1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn nhâm xuân tiến, huyện đông hưng, tỉnh thái bình

62 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để góp phần tổng hợp lại kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm T

Trang 1

PHAN THỊ KIM CHI

Tên chuyên đề:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 3 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

PHAN THỊ KIM CHI

Tên chuyên đề:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 3 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để góp phần tổng hợp lại kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu

chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”

Trong quá trình học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và thực hiện đề tài này em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía Nhà trường, thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y Em xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo trong Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo đã dạy bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy PGS.TS Nguyễn Hưng Quang, em đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ

em và truyền đạt cho em những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu khoa học

Em xin được gửi lời cảm ơn tới Cán bộ, công nhân tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Do trình độ bản thân có hạn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2019

Sinh viên Phan Thị Kim Chi

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm 35 Bảng 4.2 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại lợn thực tập 36 Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn 36 Bảng 4.4 Lịch sát trùng tại trại lợn 39 Bảng 4.5 Lịch tiêm phòng vắc xin của trại 40 Bảng 4.6 Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập

tại cơ sở 41 Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 42 Bảng 4.8 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi

nuôi tại trại lợn thực tập 43 Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nuôi tại trang trại 44 Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại

trại lợn thực tập 45

Trang 5

CỤM DANH TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự

ĐC : Đối chứng ĐVT : Đơn vị tính

TN : Thí nghiệm STT : Số thứ tự

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

CỤM DANH TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.4 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập 5

2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước 5

2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con 5

2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 6

2.2.3 Cai sữa cho lợn con 17

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 19

2.2.5 Một số đặc điểm tiêu hóa của lợn con 21

2.2.6 Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng 22

2.2.7 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ 22

2.2.8 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 25

2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 28

2.3.1 Bệnh phân trắng lợn con 28

2.3.2 Bệnh viêm khớp 29

2.3.3 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 30

Trang 7

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32

3.1 Đối tượng 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung thực hiện 32

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.2 Phương pháp thực hiện 32

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến qua 2 năm 35

4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại 35

4.3 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại 37

4.3.1 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh 37

4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin của trại 40

4.3.3 Công tác khác 40

4.4 Kết quả thực hiện chuyên đề 42

4.4.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng chuồng trại 42 4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi 43

4.5 Thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại lợn thực tập 44

4.5.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại 44

4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trang trại 45

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Ngành chăn nuôi nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề

có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta Ngành chăn nuôi lợn đã

và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh để đạt hiệu quả kinh tế cao

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên

đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn con

từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình’’

Năm 2018 trại em gồm có 39 con lợn đực giống, 240 con lợn hậu bị và

2215 con lợn nái sinh sản nhưng sang đến năm 2019 do ngành chăn nuôi lợn

ở việt nam đang gặp vấn đề nghiêm trọng về bệnh dịch tả lợn châu phi, trại

em không nhập lợn mới vào lên số lượng lợn ở trại cũng được giảm xuống còn 33 con lợn đực giống, 220 lợn hậu bị, 2180 con lợn nái sinh sản

Trang 9

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

- Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi nuôi tại trại

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn thực tập

- Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao

- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại

- Học tập và tích lũy những kiến thức mới từ thực tiễn chăn nuôi tại cơ sở

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lí

Trại lợn Nhâm Xuân Tiến thuộc huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình Huyện Đông Hưng nằm ở trung tâm thành phố của tỉnh Thái Bình Tên trại thống nhất Cực đông của huyện nằm tại xã Đông Kinh, cực bắc nằm tại xã Đô Lương, cực tây nằm tại xã Bạch Đằng, cực nam nằm tại xã Đông Á

