1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân Tích Các Nhân Tố Tác Động Đến Cấu Trúc Vốn Của Các Doanh Nghiệp Bất Động Sản Niêm Yết

69 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MAI THỊ THÙY TRANG PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN SỞ GDCK TP HCM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201

Trang 1

MAI THỊ THÙY TRANG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN SỞ GDCK TP HCM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

MAI THỊ THÙY TRANG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN SỞ GDCK TP HCM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Văn Sĩ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 4

1.1 Tổng quan: 4

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu: 6

1.5 Ý nghĩa của đề tài: 6

1.6 Kết cấu của luận văn: 6

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8

2.1 Các lý thuyết về cấu trúc vốn: 8

2.1.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani &Miller (M&M): 8

2.1.2 Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn: 8

2.1.3 Lý thuyết trật tự phân hạng: 9

2.1.4 Lý thuyết về chi phí đại diện: 10

2.1.5 Lý thuyết tín hiệu: 10

2.2 Các nghiên cứu trước đây: 10

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Mô hình nghiên cứu: 15

3.2 Phương pháp nghiên cứu 17

3.2.1 Thu thập và xử lý số liệu: 17

3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn: 17

3.2.2.1 Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp - Biến phụ thuộc: 17

Trang 5

3.2.2.2 Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn (đòn bẩy tài chính) của doanh

nghiệp: 18

3.2.2.2.1 Khả năng sinh lời (ROA): 18

3.2.2.2.2 Tài sản hữu hình (FA và TANG): 19

3.2.2.2.3 Qui mô của doanh nghiệp (SIZE): 20

3.2.2.2.4 Tăng trưởng (GROW): 21

3.2.2.2.5 Rủi to kinh doanh (RISK): 22

3.2.2.2.6 Tính thanh khoản của tài sản (LIQ): 23

CHƯƠNG IV: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

4.1 Thực trạng tình hình các doanh nghiệp bất động sản hiện nay: 24

4.1.1 Nợ vay chiếm tỷ trọng lớn trong cấu trúc vốn: 24

4.1.2 Nợ vay ngắn hạn lớn hơn nợ vay dài hạn 25

4.1.3 Hiệu quả sử dụng nợ của các doanh nghiệp 26

4.2 Thống kê mô tả các biến độc lập 27

4.2.1 Thống kê mô tả biến độc lập khả năng sinh lời: 27

4.2.2 Thống kê mô tả biến độc lập tài sản hữu hình: 29

4.2.3 Thống kê mô tả biến độc lập quy mô doanh nghiệp: 31

4.2.4 Thống kê mô tả biến độc lập tăng trưởng: 33

4.2.5 Thống kê mô tả biến độc lập rủi ro kinh doanh: 35

4.2.6 Thống kê mô tả biến độc lập tính thanh khoản của tài sản: 37

4.3 Kết quả nghiên cứu: 38

4.3.1 Phân tích tương quan: 38

4.3.2 Mô hình hồi quy: 40

4.3.3 Kiểm tra các giả định của mô hình: 44

Trang 6

4.3.3.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình và kiểm định sự phù hợp của mô hình:

44

4.3.3.2 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: 48

4.3.3.3 Kiểm tra phần dư εi (sai số): kiểm định tính độc lập của phần dư: (không có tự tương quan giữa các phần dư) 50

4.3.4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu: 52

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 54

5.1 Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam: 54

5.1.1 Tài sản hữu hình: 54

5.1.2 Quy mô doanh nghiệp: 54

5.1.3 Cơ hội tăng trưởng 55

5.1.4 Tính thanh khoản của tài sản: 55

5.2 Phân tích các bất cập từ kết quả nghiên cứu: 55

5.3 Một số ý kiến của tác giả về vấn đề hoàn thiện cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam: 57

5.4 Hạn chế của nghiên cứu: 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

1 LEV : Tỷ số tổng nợ so với tổng tài sản

10 Sở GDCK TP HCM : Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ

Chí Minh

Trang 8

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

1.1 Tổng quan:

Trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp, nguồn vốn đóng một vai trò rất quan trọng, là khởi nguồn sự sống cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Hay nói cách khác, trong tất cả các giai đoạn của mình, từ thành lập, phát triển đến bảo hòa, suy thoái, doanh nghiệp đều cần phải sử dụng vốn Với vai trò quan trọng mang tính chất quyết định như vậy, một cấu trúc vốn tối ưu nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp tối

đa với số vốn hữu hạn là một yêu cầu được đặt ra đối với các nhà quản trị tài chính Tuy nhiên để xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu thì việc đầu tiên là các nhà quản trị tài chính phải xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp như thế nào Từ những nghiên cứu trước đây cho thấy, có rất nhiều nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, từ các nhân tố bên trong xuất phát từ bản thân doanh nghiệp như lợi nhuận, quy mô của doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, rủi ro kinh doanh, tài sản đảm bảo của doanh nghiệp,… đến các nhân tố bên ngoài mang tính vĩ mô như thuế, lạm phát kỳ vọng, lãi suất, thị trường tài chính,… Tùy thuộc từng loại hình và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau thì mức độ tác động của các nhân

tố này lên cấu trúc vốn sẽ khác nhau, có thể sẽ có tương quan thuận chiều hoặc ngược chiều với cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việc làm rõ tầm ảnh hưởng của các nhân tố nêu trên đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu Điều này giúp doanh nghiệp có thể tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn và rủi ro có thể xảy ra, từ đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Bên cạnh đó, trong thời gian qua (2007-2012), các doanh nghiệp nói chung cũng như các doanh nghiệp bất động sản nói riêng đã trải qua nhiều biến động đáng kể, chịu tác động từ các khó khăn của nền kinh tế trong nước cũng như cuộc khủng hoảng kinh

tế thế giới Nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản từ chỗ phát triển thịnh vượng

Trang 9

vào những năm trước đó thì hiện nay đang lâm vào tình trạng khó khăn, hoạt động trì trệ Tình trạng bong bóng của thị trường bất động sản trong giai đoạn thịnh vượng làm cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản gặp khó khăn trong việc tiêu thụ khi thị trường nhà đất đóng băng Vấn đề đặt ra, có phải chăng trong thời gian thịnh vượng và phát triển, các doanh nghiệp bất động sản đã không hoạch định cho mình một cấu trúc vốn tối ưu trong dài hạn

Chính vì những lý do nêu trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Phân tích

các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP HCM” Từ bài viết này tác giả hy vọng có thể đưa ra một cái

nhìn tổng quát về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản, từ đó đưa ra một vài gợi ý hoàn thiện, cung cấp thêm cơ sở cho các quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp bất động sản

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục tiêu sau:

- Dựa trên những lý thuyết về cấu trúc vốn và các nghiên cứu trước đây, phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên

Sở GDCK TP HCM

- Xây dựng mô hình định lượng để khảo sát mối tương quan giữa các nhân tố nêu trên Dựa vào các kết quả nghiên cứu đạt được, bài viết đưa ra những nhận định về sự tác động của các nhân tố lên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP HCM

- Trên cơ sở kết quả thu được và các nhận định đưa ra, bài viết nêu ra một số gợi

ý và kiến nghị cho việc xây dựng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP HCM

Trang 10

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: căn cứ vào danh sách các doanh nghiệp niêm yết do Sở

GDCK TP HCM công bố, đối tượng nghiên cứu của bài viết là 35 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản (Phụ lục 1)

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: bài viết tập trung thu thập số liệu phân tích liên quan đến các doanh nghiệp bất động sản được niêm yết trên Sở GDCK TP HCM thông qua dữ liệu báo cáo tài chính đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng

+ Về thời gian: thời gian nghiên cứu được giới hạn từ 2007 – 2012, đây là giai đoạn thực tế phản ánh sâu sắc, chính xác nhất thực trạng doanh nghiệp bất động sản Trong giai đoạn này các doanh nghiệp đã phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốn

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng Tác giả sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để khảo sát sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp, trên cơ sở các lý thuyết cấu trúc vốn và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây Tác giả có sử dụng các chương trình SPSS và Excel để hỗ trợ tính toán trong nghiên cứu

1.5 Ý nghĩa của đề tài:

Nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn GDCK TP HCM và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp này Thông qua kết quả nhận được từ việc phân tích, đánh giá lợi ích và sự tương quan của các nhân tố trên đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một cấu trúc vốn hiệu quả trong tình hình kinh tế hiện nay

1.6 Kết cấu của luận văn:

Chương 1: Giới thiệu

Trang 11

Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận

Trang 12

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TRƯỚC ĐÂY

2.1 Các lý thuyết về cấu trúc vốn:

2.1.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani &Miller (M&M):

Nghiên cứu của M&M (1958) về cấu trúc vốn doanh nghiệp thể hiện:

Trong môi trường thị trường vốn là hoàn hảo (không có thuế thu nhập doanh nghiệp, không có chi phí giao dịch khi mua bán chứng khoán, không có chi phí phá sản

và chi phí khó khăn tài chính, cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau, không có bất cân xứng thông tin):

Giá trị thị trường của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng độc lập với cấu trúc vốn của

nợ Nói cách khác, giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp

không sử dụng nợ

Nghiên cứu của M&M (1963) tiếp nối nhưng có tính đến thuế thu nhập doanh

nghiệp Theo M&M do chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ thuế thu nhập

doanh nghiệp do đó giá trị doanh nghiệp có nợ vay sẽ bằng giá trị doanh nghiệp không

sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ mang lại Tóm lại, cấu trúc vốn có

liên quan đến giá trị doanh nghiệp và việc sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng gia tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp sử dụng nợ đến 100%

2.1.2 Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn:

Xem xét thêm ảnh hưởng của chi phí phá sản và chí phí kiệt quệ tài chính, cấu trúc vốn của M&M được xác định lại: tỷ trọng nợ trong doanh nghiệp sẽ tăng cho đến khi nào lợi ích từ thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn còn thấp hơn chi phí kiệt quệ tài chính Do đó, các doanh nghiệp nên chọn tỷ lệ nợ tối ưu mà tại đó hiện giá của khoản tiết kiệm từ thuế thu nhập doanh nghiệp do vay nợ thêm vừa đủ để bù trừ cho gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ (Mô tả như Hình 1.1)

Trang 13

Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có tài sản hữu hình an toàn và có nhiều thu nhập chịu thuế để được hưởng lợi từ tấm chắn thuế thì thường có tỷ lệ nợ mục tiêu cao Các doanh nghiệp có tài sản vô hình chiếm đa số trong cơ cấu tài sản mang nhiều rủi ro thì

có tỷ lệ nợ mục tiêu thấp và thường dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần

2.1.3 Lý thuyết trật tự phân hạng:

Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers S.C (1984)

Lý thuyết này bắt đầu như là kết quả của bất cân xứng thông tin trên thị trường Thông tin bất cân xứng tác động đến việc lựa chọn giữa nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa phát hành nợ mới và phát hành cổ phần Theo quan điểm của nhà đầu tư bên ngoài, vốn cổ phần và nợ đều có rủi ro, tuy nhiên mức độ rủi ro ở vốn

cổ phần cao hơn Vì thế, các nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ

phần cao hơn trên nợ Điều này dẫn tới một trật tự phân hạng, theo đó ẽ ợ

ợ ớ ằ ộ ộ ủ ợ ạ

ợ ớ ớ Phát hành vốn cổ phần

mới thường là phương án cuối cùng khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả năng vay nợ

Trang 14

2.1.4 Lý thuyết về chi phí đại diện:

Theo nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976), lý thuyết chi phí đại diện là

nêu lên chi phí gây ra do mâu thuẫn lợi ích giữa chủ nợ, cổ đông và nhà điều hành Trong đó:

Chi phí đại diện của vốn cổ phần là do mâu thuẫn giữa nhà điều hành và cổ đông, nhà điều hành có xu hướng đầu tư vào các dự án theo quyết định chủ quan của họ làm tăng quy mô doanh nghiệp nhưng lại ít quan tâm đến chính sách cổ tức cho cổ đông, còn cổ đông thì luôn muốn được phân chia cổ tức càng nhiều càng tốt

Chi phí đại diện của nợ phát sinh còn do mâu thuẫn giữa chủ nợ và cổ đông Các chủ nợ thì luôn muốn được trả nợ gốc và lãi đúng hẹn, trong khi các cổ đông thì có thể chiếm hữu tài sản chủ nợ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư

2.1.5 Lý thuyết tín hiệu:

Theo nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976), lý thuyết chi phí đại diện là

nêu lên chi phí gây ra do mâu thuẫn lợi ích giữa chủ nợ, cổ đông và nhà điều hành Trong đó:

Chi phí đại diện của vốn cổ phần là do mâu thuẫn giữa nhà điều hành và cổ đông, nhà điều hành có xu hướng đầu tư vào các dự án theo quyết định chủ quan của họ làm tăng quy mô doanh nghiệp nhưng lại ít quan tâm đến chính sách cổ tức cho cổ đông, còn cổ đông thì luôn muốn được phân chia cổ tức càng nhiều càng tốt

Chi phí đại diện của nợ phát sinh còn do mâu thuẫn giữa chủ nợ và cổ đông Các chủ nợ thì luôn muốn được trả nợ gốc và lãi đúng hẹn, trong khi các cổ đông thì có thể chiếm hữu tài sản chủ nợ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư

2.2 Các nghiên cứu trước đây:

Dựa trên cơ sở của các lý thuyết, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Hầu hết các

đề tài thực nghiệm đều dựa trên danh sách các nhân tố được đưa ra trong hai nghiên

cứu: Titman và Wessels (1988), Harris và Raviv (1991) Năm 1991, Harris và Raviv

Trang 15

đề xuất một số nhân tố như sau: tài sản cố định, tấm chắn thuế phi nợ, cơ hội đầu tư, qui mô doanh nghiệp, biến động doanh thu, rủi ro riêng của doanh nghiệp, lợi nhuận, chi phí quảng cáo, chi phí R&D và đặc điểm riêng của sản phẩm Trong khi đó, Titman

và Wessels (1988) thì thấy rằng không có tác động của tấm chắn thuế phi nợ, rủi ro kinh doanh, giá trị tài sản đảm bảo hoặc cơ hội phát triển đến tỷ lệ vay nợ

Nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995) nhận thấy rằng các nhân tố tác động

đến cấu trúc vốn của hầu hết các nước G-7 đều giống nhau: cơ hội tăng trưởng, tỷ suất sinh lợi, tài sản hữu hình và qui mô doanh nghiệp

Bài viết của Saumitra N.Bhaduri (2002), “ Determinants of capital structure : a d f I d a a ” đã có một nghiên cứu thực nghiệm về

cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Ấn Độ Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp này bao gồm: tăng trưởng, dòng tiền mặt, quy mô, đăc điểm sản phẩm và đặc điểm ngành công nghiệp Ngoài ra nhân tố chi phí tái cơ cấu cũng được tìm thấy là có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn

Jean J.Chen (2003), “Determinants of capital structure of Chinese-listed

companies”, đã có một nghiên cứu về cấu trúc vốn của các công ty niêm yết của Trung

Quốc Bài nghiên cứu cho thấy các công ty Trung Quốc xây dựng một cấu trúc vốn tuân theo "trật tự phân hạng mới" – đầu tiên là lợi nhuận giữ lại, rồi tới vốn cổ phần, nợ dài hạn là sự lựa chọn cuối cùng – điều này là hoàn toàn khác với lý thuyết trật tự phân

hạng của Myers S.C (1984) Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn cho thấy một tỷ lệ nợ

thấp tại các công ty này, điều này chỉ ra rằng các công ty niêm yết ở Trung Quốc ưa thích tài trợ chủ yếu bằng vốn cổ phần hơn là nợ

Micheal Paukender & A.Petersen (2004) “Does the source of capital affect

capital structure?” Trên cơ sở phân tích thực nghiệm 6000 công ty thuộc lĩnh vực tài

chính và 9000 công ty thuộc nhiều lĩnh vực khác ở nước Mỹ từ năm 1986 đến năm

2000 Bài nghiên cứu xem xét cấu trúc tài chính bao gồm cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn

và đo lường tỷ suất tổng nợ vay trên tổng tài sản theo giá trị sổ sách và giá trị thị

Trang 16

trường Trong đó, 10 biến độc lập của mô hình bao gồm: giá trị thị trường của tài sản, giá trị sổ sách của tài sản, doanh thu, số năm hoạt động của doanh nghiệp, lợi nhuận biên, tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của tài sản, tỷ số nghiên cứu và phát triển trên doanh thu, tỷ số quảng cáo trên doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp, mức gia tăng của thu nhập trên vốn chủ sở hữu Nhìn chung kết quả của bài nghiên cứu cho thấy các biến đều có ý nghĩa, nhưng thấy rõ nhất là cấu trúc tài chính có tương quan dương với thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị của tài sản và có tương quan âm với chỉ tiêu giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, lợi nhuận biên của doanh nghiệp

Nghiên cứu của Shinichi Nishioka (2004) “Dynamic capital structure of

Japanese firms” phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của 700 công

ty trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2004 trên thị trường chứng khoán Tokyo Dựa trên

mô hình hồi quy tuyến tính bao gồm 2 biến phụ thuộc là tổng nợ phải trả chia cho tổng tài sản theo giá trị sổ sách; tổng nợ phải trả chia cho tổng giá trị thị trường Các biến độc lập như chi phí nợ, mức độ biến động của giá trị công ty, khả năng tăng trưởng, khả năng sinh lời, quy mô công ty, tài sản thế chấp và 2 biến giả là thời gian và ngành Kết quả thu được là tài sản thế chấp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ đòn cân nợ và quy mô công ty, khả năng tăng trưởng và khả năng sinh lời có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với đòn cân nợ

Liufang Li (2010) “What factors might explain the capial structure of listed real

estate firms in China?” nghiên cứu thực nghiệm một số doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán của Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 2003 – 2007 Bài viết phân tích xem những nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp này Tổng tài sản, tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà nước và tỷ số tài sản hữu hình được tìm thấy có mối quan hệ tỷ lệ thuận, trong khi tốc

độ tăng trưởng của thu nhập và tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản thì lại có mối quan hệ

tỷ lệ nghịch Hầu hết các phát hiện từ mô hình đều đồng nhất với lý thuyết của M&M,

lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng Tuy nhiên, kết quả vẫn có điểm mới

Trang 17

so với lý thuyết, những khác biệt về thể chế và những hạn chế về tiếp cận vốn trên thị trường tài chính cũng là những yếu tố quan trọng đối với các quyết định về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp này

Binsbergenvà cộng sự (2011) “Optimal Capital Structure” thì cho rằng một cấu

trúc vốn tối ưu được xây dựng dựa trên các nhân tố tác động: tài sản đảm bảo, logarit của tổng tài sản, tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, tài sản vô hình, dòng tiền và chính sách cổ tức của công ty Bài viết cũng đã tạo ra công thức có thể tính chính xác

số tiền nợ tối ưu của một công ty bất kỳ

Nurul Syuhada Baharuddin và cộng sự (2011) “Determinants of Capital

Structure for Listed Construction Companies in Malaysia” phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Malaysia Tác giả nghiên cứu 42 công ty xây dựng trong khoảng thời gian 7 năm từ 2001 – 2007 với tổng số quan sát là 294 Biến độc lập là tỷ số nợ và được tính theo tỷ số giữa tổng nợ và tổng tài sản, trong khi đó có 4 biến phụ thuộc là khả năng sinh lời, quy mô, tốc độ tăng trưởng và tài sản hữu hình Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng sinh lời có mối tương quan âm với tỷ số nợ trong khi quy mô, tốc độ tăng trưởng và tài sản hữu hình có mối tương quan dương với tổng nợ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng, cấu trúc vốn của các công ty xây dựng Malaysia phụ thuộc nhiều vào vay nợ để tăng trưởng và phát triển Lợi nhuận của các công ty này thì giảm khi

họ sử dụng càng nhiều nợ

Nhiều nghiên cứu còn đi sâu tìm hiểu cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, cụ thể: các doanh nghiệp ngành sản xuất (Long và Malitz (1985); Titman và Wessels (1988)); doanh nghiệp cung cấp điện (Modigliani và Miller (1966)); doanh nghiệp bất động sản (Maris va Elayan (1990), Allen (1995)); doanh nghiệp ngành chế biến thủy sản (GS Nguyễn Thị Cành và cộng sự (2012));

Từ việc xem xét tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả băn khoăn riêng đối với cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam thì các nhân tố

Trang 18

nào thực sự có tác động Mục đích của tác giả nhằm cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm nữa về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản

Trang 19

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu:

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu dạng bảng và mô hình hồi qui tuyến tính để kiểm nghiệm các giả thiết về mối tương quan giữa tỷ lệ đòn bẩy tài chính

và các nhân tố được cho là có tác động đến nó

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã trình bày, tác giả xây dựng mô hình hồi qui và lựa chọn các biến trong phân tích Mô hình hồi qui như sau:

Y = αi + βnXn + εiTrong đó:

Đo lường các biến nghiên cứu:

Theo mô hình hồi quy của bài nghiên cứu này, cấu trúc vốn của doanh nghiệp được đại diện bởi tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Trong đó các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp được đưa vào mô hình bao gồm 7 nhân tố, đây chính là

7 biến độc lập

Trang 20

Bảng 1 giải thích các biến phụ thuộc và biến độc lập đã được chọn cho nghiên cứu này:

Bảng 1 Các nhân tố tác động đến cấu trúc cấu trúc vốn của các doanh nghiệp bất động sản và xây dựng niêm yết trên Sở GDCK TP HCM

STT Biến phụ thuộc (y)

Tổng nợ Tổng tài sản

Tổng nợ ngắn hạn Tổng tài sản

Tổng nợ dài hạn Tổng tài sản

Tương quan

kỳ vọng với cấu trúc vốn

Lợi nhuận ròng sau thuế

(Bất động sản đầu tư + Tài sản cố định)

(tổng tài sản t - tổng tài sản t-1 )

% biến động trong EBIT

% biến động trong doanh thu thuần -

6

Tính thanh khoản của tài

sản

LIQD

Tổng tài sản ngắn hạn

Trang 21

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sử dụng mô hình kinh tế lượng để khảo sát

sự ảnh hưởng của các biến độc lập: (1) khả năng sinh lời (ROA), (2) tài sản hữu hình (FA), (3) qui mô doanh nghiệp, (4) tăng trưởng, (5) rủi ro kinh doanh, (6) tính thanh khoản của tài sản đến biến phụ thuộc tỷ lệ nợ trên tổng tài sản trong doanh nghiệp, trên

cơ sở các lý thuyết cấu trúc vốn và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây Tác giả đã sử dụng các công cụ sau để phân tích dữ liệu: thông kê mô tả, mô hình hồi quy và chương trình SPSS

3.2.1 Thu thập và xử lý số liệu:

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 35 doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 1) Số liệu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu là số liệu trong các báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán

và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) từ năm 2006 đến năm 2012 Các báo cáo tài chính phải tuân theo chuẩn mực của kế toán Việt Nam, được kiểm toán hàng năm và công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng

Bằng phương pháp tìm kiếm, trích lọc các số liệu thô từ các báo cáo tài chính, tác giả sử dụng các công thức tính toán để xử lý số liệu cho phù hợp Sau đó, tác giả dùng chương trình SPSS để xử lý, chạy mô hình và lập các bảng biểu thể hiện các kết quả nghiên cứu nhận được

3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn:

Qua các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy có rất nhiều nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Do giới hạn về khả năng thu thập dữ liệu của tác giả, cũng như đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp bất động sản nói riêng, tác giả chỉ đưa ra các nhân tố chính như sau:

3.2.2.1 Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp - Biến phụ thuộc:

Trong nghiên cứu này, đòn bẩy tài chính được chọn làm đại diện cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp, được tính bởi tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, cho thấy mức độ tài trợ

Trang 22

của doanh nghiệp bằng vốn vay Đối với doanh nghiệp, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp các nhà quản lý lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho doanh nghiệp Đối với nhà đầu

tư, tỷ số đòn bẩy tài chính cho thấy mức độ rủi ro của doanh nghiệp, từ đó gợi ý các quyết định đầu tư

Do hạn chế về số liệu nên nghiên cứu này chỉ sử dụng giá trị sổ sách theo bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp để đo lường đòn bẩy tài chính và được tính toán như sau:

Tỷ số tổng nợ so với tài sản

Tổng nợ Tổng tài sản

Tỷ số nợ ngắn hạn so với tài sản

Tổng nợ ngắn hạn Tổng tài sản

Tỷ số nợ dài hạn so với tài sản

Tổng nợ dài hạn Tổng tài sản

3.2.2.2 Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn (đòn bẩy tài chính) của doanh nghiệp:

3.2.2.2.1 Khả năng sinh lời (ROA):

Để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tác giả sử dụng tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và được tính như sau:

Trang 23

tấm chắn thuế càng trở nên hấp dẫn hơn Theo nghiên cứu thực ngiệm của Long và Malitz (1985), tỷ suất sinh lợi có mối tương quan dương (+) với tỷ lệ đòn bẩy tài chính Nhưng theo lý thuyết trật tự phân hạng, chủ doanh nghiệp thường ưu tiên đầu tư

từ nguồn vốn nội bộ là lợi nhuận giữ lại, và khi đã sử dụng hết lợi nhuận giữ lại thì doanh nghiệp mới sử dụng nguồn vốn vay Điều này cho thấy doanh nghiệp sẽ ít đi vay mượn nếu như họ có càng nhiều lợi nhuận Nhiều kết quả của các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài chính: Chang (1987), Titman và Wessels (1988)

Do đó, ta có giả thuyết H1 như sau:

H1: Khả năng sinh lời có mối tương quan âm (+) hoặc (-) với đòn bẩy tài chính

3.2.2.2.2 Tài sản hữu hình (FA và TANG):

Có nhiều cách để xác định tài sản hữu hình, chẳng hạn “tài sản cố định/ tổng tài sản” (Rajan và Zinggaless, 1995) hoặc là “(tài sản cố định+hàng tồn kho)/ tổng tài sản” (Hu Jun 2008) Trong bài để đo lường nhân tố tài sản hữu hình của doanh nghiệp, tác giả sử dụng hai công thức:

H2: Tài sản hữu hình có mối tương quan dương (+) với đòn bẩy tài chính

Trang 24

Nguyên nhân sử dụng 2 công thức tính tài sản hữu hình: theo quan sát của tác giả, nhiều đề tài nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam thường sử dụng công thức đầu tiên (TANG) và cho kết quả có tương quan với LTD Tuy nhiên theo tác giả nhận định, trên thực tế khi doanh nghiệp tiến hành vay nợ Ngân hàng thì hàng tồn kho không phải là yếu tố tác động đến nguồn vốn vay dài hạn Do đó, tác giả quyết định chọn biến FA để nghiên cứu

3.2.2.2.3 Qui mô của doanh nghiệp (SIZE):

Qui mô doanh nghiệp thường được tính toán trong các nghiên cứu bằng logarit của doanh thu hoặc của tổng tài sản Trong bài này qui mô doanh nghiệp được tính như sau:

Các nghiên cứu thực nghiệm không thống nhất mối tương quan giữa qui mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính

Lý thuyết đánh đổi cho thấy rằng, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có ít rủi ro dẫn đến phá sản hơn do có tính đa dạng hóa cao hơn (Titman và Wessels (1988); Keshar J.Baral, (2004)), do đó thường được thị trường vốn ưa thích hơn, các ngân hàng

dễ dàng cung cấp hạn mức hơn và với mức lãi suất ưu đãi hơn,… Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn cũng dễ dàng cắt giảm các chi phí có liên quan đến việc phát hành nợ hơn

so với các doanh nghiệp khác Các thuận lợi này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này sử dụng nhiều nợ hơn

Một số nghiên cứu thực nghiệm thực hiện trên cơ sở lý thuyết đánh đổi cho rẳng qui mô doanh nghiệp có mối tương quan dương (+) với đòn bẩy tài chính, như Marsh (1982), Friend và Hasbrouck (1998), Huang và Song (2002)

Nghiên cứu của Bevan và Danbolt (2002) chỉ ra rằng qui mô doanh nghiệp có mối tương quan dương (+) với nợ vay ngắn hạn nhưng lại có tương quan âm (-) với nợ vay dài hạn

Trang 25

Lý thuyết chi phí đại diện lý giải rằng, các công ty có quy mô lớn thường sẽ phát hành nợ dài hạn nhiều hơn do việc sử dụng nợ này sẽ giúp cho các cổ đông kiểm soát hành vi của các giám đốc điều hành tốt hơn Như vậy, quy mô doanh nghiệp trong trường hợp này có tương quan (+) nợ dài hạn

GROW = Tổng tài sản(t) - Tổng tài sản (t-1)

Tổng tài sản (t-1) Nghiên cứu thực nghiệm cũng cho ra các kết quả đối lập về mối quan hệ giữa GROW với tỷ lệ đòn bẩy tài chính

Theo lý thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường có nhu cầu vốn nhiều hơn, trong khi nguồn lợi nhuận giữ lại không đủ, doanh nghiệp sẽ phải vay nợ nhiều hơn Trong trường hợp này, đòn bẩy tài chính có tương quan dương (+) với tốc độ tăng trưởng

Trong khi đó, lý thuyết đánh đổi cho rằng, mặc dù doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển hơn nhưng lại có tỷ trọng tài sản vô hình cao trong tổng tài sản, thì mức vay

nợ cũng sẽ thấp, do cơ hội phát triển chỉ là tài sản vô hình không có giá trị thế chấp cao khi đi vay tại ngân hàng

Và lý thuyết chi phí đại diện cho rằng các cổ đông thường có mâu thuẩn với chủ

nợ trong việc tranh giành lợi ích Một tốc độ tăng trưởng cao thường mang lại những kết quả kinh doanh khả quan, chính vì vậy các cổ đông thường không muốn chia sẽ ưu

Trang 26

thế này với các chủ nợ, khi đó nguồn vốn từ cổ phần được ưu tiên sử dụng trước khi vay nợ Điều này cho thấy cơ hội tăng trưởng có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài chính

Các kết luận nghiên cứu trước đây cũng tỏ ra không thống nhất Nghiên cứu của Titman và Wessels (1988), Kim và Sorensen (1986) thì đồng ý với quan điểm tương quan (-) giữa tốc độ tăng trưởng và đòn bẩy tài chính Trong khi nghiên cứu của Kester (1985) thì giống với lý thuyết trật tự phân hạng về mối tương quan (+)

Vậy ta có giả thiết H4:

H4: tốc độ tăng trưởng có mối tương quan dương (+) hoặc âm (-) với đòn bẩy tài chính

3.2.2.2.5 Rủi to kinh doanh (RISK):

Có nhiều cách đo lường rủi ro kinh doanh, tác giả sử dụng công thức sau:

% Biến động của EBIT

% Biến động của doanh thu

thuần Rủi ro kinh doanh được đo lường thông qua biến động của EBIT so với biến động của doanh thu Rủi ro kinh doanh càng lớn, niềm tin của nhà đầu tư vào doanh nghiệp càng không cao, vì vậy khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp này càng thấp

Bên cạnh đó theo lý thuyết đánh đổi, một doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh cao thì dẫn đến khả năng kiệt quệ tài chính cao, cũng như chi phí phá sản sẽ cao hơn so với các doanh nghiệp khác Vì vậy, các doanh nghiệp này phải cân nhắc nhiều khi vay nợ, xem xét giữa lợi ích của thuế và chi phí phá sản Các doanh nghiệp này có rủi ro kinh doanh cao chỉ đi vay khi lợi ích của thuế nhận được vẫn còn cao hơn chi phí phá sản Ngoài ra, các ngân hàng hầu như đều cân nhắc khi cho vay các doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh cao và sẽ áp dụng cho các doanh nghiệp này một mức lãi suất cao hơn để đảm bảo cho khoản rủi ro lớn mà ngân hàng gánh chịu

Trang 27

Thuyết trật tự phân hạng cho rằng, các doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh cao sẽ

có xu hướng tích lũy vốn ở những năm hoạt động có lợi nhuận, để dùng nguồn vốn này đầu tư vào những thời điểm thiếu vốn Như vậy theo lý thuyết này, rủi ro kinh doanh

có quan hệ ngược chiều với đòn bẩy tài chính

Như vậy ta có giả thiết H5 như sau:

H5: Rủi ro kinh doanh có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài chính 3.2.2.2.6 Tính thanh khoản của tài sản (LIQ):

Tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của một tài sản Để đo lường nhân tố này, tác giả sử dụng công thức như sau:

LIQ

(liquidity) =

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối tương quan ngược chiều của tính thanh khoản của tài sản và đòn bẩy tài chính Từ đó, ta có giả thiết H7:

H6: Tính thanh khoản của tài sản có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài chính

Trang 28

CHƯƠNG IV: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi khảo sát số liệu báo cáo tài chính của 35 doanh nghiệp bất động sản trong vòng 6 năm từ năm 2007 đến năm 2012, kết quả thu được chỉ có 29/35 doanh nghiệp có công bố đầy đủ báo cáo tài chính ra đại chúng trong thời kỳ này Kết quả nhận được sau quá trình tính toán số liệu và đưa vào mô hình được thể hiện như sau:

4.1 Thực trạng tình hình các doanh nghiệp bất động sản hiện nay:

4.1.1 Nợ vay chiếm tỷ trọng lớn trong cấu trúc vốn:

Theo như số liệu thống kê nhận được từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản này, nợ vay chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp với tỷ lệ trung bình mẫu là 52.39% Trong đó, các doanh nghiệp vay nợ nhiều nhất vào năm 2008 (với tỷ lệ trung bình là 54.02%) và vay nợ thấp nhất vào năm 2010 (với tỷ lệ trung bình (49.76%) Chi tiết cụ thể được thể hiện trong biểu đồ 2.1 sau: Biểu 4.1 : Tỷ lệ tổng nợ trong cơ cấu vốn các doanh nghiệp bất động sản

Ngu n: tác giả tự tính toán, t ng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

Điều này cũng hợp lý với tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua Trước khủng hoảng kinh tế năm 2008 các doanh nghiệp bất động sản vẫn còn đẩy mạnh đầu

tư cho các dự án, mở rộng quy mô hoạt động nên vay nợ còn nhiều Sau năm 2008, tình

Trang 29

hình kinh tế khó khăn cùng với việc tiêu thụ chậm các dự án đã dẫn đến các doanh nghiệp thu hẹp kinh doanh, cắt giảm chi phí và vay nợ ít đi trong giai đoạn năm 2008 –

2010 nhằm kiểm soát lại các chi phí tài chính của doanh nghiệp mình, nhưng do tình hình khó khăn kéo dài và chưa có dấu hiệu hồi phục, doanh thu thì giảm trong khi chi phí tài chính ngày càng tăng do lạm phát cũng như gánh nặng lãi vay, nên các doanh nghiệp bất động sản có xu hướng tăng mức vay nợ trong khoảng thời gian 2 năm gần đây Đến cuối năm 2012, mức vay nợ trung bình đã tăng lên 52.36%, đây là một tỷ lệ khá cao trong tình hình kinh tế hiện nay

4.1.2 Nợ vay ngắn hạn lớn hơn nợ vay dài hạn

Để có cái cái nhìn chi tiết hơn về nợ vay tại các doanh nghiệp bất động sản, tỷ lệ

nợ vay ngắn hạn, tỷ lệ nợ vay dài hạn cũng được xem xét trong thời gian này Kết quả thể hiện như Biểu đồ 2.2 sau:

Biểu 4.2: Tỷ lệ nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn trong cơ cấu vốn các doanh nghiệp bất động sản

Ngu n: tác giả tự tính toán, t ng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

Xét theo biểu đồ cho thấy, các doanh nghiệp bất động sản có xu hướng vay ngắn hạn nhiều hơn vay dài hạn, việc này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp này Trong khi các dự án mà doanh nghiệp thực hiện chủ yếu là trung và dài hạn, nhưng

Trang 30

doanh nghiệp lại sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ đầu tư, điều này cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, cho thấy ngay từ ban đầu các doanh nghiệp bất động sản đã không chú trọng đến xây dựng một cấu trúc vốn phù hợp Đặc biệt, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn đạt cao nhất vào năm 2008 (39.18%) đã lý giải được phần nào yếu tố đầu cơ, chính sách tín dụng dễ dãi của thị trường bất động sản trong giai đoạn này Tình hình khó khăn của nền kinh tế trong những năm sau đó, cũng đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp bất động sản và ngân hàng cho vay tính toán lại cơ cấu vốn, trong đó giảm dần tỷ trọng nợ vay ngắn hạn và tăng dần tỷ trọng nợ vay dài hạn, điều này thể hiện rõ hơn cho năm 2012 khi mà tỷ lệ nợ vay ngắn hạn đã giảm còn 31.16% trong khi tỷ lệ nợ vay dài hạn là 21.12% Lúc này mức chênh lệch giữa hai tỷ lệ nợ vay chỉ còn 10.04%, đây là mức chênh lệch thấp nhất trong 6 năm qua

4.1.3 Hiệu quả sử dụng nợ của các doanh nghiệp

Để phân tích hiệu quả sử dụng nợ của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP HCM trong giai đoạn này, bài viết sử dụng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế chia cho tổng nợ phải trả để đánh giá Kết quả thể hiện qua biểu 2.3 như sau:

Biểu 4.3: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/ tổng nợ của các doanh nghiệp

Ngu n: tác giả tự tính toán, t ng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

Trang 31

Số liệu thống kê tại biểu đồ trên cho thấy vào thời điểm năm 2007 – 2010 thị trường bất động sản tăng trưởng mạnh mẽ, doanh nghiệp thu được những khoản “siêu lợi nhuận” khi bán các dự án căn hộ, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/ tổng nợ trong thời gian này tương đối cao, tăng và đạt đỉnh vào năm 2010 ở mức 0.29 (trung bình cứ 100 đồng vốn vay, doanh nghiệp sẽ thu được 29 đồng lợi nhuận) Tình hình kinh tế khó khăn, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến thị trường bất động sản, dẫn đến thị trường lao dốc sau đó, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm đáng kể, thể hiện tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/ tổng nợ năm 2011 chỉ còn 0.09 và năm 2012 là 0.08 lần lượt thấp hơn 3.37 và 3.78 lần nếu so với thời kỳ đỉnh năm 2010 Điều này thể hiện trong giai đoạn năm 2011 – 2012 với 100 đồng vốn vay, doanh nghiệp chỉ kiếm được 8 hoặc 9 đồng lợi nhuận, trong khi lãi suất vay trong giai đoạn này thuộc khoảng 15% – 18% (doanh nghiệp phải trả 15 – 18 đồng cho 100 đồng vốn vay), đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến kiệt quệ tài chính, mất khả năng trả nợ và phá sản của nhiều doanh nghiệp bất động sản trong thời gian vừa qua

4.2 Thống kê mô tả các biến độc lập

Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập được trình bày tóm tắt qua từng năm như sau:

4.2.1 Thống kê mô tả biến độc lập khả năng sinh lời:

Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến độc lập khả năng sinh lời

Trang 33

Tối đa 0.6672 0.2477 0.1701 0.2430 0.2844 0.1110

Ngu n: tác giả tự tính toán, t ng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

Khả năng sinh lời trung bình của các doanh nghiệp bất động sản trong giai đoạn nghiên cứu là tương đối thấp Trong đó, năm có mức sinh lời trung bình cao nhất là năm 2012 (16,91%) và thấp nhất vào năm liền trước 2011 (3,35%) Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Sao Mai tỉnh An Giang (ASM) có mức sinh lời cao nhất vào năm

2007 (66,72%), đây cũng là năm hưng thịnh của các doanh nghiệp BĐS Trong 4 năm liên tục từ 2007 – 2010, các doanh nghiệp bất động sản đều kinh doanh có lãi dù là ít hay nhiều, chỉ sang năm 2011, 2012, thì mới xuất hiện một số doanh nghiệp bị lỗ, điều này cho thấy tình hình khó khăn của nền kinh tế đã có tác động đáng kể tới các doanh nghiệp này

4.2.2 Thống kê mô tả biến độc lập tài sản hữu hình:

Bảng 4.2: Thống kê mô tả biến độc lập tài sản hữu hình

Trang 34

Ngu n: tác giả tự tính toán, t ng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

Theo thống kê, các doanh nghiệp BĐS có tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản cao và tăng theo các năm, từ mức 46,58% vào năm 2007 đã tăng lên đến 61,65% vào năm 2012 Việc gia tăng tỷ lệ tài sản theo các năm có thể được giải thích là do sự xì hơi của bong bóng bất động sản làm các doanh nghiệp không bán được hàng, lượng hàng tồn kho tăng lên Nhưng tỷ lệ tài sản hữu hình ở các doanh nghiệp không giống nhau,

Ngày đăng: 15/07/2021, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Thị Hương Lan (2012), Tă ởng và lạm phát ở Việt Nam, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tă ởng và lạm phát ở Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Hương Lan
Năm: 2012
2. Nguyễn Bùi Duy (2012), Phân tích các nhân t ả ở n cấu trúc v n của các doanh nghiệp bấ ộng sản niêm y t trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân t ả ở n cấu trúc v n của các doanh nghiệp bấ ộng sản niêm y t trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM
Tác giả: Nguyễn Bùi Duy
Năm: 2012
3. Nguyễn Trí Bảo (2009), Chu kỳ của nền kinh t Việt Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn số 10-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu kỳ của nền kinh t Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trí Bảo
Năm: 2009
4. Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
5. Nguyễn Thị Ngọc Trang và PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa (2007), Phân tích tài chính, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Trang và PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2007
7. Trần Ngọc Thơ chủ biên (2005), Tài chính doanh nghiệp hiệ ại, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiệ ại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
8. Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng (2008), Cơ ấu v n và hiệu quả hoạ ộng doanh nghiệp của các công ty niêm y t trên Sở Chứng khoán TPHCM, Tạp chí kinh tế phát triển số 224 tháng 06/2009Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ ấu v n và hiệu quả hoạ ộng doanh nghiệp của các công ty niêm y t trên Sở Chứng khoán TPHCM
Tác giả: Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng
Năm: 2008
9. Artur Raviv and Milton Harris (1991), The Theory of Capital Structure, The Journal of Finance, Vol. 46, No. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Theory of Capital Structure
Tác giả: Artur Raviv and Milton Harris
Năm: 1991
10. Michael C. Jensen and William H. Meckling (1976), Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of the Firm: "Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure
Tác giả: Michael C. Jensen and William H. Meckling
Năm: 1976
11. Franco Modigliani and Merton H. Miller (1958), The Cost of Capital, Corperation Finance and the Theory of Investment, The American Economic Review Volume XLVIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cost of Capital, Corperation Finance and the Theory of Investment
Tác giả: Franco Modigliani and Merton H. Miller
Năm: 1958
12. Franco Modigliani and Merton H. Miller (1963), Corperate Income Taxes and the Cost of Capital: A Correction, The American Economic Review, Vol. 53, No. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corperate Income Taxes and the Cost of Capital: A Correction
Tác giả: Franco Modigliani and Merton H. Miller
Năm: 1963
13. Jean J.Chen, (2003), “Determinants of capital structure of Chinese-listed companies”, Journal of Business Research, 57 (2004) 1341 – 1351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of capital structure of Chinese-listed companie"s
Tác giả: Jean J.Chen
Năm: 2003
14. Leland, H. and D. Pyle, (1977), Informational asymmetries, financial structure, and financial intermediation, Journal of Finance 32 (May), 371−388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Informational asymmetries, financial structure, and financial intermediation
Tác giả: Leland, H. and D. Pyle
Năm: 1977
15. Liufang Li, (2010), What factors might explain the capial structure of listed real estate firms in China?, Master of Science, School of Architecture and the Built Environment Sách, tạp chí
Tiêu đề: What factors might explain the capial structure of listed real estate firms in China
Tác giả: Liufang Li
Năm: 2010
16. Myers S.C. (1984), The capital structure puzzle, Journal of Finance 34 (3), 575-592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The capital structure puzzle
Tác giả: Myers S.C
Năm: 1984
17. Micheal Paukender & A.Petersen, (2004), Does the source of capital affect capital structure?, Review of Financial Studies, Vol. 19, No. 1, pp. 45-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does the source of capital affect capital structure
Tác giả: Micheal Paukender & A.Petersen
Năm: 2004
18. Nurul Syuhada Baharuddin et all, (2011), Determinants of Capital Structure for Listed Construction Companies in Malaysia, Journal of Applied Finance &Banking, vol.1, no.2, 2011, 115-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Capital Structure for Listed Construction Companies in Malaysia
Tác giả: Nurul Syuhada Baharuddin et all
Năm: 2011
21. Ross, S., (1977), The determination of financial structure: The incentive- signaling approach, Bell Journal of Economics 8 (Spring), 23−40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determination of financial structure: The incentive-signaling approach
Tác giả: Ross, S
Năm: 1977
22. Saumitra Bhaduri, (2002), Determinants of capital structure choice: a study of the Indian corporate sector, Applied Financial Economics, Taylor and Francis Journals, vol. 12(9), pages 655-665 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of capital structure choice: a study of the Indian corporate sector
Tác giả: Saumitra Bhaduri
Năm: 2002
23. Shinichi Nishioka, (2004), “Dynamic capital structure of Japanese firms”, Bank of Japan Working Paper Series No.04-E-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dynamic capital structure of Japanese firms
Tác giả: Shinichi Nishioka
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w