đến phức tạp vớikhối lượng lớn Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tưduy Đây là hai quá trình có liên hệ biện chứng Phân tích để tổng hợp có cơ sở vàtổng hợp để phân tích đạt được chiều sâu bản chất hiện tượng sự vật Sự phát triểncủa phân tích và tổng hợp là đảm bảo hình thành của toàn bộ tư duy và các hìnhthức tư duy của học sinh
- So sánh: “Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện
tượng của hiện thực” Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ vai tròtích cực
Việc nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng không thể có nếu không tìm
ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật, hiện tượng
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật,hiện tượng là nội dung chủ yếu của thao tác tư duy so sánh Cũng như thao tác tưduy phân tích, thao tác tư duy tổng hợp thì thao tác tư duy so sánh có thể ở mức độđơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận xét), cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi
và phát triển
Trong dạy học nói chung và dạy học hoá học nói riêng thực tế sẽ đưa tớinhiều hoạt động tư duy đầy hứng thú Nhờ so sánh người ta có thể tìm thấy các dấuhiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật Ngoài ra còn tìm thấy nhữngdấu hiệu bản chất, không bản chất, thứ yếu của chúng
Ví dụ: So sánh tính khử của kim loại kiềm với các kim loại khác mức độ cụ thể
- Khái quát hoá: Khái quát hoá là hoạt động tư duy tách những thuộc tính
chung và các mối liên hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng tạo nên nhận thứcmới dưới hình thức khái niệm, định luật, qui tắc
Trang 25+ Khái quát hoá cảm tính: diễn ra trong hoàn cảnh trực quan, thể hiện ở trình
độ sơ đẳng
+ Khái quát hoá hình tượng, khái niệm: là sự khái quát cả những tri thức cótính chất khái niệm bản chất sự vật và hiện tượng hoặc các mối quan hệ không bảnchất dưới dạng các hình tượng hoặc trực quan, các biểu tượng Tư duy khái quáthoá là hoạt động tư duy có chất lượng cao, sau này khi học ở cấp học cao, tư duynày sẽ được huy động một cách mạnh mẽ vì tư duy khái quát hoá là tư duy lí luậnkhoa học
1.1.6 Vai trò của tư duy
Định nghĩa phía trên có thể còn chưa trọn vẹn nhưng đã hàm chứa được haivai trò quan trọng nhất của tư duy và một yêu cầu không thể thiếu đó là sự ghi nhớ
Sự ghi nhớ này là kinh nghiệm, là tri thức Sự ghi nhớ có thể được thực hiện bằngcách lặp lại sự tác động của đối tượng cần ghi nhớ lên hệ thần kinh Nhưng điều nàykhông thể thực hiện được với mọi đối tượng Hơn thế có nhiều đối tượng phức tạpvới nhiều thành phần, các thành phần có thể không tác động đồng thời, có thànhphần ẩn và còn có thể xuất hiện sự tác động của các đối tượng khác có hoặc khôngliên quan đến đối tượng đang ghi nhớ Điều này làm cho sự ghi nhớ về đối tượng làkhông đầy đủ hoặc lẫn với các đối tượng khác Tư duy trong ghi nhớ là trả về chođối tượng trong sự ghi nhớ các thành phần đúng của nó, bổ sung các thành phần cònthiếu, phân biệt nó với các đối tượng ghi nhớ khác, tìm ra các mối liên hệ và ảnhhưởng qua lại của đối tượng với các sự vật, sự việc, đối tượng khác Đây là quátrình nhận thức lý tính, nhận thức bằng tư duy Nó phân biệt với nhận thức cảm tính
là nhận thức không có tư duy Nhận thức lý tính giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ vềđối tượng nhiều hơn những cái mà đối tượng cung cấp cho sự ghi nhớ của hệ thầnkinh, đối tượng được hiểu sâu hơn, được xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kỹcàng hơn, được nhận thức đúng đắn hơn Tư duy bổ sung những cái còn thiếu trongquá trình hệ thần kinh ghi nhớ về đối tượng
Sau khi giúp hệ thần kinh nhận thức đúng về đối tượng, tư duy tiếp tục giúp hệthần kinh định hướng điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đối tượng nếu cầnthiết hoặc có yêu cầu Tư duy thực hiện việc này bằng cách kết hợp giữa nhận thức vềđối tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thức phản ứng hoặc hành vi Việc
Trang 26này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiện thực tế Sự định hướng của tư duykhông phân biệt tính đơn giản hay phức tạp của đối tượng Có việc đơn giản cũng đòihỏi phải tư duy như chọn lựa giữa việc sút hay chuyền bóng Nhưng cũng có nhữngviệc rất phức tạp như quản lý tài chính của một đơn vị kinh tế, mặc dù người thựchiện phải hao tổn trí óc nhưng cũng không được coi là có tư duy khi mọi công việcđều thực hiện theo những thủ tục, những quy trình, những văn bản pháp quy, nhữngmẫu biểu, công thức, những quy định cho trước Yêu cầu của những công việc phứctạp này là người thực hiện phải rèn luyện được kỹ năng làm việc thành thạo Để cóđược kỹ năng này thì họ phải học thuộc lòng và rèn luyện chu đáo, có thể họ phải sửdụng tư duy để nắm chắc được các yêu cầu thực hiện công việc Khi kỹ năng làmviệc chưa thành thục thì có thể phải có tư duy, nhưng khi kỹ năng làm việc đã thànhthục thì không cần tư duy nữa Tư duy định hướng đến sự thành thục Khi sự thànhthục đã có thì tư duy kết thúc Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thứcchưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc
1.1.7 Điều kiện của tư duy
Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện được tư duycần có những điều kiện Có các điều kiện cơ bản và điều kiện riêng cho từng loạihình tư duy
- Điều kiện cơ bản:
+ Hệ thần kinh phải có năng lực tư duy Đây là điều kiện tiên quyết, điềukiện về bản thể Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực hiện Nănglực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng tạo và trí tuệ Ba loạihình tư duy này mang tính bẩm sinh nhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinhtrưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ củachúng lại theo chiều hướng ngược lại Đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa nănglực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp là môi trường kinh nghiệm
+ Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức Đây làđiều kiện quan trọng Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tưduy không có cơ sở để vận hành Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho các quátrình tư duy khai thác, chế biến Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũngcần nhiều hơn Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển
Trang 27- Điều kiện riêng: Điều kiện riêng được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình
tư duy thực hiện được và thực hiện tốt nhất Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật
lý thì hệ thần kinh phải có các kiến thức về vật lý Muốn tư duy về lĩnh vực nào thìphải có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó Muốn có tư duy lý luận thì phải có sựkết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triết học…
Ngoài các điều kiện trên đây còn có các điều kiện yêu cầu buộc phải tư duy
và có phương pháp tư duy thích hợp Không ai muốn tư duy khi tư duy là gánh nặngcho hoạt động thần kinh trừ trường hợp tư duy là niềm vui, là khát khao sống của
họ Vì vậy để có tư duy cũng cần phải giao trách nhiệm thực hiện công việc cần tưduy Phương pháp tư duy kích thích sự hình thành quá trình tư duy và nâng cao hiệuquả tư duy Tư duy là một vấn đề phức tạp, nghiên cứu về tư duy cần nhiều thờigian và công sức
1.2 Cơ sở lý luận về kỹ năng so sánh
1.2.1 Kỹ năng
1.2.1.1 Khái niệm
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa nàythường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết.Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng
ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại mộthoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và địnhhướng rõ ràng Vậy: Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuầnthục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinhnghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
1.2.1.2 Phân biệt kỹ năng với phản xạ và thói quen
- Phân biệt kỹ năng và phản xạ: Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môitrường Phản xạ mang tính thụ động Kỹ năng ngược lại là phản ứng có ý thức vàhoàn toàn mang tính chủ động Ví dụ: Cùng là đám cháy, nếu theo phản xạ thì conngười có xu hướng bỏ chạy khỏi đám cháy, nhưng nếu là lính chữa cháy, đã đượcrèn luyện kỹ năng đấu tranh với lửa thì anh ta lại chạy lại đám cháy và dùng các kỹnăng để dập lửa
Trang 28- Phân biệt giữa kỹ năng và thói quen: Hầu hết các thói quen hình thành mộtcách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kỹ năng được hình thành một cách có
ý thức do quá trình luyện tập Ví dụ sau có thể minh họa về sự khác biệt đó Trongmột vụ cháy ở khu chung cư nọ, mọi người đã nhanh chân thoát khỏi tòa nhà, chỉcòn sót lại một phụ nữ với đứa bé mới sinh trên lầu 3 của tòa nhà Đám đông bêndưới căng một chiếc chăn và yêu cầu người này ném đứa bé xuống Sau một hồi do
dự cuối cùng người này cũng ném con của mình xuống dưới đó Vì đám đông quáhỗn loạn nên mọi người không di chuyển cái chăn đến đúng chỗ mong muốn…Nguy rồi, đưa bé có thể sẽ rơi vào bãi đất trống Lúc này trong đám đông có mộtngười cao to xuất hiện – đó là thủ thành Ha-mi-đông Anh nhún chân, bay lên cao,
ôm gọn đứa bé vào lòng và nhẹ nhàng tiếp đất bằng vai Đúng lúc đám đông nínlặng và chuẩn bị hò reo thì Ha-mi-đông đứng dậy tung đứa bé và đá đi như một tráibóng Đáng lẽ trở thành người anh hùng thì anh ta lại chuốc cho mình một kết cụcnhư một kẻ tội đồ Ôm gọn trái bóng và tiếp đất nhẹ nhàng đó là kỹ năng bắt bóngthuần thục được luyện tập qua nhiều ngày tháng Nhưng đá trái bóng ra xa thì lại làmột thói quen của bất cứ người nắm giữ khung thành nào
1.2.1.3 Phân loại kỹ năng
Có nhiều cách phân loại kỹ năng khác nhau Nếu xét theo tổng quan thì kỹnăng phân ra làm 3 loại: kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sống và kỹ năng làm việc.Nếu xét theo liên đới chuyên môn: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗnhợp Theo tính hữu ích cộng đồng: hữu ích và phản lợi ích xã hội Cần nói thêmrằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống cũng chỉ là một nhóm kỹ năng với tên gọikhác nhau Chúng ta cũng nhận thấy rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống là nhữngnhóm kỹ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống
1.2.1.4 Sự hình thành kỹ năng
Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững haylỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể,cách luyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó Dù hình thành nhanh hay chậmthì kỹ năng cũng đều trải qua những bước sau đây:
- Hình thành mục đích: lúc này thường thì chủ thể tự mình trả lời câu hỏi
“Tại sao tôi phải sở hữu kỹ năng đó?”, “Sở hữu kỹ năng đó tôi có lợi gì?”…
Trang 29- Lên kế hoạch để có kỹ năng đó: quá trình này thường cũng là tự làm Cũng
có những kế hoạch chi tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản như là “ngày maitôi bắt đầu luyện kỹ năng đó”
- Cập nhật kiến thức/lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó: có thể thông qua tàiliệu, báo chí hoặc buổi thuyết trình nào đó… Phần lớn thì những kiến thức nàychúng ta được học từ trường lớp và từ thầy cô giáo của mình
- Luyện tập kỹ năng: có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện với thầy
cô, bạn bè, người thân hoặc tự mình luyện tập
- Ứng dụng và hiệu chỉnh: để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải ứngdụng nó trong cuộc sống và công việc Công việc và cuộc sống thì biến động khôngngừng nên việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên nhằm hướng tới việchoàn thiện kỹ năng Một khi chúng ta hoàn thiện kỹ năng thì cũng có nghĩa là chúng
ta đang hoàn thiện bản thân mình
1.2.2 So sánh
1.2.2.1 Khái niệm so sánh và so sánh trong dạy học
So sánh là xác định những điểm giống nhau và khác nhau của sự vật, hiệntượng và của những khái niệm phản ánh chúng