Địa giới hành chính huyện Đông Hưng

Phía đông giáp huyện Thái Thụy

Phía bắc giáp huyện Quỳnh Phụ

Phía tây và tây bắc giáp huyện Hưng Hà

Phía nam giáp thành phố Thái Bình

Phía đông nam giáp huyện Kiến Xương

- Địa hình

Trên địa bàn huyện có một mạng lưới chằng chịt các con sông nhỏ lấy nước từ hai con sông là sông Luộc và sông Trà Lý để cấp nước cho sông Diêm Hộ Trong đó có sông Sa Lung và con sông lớn nhất là sông Tiên Hưng,

là nhánh lớn của sông Diêm Hộ, lấy nước từ sông Luộc, chảy qua thị trấn Đông Hưng

Cực đông của huyện nằm tại xã Đông Kinh, cực bắc nằm tại xã Đô Lương, cực tây nằm tại xã Bạch Đằng, cực nam nằm tại xã Đông Á

Huyện có diện tích tự nhiên là 191,76 km², toàn bộ là đồng bằng

- Khí hậu

Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa: mùa

hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông khô lạnh từ tháng

11 năm trước đến tháng 3 năm sau, tháng 10 và tháng 4 là mùa thu và mùa

Trang 11

xuân tuy không rõ rệt như các nước nằm phía trên vành đai nhiệt đới Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º - 24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt

8400 - 8500ºC, số giờ nắng từ 1600 - 1800 h/năm, tổng lượng mưa trong năm

1700 - 2200 mm/năm, độ ẩm không khí dao động từ 80 - 90%

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

- Trại lợn được xây dựng trên một khu đất rộng bao gồm: nhà điều

hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phụ phục vụ cho công nhân, sinh viên thực tập và các hoạt động khác của trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí hệ thống chuồng trại cho

2420 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ, 4 chuồng bầu, 1 chuồng cách ly, 3 chuồng cai sữa, 1 chuồng đực, cùng một số công trình phục vụ cho chăn nuôi như: nhà sát trùng, nhà ăn, nhà nghỉ trưa, kho thuốc, kho thức ăn, phòng pha tinh, Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được

đổ bê tông và có hố sát trùng Phòng tinh được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác

- Thiết kế chuồng nuôi: Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng đẻ và chuồng bầu đều có 3 cái quạt thông gió và 2 quạt đối với chuồng cách ly và chuồng cai sữa Hai bên chuồng có 2 dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên được thiết kế chống nóng Mỗi chuồng đẻ có 108 ô kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô, mỗi chuồng bầu gồm 8 dãy mỗi dãy 72 ô, ô có kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô

- Nơi xử lý chất thải: ở cuối khu chăn nuôi là hố biogas, cách hố biogas 100m là nhà chứa các chất thải cứng

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

- Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

+ 01 Chủ trang trại

Trang 12

+ 04 kỹ sư

+ 02 Tổ trưởng chuồng đẻ

+ 02 Tổ trưởng chuồng bầu

+ 01 Kế toán

+ 37 công nhân và 5 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, chuồng bầu, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.4 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập

Trại lợn nuôi các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, 243 Duroc Nhiệm

vụ chính của trang trại là sản xuất con giống Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 13,2 con/đàn, số con cai sữa là 11,23 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công

ty thức ăn chăn nuôi CP

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa và xuất bán

Trong trại có 33 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác chủ yếu là giống Duroc Lợn nái được phối

2 lần và được luân chuyển giống

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty thức ăn chăn nuôi CP cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại

2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước

2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con

* Các thời kỳ quan trọng của lợn con

+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con

Trang 13

chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này

+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ

và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa

Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc

28 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con

2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ

Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời

kỳ bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn ở lợn con

- Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có

Trang 14

đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng

Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc

Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [15], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ

30 - 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa Đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [19], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh

- Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến:

Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi

Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 - 3 cm Cắt xong dùng cồn iot 70o để sát trùng

Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ

lệ gây viêm vú cho lợn mẹ Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không phạm vào nướu hoặc lưỡi lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt mình

Trang 15

Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [19], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 - 4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là

do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già

- Ngoài ra để chăm sóc tốt cho đàn lợn con thì chúng ta cần phải phòng

và trị bệnh cho chúng để chúng có sức đề kháng cao ngay từ nhỏ

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin: Giai đoạn lợn được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin cho bệnh phó thương hàn

Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin bệnh dịch tả Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin bệnh tụ huyết trùng

và đóng dấu

Trang 16

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [13], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện

vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm

Trang 17

bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ

sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này

Trang 18

* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi

Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề 15 - 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình

- rốn - bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường nhỏ hơn 35oC Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều

* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi

Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [11], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 - 250 mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy

Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết

Trang 19

* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa

Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con

Một cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do

ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con

có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con

có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú

ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:

Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg

Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể

Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được

Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa

Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống

Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy

* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với

Trang 20

lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [23], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ

Theo Trần Thị Dân (2008) [8], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -

6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà sữa thường không có, globulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để hấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao

Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ

Trang 21

không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú

ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được

bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh

bị teo vú cho lợn mẹ

Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [9], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường

ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ nên vùng bị sưng

Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con cũ

và mới mới không bị mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú

* Bổ sung sắt cho lợn con

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Trang 22

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ ngày = 210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2 mg/ ngày (36 - 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 -

180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc

3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi, lần 2: 10 - 12 ngày tuổi

Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết

Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn

Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách thức sử dụng:

- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 1 sau khi đẻ, với liều lượng 200

mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con

- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 1 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 5 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng

100 mg cho 1 lợn con

Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500mg) Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con

Trang 23

- Cách tiêm sắt cho lợn con

Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim tiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 8, dài 1 cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng nước sát trùng Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc

sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn

Nên tiêm vào cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán Tiêm sắt vào cơ bắp hay tiêm vào dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểm khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước

+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con

+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn

mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con

+ Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú

+ Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứa đẻ/nái/năm

Trang 24

- Phương pháp tập ăn sớm:

Khi lợn con đạt 7 - 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làm quen với thức ăn Thức ăn tập ăn phải đảm bảo có tính thèm ăn cao Cần lựa chọn loại thức ăn, các chất phụ gia, cũng như phương pháp chế biến sao cho kích thích sự thu nhận thức ăn của lợn con Lợn con thường rất thích ăn thức dạng viên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thường là các loại tấm, bắp, đậu nành được rang xay để tạo mùi thơm Phải cho lợn con làm quen với nguồn glucid, lipid, protid của các loại thực liệu thông thường để hệ tiêu hóa của lợn con sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa thích hợp

2.2.3 Cai sữa cho lợn con

* Điều kiện cai sữa cho lợn con:

- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối

- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt

- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn

- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật

- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao

* Các hình thức cai sữa:

- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn

+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn

- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ

Trang 25

+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm

* Kỹ thuật cai sữa:

- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con

- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày

- Chế độ ăn đối với lợn con:

+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6% Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe

+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần

+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh

Trang 26

Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh : thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăn tinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 : 1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do

Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng

+ Phương pháp cho lợn con ăn:

Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp

để cho lợn con ăn

Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản

xạ có điều kiện về tiêu hóa

Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa

Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con

Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

* Yếu tố bên trong:

Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu

Trang 27

* Yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác

+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong

cơ thể

+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [9], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [14], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

* Ánh sáng: ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng

Trang 28

ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%

so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời

* Các yếu tố khác: ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh truởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi nhu không khí, tốc độ gió lùa, nồng

độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa

2.2.5 Một số đặc điểm tiêu hóa của lợn con

+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là

cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch

+ Hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [21], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:

- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli,

Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta

quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E.coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất

hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng

E.coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất đa

dạng Cho đến nay đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên,

Trang 29

còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây bệnh không phải là độc tố

của E Coli (Đặng Xuân Bình, 2010) [1] Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus

spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của

lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens,

Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus…

2.2.6 Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Bá Hiên, 2003) [17]

2.2.7 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ

* Công tác chuẩn bị trước khi lợn đẻ

Trước khi đẻ ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày thì phải đưa lợn chửa lên chuồng đẻ để chờ đẻ Căn cứ vào ngày đẻ dự kiến dưới chuồng bầu mà xếp theo các ô chuồng Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng

Phân công trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra

Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:

Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 2,2 2,5kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong ngày

Đối với nái từ lứa 2 đến lứa 4, ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 2,5 3kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong ngày

Đối với nái dạ (từ lứa 5 trở đi), ăn thức ăn 3060 với tiêu chuẩn 3,5kg/ngày/con, cho ăn 3 lần trong ngày

Trang 30

- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa

- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày trở đi tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 – 0,6 kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, chiều lúc 15 giờ, tối lúc 23 giờ, mỗi bữa tăng lên 0,5kg

* Chuẩn bị ô úm cho lợn con:

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,

mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con

đẻ, để có kế hoạch trực và đỡ đẻ cho lợn nái

Lợn nái sắp đẻ có những biểu hiện: Ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra

Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau Lúc này áp lực tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra, rốn thai tự đứt Lợn là một loài đa thai nhưng lợn đẻ từng con một thường thì cứ 15 – 20 phút nái sinh được 1 lợn

Trang 31

con, cũng có khi nái sinh liên tiếp nhiều con rồi nghỉ một thời gian Nếu ra nước ối và phân xu sau 1-2 giờ rặn đẻ nhiều mà không đẻ hoặc con nọ cách con kia trên 1 giờ được bộ phận kĩ thuật ca thiệp Bình thường trong vòng 3 –

4 giờ nái sẽ đẻ hết số con và nhau được tống ra ngoài Những nái tống nhau ra ngoài hàng loạt sau chót sẽ ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì kèm theo nhau thì có những chất dịch hậu sản cũng được bài thải ra khỏi ống sinh dục

Không nên can thiệp bằng oxytocin khi nái chưa đẻ được lợn con đầu tiên, nếu cần thiết thì nên khám vùng lỗ xương chậu nhưng không thọc tay vào quá sâu bên trong

Cần chú ý đến dấu hiệu sót nhau: Nái đẻ hết con thì nhau sẽ được tống

ra ngoài, khi cho con bú nếu nái vẫn còn cong đuôi kèm thỉnh thoảng nín thở,

ép bụng thì báo hiệu tình trạng sót con hay sót nhau

* Kỹ thuật đỡ đẻ

Người đỡ đẻ cần cắt móng tay và rửa sạch tay trước khi đỡ đẻ, khi thai

ra tiến hành các công việc đỡ đẻ như sau:

- Lau dịch nhờn: một tay cầm chắc mình lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn con, tạo điều kiện cho lợn hô hấp thuận lợi và tránh cho lợn bị cảm lạnh Các động tác cần làm nhẹ nhàng, khéo léo để lợn con không kêu ảnh hưởng đến lợn mẹ

- Cắt rốn: Dùng chỉ thắt lại chỗ cắt, độ dài rốn để lại là 4–5 cm rồi cắt bằng kéo đã sát trùng, sau đó dùng cồn sát trùng vết cắt

- Đẻ được 4 – 5 con thì cho ra bú sữa đầu

- Mài nanh: Dùng máy mài nanh, số nanh phải mài là 8 cái, trong đó gồm 4 răng nanh và 4 răng cửa sau Không mài nanh quá nông vì mài nông răng vẫn còn nhọn dễ làm tổn thương vú lợn mẹ khi lợn con bú, mài quá sâu (sát lợi) dễ gây viêm lợi cho lợn con

- Cắt đuôi: Để tránh hiện tượng cắn đuôi nhau nên cắt đuôi cho lợn con mới sinh ra trong vòng 24 giờ để giảm stress cho lợn con Sử dụng kéo bấm

đã sát trùng để cắt đuôi lợn hoặc dùng kéo điện đã cắm điện

Ngày đăng: 15/07/2021, 13:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm