Trải qua những đợt di cư lâu dài, cho đến nay số lượng người Hoa ởĐông Nam Á có khoảng hơn 20 triệu người chiếm 5% dân số khu vực vàtrong số các cộng đồng người Hoa ở hải ngoại thì số lư
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa lịch sử
=== ===
lê thị bình
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bớc đầu tìm hiểu về quá trình di c
của ngời Hoa vào Việt Nam
chuyên ngành lịch sử thế giới
Vinh - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
lê thị bình
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bớc đầu tìm hiểu về quá trình di c
của ngời Hoa vào Việt Nam
chuyên ngành lịch sử thế giới
Lớp 48A - Sử (2007 - 2011)
Giỏo viờn hướng dẫn: ThS NGUYỄN THỊ HƯƠNG
VINH - 5/2011
Trang 3Lêi c¶m ¬n
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Thị Hương - Người đã gợi ý đề tài và tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khoá luận.
Tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, nhất là các thầy cô trong tổ Lịch sử thế giới.
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành khoá luận này.
Vì thời gian và khả năng có hạn nên không thể tránh khỏi những hạn chế của đề tài Tác giả rất mong muốn sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn sinh viên.
Vinh, tháng 5 năm 2011
Tác giả
Lê Thị Bình
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A PHẦN DẪN LUẬN 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Đóng góp của đề tài 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục đề tài 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI HOA VÀO VIỆT NAM 6
1.1 Về phía Trung Quốc 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và các yếu tố mang tính chất sinh thái 6
1.1.2 Yếu tố chính trị - xã hội 7
1.1.3 Yếu tố kinh tế 8
1.2 Về phía Việt Nam 9
1.2.1 Yếu tố địa lí môi trường sinh thái 9
1.2.2 Cơ sở văn hoá 10
Chương 2 QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI HOA VÀO VIỆT NAM .13
2.1 Khái niệm, số lượng, thành phần 13
2.1.1 Khái niệm 13
2.1.2 Số lượng 14
2.1.3 Thành phần 14
2.2 Hình thức di cư và các đợt di cư lớn trong lịch sử 15
2.2.1 Hình thức di cư 15
2.2.2 Các đợt di cư trong lịch sử 16
Trang 52.3 Sự nhập cư và cuộc sống của người Hoa ở Việt Nam 28
Trang 6Chương 3 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH DI CƯ
VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA ĐỐI VỚI LỊCH SỬ
DÂN TỘC VIỆT 33
3.1 Đánh giá về quá trình du nhập 33
3.2 Đánh giá về vai trò của người Hoa 36
3.2.1 Vai trò của người Hoa trong việc mở rộng vùng đất Đàng Trong .36
3.2.2 Vai trò kinh tế của người Hoa ở Việt Nam 41
3.2.3 Đóng góp về văn hoá 48
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 7A PHẦN DẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài
Từ xưa, sự di cư của người ra nước ngoài luôn là một hiện tượng tựnhiên trong lịch sử loài người Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đónhư sự biến động về chính trị, khủng hoảng về kinh tế hay những cuộc chiếntranh tôn giáo Vào thế kỉ XVIII, lịch sử đã chứng kiến sự di cư của ngườiAnh đến vùng Bắc Mỹ giàu có, sự di cư hàng loạt người Do Thái nhằm tránh
sự diệt chủng và trong cùng thời gian này lịch sử chứng kiến sự di cư củangười Hoa đến các nước trong khu vực Chúng tôi nhận thấy là ngay từ thế kỉIII TCN người Hoa đã đặt chân lên mảnh đất Việt Nam điều này đã gợi nêntrong tôi tính tò mò muốn quan tâm tìm hiểu
Trải qua những đợt di cư lâu dài, cho đến nay số lượng người Hoa ởĐông Nam Á có khoảng hơn 20 triệu người chiếm 5% dân số khu vực vàtrong số các cộng đồng người Hoa ở hải ngoại thì số lượng người Hoa ở ViệtNam là đông hơn cả, họ có lịch sử tương đối lâu dài và có đóng góp quantrọng đối với lịch sử dân tộc Việt
Với biết bao thăng trầm của lịch sử, người dân Trung Hoa đã có mặt ởhầu hết các quốc gia trên thế giới, ở mọi khu vực Châu Á, Châu Âu, ChâuMỹ họ đã tạo dựng được vị trí của mình Vì vậy, vấn đề người Hoa thực sựđang nhận được sự quan tâm sâu sắc của các dân tộc và chính phủ của khuvực, các nhà nghiên cứu khoa học Dẫu vậy, vẫn chưa có những kết luận thậtthoả đáng Nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu về quá trình di cư của ngườiHoa vào Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn bởi những lí do sau:
Thứ nhất, chúng tôi muốn cho độc giả một cái nhìn trọn vẹn, đầy đủnhất về quá trình di cư của người Hoa, cơ sở dẫn đến sự di cư, các đợt di cưlớn, cuộc sống của họ ở Việt Nam, những đóng góp của người Hoa di trú đốivới lịch sử dân tộc Việt
Trang 8Thứ hai, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng thân thuộc,núi liền núi sông liền sông, là cái nôi của nền văn minh lúa nước Nhưng hiệnnay, Trung Quốc đã và đang có những bước tiến dài trên con đường hội nhậpvới bè bạn năm châu, có vị thế kinh tế rất lớn trên trường quốc tế Điều gì đãkhiến nước bạn thực sự phát triển như vậy khi Trung Quốc là nước đông dânnhất thế giới? Nhìn lại lịch sử đã qua, đúc rút những kinh nghiệm để hoạchđịnh cho tương lai, phát triển đất nước là điều cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Bướcđầu tìm hiểu về quá trình di cư của người Hoa vào Việt Nam” làm khoá luậntốt nghiệp của mình, đóng góp một phần hiểu biết của mình vào kho tàng lịch
sử nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề người Hoa, cho đến nay đã có khá nhiều những công trìnhnghiên cứu với những đóng góp hết sức xuất sắc thể hiện tâm huyết lớn lao củanhiều tác giả Dẫu vậy, việc tìm hiểu về quá trình di cư của người Hoa cùng vớinhững đóng góp của họ đối với lịch sử dân tộc Việt còn nhiều hạn chế nhấtđịnh, chưa có nghiên cứu, tìm hiểu mang tính hệ thống, trọn vẹn nhất
Vấn đề người Hoa ở Việt Nam, đã thu hút sự quan tâm của các học giảnước ngoài và các nhà nghiên cứu trong nước Các sử gia Việt Nam trước đâycũng đã quan tâm đến vấn đề người Hoa dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưngnhững công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và chuyên sâu rất hiếm.Dưới thời phong kiến, các tác giả của các bộ “Đại Việt sử kí toàn thư”, “Việt
sử thông giám cương mục”, “Đại Nam thực lục”, các sách chuyên khảo như:
“Dư địa chí”, “Lịch triều hiến chương đại chí” đều có ghi chép về sự hiệndiện, những hoạt động thương mại, khai thác mỏ của người Hoa, cũng nhưnhững văn bản và điều lệ quy định của các triều đại phong kiến Việt Nam vềviệc nhập quốc tịch, di chuyển chỗ ở, việc đóng thuế ruộng đất, thuế kinhdoanh và những quy định về việc lập các làng xã, bang, hội của người Hoa
Trang 9Tuy nhiên, những ghi chép này còn tản mản và cũng chỉ dừng lại ở mức mô tả
sự kiện và liệt kê số liệu
Năm 1924, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện công trình mang tínhchuyên khảo của Đào Trinh Nhất “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vàoNam Kì” Trong tác phẩm, Đào Trinh Nhất đã đề cập đến hai vấn đề chính: sự
di cư của người Hoa vào Nam Kì và thế lực kinh tế của họ trên trường buônSài Gòn - Chợ Lớn
Từ những năm 50 đến những năm 70 của thế kỉ này, trên các tạp chíQuê hương, Văn hoá Á Châu, Kinh tế ở miền Nam Việt Nam thời kì Mĩchiếm đóng, nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam đượccông bố Trong thời gian gần đây, vấn đề người Hoa ở Việt Nam càng đượcnghiên cứu và chú ý nhiều hơn, coi đó là vấn đề thực sự khoa học Trên cáctạp chí chuyên ngành cũng như trong các cuộc hội thảo được tổ chức tại HàNội năm 1985 và 1989, nhiều ý kiến khoa học bàn về vấn đề người hoa ở ViệtNam được đưa ra thảo luận sôi nổi, nhưng nhìn chung cũng chưa đi tới nhữngkết luận thoả đáng
Cũng trong thời gian này, xuất hiện những công trình nghiên cứu củaviện Khoa học Xã hội Việt Nam, viện Đông Nam Á, đặc biệt là những côngtrình nghiên cứu của tác giả Châu Thị Hải, Trần Khánh Cuốn “Người Hoatrong xã hội Việt Nam” của tác giả Trần Khánh, ông đã cho độc giả cái nhìnkhái quát lịch sử hình thành, vai trò về kinh tế, chính trị của người Hoa đồngthời tác giả cũng nêu rõ tiến trình hội nhập của họ vào xã hội Việt Nam từ nửasau thế kỉ XIX đến năm 1954 ở miền Bắc và đến năm 1975 ở miền Nam.Trong tác phẩm “Vai trò người Hoa ở Đông Nam Á”, ông cũng cho ngườiđọc bức tranh toàn cảnh về người Hoa ở khu vực Đông Nam Á Với nhiềunhững công trình nghiên cứu của tác giả Châu Thị Hải như: “Người Hoa ViệtNam và Đông Nam Á: hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay” hay cuốn “Bướcđầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt Hoa trong lịch sử” đặc biệt
Trang 10là cuốn “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam” của Châu Hải, tác giả
đã cho độc giả cái nhìn sâu sắc về quá trình du nhập của người Hoa trong bốicảnh lịch sử Đông Nam Á, những mối liên kết để hình thành những nhómcộng đồng người Hoa ở Việt Nam và vị thế của họ ở nơi đây
Trên cơ sở tài liệu đã tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tàiliệu này mới chỉ đề cập hoặc đề cập đến nhưng chưa thật sâu sắc, đầy đủ vềnhững nguyên nhân dẫn đến quá trình di cư của người Hoa và vai trò của họđối với lịch sử dân tộc Việt Dẫu vậy, đây chính là những tài liệu hết sức quýgiá để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng, nhiệm vụ
Đề tài nghiên cứu: Bước đầu tìm hiểu về quá trình di cư của người Hoavào Việt Nam, người viết sẽ làm rõ nhân tố tác động đến quá trình di cư đó,quá trình di cư cũng như đóng góp của người Hoa đối với lịch sử dân tộc Việttrên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, đời sống xã hội, mở rộng lãnh thổ
Trang 11trình di cư đến quá trình di cư, cuộc sống của họ trên mảnh đất Việt Nam,cũng như đóng góp của họ đối với lịch sử dân tộc Việt.
Công trình nghiên cứu khoa học này nhằm đóng góp thêm phần tư liệutham khảo mới cho những đề tài nghiên cứu lần sau
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Do hạn chế về mặt ngoại ngữ nên người viết chưa có khả năng, điềukiện để tiếp xúc nguồn tài liệu tiếng Nga, Anh, Pháp Bởi vậy, tài liệu thamkhảo trong khoá luận chủ yếu là những sách xuất bản bằng tiếng Việt hoặcbản dịch, các chuyên khảo nghiên cứu về vấn đề này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết khoá luận này, chúng tôi sử dụnghai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp các tưliệu có liên quan đến đề tài Đánh giá sự kiện lịch sử một cách chân thực,khách quan, thẩm định, đối chiếu giữa các nguồn tư liệu với nhau
Chương 2: Quá trình di cư của người Hoa vào Việt Nam
Chương 3: Nhận xét, đánh giá về quá trình di cư và đóng góp của
người Hoa đối với lịch sử dân tộc Việt
Trang 12B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH DI CƯ
CỦA NGƯỜI HOA VÀO VIỆT NAM
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt, người Hoa ở ViệtNam ngày càng chiếm một số lượng không nhỏ Vậy lí do nào đã đẩy họ rờiquê cha đất tổ đến định cư ở một nơi hoàn toàn xa lạ và vì điều kiện kháchquan, chủ quan nào mà Việt Nam lại trở thành đại bản doanh dừng chân củangười Hoa trên con đường di cư tiếp theo của họ đến những vùng đất xa hơn
Phải chăng vì Trung Quốc và Việt Nam có nhiều mối quan hệ gần gũi
về địa lí và nhiều yếu tố tương đồng về văn hoá?
Vâng! lí giải về vấn đề này chúng tôi xin được đề cập trên cả haiphương diện về phía Trung Quốc và Việt Nam Có nhiều nguyên nhân làmcho người Hoa phải từ bỏ quê cha đất tổ nơi chôn rau cắt rốn của mình đểsang sinh sống định cư ở nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam
1.1 Về phía Trung Quốc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và các yếu tố mang tính chất sinh thái
Có thể nói rằng, điều kiện tự nhiên của Trung Quốc là một nhân tốquan trọng góp phần định hướng cho những làn sóng di cư của người Hoaxuống phương Nam và vùng Đông Nam Á, dĩ nhiên trong số đó không ngoạitrừ mảnh đất Việt Nam
Sự tác động của yếu tố này được thể hiện trong khía cạnh đó là: vùngHoa Nam trở thành vùng đông dân cư trong khi đó diện tích canh tác ngàycàng bị thu hẹp dẫn đến mâu thuẫn giữa mật độ dân cư và diện tích canh tác.Nhiều nông dân bị mất ruộng đất phải chuyển sang sinh sống bằng nghề đánh
cá, hàng ngày tiếp cận với biển hồ, lênh đênh trên sông nước, nhiều cư dân đã
Trang 13nảy sinh tư tưởng giang hồ muốn vượt biển chu du thiên hạ Chưa có đủ tưliệu để khẳng định lần đầu tiên người Hoa vượt biển đi đến các nước trên thếgiới vào thời gian nào trong lịch sử nhưng theo Lý Thường Phó thì đời Tần đã
có Pháp Hiển cùng đoàn tuỳ tùng vượt biển đi lấy kinh phật ở Ấn Độ và điqua sư tử quốc (Xi Ri Lan Ca) Gia Va rồi trở về Trung Quốc
Như vậy, đoàn thuyền của Pháp Hiển đã góp phần khai thông conđường trên biển và mở ra thời kì chinh phục biển cả của người Trung Quốcnhất là từ sau khi người Trung Quốc chế tạo ra la bàn và sử dụng nó vàonghành hàng hải, tạo điều kiện hình thành và phát triển con đường tơ lụa vàhương liệu sau này
Bên cạnh nhân tố như đã nêu trên còn có những nhân tố mang tính chấtsinh thái như mất mùa, đói kém, bệnh tật cũng tác động một phần khôngnhỏ đến các làn sóng di cư của người Hoa vào Việt Nam
1.1.2 Yếu tố chính trị - xã hội
Sự tác động bởi yếu tố chính trị - xã hội dẫn đến những đợt di cư củangười Hoa sang Việt Nam, trước tiên ta phải kể đến những cuộc xâm lăng từbên ngoài vào Trung Quốc, không chỉ vậy đất nước phong kiến Trung Quốcluôn xảy ra những cuộc tranh quyền đoạt vị, chiến tranh liên miên làm cho xãhội Trung Quốc bất ổn, người dân Trung Quốc hơn lúc nào hết họ cần sự ổnđịnh về mặt chính trị - xã hội trước tiên là để sinh sống, hai là để phát triểnkinh tế, chính những ước nguyện đó của người dân Trung Quốc là yếu tố thúcđẩy họ rời bỏ quê hương đi lánh nạn Ngoài ra các sứ giả quan lại, nhà tu hànhphật giáo đi công cán ở nước ngoài sau những biến cố lịch sử trong nướckhông trở về tổ quốc họ xin cư trú chính trị tại hải ngoại
Không chỉ vậy, chính sách bành trướng và đồng hoá bằng vũ lực nhưcác cuộc chiến tranh xâm lược do các triều đại phong kiến Trung Quốc phátđộng cũng kéo theo sự nhập cư ồ ạt của người Hoa vào Việt Nam Các sĩquan, binh lính, các tù binh chính trị được phái tới những nơi mà họ chiếm
Trang 14được để cai trị và “khai hoá văn minh” cho người bản địa Thêm vào đó,nhiều tù binh chiến tranh do người bản địa bắt giữ sau khi các cuộc xâm lăngTrung Quốc thất bại xin ở lại sinh sống lập nghiệp tại các nước sở tại Nhiềungười trong số họ lấy vợ người bản địa và tạo ra một thế hệ Hoa lai.
1.1.3 Yếu tố kinh tế
Đây là nguyên nhân chủ yếu, xuyên suốt qua các thời kì lịch sử, nhưngtác động mạnh mẽ nhất là từ khi mầm mống tư bản chủ nghĩa hình thành vàphát triển Dưới triều đại nhà Minh, Nhà Thanh nền kinh tế hàng hoá đã pháttriển khá mạnh ở vùng ven biển Hoa Nam, sự hoạt động nhộn nhịp của hảicảng Chương Châu Nguyệt và Phúc Môn đã tạo điều kiện cho nền kinh tếmậu dịch đối ngoại phát triển Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy mớimanh nha nhưng cũng đủ làm cho sự thất nghiệp càng nhiều của lực lượngcông nhân nông thôn và phần lớn trong số họ đã đổ dồn ra thành phố Sự quátải của số dân thành phố là lí do trực tiếp đẩy họ ra đi tìm một vùng đất mới
để mưu sinh Vùng đất Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng chỉ cáchvùng Hoa Nam khoảng 3, 4 ngày vượt biển có thể coi là miền đất lí tưởng củanhững dòng người di cư đó
Mặt khác, trong khi chủ nghĩa tư bản đang ở vào thời kì phát triển thịnhvượng, nhu cầu về nguồn nhân lực lao động đang trở nên cấp thiết thì chế độ
nô lệ lại bị thủ tiêu làm cho nguồn lao động khan hiếm lại càng khan hiếmhơn Các nước tư bản chủ nghĩa không thể tuyển dụng lao động da trắng sangkhai thác ở vùng nhiệt đới Vì vậy các nước này đã hướng tâm điểm sang thịtrường Trung Quốc Nhưng chúng ta phải nhận thức rõ rằng người Hoa đếnViệt Nam chỉ đơn thuần là đi kiếm sống theo các khế ước hợp đồng giữa chủ
và ngươì làm thuê
Bên cạnh những dòng người ra đi theo các khế ước, hợp đồng lao độngvới các chủ trang trại, xí nghiệp, đồn điền khai thác ở Việt Nam Trong nhữngdòng người Hoa di cư đó còn có các nhà buôn, thợ thủ công Những người
Trang 15này đến Việt Nam xuất phát từ ước nguyện tìm miền đất hứa để mưu sinh Cónhững người đến làm ăn trong một thời gian tích luỹ được ít vốn họ lại trở về,nhưng không ít trong số họ định cư luôn ở nước này.
Hơn thế nữa, sự năng động và hoạt động có hiệu quả của Hoa Thương
ở hải ngoại là một trong những nguyên nhân quan trọng thu hút nhiều nhàbuôn, người di cư tự do sang khu vực Đông Nan Á nói chung, Việt Nam nóiriêng để tìm cơ may, mặt khác cư dân vùng duyên hải các tỉnh Đông NamTrung Quốc (đặc biệt tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến) đã từ lâu có truyềnthống buôn bán, giao dịch với các nước Đông Nam Á nên họ khá hiểu về môitrường và cung cách làm ăn của người bản địa Thêm vào đó, chính sách thuếkhoá ngặt nghèo, nhiều sự cấm đoán trong buôn bán của chỉnh thể cầm quyềntại Trung Quốc đặt ra nên nhà buôn trong nước ra đi tìm nơi đất tốt hơn đểhành nghề Trong khi đó, chỉnh thể cầm quyền tại Việt Nam lại có nhữngchính sách thu hút và sử dụng thương nhân và thợ thủ công người Hoa trongviệc mở rộng, buôn bán và phát triển các ngành nghề thủ công và thu nguồnlợi tức thì những hoạt động thương nghiệp của họ Điều đó làm cho Việt Nam
là một trong nơi lí tưởng cho nhà buôn người Hoa tìm đến
1.2 Về phía Việt Nam
1.2.1 Yếu tố địa lí môi trường sinh thái
Nhìn trên bản đồ thế giới cũng như nhìn vào chiều sâu của lịch sửTrung Quốc thì giữa Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ đặc biệt về mặtđịa lí là hai nước láng giềng gần gũi núi liền núi sông liền sông
Như đã phân tích ở trên, xét từ phía Trung Quốc về điều kiện tự nhiên
sự tác động bởi yếu tố địa lí, môi trường sinh thái còn chịu sự tác động rất lớn
từ phía bên ngoài chứ không chỉ đơn thuần từ sự thúc ép bên trong Sự tácđộng từ bên ngoài (trong đó có nhân tố Việt Nam) rõ nét nhất đó là môitrường hấp dẫn của vùng nhiệt đới gió mùa đất đai phì nhiêu, màu mỡ, nơi
Trang 16tiếp giáp giữa lục địa và hải dương, nơi gặp nhau giữa hai vành đai sinhkhoáng: Thái Bình Dương và Địa Trung Hải
Trong khi đó, tình trạng mất mùa, đói kém, phương thức canh tác ngàycàng thu hẹp do quá trình bùng nổ dân số đẩy họ vào tình cảnh đói khổ, cáchduy nhất để cứu sống gia đình là tìm đường đi kiếm sống Nhưng di cư vềhướng nào là một sự lựa chọn và tính toán của dòng người di cư Nếu đi vềphía Tây, cũng là lối đi truyền thống nhưng con đường này đầy gian khó,nguy hiểm Tuy ở phía bên kia là một vùng đất giàu có, nhưng tiềm tàng dướilòng đất khó có khả năng cải thiện cuộc sống đối với những người chỉ có haibàn tay lao động
Đi về phía Bắc thì xa mạc Gobi đầy nắng và gió cản đường Chỉ có duynhất một con đường thuận lợi là đi về phía Đông và Đông Nam Việt Nam lànước liền kề Trung Quốc thì không có lí gì mà những đoàn người di cư lại từ
bỏ điểm đến này
1.2.2 Cơ sở văn hoá
Yếu tố địa lí tác động không nhỏ đến hướng đi của những đoàn ngườiHoa di cư nhưng điểm làm cho yếu tố Việt Nam hấp dẫn hơn nữa đó là sựtương đồng về mặt văn hoá, càng làm cho vùng Hoa Nam xích lại gần Việtnam hơn Nếu xét từ buổi sơ khai “Hoa Hạ” hay “Trung Nguyên” rất khác vớinước Trung Hoa rộng lớn ngày nay chúng ta nhìn trên bản đồ thế giới TộcHán văn minh thời đó cũng chỉ làm chủ một vùng rất hẹp - khu vực hạ lưuHoàng Hà Toàn bộ vùng phía Nam Trường Giang là thuộc phạm vi các tộcBách Việt Nhiều ý kiến trong đó có ý kiến của Trương Định trong cuốn
“Nguồn gốc văn hoá Việt Nam” cho rằng người Việt ở trình độ cao hơn ngườiHán điều đó không chỉ thể hiện ở chỗ người Việt chiếm cứ vùng đất văn minh
Hồ Quảng trước người Hán mà còn ở chỗ người Việt biết đóng thuyền, vậnchuyển đường thuỷ, dùng nỏ để tự vệ, lợi dụng nước thuỷ triều lên xuống đểlàm ruộng, bỏ tục giết người tế thần, chôn người sống theo người chết trước
Trang 17người Hán người Hán trong quá trình tiến về phương Nam đã vay mượn củangười Lạc Việt rất nhiều yếu tố từ ngôn ngữ đến cách thờ cúng, chế tạo vũ khí(nỏ) đóng thuyền
Có thể nói, từ buổi sinh thời cư dân vùng Trung Nguyên - Hoa Hạ vàcha ông ta đã có sự tiếp xúc với nhau do sự bành trướng của nhà Tần vàovùng Lĩnh Nam đã gây ra sự xáo trộn trong cụm Bách Việt - những tộc cónhiều nét tương đồng về cấu tạo dân tộc học nhưng không tồn tại trong mộtcộng đồng quốc gia với nhau Có nhiều tộc Việt nằm ngoài danh giới lãnh thổVăn Lang - Âu Lạc như: Ô Việt ở đất Triết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến,Dương Việt ở Giang Tây, theo một số tài liệu vùng Hồ Nam Hồ Bắc ngày naytrước kia là nước Sở cũng ở trong cụm Bách Việt Nhưng cũng có những tộcViệt nằm sâu trong đất Âu Lạc - Văn Lang (Việt Nam)
Ở Việt Nam, trong tài liệu thành văn cũng như trong truyền thuyết dângian có nói đến người Lạc, người Âu, cùng chung một tộc - đồng bào (từ bọctrứng nở ra) và cũng có nói đến đất Văn Lang - Âu Lạc Lạc Thường như lànhững đất nước của các tộc Việt ấy Như vậy, giữa các tộc “Bách Việt”phương Bắc và tộc Việt (Lạc Việt) phương Nam cũng như các danh địa NamViệt tồn tại phía Bắc và Nam Việt trong lãnh thổ Việt Nam có gì khác nhau?
Nước Nam Việt vùng Lĩnh Nam trong địa phận Lưỡng Quảng (QuảngĐông và Quảng Tây) có thể là nước Nam Việt trong cụm Bách Việt trướcTần Thuỷ Hoàng, sau bị Tần Thuỷ Hoàng thôn tính và chia thành ba khuvực: Quế Lâm (phần lớn Quảng Tây) Tượng Quận (một phần của QuảngTây) và Nam Hải (Quảng Đông), hai là nước Nam Việt của Triệu Đà baogồm nước Nam Việt trên đây được khôi phục sau khi Tần Thuỷ Hoàng sụp
đổ và sát nhập vào nước Âu Lạc của An Dương Vương, ba là nước NamViệt do Lí Bí (Lí Bôn) lập ra trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam vào giữa thế
kỉ VI Với nguồn tư liệu này, nên chăng cần làm rõ phạm vi ba nước NamViệt: một nước Nam Việt hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc ngày
Trang 18nay, một nước Nam Việt chính là lãnh thổ Việt Nam có thể trùng khớp vớinước Âu Lạc của An Dương Vương và một nước Nam Việt gồm cả bộ phậncủa Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay và nước Âu Lạccủa tổ tiên chúng ta thưở trước.
Như vậy, hai bên biên giới Việt - Trung có nhiều tộc người sinh sống
mà những tộc đó xét về cấu tạo đân tộc học có nhiều mối quan hệ chặt chẽ, cókhi hai bên biên giới lãnh thổ còn có quan hệ họ hàng, gia đình, bằng hữu vớinhau Chính điều này, là cơ sở quan trọng để người Hoa có thể tồn tại, dễdàng hoà nhập với cư dân trên lãnh thổ Việt Nam
Nói tóm lại, có nhiều nguyên nhân khác nhau thúc đẩy người Hoa phảirời bỏ “quê cha đất tổ” đến những miền đất hứa trong đó có sự tác động của
cả yếu tố bên ngoài lẫn nội tại bên trong Tuy nhiên, ta phải thấy rằng sự hấpdẫn của yếu tố Việt Nam là một nhân tố quan trọng để người Hoa di cư sangViệt Nam từ lâu trong lịch sử và ngày càng đông đảo hơn bất kì quốc gia nào
có người Hoa di trú đến trong khu vực Đông Nam Á Vậy thì quá trình di cưcủa họ sang mảnh đất Việt Nam diễn ra như thế nào?
Trang 19Chương 2 QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI HOA VÀO VIỆT NAM
Quá trình hình thành và biến động của các quần thể tụ cư (hay nhữngnhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam) là một quá trình diễn ra lâu dài, liêntục, gắn liền với nhiều đợt di cư trong lịch sử
2.1 Khái niệm, số lượng, thành phần
2.1.1 Khái niệm
Cho đến nay, khái niệm về người Hoa và tộc người Hoa đang còn gây
sự tranh cãi của các giới nghiên cứu, chưa thực sự thống nhất về tên gọi.Trong lịch sử dân tộc Việt, từ khi người Hoa xuất hiện trên mảnh đất ViệtNam đến nay, người dân Việt đã dùng rất nhiều những thuật ngữ khác nhau
để chỉ những người Hoa di trú và định cư ở nước ngoài Ví như dưới thờiphong kiến, người Việt thường gọi người Trung Hoa di trú theo tên các triềuđại phong kiến Trung Quốc hay tên gọi các địa phương nơi họ ra đi như ngườiĐường, người Tống, người Minh, người Thanh hoặc người Triều Châu, PhúcKiến, Quảng Đông, Hải Nam…
Mặc dù, với nhiều tên gọi khác nhau ở mỗi thời đại, nhưng chúng tathấy rằng cần thiết phải có sự thống nhất trong việc sử dụng khái niệm chung
về người Hoa và nhóm tộc người Hoa Bởi từ đó chúng ta mới có cái nhìnđúng đắn về người Hoa di trú, định cư ở nước ngoài
Ở đây, chúng tôi chỉ xin được đưa ra một khái niệm về người Hoa ởViệt Nam trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước như sau “đó là nhữngngười gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã
Hán hoá di cư sang Việt Nam và con cháu của họ đã sinh ra, lớn lêntại Việt Nam, đã nhận quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn còn giữ những đặctrưng văn hoá, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và
Trang 20tự nhận mình là người Hoa” Trong văn kiện cũng lưu ý về Hoa kiều đó lànhững người có cùng nguồn gốc dân tộc với người Hoa nhưng không nhậpquốc tịch Việt Nam
là 25 triệu người, trong khi đó tạp chí “Tuần Châu A” chỉ đưa ra con số ướcđoán là 14,5 triệu người, số liệu điều tra dân số của Trung Quốc năm 1959(được coi là con số chính thức) cũng chỉ có 11,7 triệu Theo tính toán của LêVăn Khuê thì số lượng người Hoa ở Đông Nam Á gần 16 triệu người trongkhi đó VíchtoPuxen đưa ra con số xấp xỉ 20 triệu người (kể cả người Hoa ởThái Lan) Đây là con số tương đối hợp lí và được nhiều người sử dụng nêntạm thời có thể chấp nhận
Ở Việt Nam, cũng khó mà xác định được con số chính xác về ngườiTrung Hoa di trú vào từng thời kì lịch sử Tuy nhiên, theo số liệu điều tra vàotháng 4 năm 1999 của tổng cục thống kê ở Việt Nam nay có 862.371 ngườiHoa sinh sống, làm việc và theo tính toán của của các nhà nghiên cứu thì bướcvào những năm đầu của thế kỉ XXI con số đó đã lên tới trên dưới 1 triệu người
Trang 21Tầng lớp “công” bao gồm thợ thủ công và những người thợ mĩ nghệ vìhoàn cảnh bức bách nào đó phải ra đi.
Tầng lớp “thương” những người buôn bán nhỏ vừa lớn vừa nhỏ
Cuối cùng là tầng lớp “sĩ ” những người do chính sách đồng hoá của cáctộc ngoại bang hoặc do chế độ khoa cử gạt bỏ hoặc do sự xung đột tông phái,dòng họ đã buộc họ phải ra đi Khi đến định cư ở những vùng đất mới các tầnglớp cư dân này hoặc là giữ nguyên ngành nghề cũ hoặc là bị xáo trộn và hìnhthành cơ cấu “cư dân” mới Căn cứ vào những nguồn tư liệu lịch sử đáng tincậy hiện nay, có những thương gia người Hoa nổi tiếng như: Tăng Thiên Doái(1851 - 1906) ở Inđônêxia, Hoàng Văn Hoá (1845 - 1901) ở Việt Nam, NgôTrình Thọ ở Philippin vốn là những người “tuyệt vọng ở khoa trường”
2.2 Hình thức di cư và các đợt di cư lớn trong lịch sử
Đây là hình thức di cư diễn ra sớm, liên tục, thường xuyên trong lịch
sử Theo tập thể các tác giả trong cuốn “Các nhóm tộc người Trung Quốc ởĐông Nam Á” của viện Đông Phương học, thuộc viện Hàn Lâm khoa họcLiên Xô xuất bản năm 1986, theo VíchtoPuxen thì người Hoa có mặt ở khuvực này (chủ yếu ở Việt Nam) từ thế kỉ III trước công nguyên Theo nguồn tưliệu Việt Nam, Trung Quốc, cũng như theo Lý Thương Phó trong cuốn
“Trung Quốc dân sử” ngay từ thời Hán Vũ đế đã có sự qua lại buôn bán lúagạo, ngọc quý, lưu ly xanh giữa những thương gia Trung Quốc và nhữngngười buôn bán ở bán đảo Mã Lai, Xumatra và vùng Ba Lư Mạt Quốc (thuộcMiến Điện ngày nay)
Trang 22* Di cư có tổ chức, cưỡng bức
Những hình thức di cư tự nhiên diễn ra liên tục, thường xuyên tronglịch sử nhưng những đợt di cư ồ ạt và có tổ chức diễn ra ở các thời kì chính:cuối thời Đường đầu thời Tống (960-1279) Cuối thời Tống - đầu thờiNguyên (1279 - 1368), cuối Nguyên đầu thời Minh (1368 - 1644) cuối Minhđầu Thanh nhất là trong thời kì chiến tranh thuốc phiện (1840), phong tràoThái Bình Thiên Quốc (1850 - 1863), chiến tranh Trung - Nhật (1895), vàcách mạng Tân Hợi (1911) (1: 14-17)
2.2.2 Các đợt di cư trong lịch sử
Đợt thứ nhất: từ thế kỉ I đến thế kỉ X
Bán đảo Đông Dương, trước hết là Việt Nam là mảnh đất đầu tiên củakhu vực Đông Nam Á tiếp nhận dòng người Hoa nhập cư Đợt nhập đầu tiêntương đối ồ ạt của người Hoa vào Việt Nam gắn liền với cuộc xâm lăng củaTần Thuỷ Hoàng Năm 214, nhà Tần đã huy động gần nửa triệu quân trànxuống miền Bắc Việt Nam Mục đích của họ là mở rộng lãnh thổ, gây áp lực
về chính trị và ảnh hưởng buôn bán xuống khu vực Đông Nam Á
Sau khi thôn tính vương quốc Nam - Việt (111 TCN) nhà Hán (206TCN -221 TCN) chia quốc gia thành 9 quận, trong đó có thêm một quận mới
là quận Cửu Chân (thuộc vùng đất từ Ninh Bình đến Nghệ Tĩnh) Như vậy,phần đất chủ yếu của Việt Nam trở thành quận, huyện của Trung Quốc vàngười Hán có thể dễ dàng nhập cư sinh sống ở nơi đây Năm 40 TCN nhàHán đã đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Việt do Trưng Trắc và Trưng Nhịlãnh đạo, từ đó Việt Nam chính thức trở thành nước dưới sự đô hộ của TrungQuốc cho đến thế kỉ X Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc các quan lại, binhlính, thường dân, tù binh và những người di cư tự do được đưa đến xứ sở này
để thực hiện xứ mạng đồng hoá của họ Sau khi giành được độc lập từ tayngười Hán (ở thế kỉ X) chính quyền Việt Nam đã gửi lại cho Trung Quốc tới
Trang 2387000 người, số còn lại được phép ở lại Việt Nam sinh sống Như vậy, đâychính là đợt di cư lớn thứ nhất của đoàn người Hoa sang Việt Nam.
Đợt thứ hai: từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIII
Bước sang thế kỉ XI, XII, XIII, tình hình Trung Quốc vẫn tiếp tục cónhững biến động phức tạp Những cuộc nội loạn bùng nổ chính là yếu tố vàđiều kiện thúc đẩy các cuộc xâm lược diễn ra mạnh mẽ, ồ ạt hơn Các bộ tộcMông Cổ phía Bắc nhân cơ hội rối loạn của nội bộ Trung Quốc đã tấn côngxâm lược lật đổ chính quyền Nam Tống, tiến hành tàn sát dã man nhữngngười Tống yêu nước, thiết lập triều Nguyên (1279- 1368) Trong tình cảnh,máu chảy kêu thành tiếng động thôn xóm biến thành đồng hoang, những cựuthần nhà Tống yêu nước đã rời bỏ tổ quốc để tìm đến lánh nạn ở các nướcĐông Nam Á, hoặc để tỏ rõ thái độ bất hợp tác với chính quyền thống trị nhàNguyên, hoặc tìm nơi náu mình mưu cầu sự nghiệp mới Trong “Tân sử nghĩalược” của Liêu Hồng Trình có viết “tất cả thần dân chu du ra nước ngoài hoặclàm quan tại Chiêm Thành, làm chàng rể ở đất Giao Chỉ, hoặc biệt li viễnquốc” Trong những làn sóng di cư đó, có đoàn thuyền 30 chiếc của TrọngTrưng (sách chép là Trọng Huy) và Tăng Uyên Tử đã đến Việt Nam xin cưtrú ở phường Nhai Tuân (kinh thành Thăng Long) Những người này khôngnhận mình là người Hoa mà nhận mình là Hồi Kê (thuộc dân tộc Hồi Hột tứcngười Uê - Ga ở miền Trung Á), để tránh sự truy nã của nhà Nguyên Trongnhiều bộ biên niên sử Việt Nam, chúng ta thường thấy ghi chép về người Hồi
Kê hay người Hồi Hột, đó chính là những người Hoa di cư từ cuối đời Tốngđầu thời Nguyên Ngoài những người sang xin tị nạn ở Việt Nam, trongnhững đoàn người di cư còn có các viên tướng nhà Tống cùng với binh línhcủa họ xin gia nhập đội quân kháng chiến chống Nguyên của nhà Trần, TriệuTrưng một gia tướng có công của Trần Nhật Duật là một trong những ngườicủa đội quân này Trong thời kì nhà Nguyên thống trị Trung Quốc, dựa trênthế lực của đội quân Mông - Nguyên nhiều thương gia Trung Quốc đã đến
Trang 24buôn bán ở các nước Đông Nam Á hải đảo, những đoàn thương thuyền củaTrung Quốc xuất phát từ hải cảng Quảng Châu đi xuống Cù Lao Chàm và cáchải đảo của các nước Hoàn Vương (thuộc Trung Bộ ngày nay) Từ những hảicảng này, thương thuyền của người Hoa có thể đến eo biển Malacca (Mã Lai),Nam Dương (Indonexia) rồi đến Ấn Độ và La Mã
Đợt thứ ba: từ thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XVII
Tiếp theo làn sóng di cư lớn thứ hai trong lịch sử Trung Quốc vào cuốithời Tống đầu thời Nguyên, là những dòng người di cư cuối thời Nguyên đầuthời Minh nhất là thời kì Minh Thành Tổ vào cuối thời Minh đầu thời Thanh
Sau khi lật đổ chính quyền thống trị Mông - Nguyên (1368) nhà Minhban hành một số chính sách khuyến khích nền kinh tế hàng hoá phát triển, xâydựng hạm đội mạnh để tìm kiếm thị trường buôn bán Có thể nói, sau cuộc cảicách của Vương An Thạch thời Tống, những cuộc cải cách của nhà Minh làbước kế tiếp tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hoá của Trung Quốc bước vàothời kì phát triển mới Lần thứ hai trong lịch sử Trung Quốc sau chuyến vượtbiển trên quy mô lớn của đoàn thuyền Uông Đại Uyên là cuộc viễn du củaTrịnh Hoà Trong gần 30 năm với 50 chiến thuyền, 27000 binh sĩ, với bảy lần
ra đi (lần 1:1406 1407; lần 2: 1407 1408; lần 3:1409 1411; lần 4: 1413 1415; lần 5: 1417 - 1419; lần 6: 1421 - 1425; lần 7: 1431 - 1432) đặt chân lêngần 30 nước: Chăm Pa, Xumatora, Xaraoac, Tây Nam Ấn Độ, Ba Tư, Ả rập…
-và đến tận miền Đông Châu Phi Đoàn thuyền của Trịnh Hoà đã chiêu dụ -vàkhuất phục được một số nước đến thần giao và triều cống Khám phá mở rộngthêm con đường giao lưu trên biển, khống chế được con đường giao thôngthương mại giữa các nước Đông Nam Á và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi chonền kinh tế mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc phát triển, mở đầu thời kì di cưhàng loạt của người Hoa bằng đường biển xuống Đông Nam Á hải đảo
Từ việc mở rộng con đường trao đổi len dạ tơ lụa và hương liệu giữaChâu Á và các nước phương Tây của Trịnh Hoà, người Hoa đã từng bước
Trang 25hình thành nên những trung tâm thương mại ở các nước Đông Nam Á, Ví như
ở Philippin mặt hàng tơ lụa của người Hoa đã chiếm địa vị độc quyền, lấn átmặt hàng tơ lụa của Tây Ban Nha và nước sở tại Theo đó, số lượng tàu buôncủa Trung Quốc đến Philippin ngày càng nhiều Trong những năm 80 của thế
kỉ XVI, trung bình có từ 25 đến 30 chiếc thuyền buôn của người Hoa tập kếtcác hải cảng philippin trong một năm Một mặt, chính quyền thuộc địa TâyBan Nha rất cần sự có mặt của thương gia người Hoa để cung cấp các mặthàng cần thiết, thoả mãn nhu cầu thị hiếu của tầng lớp quan lại, binh lính vànhân dân vùng này Nhưng mặt khác, họ lại sợ sự bá chiếm kinh tế củathương gia người Hoa lấn át nền kinh tế của Tây Ban Nha ở khu vực này Đểgiải quyết mâu thuẫn này, chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha tăng thuếthương nghiệp, thuế cư trú đối với người Hoa, không những vậy, tháng 11năm 1606 vua Tây Ban Nha là Polip II còn ra lệnh hạn chế số lượng ngườiHoa nhập cư hàng năm vào Philippin, tăng thuế cư trú lên gấp đôi Nhữngbiện pháp này, không những không điều hoà được mâu thuẫn, mà ngược lạicòn làm cho mâu thuẫn giữa thương gia người Hoa và thuộc địa Tây Ban Nhangày càng gay gắt hơn Những cuộc tàn sát Hoa kiều nổ ra liên tiếp ởPhilippin trong thời kì Tây Ban Nha thống trị quốc gia này Phải nói rằng, sựtồn tại và vận động của các nhóm cộng đồng người Hoa ở Philippin là mộtquá trình đấu tranh kiên trì cho cuộc sống và cuộc cạnh tranh thương mạiquyết liệt của họ ở khu vực này Vì vậy, những người Hoa ở Philippin càngliên kết chặt chẽ trong các tổ chức xã hội kinh tế tương đối biệt lập
Cũng trong thời gian này, tình hình ở Việt Nam không giống các nướcĐông Nam Á khác Nhà Minh tiến hành xâm lược Việt Nam Trong suốt thời
kì nhà Minh thống trị (1407 - 1427), người Hoa đã tràn vào Việt Nam baogồm nhiều thành phần và nhiều mục đích khác nhau Ngoài những quan lạicai trị và binh lính, còn có những người sang Việt Nam chỉ vì mục đích kinh
tế Dưạ vào thế lực nhà Minh, những thương gia người Hoa trong chừng mực
Trang 26nhất định đã bá chiếm nền kinh tế nội thương của nước ta, nhưng sau khi nhândân Việt Nam giành được nền độc lập dân tộc chiến thắng giặc Minh, trong sốngười Hoa còn lại trên đất Việt Nam ngoài những người buôn bán còn cónhững người hàng binh và tù binh, họ được chính quyền nhà Lê khoan hồng
và cho về các địa phương sống xen kẽ với người Việt
Như vậy, ở Việt Nam cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác, kể từđầu công nguyên đến hết thế kỉ XVI, những dòng người Hoa di cư tuy diễn raliên tục kế tiếp nhau trong lịch sử, nhưng cơ sở kinh tế của những dòng người
di cư còn non yếu, quan hệ hôn nhân cũng chưa đủ điều kiện thực hiện trongtừng nhóm cộng đồng người Hoa riêng biệt vì tỉ lệ phụ nữ trong các đoànngười di cư còn thấp Vì vậy, họ dễ dàng sống hoà nhập với cộng đồng cư trú
sở tại (trừ binh lính và quan lại)
Đợt thứ tư: từ nửa sau thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX
Qua các tế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới, ĐôngNam Á, cũng như Việt Nam có nhiều biến chuyển nên những làn sóng di cưcủa người Hoa ở thời kì này cũng có nhiều nét riêng biệt khác trước Khi triềuMinh sụp đổ, nhà Thanh lên cầm quyền ở Trung Quốc (1644 - 1942), tạo ramột làn sóng di cư của người Hoa xuống Đông Nam Á, mở đầu giai đoạn mớitrong quá trình định cư và hoạt động kinh tế của người Hoa Họ là những thầndân, quan lại, dân di cư tự do của nhà Minh, sau khi thất bại trong cuộc đấutranh chống Mãn Thanh ở phía Nam, một bộ phận lớn di cư sang Đài Loan vàcác nước Đông Nam Á Trong số đó, có một số người Hoa đã tràn vào ViệtNam bằng nhiều con đường khác nhau Một số vượt biên giới tràn vào miềnnúi phía Bắc mở các công trường khai mỏ, hoặc buôn bán và làm ruộng “ĐạiNam thực lục” chép: “Những người nhà Thanh làm mỏ vàng, mỗi nơi tụ tậpkiếm ăn trên dưới bảy tám trăm người” [15:148-149] Có những dòng cư trútập trung thành làng như làng Tống Trinh ở trấn Thái Nguyên, đó là địa bàn
cư trú chính của hai dòng họ Trương và Cát Hai dòng họ này, có nguồn gốc
Trang 27từ Triều Châu Một số khác, vượt biển tràn vào các thương cảng và đô thị củaViệt Nam như: Kẻ Chợ, Phố Hiến (Đàng Ngoài), Thanh Hà, Hội An (ĐàngTrong) và nhanh chóng định hướng con đường hoạt động thương mại.Những hoạt động kinh doanh của người Hoa đã góp phần tạo cơ sở cho quátrình hình thành các khu phố thương nghiệp của Việt Nam, trong đó có khuphố FaiFo (Hội An - Quảng Nam) Đó là một trong những khu phố thươngnghiệp đầu tiên của Việt Nam do người Hoa nắm độc quyền buôn bán Họsống tách biệt với những thương nhân Nhật Bản và các tổ chức thương mạicủa các nhóm ngoại kiều khác, hình thành những khu phố “khách” tương đốiđộc lập.
Ở Thăng Long (Hà Nội), Phố Hiến (Hưng Yên), người Hoa cũng hìnhthành những khu buôn bán riêng biệt, trong quá trình buôn bán người Hoa đãgiao tiếp với khách buôn phương Tây và lén lút buôn bán vũ khí làm cho họTrịnh lo ngại Năm 1668, chính quyền họ Trịnh đã phải hạ lệnh cho ngườiHoa có sự sinh hoạt riêng không được trà trộn với người Việt Nam
Một số khác, trong làn sóng di cư của người Hoa ở thế kỉ XVII đã vượtbiển đi xa hơn vào vùng đất Hà Tiên (trước đây gọi là Mang Khảm), GiaĐịnh, Định Tường, Biên Hoà Tiêu biểu là nhóm do Dương Ngạn Địch vàTrần Thượng Xuyên chỉ huy vào năm 1678 với 3000 người sang Quảng Nam
và sau đó được chúa Nguyễn cho định cư tại vùng Biên Hoà và Mĩ Tho Họđến những vùng đất đó khai khẩn đất hoang, dựng làng, mở phố Trung Hoanhư làng Minh Hương ở Phiên Trấn (Gia Định), Thanh Hà ở Trấn Biên (BiênHoà) do sự sầm uất của phố phường và làm ăn phát đạt của họ nên đã thu hútnơi đây nhiều nhà buôn tứ xứ, từ các miền của Việt Nam, từ Trung Hoa, NhậtBản, các nước Ả Rập, Ấn Độ và các nước Âu châu Tiếp sau đó vào cuối thế
kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII lại có thêm nhóm do Mạc Cửu 4000 người sau khikháng chiến chống Thanh ở phía Nam thất bại vượt biển vào vùng đất HàTiên của Việt Nam và Cam Pốt của Campuchia Họ đã có công biến nơi đây
Trang 28thành một trong những trung tâm buôn bán sầm uất và những điểm truyền bávăn hoá phương Đông ở Việt Nam và Campuchia lúc bấy giờ.
Từ đầu thế kỉ XVIII trở đi, dòng người Hoa nhập cư vào Việt Nam đặcbiệt là vùng đất Nam Bộ ngày càng nhiều Họ lập nên những đô thị mới sầmuất như Chợ Lớn - thị trấn này do các thương gia tư Gia Định, Biên Hoà vàcác nhà buôn người Hoa mới đến lập nên vào năm 1778 vì có nhiều Hoathương ở Chợ Lớn tiếp tay cho chúa Nguyễn chống lại cuộc khởi nghĩa củaTây Sơn nên năm 1782 khi quân Tây Sơn tràn vào Chợ Lớn thì hầu như toàn
bộ phố xá này bị quân Tây Sơn tàn phá và có khoảng 10.000 người Hoa bịgiết hại Sau khi Nguyễn Ánh lên cầm quyền năm 1802 thị trấn Chợ Lớn pháttriển nhanh chóng và trở thành một trong những trung tâm buôn bán lớn nhấtcủa Việt Nam lúc bấy giờ
Như vậy, từ nửa sau thế kỉ XVII trở đi ngoài các cụm dân cư của ngườiHoa được hình thành ở Phố Hiến, Hội An thì vùng đất Nam Bộ của Việt Namcũng xuất hiện hàng loạt phố của người Hoa Nếu như trước đó, quá trình liênkết hoá dân tộc của người Hoa diễn ra chậm chạp thì từ sau thế kỉ XVII trở điquá trình đó diễn ra nhanh chóng và cộng đồng người Hoa trở thành một bộphận ổn định thường xuyên trong xã hội Việt Nam
Sau những làn sóng di cư có tổ chức này, người Hoa vẫn tiếp tục trànvào Việt Nam trong những thế kỉ XVIII, XIX nhất là vào nửa sau thế kỉ XIX
và nửa đầu thế kỉ XX, khi hầu hết các nước Đông Nam Á đã trở thành thuộcđịa và phụ thuộc của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây, và lúc đó trênlãnh thổ Trung Quốc cũng liên tiếp có những biến động về kinh tế, chính trị
và xã hội khá phức tạp Sau cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840) và phongtrào Thái Bình Thiên Quốc (1850- 1864) từng nhóm người có vũ trang haykhông có vũ trang tràn vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam Ngoài những nhóm
cờ trắng, cờ đen, cờ vàng, hoạt động mạnh ở vùng Quảng Ninh mà nhiều nhất
là hai châu (Vạn Ninh và Tiên Yên), vùng biển An Hải hàng năm có tới 200
Trang 29chiếc thuyền của người Thanh cập bến Họ làm nhà ngay trên bãi cát venbiển, cướp giật của cải, đốt phá nhà cửa của cư dân địa phương, chống lạiquan quân coi vùng biên giới của Việt Nam, gây nên tình trạng không ổnđịnh, căng thẳng kéo dài suốt trong thời kì chúng chiếm đóng khu vực này.Tình hình đó, buộc triều đình Huế phải thông báo với nhà Thanh, chớp thời
cơ, vua Thanh cho Phùng Tử Tài cầm đầu 1 vạn quân kéo sang Bề ngoài là
để tiễu trừ các nhóm tàn quân “Thái Bình Thiên Quốc” nhưng bên trong lại ralệnh cho Du Khoan, Nghê Văn Uất điều quân chiếm đóng một số vùnghiểm yếu và sẵn sàng vào Việt Nam tranh giành Bắc Kì với Pháp Cùng thờigian này, vua Thanh cho quan tỉnh Vân Nam là Tạ Kinh Bưu chỉ huy badoanh quân sang đóng ở Quán Ty thuộc huyện Trấn Yên (tỉnh Hưng Hoá).Tiếp theo đó, tháng 10 năm 1882 vua Thanh hạ lệnh cho Hoàng Quế Lanthống lĩnh 12 doanh quân sang đóng giữa các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, CaoBằng, Thái Nguyên , Triệu Ốc chỉ huy 3 doanh quân chiếm đóng ở TuyênQuang, Thái Nguyên Tháng 1 và tháng 2 năm 1883, vua Thanh cho bọnĐường Cảnh Tùng, Đường Đình Canh sang Việt Nam thám sát tình hình.Vua Thanh còn hạ lệnh cho quân cờ đen ở Việt Nam giết hết số dân theo đạo
cơ đốc ở Bắc Kì làm hậu thuẫn cho cuộc thương lượng với Pháp về vấn đềViệt Nam Tháng 6 năm 1883 vua Thanh cho thêm quân do Từ Diên Húc chỉhuy tiến sang Việt Nam để hợp sức với quân của Hoàng Quế Lan và Triệu Ốcmưu chiếm Bắc Kì Trong tình hình này, người Hoa ồ ạt vào Việt Nam suốttrong những năm 60, 70, 80, của thế kỉ XIX, chủ yếu là những tàn quân củaphong trào “Thái Bình Thiên Quốc” và những binh lính dân binh phục vụnhững cuộc hành quân xâm chiếm các tỉnh phía Bắc Việt Nam của triều đìnhnhà Thanh Đến tháng 6 năm 1885 sau khi Pháp và Trung Quốc kí hiệp ước
“hoà bình, hữu nghị, thương mại” thì số binh lính tràn vào các tỉnh phía BắcViệt Nam mới giảm đi Sau hiệp ước đó, nhà Thanh buộc phải chấm dứt việcđưa quân sang Việt Nam Trong tình hình đó, thực dân Pháp có điều kiện để
Trang 30tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa, cũng từ đó Việt Nam nói riêng, ĐôngNam Á nói chung trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế thừa, nơi bóc lộtnhân công rẻ mạt Do vậy, đã thu hút lực lượng người Hoa di cư đông đảothêm.
Khác với những làn sóng di cư của người Hoa ở các thế kỉ trước, thànhphần di cư chủ yếu trong giai đoạn này chủ yếu là những thương gia và thợthủ công bị mất tư liệu sản xuất, nên khi đến địa bàn cư trú mới, họ thường tụ
cư ở các vùng đô thị, bến cảng hay giao điểm của các trục đường giao thôngchính như: Kinh Kì, Phố Hiến, Hội An, Sài Gòn - Chợ Lớn TheoVichtopuxen, chỉ tính riêng Nam Bộ Việt Nam, năm 1889 số người Hoa nhập
cư là 57.000 người, trong đó có 16.000 sống ở khu Chợ Lớn, 7000 người ởSài Gòn, 8000 người ở Sóc Trăng, 4000 người ở Trà Vinh và khoảng 3000người ở Gia Định, Cần Thơ, Bạc Liêu 1800 người ở vùng phụ cận Sa đéc vàChâu Đốc
Từ những năm đầu của thế kỉ XX đến cuộc cách mạng Tân Hợi (1911)
và chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), một phần do ảnh hưởng củatrào lưu dân chủ thế giới, mặt khác do tình hình chuyển biến khá mạnh mẽcủa khu vực Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng, số lượng ngườiHoa di cư vào Việt Nam ngày càng nhiều Theo Vichtopuxen, chỉ tính riêngtrong 10 năm (từ 1912- 1922) có tới 157.958 người Hoa di cư đến Việt Nam,theo tài liệu thống kê của chính quyền Pháp ở Đông Dương thì đến năm 1920
số người Hoa phân bố ở các tỉnh Việt Nam lên đến hàng ngàn, có tỉnh hàngchục ngàn
Trang 31Bảng 1:
Tên tỉnh Người
Âu
Người Việt
Người Hoa
Người Minh Hương
Người Nhật Người Pháp
Người Ấn
32082 90 150 1041 13600 1675 215509 25893 204454 160000 19878 19300 25000 1000 361000 80000 1690 369195 3117 83101
600 932798 135327 880000 440188 255110 1090854 800000 583000 126630 16684 227650 838000
1625 71 300 1854 288 2986 39 504 29 36 2777 106 5000 2000 120 20 225 80 3160 3377 10250 800 229 429 1065 70 70 321 465 52 44 77 530 1209
7 680 825
53 16
14 202 60 79
4
2
7 2
4 2 14
6 79
4 1 3 6
Trang 327000 384000 95350 135327 60000 121520 9000 1200 41302 62485 52011 307463 106631 229886 139562 10120 200852 255860 185820 300036 95172 95727 72529 96690 76986 97828 121389 135879 183845
647 335 960 429 860 1308
12 30583 5993 563 2070 1789 6675 1580 1129 2809 3400 1898 3719 583 3424 9207 748 471 1765 4079 1814 3290
7000 53
1214 14095 174 235 759 2922 1578 912 1447 1246 1286 898 54 2182 16445 102 1075 900 697 2566 2700
5
3
25 5 1
4 1500 34 19 18 11 131 2
36 16 78 25 55 51 6 23 20 39 4 20
Trang 33Bảng 2: Dân số người Hoa ở miền Nam Việt Nam năm 1955.
175005500150017000145001800300040002500150050002400400055001200380025001500650016000600
20000110002000270002000065006500100005000250001100050008000120001700430065004300140002600015000573000
Qua bảng số liệu trên, ta thấy rằng đến thời gian này người Hoa đã cómặt ở hầu khắp mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam, điểm tụ cư tập trung của họchính là những trung tâm thương mại, ở đô thị và các trục đường giao thông.Điều này, cũng dễ hiểu bởi hầu hết người Hoa đến Việt Nam trong khoảngthời gian này vì mục đích kinh tế là chủ yếu…Nhìn chung, sự di cư của ngườiHoa vào Việt Nam càng về sau càng diễn ra mạnh hơn, nhanh hơn và đông
Trang 34đảo hơn Dần dần hình thành nên một cộng đồng người Hoa cố định trên lãnhthổ Việt Nam và chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh tế,cũng như đời sống văn hoá của người Việt.
2.3 Sự nhập cư và cuộc sống của người Hoa ở Việt Nam
Bắt đầu cuộc sống mới trên quê hương mới, điều đó luôn là nỗi lo lắngcủa người dân di cư, tình thế buộc họ phải sớm có sự định cư với người bảnđịa Chúng tôi nhận thấy rằng, người Hoa đến Việt Nam trong những bối cảnhlịch sử tương đối khác biệt với nhiều quốc gia trong khu vực Bởi lẽ đó mà sựhội nhập của người Hoa phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của các chính thểcầm quyền Việt Nam đối với họ
Dưới thời phong kiến, 1000 năm phương Bắc đô hộ đã cho người Việtnhững bài học xương máu về sự cần thiết trong việc xây dựng và củng cốchính quyền quốc gia dân tộc, để chống lại âm mưu thôn tính của ngoại bang
Từ thế kỉ X, sau ngày giành độc lập, chính quyền Việt Nam đã thi hành bắtbuộc những chính sách liên quan đến hội nhập và đồng hoá người Trung Hoa
di trú Dưới thời Lý - Trần cai trị đất nước (1009- 1400) chính quyền ViệtNam đã đón tiếp nồng hậu những người Trung Hoa sang Việt Nam xin tị nạn
và nếu họ muốn sống ổn định lâu dài trên đất Việt thì có thể được tuyển dụnglàm việc trong bộ máy cai trị của Việt Nam, kể cả hàng ngũ chức cao cấp Vớinhững chính sách tích cực này của các vị vua thời Lý - Trần, trong một chừngmực nhất định đã thúc đẩy một cách có hiệu quả tiến trình đồng hoá tự nhiênngười Hoa di trú Suốt 4 thế kỉ, ở Việt Nam đã không xảy ra mẫu thuẫn sắctộc giữa người Việt Nam và người Trung Hoa di trú, mặc dầu trong giai đoạn
đó giới cầm quyền Trung Quốc luôn tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lượchay hành quân lấn chiếm chống lại nước Đại Việt
Dưới thời Hậu Lê (1428- 1592) và nhà Trịnh ở Đàng Ngoài, với mụcđích bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và cố gắng tôn tạo nền văn hoá dân