So sánh trong dạy học là xác định những điểm giống và khác nhau của sựvật, hiện tượng, của những khái niệm phản ánh chúng trong suốt quá trình dạy vàhọc của giáo viên và học sinh
- So sánh đối chiếu: là phép so sánh những mặt đối lập của các kiến thức vàcác khái niệm để làm sáng tỏ hơn nội dung của chúng Tức là nghiên cứu hai đối
Trang 30tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai người ta phân tích thànhtừng bộ phận rồi đối chiếu với từng bộ phận của đối tượng thứ nhất Chẳng hạn sosánh axit và bazơ, oxit axit và oxit bazơ, chất tinh khiết và hỗn hợp, hiện tượng vật
lý và hiện tượng hóa học…
1.2.2.3 Tầm quan trọng của so sánh
So sánh các chất, các hiện tượng là phương pháp tư duy rất hiệu nghiệmtrong việc hình thành khái niệm vững chắc Thí dụ, so sánh những điểm giống nhau
và khác nhau giữa các nhóm phi kim như halogen, oxi – lưu huỳnh, nitơ – photpho
sẽ làm cho học sinh nhớ sâu sắc tính chất của các nguyên tố trong từng nhóm
Trong việc hình thành những khái niệm cơ bản, so sánh đối chiếu giữ mộtvai trò hết sức lớn lao Hiểu biết hết những mặt đối lập của khái niệm sẽ làm chonội dung của khái niệm sáng tỏ hơn
Không phải tự nhiên học sinh đã biết so sánh, mà học sinh cần phải đượctập luyện Cần dạy cho học sinh so sánh các chất, các nguyên tố và phản ứng hóahọc theo cùng một dàn ý như khi nghiên cứu chúng, tìm ra những nét giống nhau
và khác nhau trong từng điểm một Cách tốt nhất là hướng dẫn cho học sinh lậpnhững bảng so sánh, đối chiếu trong khi học bài mới và nhất là khi ôn tập, tổngkết kiến thức
- Đưa ra được những điểm giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện
tượng, giữa các chất với nhau
- Đối tượng so sánh: ít nhất là 2 đối tượng, giữa các đối tượng này ít nhấtphải có một mối liên hệ nào đó Khi so sánh phải đặt các đối tượng trong cùng mộtmôi trường, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
1.2.2.6 Mối quan hệ giữa so sánh với các thao tác tư duy khác
Thao tác so sánh phải kèm theo thao tác phân tích và tổng hợp Chẳng hạn,phân tích những tính chất của một chất, một hiện tượng hay một khái niệm, đối vớinhững điều đã biết về những đối tượng cùng loại, rồi sau đó tổng hợp lại xem các
Trang 31đối tượng cùng loại đó giống nhau và khác nhau chỗ nào Như vậy sự so sánhkhông những phân biệt và chính xác hóa khái niệm, mà còn giúp hệ thống hóachúng lại.
1.2.3 Kỹ năng so sánh
Qua các phần trên, ta có thể định nghĩa kỹ năng so sánh như sau: Kỹ năng sosánh là kỹ năng mà khi tìm hiểu, nghiên cứu một sự vật, hiện tượng bất kỳ ta đềuđặt nó vào mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác để tìm sự giống nhau vàkhác nhau giữa chúng một cách thuần thục
Để thao tác tư duy so sánh trở thành kỹ năng so sánh cần phải có một quátrình rèn luyện không ngừng nghỉ
1.3 Thực trạng sử dụng kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học
1.3.1 Điều tra cơ bản
* Mục đích điều tra: Điều tra nhằm mục đích khảo sát, định lượng việc sử
dụng kỹ năng so sánh trong dạy và học môn hoá học ở trường trung học phổ thông
về các mặt:
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi dạy và học hoá học trong bối cảnhhiện nay
- Tìm hiểu về việc sử dụng kỹ năng so sánh trong dạy và học hóa học
- Khảo sát tính thường xuyên vận dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng sosánh của giáo viên và học sinh như thế nào
- Tìm hiểu về tinh thần, thái độ và kết quả đạt được của học sinh khi học cáctiết dạy có vận dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh
* Kế hoạch, phương pháp điều tra:
- Thời gian: công việc điều tra được tiến hành từ 1/4/2012 đến 1/5/2012, khi
đã có kết quả học tập của năm học 2011 - 2012
- Địa điểm: một số trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn tỉnhThanh Hóa: THPT Nguyễn Mộng Tuân, THPT Đông Sơn I, THPT Đông Sơn II,THPT Hàm Rồng, THPT Đào Duy Từ, THPT Lý Tự Trọng
- Đối tượng: giáo viên THPT giảng dạy môn Hoá học và học sinh THPT
- Phương pháp điều tra: điều tra bằng cách trả lời vào phiếu điều tra (ở phụlục) và trao đổi, trò chuyện với giáo viên và học sinh
Trang 321.3.2 Kết luận
Qua điều tra, nghiên cứu việc sử dụng kỹ năng so sánh của giáo viên và họcsinh trong dạy và học; phương pháp, hình thức tổ chức bài dạy của giáo viên, cáchtiếp thu kiến thức mới và ôn tập, tổng hợp, thực hành kiến thức cũ có sử dụng kỹnăng so sánh của học sinh, kết quả thu được như sau:
- Trong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh đều đã sử dụng kỹ năng
so sánh, song còn ít, không liên tục, rời rạc
- Hầu như kỹ năng so sánh chỉ được sử dụng nhiều trong các tiết ôn tập, khitruyền đạt kiến thức mới và trong thực hành còn ít
- Học sinh đa số chỉ sử dụng kỹ năng so sánh khi có sự hướng dẫn của giáoviên, chỉ một số ít học sinh khá giỏi mới tự lập được các bảng so sánh
- Thời gian dành cho học sinh tự lực lập các bảng so sánh trên lớp còn ít, hầunhư chỉ được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên để kịp tiết dạy
Qua một số cuộc trao đổi với giáo viên và học sinh phổ thông thấy rằng hầuhết các giáo viên và học sinh đều thấy rõ lợi ích của việc sử dụng kỹ năng so sánhtrong quá trình truyền đạt, tiếp thu kiến thức mới và ôn tập, tổng kết các kiến thức
cũ Tuy nhiên việc sử dụng kỹ năng này không thường xuyên và không toàn diện
vì nhiều lí do: Thứ nhất, thời gian để lập một bảng so sánh đầy đủ cả công thức,đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lý, tính chất hóa học, phương pháp điều chế, ứngdụng mất rất nhiều thời gian Thứ hai, chương trình dạy và học quá nặng, có nhiềutiết học mà giáo viên chỉ giảng bài thôi cũng không đủ thời gian, nên việc dànhthời gian cho học sinh được rèn luyện kỹ năng so sánh là điều không thể Mặtkhác, học sinh phần lớn không ham học, chỉ học chiếu lệ nên không hứng thú tớiviệc sử dụng kỹ năng so sánh, thường ỷ lại, một số khác chăm học, có thể tự rènluyện thì không được sự quan tâm đầy đủ và kịp thời của giáo viên nên cũngkhông còn hứng thú nữa
Những kết quả điều tra ở trên cho thấy tình trạng sử dụng kỹ năng so sánhtrong dạy và học ít không đơn thuần là do cách truyền thụ của giáo viên mà còn dohọc sinh thụ động Vì vậy, giáo viên cần sử dụng kỹ năng so sánh thường xuyên và
có những giải pháp nhằm khuyến khích học sinh, có như thế học sinh mới hìnhthành kỹ năng so sánh và rèn luyện để có kết quả tốt được
Trang 34Chương 2CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
2.1 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học
2.1.1 So sánh về đặc điểm cấu tạo các chất
Yêu cầu so sánh: Để so sánh được cấu tạo của các chất, nhận rõ được sự
giống nhau và khác nhau trong phân tử mỗi chất cần phải làm rõ được các yếu tố sau:
- Công thức cấu tạo: đưa ra được công thức cấu tạo cụ thể của mỗi chất
- Trạng thái lai hóa của nguyên tử trung tâm, hình dạng phân tử
- Các loại liên kết: trong mỗi công thức cấu tạo gồm những loại liên kết nào,
số lượng mỗi loại liên kết là bao nhiêu
- Độ âm điện: đưa ra độ âm điện của từng nguyên tố trong công thức cấu tạo
để biết các cặp electron liên kết bị lệch về phía nguyên tử nguyên tố nào
Trang 35Độ bội liên kết 2 1,5
Nhận xét: Ngoài các đặc điểm có thể dễ dàng nhận thấy sự giống và khác
nhau giữa CO2 và SO2 từ bảng trên, còn một số đặc điểm giống và khác nhau giữachúng như sau:
- Cặp electron dùng chung giữa các liên kết đều lệch về phía nguyên tử O do
- Liên kết C – O bền hơn liên kết S – O
- Phân tử SO2 phân cực mạnh, còn phân tử CO2 không phân cực mặc dù liênkết C – O phân cực (do phân tử CO2 có cấu tạo thẳng nên độ phân cực của hai liênkết đôi C = O triệt tiêu cho nhau)
2.1.2 So sánh về tính chất vật lí
Yêu cầu so sánh: Khi so sánh các chất về tính chất vật lý cần phải đưa ra
được sự giống và khác nhau về các yếu tố sau:
Trang 36tan nhiều trong dung môihữu cơ.
2.1.3 So sánh về tính chất hóa học
Yêu cầu so sánh: Khi so sánh tính chất hóa học phải đưa ra được sự giống
và khác nhau giữa tính chất của các chất, đồng thời đưa ra được nguyên nhân dẫnđến sự giống và khác nhau đó
- Khác nhau:
+ Mặc dù đều ở số oxi hóa cao nhất +5 nhưng chỉ HNO3 thể hiện tính oxihóa còn H3PO4 thì không Do số oxi hóa +5 ở photpho bền hơn ở nitơ, vì photphonằm ở trạng thái lai hóa sp3 hoàn hảo còn nitơ ứng với trạng thái lai hóa sp2 phải tốnnăng lượng để kích thích electron
+ Tính axit của HNO3 mạnh hơn của H3PO4, do trong dung dich HNO3phân li hoàn toàn còn H3PO4 phân li không hoàn toàn Khi tác dụng với oxit bazơhoặc bazơ thì axit nitric chỉ tạo một muối nitrat, còn axit photphoric tùy lượng
mà tạo muối photphat, hiđrophotphat, đihiđrophotphat, hoặc hỗn hợp các muốinày
Trang 372.1.4 So sánh về phương pháp điều chế
Yêu cầu so sánh: - Điều chế bằng phương pháp nào, các chất ban đầu có dễ
tìm, giá thành có rẻ hay không?
- Ưu nhược điểm của phương pháp, hiệu suất của phương pháp
- Kết luận phương pháp nào thuận lợi hơn
Áp dụng:
Ví dụ: So sánh phương pháp điều chế axit nitric và axit photphoric?
- Điều chế axit nitric:
+ Trong phòng thí nghiệm: NaNO3 + H2SO4 → HNO3 + NaHSO4
+ Trong công nghiệp: Đi từ NH3 qua 3 giai đoạn:
NH3 → NO → NO2 → HNO3
- Điều chế axit photphoric:
+ Trong phòng thí nghiệm: P + 5HNO3 (đặc) → H3PO4 + 5NO2 + H2O
+ Trong công nghiệp: Ca3(PO4)2 + 3H2SO4 (đặc) → 3CaSO4↓ + 2H3PO4
Hoặc: 4P + 5O2 → 2P2O5; P2O5 + 3H2O → 2H3PO4
- Nhận xét:
+ Trong phòng thí nghiệm thì axit sunfuric là nguyên liệu để điều chếaxit nitric, còn axit nitric lại là nguyên liệu để điều chế axit photphoric
+ Trong công nghiệp ngoài các chất ban đầu để điều chế HNO3 là
NH3, H3PO4 là P thì cả hai phương pháp đều cần dùng O2 và H2O
2.1.5 So sánh về ứng dụng của các chất
Yêu cầu so sánh: Khi so sánh về ứng dụng của các chất cần phải đưa ra
được sự giống nhau và khác nhau về ứng dụng của các chất
Áp dụng:
Ví dụ: So sánh ứng dụng của axit nitric và axit photphoric?
- Giống nhau: Chủ yếu dùng để điều chế phân bón
Trang 382.1.6 So sánh về phương pháp giải bài tập
Yêu cầu so sánh: Đưa ra các phương pháp giải khác nhau cho cùng một bài tập,
phân tích ưu điểm của từng cách, sau đó so sánh các cách giải để tìm ra cách tối ưu
Áp dụng:
Ví dụ: Hòa tan m gam hỗn hợp X gồm Fe và Cu trong dung dịch HNO3, kếtthúc phản ứng thu được 0,1 mol NO và 0,15 mol NO2 Số mol HNO3 đã tham giaphản ứng là:
A 0,30 mol B 0,40 mol C 0,70 mol D 0, 35 mol
Cu + 4HNO3 Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O (3) 2z z
3Cu + 8HNO3 3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O (4) 4t t
Từ (1), (2), (3), (4) nHNO3 = 2(x + z) + 4(y + t) = 2nNO2 + 4nNO = 0,7 mol
Cách 2: Sử dụng phương pháp ion - eletron
Quá trình khử:
NO
3 + 2H + 1e NO2 + H2O (5) 2.0,15 0,15
NO
3 + 4H + 3e NO + 2H2O (6) 4.0,1 0,1
Trang 39Nhận xét: cách 1 viết phương trình phân tử dài dòng, cân bằng phương trìnhmất nhiều thời gian, cách 2 viết ít phương trình hơn, ngắn gọn hơn, tiết kiệm thờigian hơn Vậy, cách 2 tối ưu hơn cách 1.
2.2 Sử dụng các kỹ năng so sánh trong dạy học hóa học
2.2.1 So sánh trong dạy học lí thuyết
Trong dạy học lý thuyết có thể rèn luyện kỹ năng so sánh khi nghiên cứukiến thức mới hoặc ôn tập các kiến thức cũ Sau đây là hệ thống câu hỏi có thể ápdụng để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trung học phổ thông
2.2.1.1 Hệ thống câu hỏi trong chương trình hóa học lớp 10 nâng cao
Câu 1: So sánh Cl2 và F2?
Trả lời:
* Về đặc điểm cấu tạo chất:
- Giống nhau:
+ Nguyên tử X (X: F,Cl) đều có cấu hình lớp ngoài cùng là: ns2np5
+ Phân tử X2 được tạo thành từ hai nguyên tử X bằng liên kết cộng hóa trịkhông phân cực, có công thức cấu tạo: X – X
- Khác nhau:
+ Giá trị n, F: n = 2, Cl: n = 3
+ Phân tử Cl2 bền hơn phân tử F2 (ECl – Cl = 239 kJ/mol, EF – F = 151 kJ/mol ),nguyên nhân: giải thích theo phương pháp liên kết hóa trị: trong phân tử Cl2 tồn tạiliên kết π phụ, sinh ra theo cơ chế cho - nhận do cặp electron chưa chia của mộtnguyên tử Cl và một obitan trống 3d của nguyên tử Cl còn lại, nên liên kết Cl – Clmang tính chất bội một phần, còn phân tử F2 không tạo được liên kết này do không
có phân lớp d; giải thích theo phương pháp obitan phân tử (phương pháp MO): vìnăng lượng của các obitan phân tử trong phân tử Cl2 ở xa nhau nên các electron trêncác obitan liên kết bị các cặp electron trên các obitan chưa liên kết đẩy ít hơn trongphân tử F2
* Về tính chất vật lý: (giống ví dụ ở phần 2.1.2)
Trang 40Màu sắc Màu vàng lục Màu lục nhạt
Tan ít trong nước
* Về tính chất hóa học:
- Giống nhau: Đều thể hiện tính oxi hóa mạnh: tác dụng với đa số phi kim có
độ âm điện nhỏ hơn nó (trừ các khí trơ), phản ứng mãnh liệt với các kim loại (với F2trừ Cu và Ni), với các hợp chất…
- Khác nhau:
+ Tính oxi hóa của F2 mạnh nhất, mạnh hơn Cl2 do nguyên tử F trong phân
tử F2 có độ âm điện lớn nhất (3,98) và phân tử F2 kém bền hơn phân tử Cl2
+ F2 không có tính khử, Cl2 có tính khử yếu và chỉ thể hiện tính khử khi tácdụng với flo, thể hiện sự phân cực dương của clo trong các hợp chất với flo, oxi vànitơ (vì độ âm điện của clo kém 3 nguyên tố flo, oxi và nitơ)
2
Cl 3F 2ClF + Cl2 thể hiện tính tự oxi hóa – khử khi có môi trường là nước hoặc kiềm
+ Về nguyên tắc điều chế: oxi hóa ion X trong hợp chất thành X2
+ Trong công nghiệp đều dùng phương pháp điện phân để sản xuất
- Khác nhau: