50 4.2 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở TP.. TÓM TẮT LUẬN VĂN Từ những yêu cầu cơ bản về phát triể
Trang 1KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh Doanh Thương Mại
Mã số: 60340121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN SƠN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế này là công trình nghiên cứu của bản thân, đƣợc đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua Các thông tin và số liệu trong đề tài này đƣợc thu thập và sử dụng một cách trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
Tác giả
Nguyễn Ngọc Điệp
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4.1 Phương pháp luận 2
1.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 2
1.4.3 Công cụ xử lý thông tin 3
1.5 Các nghiên cứu liên quan 3
1.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 3
1.5.2 Nghiên cứu trong nước 4
1.6 Tính mới của đề tài 6
1.7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 8
2.1 Lý thuyết về hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp 8
2.1.1 Khái niệm hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp 8
2.1.2 Quy trình mua hàng của khách hàng doanh nghiệp 8
2.1.3 Mô hình hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp 11
Trang 52.1.4 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung
cấp 14
2.2 Thực trạng phát triển của thị trường nguyên phụ liệu may mặc tại Việt Nam hiện nay 22
2.2.1 Những yêu cầu cơ bản về phát triển nguyên phụ liệu cho ngành may mặc Việt Nam 22
2.2.2 Thực trạng phát triển nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam 26
2.2.3 Thị trường nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam 28
2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu 32
2.3.1 Lý do lựa chọn mô hình nghiên cứu 32
2.3.2 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất 34
2.3.3 Các giả thuyết của mô hình: 37
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 38
CHƯƠNG 3 : THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Quy trình nghiên cứu 39
3.2 Thiết kế nghiên cứu 39
3.3 Nghiên cứu định tính 40
3.3.1 Thảo luận tay đôi 40
3.3.2 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu 40
3.3.3 Xây dựng thang đo 41
3.4 Nghiên cứu định lượng 44
3.4.1 Mục tiêu 44
3.4.2 Phương pháp thực hiện 44
3.5 Phương pháp chọn mẫu và thiết kế mẫu 46
3.5.1 Phương pháp chọn mẫu 46
3.5.2 Thiết kế mẫu 46
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4 : PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
Trang 64.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 49
4.1.1 Đặc điểm về quy mô, thị trường và tỉ trọng xuất khẩu 49
4.1.2 Nguồn cung cấp nguyên phụ liệu 50
4.2 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở TP Hồ Chí Minh 51
4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha 51
4.2.2 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của doanh nghiệp may xuất khẩu Tp HCM thông qua phân tích nhân tố (EFA) 55
4.2.3 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu 59
4.2.4 Phân tích hồi quy đa biến 61
4.2.5 Đánh giá mức độ của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp NPL của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở TP Hồ Chí Minh 66
4.2.6 Kiểm định sự khác biệt trong quyết định lựa chọn nhà cung cấp 68
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 70
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 71
5.1 Kết luận 71
5.1.1 Về thang đo 71
5.1.2 Về đặc điểm mẫu và mô hình nghiên cứu 71
5.2 Đề xuất giải pháp 73
5.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 73
5.2.2 Một số giải pháp 74
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 78
5.3.1 Hạn chế 78
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 79
Trang 7KẾT LUẬN 80
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI THẢO LUẬN TAY ĐÔI 85
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THẢO LUẬN 88 PHỤ LỤC 3: TỔNG HỢP KẾT QUẢ THẢO LUẬN TAY ĐÔI 89
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các yếu tố đánh giá lựa chọn NCC bởi cá nhân (Dickson) 15
Bảng 2.2 So sánh xếp hạng của các yếu tố ảnh hưởng lựa chọn NCC giai đoạn 1966-1990 và 1990- 2001 16
Bảng 2.3 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Teng S.G và Jaramillo H 18
Bảng 2.4 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Murat và Asli 20
Bảng 2.5 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Sim và các cộng sự 21
Bảng 2.6 Số liệu thống kê các doanh nghiệp dệt Việt Nam 26
Bảng 2.7 Sản lượng vải sản xuất trong nước qua các năm 27
Bảng 2.8 Số liệu nhập khẩu nguyên phụ liệu may mặc của Việt Nam từ 2007 đến 2012 29
Bảng 2.9 Thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu may mặc năm 2011, 2012 30
Bảng 2.10 Tổng hợp các mô hình nghiên cứu 32
Bảng 4.1 Đặc điểm phân bố mẫu quy mô doanh nghiệp 49
Bảng 4.2 Đặc điểm phân bố mẫu thị trường xuất khẩu và tỉ trọng xuất khẩu 50
Bảng 4.3 Đặc điểm phân bố mẫu nguồn cung cấp phụ liệu 50
Bảng 4.4 Đặc điểm phân bố mẫu nguồn cung cấp nguyên liệu 51
Bảng 4.5 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Chi phí nguyên phụ liệu” 51
Bảng 4.6 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Chất lượng nguyên phụ liệu” 52
Bảng 4.7 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Phân phối” 52
Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Độ linh hoạt” 53
Bảng 4.9 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Sự đổi mới” 53
Bảng 4.10 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Độ tin cậy” 54
Bảng 4.11 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Quyết định lựa chọn nhà cung cấp” 54
Bảng 4.12 Kiểm định KMO và Barlett’s của các biến độc lập 55
Trang 9Bảng 4.13 Phương sai giải thích (Total Variance Explained) 56
Bảng 4.14 Kết quả phân tích nhân tố các thang đo yếu tố sau khi xoay 57
Bảng 4.15 Kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc 58
Bảng 4.16 Kết quả phân tích phương sai tổng thể của biến phụ thuộc 59
Bảng 4.17 Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 59
Bảng 4.18 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Phân phối và Độ linh hoạt” 60
Bảng 4.19 Ma trận hệ số tương quan Pearson 62
Bảng 4.20 Tóm tắt mô hình lần thứ nhất 63
Bảng 4.21 Phân tích phương sai lần thứ nhất (ANOVA) 63
Bảng 4.22 Kết quả mô hình hồi quy đa biến lần thứ nhất 64
Bảng 4.23 Tóm tắt mô hình lần thứ hai 64
Bảng 4.24 Phân tích phương sai lần thứ hai (ANOVA) 65
Bảng 4.25 Kết quả mô hình hồi quy đa biến lần thứ hai 65
Bảng 4.26 Kết quả ANOVA về quy mô doanh nghiệp (1) 69
Bảng 4.27 Kết quả ANOVA về quy mô doanh nghiệp (2) 69
Bảng 4.28 Kết quả ANOVA về quy mô doanh nghiệp (3) 69
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình phân tích sơ đồ mua 10
Hình 2.2 Mô hình của Webster và Wind - hành vi mua của tổ chức 12
Hình 2.3 Mô hình của Sheth- hành vi mua của người mua công nghiệp 14
Hình 2.4 Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may 25
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 37
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 39
Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu đã điều chỉnh 61
Trang 11DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT
(Analytical Hierarchical Process)
(Cut-Make-Trim)
(Free – On – Board) L/C Thƣ tín dụng (Letter of credit )
(Original Design Manufacturer)
TP Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12TÓM TẮT LUẬN VĂN
Từ những yêu cầu cơ bản về phát triển nguyên phụ liệu cho ngành may mặc
Việt Nam, tác giá đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh” nhằm mục tiêu:
- Khám phá và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp của các doanh nghiệp may xuất khẩu
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp của các doanh nghiệp may xuất khẩu
- Đề xuất một số giải pháp giúp các nhà cung cấp nguyên phụ liệu tại Việt Nam gắn kết khách hàng, chiếm lĩnh thị trường các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Tp.Hồ Chí Minh một cách tốt nhất
Qua các mô hình nghiên cứu có liên quan, tác giả đã sử dụng mô hình nghiên cứu của Murat Albayrakoglu M và Asli Koprulu (2007) [28], kết hợp với mô hình của Teng S G và Jaramilo H (2005) [33] , mô hình của Sim H.K và các cộng sự (2010) [31] để xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NCC của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh
Từ các lí thuyết kết hợp với nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng, tác giả tiến hành bổ sung thang đo, kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, sau đó tác giả phân tích hồi quy bội để tìm ra phương trình hồi quy Kết quả cho thấy nhân tố “Chất lượng nguyên phụ liệu” có tương quan thuận với quyết định lựa chọn NCC nguyên phụ liệu, và là yếu
tố có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất Kế đến là nhân tố “Chi phí nguyên phụ liệu”, “Độ tin cậy”, cuối cùng là nhân tố “Phân phối – Độ linh hoạt” Ngoài ra tác giả cũng kiểm định được rằng không có sự khác biệt về Quy mô doanh nghiệp trong quyết định lựa chọn nhà cung cấp NPL của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Tp.Hồ Chí Minh
Trang 13CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ngành dệt may đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, cụ thể là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu của cả nước trong các năm gần đây Nhưng có một vấn đề đặt ra hiện nay là ngành dệt may cần giảm dần sự phụ thuộc vào các đơn hàng gia công, tập trung phát triển xuất khẩu theo phương thức FOB, ODM có hàm lượng giá trị gia tăng cao, tăng sử dụng các nguyên phụ liệu được sản xuất trong nước Vì thực tế nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành may nói riêng được nhập khẩu chiếm đến 60-70%, chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, trong khi đó nguồn nguyên liệu trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 30-40%
Với tỉ lệ nhập khẩu yếu tố đầu vào cao như vậy, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam khó được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP – Generalized System of Preferences (có mức thuế nhập khẩu thấp nhất) của các nước công nghiệp nhập khẩu, vì không đảm bảo yêu cầu về hàm lượng nội địa của sản phẩm (≤65% đối với thị trường Nhật và EU, ≤35% đối với thị trường Mỹ), khó nâng cao được khả năng cạnh tranh về giá [12].Trong tương lai Việt Nam cần xây dựng một mô hình cung cấp nguyên phụ liệu ổn định để có thể không phụ thuộc vào nhập khẩu, từ đó nâng cao chất lượng và đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc và các nước ASEAN khác
Việc sử dụng nguyên phụ liệu tại Việt Nam cho các sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp may phụ thuộc rất nhiều yếu tố, chất lượng nguyên phụ liệu nội địa vẫn chưa ổn định, và giá thành vẫn chưa cạnh tranh so với các nhà cung cấp nguyên phụ liệu nước ngoài Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp của doanh nghiệp may xuất khẩu góp phần rất nhiều cho mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp cung cấp nguyên phụ liệu tại Việt
Nam hiện nay Đó là lí do tác giả đã chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các nhân
Trang 14tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khám phá và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp của các doanh nghiệp may xuất khẩu
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn nhà cung cấp của các doanh nghiệp may xuất khẩu
- Đề xuất một số giải pháp giúp các nhà cung cấp nguyên phụ liệu tại Việt Nam khắc phục các điểm yếu của mình, gắn kết khách hàng, chiếm lĩnh thị trường các doanh nghiệp may xuất khẩu ở TP Hồ Chí Minh một cách tốt nhất
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu tại các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Tp Hồ Chí Minh
- Đối tượng khảo sát: các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 2 tháng từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2013
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp luận
Áp dụng phương pháp suy diễn, hay nghiên cứu định lượng
1.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Áp dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập thông tin thứ cấp và
tư liệu để nghiên cứu lý thuyết qua các nguồn sách, tài liệu chuyên khảo
và truy cập internet từ các trang thông tin điện tử của Tổng cục Hải Quan, Tổng cục Thống Kê, Hiệp hội dệt may Việt Nam…
Trang 15- Áp dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia và điều tra thực tế để thu thập thông tin sơ cấp
+ Nghiên cứu sơ bộ định tính bằng cách phỏng vấn sâu 9 đối tượng (6 đại diện NCC nguyên phụ liệu và 3 đại diện doanh nghiệp may xuất khẩu
ở Tp Hồ Chí Minh) dùng để đánh giá sơ bộ thang đo sử dụng trong nghiên cứu định lượng tiếp theo
+ Nghiên cứu chính thức với kích thước mẫu phù hợp được thu thập bằng bảng câu hỏi hoàn chỉnh từ đại diện của các doanh nghiệp may xuất khẩu, là các nhân viên của bộ phận mua hàng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NCC nguyên phụ liệu
1.4.3 Công cụ xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 (Statistical Package for the Social Sciences) để thu thập và xử lý thông tin
1.5 Các nghiên cứu liên quan
1.5.1 Nghiên cứu nước ngoài
* Teng, S G và Jaramillo, H (2005), Một mô hình nghiên cứu để đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi dệt may toàn cầu, Tạp chí quản trị chuỗi cung ứng quốc tế.[33]
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm giúp các công ty mặc mặc của Hoa Kì tìm được nhà cung cấp có hiêu quả trên thị trường cạnh tranh toàn cầu thông qua phương pháp phân tích thứ bậc AHP xây dựng mô hình để đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp thích hợp Năm yếu tố được đề xuất bao gồm: phân phối, độ linh hoạt, chi phí, chất lượng, độ tin cậy Ngoài ra, mô hình này cũng được áp dụng đối với hầu hết các ngành công nghiệp nhằm tăng cường chuỗi cung ứng của họ với các nhà cung ứng có khả năng
Trang 16* Murat Albayrakoglu, M và Asli Koprulu (2007), Quản trị chuỗi cung ứng trong ngành công nghiệp dệt may: Mô hình lựa chọn nhà cung cấp với phương pháp phân tích thứ bậc – ISAHP, Vina Del Mar, Chile [28]
Mục đích của nghiên cứu nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của vịêc lựa chọn nhà cung cấp và mối quan hệ của vấn đề đó đối với mục tiêu và chiến lựơc của chuỗi cung ứng Các điều kiện hiện tại của ngành công nghiệp dệt may được phân tích, và các yếu tố quan trọng để có được chuỗi cung ứng thành công trong điều kiện tòan cầu hóa cũng được xem xét Một mô hình của phương pháp phân tích thứ bậc AHP mà các công ty may mặc có thể sử dụng để lựa chọn các nhà cung cấp hịên tại và chiến lược quản lí nhà cung cấp cũng được tạo ra dựa trên kết quả của
mô hình Mô hình bao gồm sáu yếu tố sau: chi phí, chất lượng, phân phối, độ linh họat, sự đổi mới, độ tin cậy
* Sim, H.K và các cộng sự (2010), Khảo sát các yếu tố lựa chọn nhà cung cấp trong ngành công nghiệp sản xuất ở Malaysia, Hội thảo hệ thống quản lí và công nghiệp cơ khí Châu Á Thái Bình Dương lần 11 –APIEM [31]
Sau hai thập kỉ công nghiệp hóa ở Malaysia, công nghiệp sản xuất phát triển rất nhanh, những yêu cầu đối với nhà cung cấp cũng thay đổi Bản khảo sát được gửi đến 80 doanh nghiệp ở Melaka, Malaysia để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà cung cấp Có bốn yếu tố quan trọng là: chi phí, chất lượng, phân phối, dịch vụ Hai yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng là: mối quan hệ với nhà cung cấp, cách quản trị và tổ chức của nhà cung cấp
1.5.2 Nghiên cứu trong nước
* Đào Văn Tú (2008), Phát triển sản xuất nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế học [5]
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm nghiên cứu, hệ thống hóa các lí luận về sản xuất nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam, phân tích thực trạng phát triển sản xuất nguyên phụ liệu, cụ thể là sản xuất sợi – dệt vải, và sản xuất chỉ may, chỉ ra những tồn tại, bất cập sau: thu hút vốn chưa hiệu quả, phát triển nguồn nhân lực
Trang 17chưa phù hợp, giải pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm thấp, liên kết trong ngành còn yếu, quy hoạch đầu tư chậm, nguyên liệu thượng nguồn là bông, dâu tằm
tơ phát triển yếu, chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu Từ đó luận án đưa ra một số giải pháp tương ứng nhằm phát triển sản xuất nguyên phụ liệu may mặc VN hiệu quả và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Đoàn Thị Hải Ngân (2009), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp may TP.Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh Tế
TP Hồ Chí Minh.[7]
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TP.Hồ Chí Minh thông qua các yếu tố nguồn lực, hiệu quả sản xuất, chiến lược kinh doanh, thương hiệu sản phẩm, yếu tố cạnh tranh.Và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó có giải pháp về nguồn lực – nguyên phụ liệu Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng NPL, đầu tư máy móc thiết bị sản xuất NPL, ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước nếu đạt chất lượng tương đương Về phía Nhà nước cần hợp tác, liên kết với các tỉnh trong việc trồng bông chất lượng cao theo mô hình trang trại, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất NPL, quy hoạch các khu công nghiệp sản xuất NPL tập trung
* Đinh Công Khải và Đặng Thị Tuyết Nhung (2011), Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright [6]
Mục tiêu của nghiên cứu này cho thấy rằng ngành dệt may vẫn đang ở phân khúc may trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, chủ yếu là may gia công xuất khẩu theo phương thức CMT Muốn thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị dệt may và tăng giá trị gia tăng cho xuất khẩu thì cần nâng cao năng lực thực hiện đơn hàng FOB
Để thực hiện được điều này, ngành dệt may cần chủ động hơn về nguồn nguyên phụ liệu, trong đó vai trò chính phủ rất quan trọng trong việc hỗ trợ quy hoạch phát triển nguyên phụ liệu, xây dựng cụm ngành dệt may, thu hút vốn FDI
Trang 18* Thái Thị Thy Yến (2012), Nghiên cứu áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may xuất khẩu tại TP Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Kinh Doanh
Thương Mại, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh.[13]
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở TP.Hồ Chí Minh, sau khi xây dựng mô hình các nhân tố tác động tác giả rút ra được ba yếu tố sau: đối thủ trong
và ngoài nước; các đặc trưng riêng của khách hàng; sự phụ thuộc về nhãn hiệu, thiết
kế và phân phối Các giải pháp được đặt ra như doanh nghiệp phải có sự liên kết với nhau, tạo uy tín trong việc đảm bảo chất lượng, thời gian giao hàng, và đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, tìm kiếm kênh phân phối
1.6 Tính mới của đề tài
Vấn đề cốt lõi trong việc khắc phục những bất cập của ngành dệt may xuất khẩu là phải chuyển đổi phương thức xuất khẩu từ hình thức CMT sang FOB, ODM Do đó, cần phải chủ động trong phần cung cấp nguyên phụ liệu, tăng giá trị gia tăng trong xuất khẩu Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về thực trạng phát triển NPL Việt Nam, vị trí của ngành dệt may trong toàn bộ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu cũng như đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam nói chung cũng như ngành phụ trợ may mặc, NPL nói riêng
Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra các hướng giải pháp cụ thể giúp các doanh nghiệp NPL may mặc Việt Nam đi sâu thâm nhập vào thị trường các doanh nghiệp may Việt Nam Thực tế doanh nghiệp NPL Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với thị trường nước ngoài như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp NPL của các doanh nghiệp may xuất khẩu Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp các doanh nghiệp NPL khắc phục các điểm yếu của mình, có chiến lược kinh doanh và sản xuất hiệu quả nhằm đáp ứng được thị trường may mặc nhiều tiềm năng này
Trang 19Cụ thể, nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam (chiếm gần 40% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành) [4], nên kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi cho cả ngành may xuất khẩu Việt Nam Nghiên cứu đã tổng hợp được các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NCC nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh, qua kết quả nghiên cứu định lượng để đánh giá được mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố, và từ đó có các giải pháp ưu tiên và thích hợp
Với những đặc điểm nêu trên, tác giả hi vọng đề tài nghiên cứu sẽ góp phần mang lại một nghiên cứu ý nghĩa và có tính thiết thực làm nền tảng cơ sở phát triển cho những nghiên cứu kế tiếp trong lĩnh vực này
1.7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài - Giới thiệu chung về đề tài
Chương 2: Cơ sở khoa học của đề tài - Tổng quan lí thuyết về hành vi của khách hàng doanh nghiệp, mô hình hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp, mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NCC, thực trạng phát triển của thị trường nguyên phụ liệu ngành may mặc tại Việt Nam hiện nay và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu- Xây dựng quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xây dựng thang đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ liệu của các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu – Trình bày kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng, đánh giá mức độ quan trọng
Chương 5: Kết luận và giải pháp – Đưa ra kết luận và đề xuất một số giải pháp cho các nhà cung cấp nguyên phụ liệu Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Lý thuyết về hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm về khách hàng doanh nghiệp:
Theo Philip Kotler thì, “Thị trường các doanh nghiệp gồm tất cả những tổ chức mua hàng và dịch vụ để sử dụng vào việc sản xuất ra các sản phẩm khác hay dịch vụ để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người khác” [11, trang 233-250]
Krishna K Halvadar (2010) lại định nghĩa khách hàng doanh nghiệp là các
tổ chức tư nhân, tìm kiếm lợi nhuận bao gồm các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ
và được phân thành 3 nhóm như sau: các nhà phân phối công nghiệp, nhà sản xuất thiết bị gốc (Original Equipment Manufactors – OEMs),những khách hàng người sử dụng [27]
2.1.1.2 Hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp
Theo Webster và Yoram Wind (1972), những người đã đi tiên phong trong những lĩnh vực này định nghĩa hành vi mua hàng của khách hàng doanh nghiệp là một quyết định theo đó doanh nghiệp thiết lập các yêu cầu cho các sản phẩm và dịch vụ được mua và xác định, đánh giá, lựa chọn các nhà cung cấp khác nhau [35]
Thực tế, trong nhiều trường hợp bộ phận mua hàng không phải là người sử dụng trực tiếp các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ được mua mà nó liên quan đến nhiều phòng ban khác nhau Bộ phận mua hàng thường tham khảo ý kiến của các phòng ban khác nhau như bộ phận sử dụng hàng, các đồng nghiệp, và cả những nhà quản trị cấp cao Do đó, quyết định mua hàng của một doanh nghiệp không đơn giản là công việc của một cá nhân, mà nó là kết quả của quá trình tương tác giữa các nhân viên mua hàng chuyên nghiệp, người sử dụng hàng hóa và dịch vụ và những
cá nhân, bộ phận khác có liên quan.[19]
2.1.2 Quy trình mua hàng của khách hàng doanh nghiệp
Trang 212.1.2.1 Quy trình mua hàng của khách hàng doanh nghiệp:
Quy trình mua hàng của khách hàng doanh nghiệp bao gồm nhiều giai đoạn.Mức độ quan trọng của mỗi giai đoạn sẽ phụ thuộc vào tình huống mua hàng khác nhau Robinson và các cộng sự (1967) đã phát triển 8 giai đoạn của quy trình mua hàng trong thị trường doanh nghiệp, và gọi chúng là “trình tự mua hàng” như sau:[29]
- Nhận diện nhu cầu
- Mô tả nhu cầu (chủng loại, số lượng)
- Đánh giá kết quả thực hiện
Theo một số nhà nghiên cứu, quá trình mua của một sản phẩm hay dịch vụ tương đối giống nhau, chỉ khác nhau ở một số điểm cơ bản như: không thể xác định được quy cách của dịch vụ vì tính vô hình vốn có của nó, khó khăn trong việc xác định thời điểm cần sử dụng dịch vụ
2.1.2.2 Mô hình phân tích sơ đồ mua (The buygrid model)
Mô hình phân tích sơ đồ mua của Robinson và các cộng sự (1967) là mô hình được biết đến và áp dụng rộng rãi trong việc phân tích quy trình mua hàng của doanh nghiệp Mô hình này cung cấp cho nhà tiếp thị một cách tiếp cận rõ ràng và
dễ sử dụng để tìm hiểu quy trình mua của doanh nghiệp Đây cũng là một công cụ được sử dụng để phân tích khách hàng và để đánh giá việc tập trung các nỗ lực tiếp thị vào các bước nào trong trình tự mua của doanh nghiệp
Trang 22Hình thức mua Mua hàng
đáp ứng yêu cầu mới
Mua hàng lặp lại có thay đổi
Mua hàng lặp lại không thay đổi
1 Nhận diện nhu cầu
Quan trọng nhất
Tất cả các bước đều quan trọng
nhất
7 Làm thủ tục đặt hàng
8 Đánh giá kết quả thực hiện
Hình 2.1 Mô hình phân tích sơ đồ mua
“Nguồn: Robinson và các cộng sự, 1967” [29]
Ý nghĩa của các hình thức mua được phân tích như sau:
- Mua hàng đáp ứng yêu cầu mới: tất cả tám bước trong trình tự mua hàng đều quan trọng, nhưng những bước đầu tiên là những bước thiết yếu nhất Nếu nhà cung ứng có thể xác định rõ các vấn đề của khách hàng và đề ra hướng giải quyết xung quanh các thiết kế kĩ thuật của họ, thì họ đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng, và các đối thủ cạnh tranh sẽ rất khó thay đổi các thiết kế này ở các bước sau của trình tự Mua hàng đáp ứng yêu cầu mới đóng vai trò quan trọng đối với các nhà cung cấp bởi vì nếu được thực hiện tốt và chu đáo thì sẽ dẫn tới những đơn đặt hàng thường xuyên mà cuối cùng là hình thức mua hàng lặp lại không thay đổi
- Mua hàng lặp lại có thay đổi: các khách hàng cần được thuyết phục để tiến hành tìm kiếm các nguồn cung cấp mới, khi đó mua hàng lặp lại có thay đổi xuất hiện và tạo ra các cơ hội bán hàng Các nhà quản lí tiếp thị và các nhân viên bán hàng cần cung cấp đầy đủ các thông tin cho khách hàng để khuyến khích và thuyết phục họ thay đổi nhà cung cấp Công việc cuối cùng của nhà tiếp thị công nghiệp là
Trang 23cố gắng chuyển hình thức mua hàng lặp lại có thay đổi thành hình thức mua hàng lặp lại không thay đổi
- Mua hàng lặp lại không thay đổi: những bước đầu trong trình tự mua không đóng vai trò quan trọng vì khách hàng đang mua các sản phẩm và dịch vụ mà họ quen thuộc và biết rõ Các nỗ lực tiếp thị lúc này cần tập trung vào các bước cuối của trình tự mua, vì người mua lúc này hết sức quan tâm đến việc giao hàng đúng hạn, đúng số lượng và tiêu chuẩn kĩ thuật
2.1.3 Mô hình hành vi mua của khách hàng doanh nghiệp
2.1.3.1 Mô hình của Webster Federick E., và Yoram Wind - hành vi mua
của khách hàng doanh nghiệp (1972).[35]
Webster và Yoram Wind đã phân loại ảnh hưởng khác nhau đến quá trình quyết định mua của một doanh nghiệp thành 4 nhóm chính: Môi trường, doanh nghiệp, trung tâm mua hàng, cá nhân
- Yếu tố môi trường: bao gồm các yếu tố vật lí, công nghệ, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa, thể hịên cụ thể hơn là sự ảnh hưởng của nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ, tổ chức công đoàn, các tổ chức chính phủ và xã hội, đối thủ cạnh tranh Các yếu tố môi trường cung cấp thông tin về nhà cung cấp, sự có sẵn của hàng hoá và dịch vụ, quy định các giá trị và chuẩn mực, điều kịên chung về kinh doanh
- Yếu tố doanh nghiệp: gồm nhóm các yếu tố công nghệ của doanh nghiệp, cấu trúc của doanh nghiệp, nhiệm vụ và mục tiêu, nhân viên của doanh nghiệp Mỗi nhóm yếu tố của DN có mối tương quan và phụ thuộc lẫn nhau trong những tình huống mua cụ thể và ảnh hưởng đặc thù đến cơ cấu và chức năng của trung tâm mua
- Yếu tố quan hệ (Trung tâm mua hàng): thường gồm một số người tham gia
có mức độ quan tâm, quyền hạn và sức thuyết phục khác nhau Một trung tâm mua gồm các thành viên sau: người sử dụng, người mua, người ảnh hưởng, người quyết định, người gác cổng Wesley và Thomas phát triển mô hình hành vi mua của
Trang 24Webster và Yoram Wind, đã đề nghị bổ sung thành viên thứ sáu vào trung tâm mua
là người khởi đầu (Initiators) [36]
- Yếu tố cá nhân: mỗi người tham gia vào quá trình mua sắm đều có những động cơ, nhận thức và sở thích riêng của cá nhân mình Những yếu tố này phụ thuộc vào tuổi tác, thu nhập, trình độ nghề nghiệp, nhân cách, thái độ đối với rủi ro, và văn hóa của người tham gia
YẾU TỐ DOANH NGHIỆP
Công nghệ của
doanh nghiệp
Cấu trúc của doanh nghiệp
Nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp
Nhân viên của doanh nghiệp
Hình 2.2 Mô hình của Webster và Wind – hành vi mua của tổ chức
“Nguồn: Webster Frederick E., Yoram Wind 1972” [35]
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG: Vật lí, công nghệ, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa
QUÁ TRÌNH QUYẾT ĐỊNH MUA
-Qúa trình quyết định mua của cá nhân
- Quá trình quyết định mua cả nhóm
QUYẾT ĐỊNH MUA
YẾU TỐ CÁ NHÂN
-Nhu cầu và mong muốn
-Quan điểm và nhận thức
YẾU TỐ QUAN HỆ (TRUNG TÂM MUA)
- Tương tác giữa các cá nhân
- Chức năng của nhóm
Trang 25Điểm mạnh của mô hình này là phân tích toàn diện, và xác định nhiều biến quan trọng có thể được xem xét để phát triển chiến lược kinh doanh và tiếp thị.Tuy nhiên, mô hình này hạn chế trong việc giải thích sự ảnh hưởng cụ thể của các biến
2.1.3.2 Mô hình của Sheth– Hành vi mua của người mua công nghiệp
(1973.)[30]
Giáo sư Sheth Jagdish N đã phát triển mô hình Sheth vào năm 1973 Mô hình này, thể hiện trong hình 1.3 nhấn mạnh đến việc ra quyết định của hai hay nhiều cá nhân, và các khía cạnh tâm lý của việc ra quyết định của các cá nhân trong hành vi mua của doanh nghiệp Mô hình này bao gồm ba thành phần và các yếu tố tình huống tương ứng, trong đó xác định lựa chọn một nhà cung cấp hoặc một thương hiệu trong quá trình quyết định mua của một doanh nghiệp
Sự khác biệt giữa kì vọng của người mua cá nhân (thành phần 1) bởi các yếu
tố sau: (a) Nền tảng của cá nhân, (b) Các nguồn thông tin, (c) Hoạt động tìm kiếm, (d) Thay đổi nhận thức, (e) Hài lòng với việc mua sắm trong quá khứ Nền tảng của mỗi cá nhân phụ thuộc vào trình độ học vấn, vai trò của họ trong công việc và cuộc sống
Trong thành phần số (2) có đến 6 biến quyết định quá trình mua được quyết định bởi một cá nhân hay nhóm (hai hay nhiều cá nhân trở lên) Theo mô hình của Sheth, quy mô của doanh nghiệp càng lớn, và mức độ phân cấp càng cao, thì khả năng quyết định bởi nhóm sẽ nhiều hơn
Trong thành phần số (3) của mô hình này chỉ ra phương pháp để giải quyết xung đột trong quá trình ra quyết định theo nhóm Phương pháp giải quyết vấn đề
và thuyết phục được sử dụng khi có một sự thoả thuận về các mục tiêu của tổ chức Nếu không thể thương lượng các thoả thụân, xung đột về quá trình ra quyết định được giải quyết bằng cách vận động hành lang Các yếu tố tình huống có thể thay đổi như điều kịên kinh tế, các tranh chấp lao động, sát nhập và hợp nhất,nhưng mô hình này lại không giải thích được ảnh hưởng của những yếu tố đó trong quá trình mua
Trang 26Hình 2.3: Mô hình của Sheth - hành vi mua của người mua công nghiệp
“Nguồn: Sheth Jagdish N., 1973” [30]
2.1.4 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà
cung cấp
2.1.4.1 Nghiên cứu của Dickson (1966)[22]
Việc xác định và phân tích các tiêu chí lựa chọn và đánh giá của các nhà cung cấp tập trung sự chú ý đối với nhiều học giả Trong nghiên cứu của Dickson (1966), ông đã có một bản khảo sát được gửi đến khỏang 300 doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất Các trưởng phòng bộ phận mua hàng của doanh
cá nhân hay nhóm:
-Nhân tố sản phẩm cụ thể:
+Áp lực thời gian
+ Nguy cơ rủi
ro +Loại hình mua
-Nhân tố công ty:
+Quy mô công
ty +Định hướng công ty +Mức độ tập trung
Phương pháp giải quyết xung đột trong quá trình ra quyết định nhóm:
-Giải quyết vấn đề
-Thuyết phục -Thương lượng -Vận động
Lựa chọn nhà cung cấp hoặc thương hiệu
Trang 27nghiệp được yêu cầu xác định các nhân tố quan trọng khi lựa chọn nhà cung cấp Nghiên cứu của ông chia ra 2 mảng: lựa chọn nhà cung cấp bởi doanh nghịêp và lựa chọn nhà cung cấp bởi cá nhân
Các yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn nhà cung cấp bởi doanh nghiệp bao gồm: chất lượng, chi phí, phân phối
23 yếu tố quan trọng quyết định bởi cá nhân được liệt kê bên dưới
Bảng 2.1 : Tổng hợp các yếu tố đánh giá lựa chọn NCC bởi cá nhân (Dickson)
10 Hệ thống thông tin liên lạc 2.426
11 Quy mô của doanh nghịêp 2.412
12 Mong muốn của doanh nghiệp 2.256
Trang 28Ông kết luận 3 yếu tố quan trọng nhất trong vịêc lựa chọn nhà cung cấp là: khả năng đạt các tiêu chuẩn về chất lượng, khả năng phân phối đúng thời gian, và lịch sử họat động kinh doanh của doanh nghiệp Sản phẩm/dịch vụ được mua càng phức tạp, thì các yếu tố được xem xét càng kĩ lưỡng và giá không phải là yếu tố quan trọng, nhưng khi mua các sản phẩm thông thường thì giá là nhân tố chính cần được cân nhắc
2.1.4.2 Nghiên cứu của Hossein Cheraghi S và các cộng sự (2001).[25]
Có hai phương pháp trong các nghiên cứu lựa chọn nhà cung cấp: nhà cung cấp được đánh giá xếp hạng thông qua các hệ số điểm được cho theo bảng các tiêu chuẩn đánh giá, hoặc thông qua các chương trình toán học
Công trình nghiên cứu tiên phong của Dickson đã được nghiên cứu lại bởi Weber và các cộng sự (năm 1991), trong đó 76 bài viết được xuất bản từ năm 1966 ( năm nghiên cứu của Dickson) đến năm 1990 được phân loại dựa trên 23 yếu tố chọn lựa nhà cung cấp của Dickson Dựa trên nghiên cứu mở rộng của họ và cách tiếp cận có cấu trúc, nhóm tác giả đã mở rộng thêm kết quả nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng lựa chọn nhà cung cấp giữa giai đoạn 1990 và 2001 Kể cả những bải viết từ nghiên cứu của Weber và các cộng sự, 113 bài viết đã được nghiên cứu lại
Giai đoạn 1990-2001
Tổng cộng (113 nghiên cứu)
Số lượng nghiên cứu
%
Số lượng nghiên cứu
%
Số lượng nghiên cứu
Trang 30phí, Dịch vụ là những yếu tố mới phát triển như: JIT (Just-In-Time), Cải tiến quy trình, Quản trị chuỗi cung ứng, đặc biệt là Thương mại điện tử
2.1.4.3 Mô hình nghiên cứu của Teng S G và Jaramillo H.,2005 [33]
Nghiên cứu của Teng, S G và Jaramillo, H “Một mô hình nghiên cứu để đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp cấp trong chuỗi dệt may toàn cầu” nhằm giúp các công ty may mặc của Hoa Kì tìm được nhà cung cấp thích hợp và hiệu quả, thiết lập các đối tác chiến lược liên minh toàn cầu để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Bằng phương pháp phân tích thứ bậc AHP, tác giả đã xây dựng mô hình đơn giản, linh hoạt và dễ sử dụng để đánh giá hoạt động của nhà cung ứng toàn cầu bằng
5 yếu tố sau: Phân phối, Độ linh hoạt, Chi Phí, Chất lượng, Độ tin cậy
Bảng 2.3 :Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Teng S G và Jaramillo H [33]
PHÂN PHỐI
Vị trí địa lí Điều kiện giao hàng Thời gian sản xuất Hạn ngạch thương mại
ĐỘ LINH HOẠT
Năng lực sản xuất
Có sẵn hàng tồn kho Chia sẻ thông tin Khả năng đàm phán Đáp ứng yêu cầu khách hàng CHI PHÍ
Giá bán ban đầu Chi phí vận chuyển Thời hạn và hình thức thanh toán CHẤT LƯỢNG
Nâng cao chất lượng không ngừng Dịch vụ khách hàng
Chứng chỉ chất lượng
Tỉ lệ sản phẩm đạt yêu cầu
ĐỘ TIN CẬY
Lòng tin lẫn nhau Chính trị quốc gia của nhà cung cấp
Độ ổn định tỉ giá hối đoái Chính sách bảo hành
Trang 312.1.4.4 Mô hình nghiên cứu của Murat Albayrakoglu M và Asli
Koprulu, 2007[28]
Mô hình nghiên cứu của Murat Albayrakoglu M và Asli Koprulu: “Quản trị chuỗi cung ứng trong ngành công nghiệp dệt may: Mô hình lựa chọn nhà cung cấp với phương pháp phân tích thứ bậc”, được áp dụng trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp cho các công ty may mặc trong ngành công nghiệp thời trang bằng phương pháp phân tích thứ bậc AHP
Các nhà bán lẻ may mặc đang xây dựng hệ thống chuỗi cung ứng vững chắc
để cạnh tranh với các đối thủ của mình và mang đến giá trị tốt nhất cho người tiêu dùng trong thị trường tòan cầu hóa Một khía cạnh quan trọng để quản trị chuỗi cung ứng là lựa chọn được nguồn cung thích hợp và có thể hỗ trợ các chiến lược của DN Trong nghiên cứu này, cụ thể có 3 nhà cung cấp sản xuất hàng may mặc cho một công ty bán lẻ tòan cầu ở Mỹ, trong đó có 2 nhà cung cấp ở Thổ Nhĩ Kì, và
1 nhà cung cấp ở Ai Cập Mục đích của nghiên cứu để lựa chọn NCC có thể cung cấp hàng hóa tốt nhất phù hợp với chiến lựơc của công ty và có thể xây dựng mối quan hệ lâu dài Vì thế có 6 yếu tố được đưa ra để đánh giá các NCC như sau:
- Chi phí bao gồm 3 biến quan sát sau: Giá sản phẩm là giá căn bản cấu thành bởi nguyên phụ lịêu (vải và phụ liệu), chi phí cắt may, đóng gói và lợi nhuận của nhà cung cấp Còn chi phí vận chuyển là chi phí thuế quan và cước vận chuyển Biến cuối cùng là chi phí phát triển mẫu
- Chất lượng được đo lường bởi khả năng cung cấp hàng hóa chất lượng tốt của nhà cung cấp Trong quá trình phát triển đơn hàng, có rất nhiều mẫu mà nhà cung cấp được yêu cầu như mẫu đối lưu, mẫu đầu chuyền do đó “chất lượng của sản phẩm mẫu” rất quan trọng Ngòai ra còn có các biến: Tỷ lệ sản phẩm đạt yêu cầu, tỷ lệ sản phẩm trả lại, NCC đánh giá kiểm tra chất lượng NPL đáng tin cậy
- Phân phối là yếu tố rất quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà cung cấp vì trong ngành thời trang vòng đời sản phẩm ngắn nên tốc độ rất quan trọng Nó bao gồm: thời gian sản xuất đúng yêu cầu, thời gian giao mẫu đúng yêu cầu, giao hàng
Trang 32đúng thời gian Bất kì sự chậm trễ nào hoặc giao hàng thiếu số lượng cũng có thể dẫn đến tổn thất cho họat động kinh doanh và tài chính của doanh nghịêp
- Độ linh họat là khả năng của nhà cung cấp có thể thay đổi khối lượng đơn hàng, thay đổi chi tiết đơn hàng (kích thước, màu sắc, hình dáng) Ngoài ra, yếu tố phản hồi nhanh các yêu cầu của khách hàng cũng không kém phần quan trọng và khả năng sẵn sàng liên minh với công ty ở nước khác để tận dụng giảm chi phí
- Sự đổi mới được đo lường bởi biến quan sát: có phòng mẫu tại xưởng để cung cấp cho doanh nghịêp với ý tưởng mới theo xu hướng thị trường, thời gian phát triển và chất lượng của mẫu, khả năng thấu hiểu để đáp ứng thay đổi theo xu hướng thị trường
- Độ tin cậy giữa doanh nghịêp và NCC càng cao tỉ lệ thụân với dịch vụ khách hàng để đo lường khả năng NCC giải quyết các sự cố, theo dõi đơn hàng Ngòai ra tình hình tài chính được cân nhắc kĩ lưỡng khi NCC cần phải mua nguyên liệu, mở L/C Năng lực sản xuất được đo lường bao gồm khả năng: cắt, may, washing, thêu, in và đóng gói Một yếu tố nhạy cảm khác là tính bảo mật khi các nhà bán lẻ tòan cầu tìm NCC, và thành phần khác họ cũng cần quan tâm là chứng chỉ tiêu chuẩn chất lượng, trách nhiệm xã hội
Bảng 2.4 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Murat và Asli [28]
CHI PHÍ
Giá sản phẩm Chi phí vận chuyển Chi phí phát triển mẫu
CHẤT LƯỢNG
Chất lượng của sản phẩm mẫu
Tỷ lệ sản phẩm đạt yêu cầu
Tỷ lệ sản phẩm trả lại NCC đánh giá kiểm tra chất lượng NPL đáng tin cậy PHÂN PHỐI
Thời gian sản xuất đúng yêu cầu Thời gian giao mẫu đúng yêu cầu Giao hàng đúng thời gian
Trang 33ĐỘ LINH HỌAT
Thay đổi khối lượng đơn hàng Thay đổi chi tiết đơn hàng (kích thước,màu sắc, hình dáng) Phản hồi nhanh các yêu cầu khách hàng
Sẵn sàng liên minh với công ty ở nước khác
SỰ ĐỔI MỚI
Có phòng mẫu tại xưởng Thời gian phát triển và chất lượng mẫu Thay đổi theo xu hướng thị trường
ĐỘ TIN CẬY
Dịch vụ khách hàng Tình hình tài chính Năng lực sản xuất Tính bảo mật Chứng chỉ tiêu chuẩn chất lượng, trách nhiệm xã hội
2.1.4.5 Nghiên cứu của Sim H.K và các cộng sự (2010)[31]
Mô hình nghiên cứu của Sim H.K và các cộng sự khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến vịêc lựa chọn nhà cung cấp trong ngành công nghiệp sản xuất ở Malaysia, cụ thể ở Melaka Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 điểm (mức độ quan trọng) cho 6 yếu tố tương ứng với các biến sau:
Bảng 2.5 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Sim và các cộng sự [31]
CHI PHÍ
Giá thấp Miễn phí vận chuyển Miễn phí dịch vụ sau bán hàng Giảm giá cho đơn hàng lớn Giảm giá cho thanh toán sớm
Trang 34Cung cấp mẫu trước khi đặt hàng
PHÂN PHỐI
Giao hàng đúng thời gian Phương thức giao hàng tin cậy Đóng gói cẩn thận trước khi giao hàng Sản phẩm nhận được trong tình trạng tốt Hàng nhận đúng và đủ số lượng
DỊCH VỤ
Dịch vụ sau bán hàng tốt
Hỗ trợ kĩ thuật Bảo hành/Bảo hiểm Phản hồi nhanh
MỐI QUAN HỆ VỚI
NHÀ CUNG CẤP
Quản lí quan hệ nhà cung cấp tốt (SRM) Lịch sử kinh doanh tốt
Hệ thống thông tin tốt Trách nhiệm tốt Hợp tác lâu dài Khách hàng hiện tại
QUẢN TRỊ VÀ TỔ
CHỨC
Cấu trúc công ty Nhân viên có tay nghề và tiềm năng NCC uy tín và có thương hiệu nổi tiếng
Vị trí địa lí Tình hình tài chính Kết quả cho thấy ba yếu tố Chi Phí, Chất lượng, Phân phối vẫn được quan tâm hàng đầu như những nghiên cứu liên quan trước đây Kết quả của nghiên cứu này có thể giúp các công ty sản xuất ở Malaysia sử dụng để đánh giá các NCC của mình
2.2 Thực trạng phát triển của thị trường nguyên phụ liệu may mặc tại Việt Nam hiện nay
2.2.1 Những yêu cầu cơ bản về phát triển nguyên phụ liệu cho ngành may mặc Việt Nam
Trang 352.2.1.1 Định nghĩa nguyên phụ liệu:
Đối với bất kì một sản phẩm may mặc, giá trị và chất lượng của sản phẩm được quyết định rất lớn bởi nguyên phụ liệu Tùy vào kết cấu, đặc điểm của sản phẩm, có rất nhiều loại nguyên phụ liệu khác nhau Thông thường, người ta chia nguyên phụ liệu ra thành hai phần: nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ (được gọi
là phụ liệu).[18]
a) Nguyên liệu chính:
Là thành phần chính tạo nên sản phẩm may mặc, chính là vải, thường chiếm
từ 70% đến 80% giá thành của sản phẩm, bao gồm: vải dệt, vải không dệt và vật liệu da
- Vải dệt: Thông thường người ta phân loại theo phương pháp sản xuất, vải
được chia làm hai loại là vải dệt thoi và vải dệt kim, ngoài ra người ta có thể chia
thành vải mộc, vải mặt nhẵn, vải xù lông, vải hai mặt, vải nhiều lớp, vải in hoa…
+ Vải dệt thoi: được tạo thành ít nhất từ hai hệ thống sợi dọc và sợi ngang đan với nhau theo phương vuông góc
+ Vải dệt kim: được hình thành trên cơ sở tạo vòng, các sợi được uốn cong liên tục hình thành nên vòng sợi.Vải dệt kim có đặc điểm khác biệt với vải dệt thoi
là có tính co dãn, đàn hồi đáng kể
- Vải không dệt: Vải không dệt chủ yếu được hình thành bằng phương pháp
liên kết các xơ lại với nhau tạo ra đệm xơ, cho nên loại vải này có chiều dày và khối lượng thay đổi
- Vật liệu da: bao gồm da thiên nhiên và da hóa học
b) Các loại phụ liệu:
Phụ liệu đóng vai trò liên kết và tạo thẩm mỹ cho sản phẩm may mặc, số lượng và chủng loại rất đa dạng và phong phú Phụ liệu chủ yếu gồm những loại sau:
- Chỉ may: là vật liệu để liên kết vật liệu may phổ biến nhất hiện nay Chỉ may
được tạo ra từ hai loại nguyên liệu dệt cơ bản là xơ thiên nhiên và xơ hóa học, ở
Trang 36dạng nguyên chất hoặc pha trộn giữa các loại xơ với nhau để hình thành nên chỉ may
- Vật liệu dựng: là phụ liệu chủ yếu sử dụng trong may mặc, góp phần tạo
dáng cho sản phẩm may, bao gồm: dựng dính ( mex vải và mex giấy), dựng không dính (vải dựng, xốp dựng và đệm bông)
- Vật liệu cài: Khóa kéo, nút, băng gai dính, các loại nút kim loại, dây thun,
các loại cài túi xách, chốt chặn, móc áo, ren, ru băng trang trí, nhãn, thẻ treo sản
phẩm…
2.2.1.2 Những yêu cầu cơ bản về phát triển nguyên phụ liệu cho ngành
may mặc Việt Nam
Việt Nam có rất nhiều ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm vẫn đang phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, trong đó có ngành dệt may Năm
2012, các doanh nghiệp dệt may đã xuất khẩu được 16.8 tỷ USD, chiếm 14,66% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (114,6 tỷ USD) Nhưng thực tế nguồn nguyên phụ liệu trong nước chỉ đáp ứng được từ 30-40% nhu cầu, còn lại đều phải nhập khẩu nguyên phụ liệu[3] Hiệp hội dệt may Việt Nam công bố trong báo cáo tổng kết hoạt động của ngành giai đoạn 2007-2010 vào tháng 11/2010, tỉ lệ xuất khẩu hàng may mặc theo phương thức gia công CMT chiếm đến 60%, trong khi đó theo phương thức FOB chỉ khoảng 38 % và còn lại 2% theo phương thức ODM Do
đó giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt may chỉ chiếm khoảng 25% so với kim ngạch xuất khẩu, tỷ suất lợi nhuận chiếm 5-10%, và nhập khẩu từ 60-70% nguyên phụ liệu Do đó nội địa hóa các nguồn nguyên liệu có lẽ là giải pháp có hiệu quả để đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành dệt may hiện nay (Đinh Công Khải, Đặng Thị Tuyết Nhung, 2011).[6]
Theo Kaplinsky và Morris (2000) nghiên cứu về chuỗi giá trị cho thấy nó bao gồm các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ
kể từ giai đoạn nghiên cứu sáng chế, qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng cũng như xử lí rác thải sau khi sử dụng [26] Ngành dệt may là một minh họa điển hình cho chuỗi giá trị do người
Trang 37mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải trải qua rất nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau
Hình 2.4: Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may
“Nguồn: Nguyễn Thị Hường và Phạm Thị Thu Thảo, 2009 Tham gia chuỗi giá trị
dệt may toàn cầu”[10]
Chuỗi giá trị dệt may được phản ánh theo hình parabol, trong đó gồm 5 khâu: thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu, may , xuất khẩu, và marketing-phân phối sản phẩm Trong đó khâu may là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất đóng góp vào sản phẩm.Trong chuỗi giá trị này, Việt Nam mới chỉ tham gia chủ yếu vào khâu sản xuất cuối cùng, khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất, lợi nhuận thấp nhất trong toàn chuỗi Có đến 90% doanh nghiệp may mặc Việt Nam tham gia vào khâu này dưới hình thức gia công Còn khâu nghiên cứu thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu và phát triển thương mại còn rất yếu Đòi hỏi của người mua trên thế giới ngày càng cao về chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, đặc biệt có xu hướng muốn chọn những doanh nghiệp có khả năng sản xuất trọn gói, từ kéo sợi, dệt vải cho đến cắt, may sản phẩm cuối cùng
Ngành dệt may Việt Nam đang và cần phải thay đổi để tồn tại và phát triển, cần thâm nhập sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị dệt may, trước mắt là khâu sản xuất nguyên phụ liệu Ngoài ra với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc Việt Nam
Giá trị gia tăng
khẩu
Marketing &
phân phối sp
Trang 38tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế và hiệp định tự do, điển hình như Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP – Generalized System of Preferences) yêu cầu đảm bảo
về hàm lượng nội địa của sản phẩm [12], và gần đây nhất là việc Việt Nam đang trong lộ trình hoàn tất Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP) vào năm 2014, với quy định tất cả các nguyên phụ liệu của ngành dệt may phải được sản xuất trong nước nếu muốn được hưởng thuế suất 0% và các ưu đãi khác Mặc dù phân khúc dệt –nhuộm – hoàn tất tại nước ta còn phát triển yếu, nhưng chính đều kể trên sẽ tạo động lực cho việc phát triển nguyên phụ liệu trong nước
2.2.2 Thực trạng phát triển nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất sợi và dệt vải
Bảng 2.6 Số liệu thống kê các doanh nghiệp dệt Việt Nam
Số lượng
doanh nghiệp DN 908 1.210 1.424 1.827 1.946 21,0%
Số lượng lao
động người 162.934 172.326 166.000 182.518 188.914 3,8% Vốn kinh
doanh
Tỉ đồng 47.752 56.004 70.280 80.718 98.220 19,8% Doanh thu
thuần sản
xuất kinh
doanh
Tỉ đồng
34.275 53.228 60.755 76.091 103.756 31,9%
“Nguồn: Niên giám thống kê 2011 và tính toán của tác giả” [16]
Số lượng của các doanh nghiệp sản xuất sợi và dệt vải tăng nhanh qua các năm từ năm 2005 đến 2010 , năm 2010 so với năm 2005 tăng gấp 2,14 lần, nhịp độ tăng trưởng bình quân lên đến 21,0%, đây là một sự chuyển biến tích cực trong
Trang 39ngành dệt vải Vốn kinh doanh và doanh thu thuần của các doanh nghiệp dệt cũng tăng lên không kém Quy mô lao động có tăng lên nhưng tốc độ tăng còn thấp so với số lượng của doanh nghiệp
Bảng 2.7 Sản lượng vải sản xuất trong nước qua các năm
năm 2013 Vải dệt từ sợi tự
nhiên (triệu m2) 242,1 218,3 252,8 197,3 265,6 146,2 Vải dệt từ sợi tổng
tỉ đô la kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào năm 2011 Những yếu kém này do công đoạn dệt nhuộm của Việt Nam đang lạc hậu hơn các nước trong khu vực, nhất
là công đoạn nhuộm, với 30% máy móc thiết bị cần khôi phục, hiện đại hóa do đã
sử dụng trên 20 năm.[1]
Ngoài ra, hiện nay các DN dệt Việt Nam đều chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng vải của các DN may Sản lượng còn thấp, chủng loại mặt hàng chưa đa dạng, chất lượng thấp và không ổn định, giá cả chưa cạnh tranh, khâu tiếp thị lưu thông và phân phối còn yếu nên phần lớn chỉ tiêu thụ được ở trong nước, đặc biệt là vải dệt thoi, tỉ lệ cung cấp cho xuất khẩu và may xuất khẩu mới chiếm khoảng 13-14%
Khả năng sản xuất của các DN vải trong nước kể cả chất lượng và số lượng còn hạn chế đã tạo thành nút thắt cổ chai cho sự phát triển của ngành dệt may nước
ta, khiến giá trị gia tăng trong hàng may mặc giảm đi, và giảm sự chủ động của
Trang 40ngành may vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu Chỉ khi nào nút thắt cổ chai được giải quyết thì ngành dệt may Việt Nam mới phát triển xa hơn được
2.2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất phụ liệu may mặc
Hiện đã có các cơ sở sản xuất một số chủng loại phụ liệu chính như chỉ may, mex dính, cúc nhựa, khóa kéo, nhãn mác, bao bì… nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường trong nước, phần còn lại vẫn phải nhập khẩu
Đối với chỉ may: đây là loại sản phẩm trong nước có chất lượng cao nhất đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước cũng như nước ngoài, khả năng cạnh tranh cao nhất Hai doanh nghiệp có thị phần chỉ may lớn nhất hiện nay là công ty liên doanh Coats Phong Phú và Tổng công ty Phong Phú Tính đến năm 2006, các nhà sản xuất của hai doanh nghiệp này cung cấp trên 70% sản lượng chỉ may cho thị trường dệt may Việt Nam Ngoài ra còn có các công ty khác cũng sản xuất với
số lượng đáng kể như: Toung Loong Textile Mfg, Kim Long, Lien Thanh Industrial Cooperative…
Đối với các phụ liệu còn lại, số lượng các công ty trong nước sản xuất và cung cấp nguyên phụ liệu với trang thiết bị hiện đại cũng tăng lên nhiều, đặc biệt là
sự xuất hiện của các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài: Công ty CP phụ liệu may Nha Trang, Công ty TNHH Paiho Việt Nam, công ty TNHH Chentai Việt Nam…
2.2.3 Thị trường nguyên phụ liệu may mặc Việt Nam
2.2.3.1 Nguồn từ nước ngoài:
Từ năm 2007 đến nay khối lượng và giá trị nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào cho ngành dệt may nước ta gia tăng liên tục ở tất cả các sản phẩm từ bông, xơ, sợi cho đến vải và nguyên phụ liệu dệt, may, da giày (xem bảng 2.8 bên dưới)