Các sản phẩm được khai thác, được tạo ra từ rừng phục vụ lợi ích của con người không chỉ có gỗ mà còn có rất nhiều loại khác như: các loại thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh dầu, nhự
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN TRUNG DŨNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG LOÀI CÂY
RIỀNG NÚI (ALPINIA OXYMITRA) THUỘC NHÓM LÂM
SẢN NGOÀI GỖ TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM – THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2015-2019
Thái Nguyên - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN TRUNG DŨNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG LOÀI CÂY
RIỀNG NÚI (ALPINIA OXYMITRA) THUỘC NHÓM LÂM
SẢN NGOÀI GỖ TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM – THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2015-2019 Giảng viên hướng dẫn : Ts Nguyễn Tuấn Hùng
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm !
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
TS Nguyễn Tuấn Hùng Trần Trung Dũng
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giảng viên trường Đại Học Nông Lâm Thái nguyên nói chung và các thầy cô giảng viên trong Khoa Lâm nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tuấn Hùng, người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình em thực hiện đề tài nghiên cứu, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo này, khó tránh khỏi những sai sót, rất mong các thầy cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô đề bài báo cáo này hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Trung Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nhiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Khái niệm về LSNG 5
2.2 Phân loại LSNG 7
2.3 Giá trị sinh thái, kinh tế và văn hoá của Lâm sản ngoài gỗ 8
2.4 Nghiên cứu về LSNG 12
2.4.1 Tổng quan về LSNG trên thế giới 12
2.4.2 Tổng quan về LSNG ở Việt Nam 14
2.5 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 21
2.6 Khái quát măm gần đây mức sống của người dân tăng lên rõ rệt Hệ thống cơ sở hạ 24
2.6.1 Riềng núi (Alpinia oxymitra) 24
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp luận 26
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
3.4.3 Phương pháp điều tra 28
3.5 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 29
Trang 63.5.1 Kỹ thuật trồng 29
3.5.2 Phương thức trồng 29
3.5.3 Phương pháp chăm sóc 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả nghiên cứu tình hình sinh trưởng 31
4.1.1 Kết quả tỷ lệ sống của loài cây riềng núi 31
4.1.2 Sinh trưởng đường kính của loài cây Riềng núi (Alpinia oxymitra) 32
4.1.3 Đánh giá chiều cao (Hvn) 34
4.1.4 Động thái ra lá của loài cây Riềng núi (Alpinia oxymitra) 37
4.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển cây riềng núi 39
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: tỷ lệ sống của loài cây Riềng núi (Alpinia oxymitra) 31 Bảng 4.2: Đường kính D00 trung bình loài cây Riềng núi (Alpinia oxymitra) 32 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp kết quả sinh trưởng đường kính ở lần đo thứ 3 của loài cây riềng núi 33 Bảng 4.4 Bảng tổng hợp kết quả sinh trưởng chiều cao ở lần đo thứ 3 của loài cây riềng núi 34 Bảng 4.5 Bảng tổng hợp kết quả sinh trưởng chiều cao ở lần đo thứ 3 của loài cây riềng núi 36 Bảng 4.6: Tỷ lệ ra lá trung bình của loài Riềng núi (Alpinia oxymitra) 37 Bảng 4.7 Bảng tổng hợp kết quả động thái ra lá ở lần đo thứ 3 của loài cây riềng núi 38
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Ảnh cây riềng núi 24
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ sống cây riềng núi 31
Hình 4.2 Biểu Đồ đường kính gốc các CTTN 32
Hình 4.3: Biểu đồ chiều cao Hvn của các CTTN 35
Hình 4.4:Biểu đồ số lá của các CTTN 37
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng không chỉ có chức năng cung cấp lâm sản mà còn có những chức năng quan trọng khác như bảo vệ, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học
Cấu trúc tổ thành loài của hệ sinh thái rừng (nhất là rừng tự nhiên) rất
đa dạng và phong phú, bao gồm thực vật, động vật, vi sinh vật Không chỉ tầng cây gỗ mới tạo nên cấu trúc rừng mà các thành phần khác vai trò hết sức quan trọng như dây leo, thực vật ngoại tầng, bì sinh, lớp cây bụi, thảm tươi
Khi nhìn thấy sinh khối của rừng chủ yếu là gỗ, thường thì người ta cho rằng giá trị của rừng là do gỗ tạo nên Vì vậy, trước đây người ta coi sản phẩm gỗ là "lâm sản chính", những sản phẩm tự nhiên khác từ rừng được gọi
là "Lâm sản phụ" hoặc "đặc sản" nếu có giá trị cao Việc phân chia lâm sản chính, lâm sản phụ đến nay không còn phù hợp nữa vì có nhiều mục đích kinh doanh rừng khác nhau
Các sản phẩm được khai thác, được tạo ra từ rừng phục vụ lợi ích của con người không chỉ có gỗ mà còn có rất nhiều loại khác như: các loại thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh dầu, nhựa cây, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, nấm, côn trùng, động vật hoang dã v.v
Ngày nay, sản phẩm thu từ rừng được xếp vào hai nhóm: Gỗ và Lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber forest produsts)
Vậy, câu hỏi được đặt ra: Các Lâm sản ngoài gỗ là gì ?
• Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác
gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (The Economic value of Non-timber Forest products in Southeast asia - W.W.F - 1989)
Trang 10"Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa thông, quả hồi, vỏ quế hoặc sợi song mây là thực vật đặc sản rừng".(Thực vật và thực vật đặc sản rừng - GT trường ĐHLN - Lê Mộng Chân, Vũ Dũng - 1992) "Nhiều loài cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây cho đặc sản Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một số loài cây cho thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công chế biến như cây cho nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu " (Quản lý bảo tồn tài nguyên thực vật rừng - GT Trường ĐHLN - Lê Mộng Chân-1993)
Như vậy, Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác
gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhưa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của
chúng để phục vụ cuộc sống
Hiện nay lâm sản ngoài gỗ được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau chúng có giá trị đóng góp vào việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học Về giá trị kinh tế người ta ghi nhận có 150 loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị được buôn bán trên thị trường quốc tế, giá trị lớn lao của nó được thể hiện ở nguồn thu nhập của các cộng đồng sống gần rừng, lâm sản ngoài gỗ có thể là nguồn thu bẳng tiền duy nhất để mua lương thực, hàng tiêu dùng, và trang trải chi phí thuốc men học hành cho con trẻ của các
hộ dân nghèo Ngoài ra lâm sản ngoài gỗ còn đóng góp không nhỏ vào kinh tế đất nước, theo cơ quan y tế thế giới (WHO) đánh giá là 80% dân số các nước đang phát triển dùng lâm sản ngoài gỗ để chữa bệnh và làm thực phẩm Về giá trị xã hội lâm sản ngoài gỗ giúp ổn định và an ninh cho đời sống người
Trang 11dân phụ thuộc vào rừng, tạo việc làm và bảo tồn kiến thức bản địa Giá trị về mặt môi trường chúng góp phần bảo vệ, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ môi trường và quan trọng hơn là bảo tồn đa dạng sinh học
Việc thực hiện đề tài“Nghiên cứu và đánh giá sinh trưởng loài cây
riềng núi (Alpinia oxymitra) thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ tại mô hình khoa Lâm nghiệp đại học Nông lâm” nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng của
loài câyriềng núi (Alpinia oxymitra) thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ nhân rộng
mô hình đánh giá sinh trưởng các loài cây lâm sản ngoài gỗ theo giá đất trong
mô hình khuôn viên ngoài trời trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của loài cây riềng núi (Alpinia
oxymitra) trồng trong mô hình tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Đề xuất được một số biện pháp nhằm phát triển cây riềng núi (Alpinia oxymitra)
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất
- Cung cấp thông tin về sinh trưởng và phát triển của loài cây riềng núi (Alpinia oxymitra) thuộc nhóm LSNG tại mô hình khoa Lâm nghiệp Ngoài
ra, đây còn là nơi phục vụ cho việc giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học cho tất cả mọi người, đặc biệt là các sinh viên trong khoa Lâm nghiệp nói riêng và sinh viên trường ĐH Thái Nguyên nói chung
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng của loài cây riềng núi chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển loài cây này
- Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan
Trang 12- Bên cạnh đó việc học tập của các sinh viên đặc biệt là sinh viên khoa Lâm nghiệp rất cần những địa điểm để thực hành nghiên cứu sau những giờ học,
để giúp sinh viên có thể nắm chắc được những kiến thức lý thuyết trên lớp
- Tiết kiệm được kinh phí cho việc nghiên cứu khoa học và thực hành của sinh viên trong trường nói chung và sinh viên khoa Lâm nghiệp nói riêng
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về LSNG
Từ xưa đến nay, nói đến giá trị của rừng ông cha ta thường kể đến các loài gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, dổi, vàng tâm, để xây dựng nhà cửa, đóng đồ mộc trang trí trong nhà chứ ít ai nhắc đến các sản vật khác lấy từ rừng, có nhiều lúc những sản phẩm tưởng như rất đơn giản này lại chính là cứu cánh cho sự sống còn, tồn vong và phát triển của con người, đó là các loài cây cho lương thực, thực phẩm thu hái trong rừng vào những năm đói kém hay vào thời gian giáp hạt, những căn bệnh hiểm nghèo duy nhất chỉ trông chờ vào các phương thuốc quý giá từ cây cỏ trong thiên nhiên Những loại sản vật kể trên nói theo cách ngày nay được gọi là lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
Trên thế giới, thuật ngữ LSNG mới xuất hiện trong khoảng hơn 2 thập
kỷ trở lại đây để chỉ các lâm sản khác gỗ De.Beer (1989) đã quan niệm LSNG như là “ tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng được khác thác
từ rừng tự nhiên để phục vụ tiêu dùng của loài người LSNG bao gồm thực phẩm, thuóc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, tre, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi… Theo quan niệm của De.Beer, LSNG bao gồm mọi sản phẩm hữa hình(khác gỗ) có nguồn gốc sinh học được khai thác từ rừng tự nhiên Tuy nhiên, quan niệm của De.Beer về LSNG chưa đề cập đầy đủ đến các sản phẩm khác gỗ của rừng trồng và của
hệ canh tác nông lâm kết hợp[8]
Tổ chức chuyên gia tư vấn về LSNG châu Á- Thái Bình Dương (IEC) họp tại Bangkok – Thái Lan(1991) đã chấp nhận định nghĩa LSNG có thể áp dụng cho hầu hết các nước trong khu vực như sau : “ LSNG bao hàm tất cả các sản phẩm tái tạo và hữa hình, không phải là gỗ xẻ, gỗ nhiên liệu và gỗ củi, thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ loại hình sử dụng đất tương tự nào cũng như đất trồng cây gỗ Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái
Trang 14cũng là LSNG” Bằng cách hạn chế LSNG chỉ bao gồm các sản phẩm hoặc hàng hóa hữu hình, định nghĩa này đã loại trừ các dịch vụ tạo ra như dịch vụ cắm trại, chăn thả, săn bắn…
Theo Ros –Tonen (1995,2000), lâm sản ngoài gỗ được định nghĩa là tất
cả các sản phẩm động, thực vật tự nhiên, trừ các sản phẩm gỗ thương mại, có thể lấy được từ rừng để sử dụng và buôn bán Trong định nghĩa này, du lịch sinh thái không được coi là một loại NTFP mà là một hình dịch vụ của rừng - một loại đầu ra khác của rừng
FAO (1995) đã chỉ ra yêu cầu của ý nghĩa về LSNG là định nghĩa phải vừa diễn tả nghĩa của thuật ngữ LSNG, phải vừa xác định chính xác giới hạn, phạm vi và đặc trưng của nó Từ đó FAO (1995) đưa ra định nghĩa :“ LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học (trừ gỗ) và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ các kiểu sử dụng đất tương tự”[9]
Định nghĩa này xác định, LSNG bao gồm cả các hàng hoá và dịch vụ
có nguồn gốc thực vật và động vật Định nghĩa về LSNG của FAO (1995) cũng đã nhận biết về chức năng dịch vụ quan trọng đang gia tăng của tài nguyên LSNG Chẳng hạn, du lịch sinh thái là một ngành công nghiệp lớn trên thế giới đang phát triển rất nhanh.Vì thế, rừng, vùng hoang dã, động vật hoang dã là những thành phần của du lịch sinh thái nên được nhận biết phong phạm vi của LSNG
Ở Việt Nam, theo tiến sĩ Nguyễn Thanh Chiến- Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản viết trong tạp chí khoa học- Công nghệ kinh tế lâm nghiệp, tác giả cho rằng “Thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ nhằm để chỉ các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người Lâm sản ngoài gỗ bao gồm: thực phẩm, dược liệu, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo gián, nhựa mũ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh,động vật hoang
dã, chất đốt, các chất liệu thô, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ cho sợi”
Trang 152.2 Phân loại LSNG
Lâm sản ngoài gỗ có nhiều dạng khác nhau và rất có ích cho các hộ gia đình ở vùng nông thôn nhiệt đới Chúng có thể được phân loại như sau :Thực vật có thể ăn được, động vật có thể ăn được, sản phẩm dược liệu, các sản phẩm động thực vật không ăn được (De.Beer&McDermott, 1006) Lâm sản ngoài gỗ không chỉ thấy ở các hệ sinh thái rừng tự nhiên mà còn được tìm thấy ở các cấu trúc thực vật do con người tạo nên như vườn rừng và các đồn điền[8]
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách phân loại lâm sản ngoài gỗ: Căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG Mendelsohn đã chia LSNG thành các nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán nhựa, thuốc nhuộm và tanin, cây cho sợi và cây làm thuốc Căn cứ vào thị trường tiêu thụ Mendelsohn đã chia LSNG thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất bán trên thị trường, nhóm thứ 2 bán ở địa phương và nhóm 3 được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Loại này thường tính được tỷ trọng rất cao nhưng chưa tính được giá trị Chính loại này đã làm LSNG bị lu mờ, ít được chú ý đến, tác giả cũng chỉ
rõ rừng như một nhà máy quan trọng đối với xã hội và LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của nhà máy này Nhìn chung, các tác giả đã phân loại LSNG theo gia trị sử dụng thành các nhóm: a làm lương thực, thực phẩm; b làm vật liệu xây dựng; c làm hàng thủ công mỹ nghệ; d làm dược liệu, hương liệu; e làm cảnh[11]
Ở Việt Nam theo nhóm nghiên cứu của dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam cho rằng lâm sản ngoài gỗ được phân loại theo 6 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốc của lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nhóm sau:
+ Nhóm sản phẩm cây có sợi: tre, nứa, song, mây các loại thân lá có sợi
và củ
+ Nhóm thực phẩm:
Trang 16- Những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật như: thân, chồi non, rễ, lá, hoa, quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm… có thể dùng làm thực phẩm
- Những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật như: mật ong, thịt thú rừng, cá, tổ yến, trứng chim, các loại côn trùng ăn được
+ Nhóm dược liệu, chất thơm và cây có chất độc
+ Nhóm những sản phẩm chiết xuất như: các loại nhựa, tanin, chất màu, dầu béo và tinh dầu…
+ Nhóm động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà voi, xương, cánh kiến đỏ
+ Nhóm những sản phẩm khác như: cây cảnh, lá để gói thức ăn, hàng hóa, phong lan…
Cách phân loại này nhìn chung chỉ mang tính tương đối vì công dụng của một số loài lâm sản ngoài gỗ luôn có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tùy lúc, tùy vào công dụng và mục đích dùng, biến đổi tùy theo tập quán của từng vùng, từng lãnh thổ…
2.3 Giá trị sinh thái, kinh tế và văn hoá của Lâm sản ngoài gỗ
Nếu giá trị của rừng bao gồm giá trị lâm sản và giá trị sinh thái thi trong đó giá trị sinh thái của rừng cao hơn rất nhiều và giá trị của LSNG không hề thua kém giá trị của lâm sản gỗ
Theo FAO (1997) và IUNC (1999), ở nhiều quốc gia trên thế giới, giá trị của LSNG được ước tính xấp xỉ với giá trị của lâm sản gỗ Vì thế, nếu coi lâm sản gỗ là nguồn thu nhập duy nhất trong kinh doanh rừng chúng ta đã bỏ phí một nguồn lợi khác tương đương với nó Hơn nữa, trong một thời gian dài, chính quan niệm giá trị cảu rừng chỉ là giá trị của bộ phận gỗ đã gây ra các hoạt động làm suy thoái và huỷ diệt rừng trên quy mô rộng lớn, làm mất
đi những giá trị sinh thái và giá trị LSNG của rừng.Nếu chú ý phát triển và kinh doanh thực vật cho LSNG sẽ giúp cho việc làm giảm sức ép lên tài
Trang 17nguyên cây gỗ, bảo vệ được nhân tố chủ đạo của rừng, do đó không những duy trì được chức năng sinh thái của rừng mà còn làm gia tăng đáng kể giá trị kinh tế của nó.Việc phát triển thực vật cho LSNG là một lựa chọn vừa mang tính kinh tế, sinh thái, vừa là một chọn lựa khả thi ở nhiều khu vực khác nhau (Phạm Văn Điển trong “ Một số vấn đề lâm học nhiệt đới”, 2004)[4]
Lâm sản ngoài gỗ hình thành nên một bộ phận tổng hợp của sinh kế trong cộng đồng nông thôn sống ở các vùng nhiệt đới Tại hộ gia đình chúng chủ yếu được sử dụng cho các mục đích như lương thực, thực phẩm, thuốc men, đồ gia dụng, Hơn nữa, một số sản phẩm thường có giá trị kinh tế lớn khi chúng được buôn bán ở địa phương, thậm chí ở quốc tế.Bên cạnh đó, LSNG cũng đóng góp đáng kể trong việc bảo tồn các khu rừng nhiệt đới và quản lý rừng có sự tham gia (Ros-Tonen-2000).Các giá trị văn hoá và tinh thần của LSNG rất đa dạng nên chúng nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách
Các cộng đồng nông thôn ở vùng nhiệt đới sử dụng LSNG từ rất lâu, có chiều dài lịch sử hình thành của họ.Bên cạnh đó, LSNG còn đóng vai trò rất quan trọng trong kinh tế hộ gia đình Ở Java, hệ thống nông lâm kết hợp cung cấp cho một số nông hộ hơn 40% tổng lượng calo mà họ tiêu thụ (Christianty,1986) Ở Nigeria, mô hình vườn nhà truyền thống bao gồm ít nhất 60 loài cây cung cấp các sản phẩm lương thực (Okafor và Femander, 1986) Trong nhiều trường hợp khác, LSNG cũng giúp con người sống sót trong những thời kỳ kho khăn (vi dụ khủng hoảng lương thực, lũ lụt, chiến tranh…)
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dược phẩm, đến giải quyết công ăn, việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hoá, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đới sống nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là những
Trang 18người dân nghèo Tầm quan trọng đó của LSNG đối với các nước nhiệt đới đã được thừa nhận Myer (1988) đã tính toán rằng, một khu rừng nhiệt đới có diện tích 50.000 ha nếu được quản lý tốt sẽ cung cấp đều đặn 200 đôla Mỹ/ha/năm từ sản phẩm động vật hoang dã, còn nếu đốn gỗ chỉ cho thu nhập trên dưới 100 USD/ha/năm Peters và cộng sự (1989) đã tính toán thu nhập từ lâm sản gỗ và LSNG trên một hecta rừng nhiệt đới ở vùng Amazon đạt 6820USD/ha/năm [12]
Rừng và LSNG là nguồn sống chủ yếu của ít nhất 27 triệu người ở vùng Đông Nam Á (De.Beer, 1996) Giá trị thu nhập hiện tại từ LSNG có thể lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kỳ loại hình sử dụng đất nào đó (Peter, 1989)[12] Bảo tồn có khai thác, ít nhất ở một số địa phương cũng được ưu tiên hơn về mặt kinh tế so với các loại hình sử dụng đất khác (Balick và Mendelsohn, 1992).Việc khai thác LSNG thường ít phá huỷ hệ sinh thái hơn
so với các loại hình sử dụng đất khác[11]
Những nghiên cứu gần đây về LSNG đã phác họa một bức tranh tươi sáng về sự bảo tồn có khai thác Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) là một tác phẩm nổi bật Theo ông LSNG ở vùng nhiệt đới đóng vai trò quan trọng cho sự bảo tồn, duy trì tính bền vững của rừng và có giá trị kinh tế.Chúng quan trọng cho việc bảo tồn vì khai thác LSNG rất có giá trị.Tác giả đã khảng định việc khai thác LSNG nên được thúc đẩy như một hứa hẹn giữa bảo tồn
và phát triển rừng nhiệt đới Một ưu điểm nữa là rừng tự nhiên có thể được giữ nguyên vẹn, trong khi người dân vẫn có thể thu được lợi ích từ các khu rừng này Để bảo tồn có khai thác và đạt hiệu quả bền vững Mendelsohn đề nghị 3 vấn đề : cần phải khuyến khích quản lý tài nguyên dài hạn, phải xác định vùng đất giành cho khai thác và cần phải xác định rõ các thành phần đầy
đủ của sản phẩm được khai thác từ rừng[11]
Nghiên cứu của Peter (1989) chỉ ra rằng việc khai thác nhựa của rừng nguyên sinh ở Peru đã cho kết quả thu nhập cao hơn bất cứ việc sử dụng đất
Trang 19nào Nghiên cứu bổ sung của Heizmen (1990) cũng chỉ ra khai thác cây họ cau dừa ở vùng Peren của Guatemana cũng cho thu hoạch quan trọng Balick
và Mendelsohn (1992) cho rằng giá trị về y học trên một hecta trong rừng thứ sinh ở Beliz cũng cao hơn giá trị thu từ nông nghiệp Theo các tác giả này thì bảo tồn có khai thác ít nhất của một địa phương cũng được ưu tiên hơn về mặt kinh tế so với các loại hình sử dụng đất khác.Đặc điểm quan trọng của rừng nhiệt đới là tính đa dạng của nó.Bảo tồn có khai thác là phải tạo phần lớn các thực vật sinh trưởng trong rừng.Những nghiên cứu kinh tế thực vật cho thấy rừng tự nhiên nhiệt đới cung cấp một lượng lâm ssản phong phú Nghiên cứu của Peter có tới 72 loại thực vật sống trên ô mẫu rộng 2 ha mà chúng có thể là sản phẩm hàng hoá Các sản phẩm khác chưa thể lượng hoá được thuộc các loài trong y học, làm gia vị và thuốc nhuộm.Trong nghiên cứu của mình Mendeldohn 1992 đã khuyến cáo rằng để khai thác rừng nhiệt đới có hiệu quả buộc phải thường xuyên dựa vào vô số sản phẩm.Nhiều trường hợp trong khu vực hẹp người ta sẽ đôi khi bắt gặp một đám sản phẩm có giá trị cao Peter et
al (1989) đã tìm thấy các khu rừng có 5 loài cây có giá trị kinh tế cao ở vùng Amazon Peru hàng năm cho ta thu nhập từ 200-6000 USD/năm[12]
Rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng
về các loài thực vật cho LSNG Ở Đông Nam Á có ít nhất 30 triệu người chủ yếu dựa vào LSNG đóng góp cho thị trường thể giới khoảng 3 tỷ đô la Mỹ từ các đồ gia dụng làm từ song, mây ( Kroekhoen,1996 De.Beer Medermott, 1996) Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Comlombia,Equado,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu sử dụng hợp
lý các LSNG làm nâng cao đới sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng địa phương[8]
Nghiên cứu và phân tích của Padoch,Belê (1989) đã chỉ ra rừng nhiệt đới đóng vai trò quan trọng cho người dân địa phương Rừng không chỉ là nguồn thu lợi mà còn cung cấp lương thực, vật liệu xay dựng, thuốc và năng
Trang 20lượng Myers (1980) ước khoảng 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người dân địa phương đã đạt tới lợi ích của họ từ những khu rừng kề cận Đối với nền kinh tế của một số nước vai trò của LSNG đã được khẳng định chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987 đã xuất khẩu LSNG đạt giá trị 23 triệu USD,
ở Indonesia cũng trong năm đó đạt 238 triệu USD và Malaysia trong năm
1986 xuất khẩu hàng hoá sản xuất từ LSNG đạt 11 triệu USD (Jen.H.De.Beer, 1986)
2.4 Nghiên cứu về LSNG
2.4.1 Tổng quan về LSNG trên thế giới
Trên thế giới, lâm sản ngoài gỗ là nguồn sống chủ yếu và là nguồn thu nhập chính của người dân nghèo, đồng bào dân tộc miền núi, người lao động
tự do và những người sống phụ thuộc vào rừng, nó là nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều nước trên thế giới chủ yếu là các nước nghèo và các nước đang phát triển
Ở Châu Á, nơi đây có nguồn tài nguyên LSNG vô cùng phong phú và
là nguồn cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho người dân vùng nông thôn Chẳng hạn như:
- Tại Ấn Độ có khoản 500 triệu dân sống trong và xung quanh rừng phụ thuộc vào nguồn LSNG cho sinh kế của họ (Viện Tài Nguyên Thế Giới 1990) Ở đây có khoảng 16.000 loài cây thì 3.000 loài LSNG có lợi, hầu hết tiêu thụ trong nước, xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô.Sản xuất lâm sản ngoài gỗ ở Ấn Độ đóng góp khoảng 40% tổng doanh thu từ rừng và 55% việc làm dựa vào rừng
- Tại Lào có 90% dân cư sống ở vùng nông thôn và 50% thu nhập của các hộ nông dân này từ LSNG Theo một nghiên cứu của Sounthone Detphanh (Lào) cho rằng, người dân nông thôn dùng LSNG chủ yếu để ăn (măng, tre, nứa, lá một số loại cây, cá suối và thịt chim thú), làm vật liệu xây dựng (mây, tre, cây quanh vườn, lá lợp) Tuy nhiên LSNG vẫn chưa là đối
Trang 21tượng quản lý của các nhà chức trách nên làm cho nguồn LSNG ở đây ngày một khan hiếm[9]
Ở Châu Mỹ, LSNG mang lại việc làm và nguồn thu nhập đáng kể cho người dân trong khu vực cũng như nguồn ngoại tệ mà tài nguyên này đem lại Theo Foster (1995), Mỹ xuất khẩu khoảng 77 tấn nhân sâm hoang dã có giá
trị trên 21 triệu USD vào năm 1993 Theo Mater (New York Times 1996) Hoa
Kỳ đã tăng trưởng thị trường thuốc thảo dược với tốc độ hàng năm ước tính khoảng 13 – 15% với doanh số bán hàng của dược liệu, một dự báo rằng nền kinh tế Mỹ sẽ kiếm được 5 tỷ USD trong năm 2000 Tại Brazil hạt dẻ là loại sản phẩm quan trọng thứ 2 sau nhựa cao su vì nó mang lại nguồn thu từ 10 –
20 triệu USD hàng năm cho những người thu hái Trên bán đảo Yucatan của Mexico, giá trị thị trường của lá cọ được sử dụng hoặc bán ước tính đem lại 137,000,000 USD / năm (Theo Molnár 2004) Điều này chứng tỏ các nhà quản lý của các nước trong khu vực này tiêu biểu như Mỹ, Panama, Brazil, Mexico đã bắt đầu quan tâm đến LSNG và những giá trị mà nguồn tài nguyên này mang lại
Qua đó, cho thấy LSNG là nguồn tài nguyên quan trọng cho hầu hết các nước trên thế giới nó là nguồn sống, nguồn thu nhập chính của các nước nghèo và đang phát triển “80 phần trăm dân số tại các nước đang phát triển phụ thuộc vào các lâm sản ngoài gỗ cho sinh hoạt, cả về kinh tế và dinh dưỡng Lâm sản ngoài gỗ là đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ trong việc
phát triển quốc gia từ châu Mỹ Latinh đến châu Á và châu Phi (Gbadeboet al
1999)” Đồng thời LSNG cũng đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho các nước phát triển
Nhìn chung những nghiên cứu về LSNG ở ngoài nước đã và đang phát triển nhanh chóng, đề cập khá rõ nét về khía cạnh cho việc phát triển LSNG bao gồm cả những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển phong phú Những kinh nghiệm và giải pháp cho phát triển LSNG ở nhiều nước đã được
Trang 22tổng kết tương đối công phu đã chỉ ra tiềm năng to lớn và sự cần thiết phải phát triển LSNG trong chiến lược quản lý rừng bền vững theo hướng “ bảo tồn có khai thác”
2.4.2 Tổng quan về LSNG ở Việt Nam
2.4.2.1 Tình hình sử dụng LSNG ở Việt Nam
Theo Hoàng Hòe (1998) nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ của nước
ta rất phong phú và đa dạng,có nhiều loài có giá trị cao: Số cây làm thuốc chiếm khoảng 22% tổng số loài thực vật Việt Nam ,có khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài ), khoảng trên 600 loài cho tanin và rất nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo, cây cảnh.Bên cạnh đó còn
có song mây tre nứa, hiện nay tổng diện tích tre nước ta là 1.492.000 ha với khoảng 4.181.800.000 cây Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái
Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm như các loài song mây, tre nứa, các loài hoa…
Các loài LSNG làm thức ăn như mộc nhĩ, nấm hương, nấm linh chi và măng, tre, trúc, mật ong là những sản phẩm vừa để phục vụ cho đời sống hàng ngày vừa là hàng hóa thương mại Chúng đã từ lâu trở nên quen thuộc đối với người dân và là nguồn lương thực và thu nhập lớn cho người dân chỉ sau lúa, ngô, sắn Các loài làm thực phẩm quan trọng khác như chè, cà phê… đã góp phần quan trọng trong thu nhập của Việt Nam thông qua xuất khẩu
Các loài dược liệu dùng được dùng để chữa bệnh tật và để chế biến các
vị thuốc.Cây thuốc Nam là yếu tố quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, góp phần làm giảm chi phí trong phòng chữa bệnh.Chúng đóng vai trò rất quan trọng với nhân dân vùng cao, vùng xa, điều kiện còn nhiều khó khăn cả về chăm sóc y tế, nguồn thuốc và phương tiện đi lại Ngoài ra,
Trang 23một số vị thuốc quí của Việt Nam như hòe, sâm Ngọc linh, quế, ba kích, hà thủ ô, hoằng đằng… Nhiều loại dược liệu của Việt nam được xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước như quế, hồi, hòe… Theo Viện Dược liệu thì đã phát hiện được gần 2000 loài cây làm thuốc ở Việt Nam thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Theo tác giả Võ Văn Chi, con số này lên tới hơn 3000 loài cây được người dân sử dụng làm thuốc
Các loài LSNG là động vật là chim, thú cũng đóng góp nhiều tích cực vào giá trị cuộc sống Chúng được dùng làm thực phẩm (thịt các loài động vật, mật ong, côn trùng), làm dược liệu (mật gấu, cao hổ, rắn, sừng tê giác…), làm đồ trang sức (ngà voi, sừng hươu nai, móng vuốt các loài họ mèo…)
Còn rất nhiều loại LSNG khác chưa thống kê hết được, nhưng sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống của người dân: nhựa trám, tre trúc, mây, dược liệu, nấm thực phẩm, mộc nhĩ, măng tươi, măng khô, hạt dẻ, các loại quả rừng, các loại rau rừng, cánh kiến đỏ, các loại củ rừng chàm nhuộn vải, vỏ cây và quả rừng, tắc kè, thịt thú rừng, mật ong, thức ăn gia súc, củi, than hầm,
lá gồi, lá buông, động vật rừng nuôi, thủy sản rừng ngập, cây rừng làm cảnh… Các loại sản phẩm này hiện nay rất phân tán và khai thác theo phương thức hái lượm nên con số thống kê cụ thể còn chưa được thực hiện đầy đủ
2.4.2.2 Tình hình quản lý LSNG ở Việt Nam
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của LSNG, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng trong đó có
đề cập đến nội dung quản lý LSNG Một số chính sách quan trọng đã tạo nên
sự chuyển biến về phát triển và quản lý LSNG như chính sách của chính phủ
về Giao đất giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý (Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994; thông tư 06LN/KN về giao đất lâm nghiệp; Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp); chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã đề cập đến việc phát triển Lâm sản ngoài gỗ; luật bảo vệ và phát triển rừng (2004), thông tư 13LN/KL
Trang 24của Bộ Lâm nghiệp đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên động thực vật rừng quý hiếm, mà nhiều loài LSNG có giá trị
Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ hiện nay được quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau: quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng và quản lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với nhiều mục đích khác nhau (kinh doanh, sử dụng cho mục đích tự cung cấp, nghiên cứu…) Trong đó việc lập kế hoạch quản lý bền vững LSNG dựa vào cộng đồng là một trong những vấn đề được quan tâm và nó đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nguồn tài nguyên LSNG
Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020, định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ) Đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao động và thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn
Bộ NN&PTNT đã đưa ra các chương trình hoạt động để bảo vệ và phát triển rừng trong đó đặc biệt quan tâm bảo vệ và phát triển LSNG nhằm giảm bớt áp lực về gỗ cũng như tăng cường các lợi ích từ rừng Các chương trình hoạt động cụ thể là Chương trình xây dựng mô hình trình diễn và đào tạo, huấn luyện cho chủ rừng; chương trình canh tác lâm nông kết hợp trên đất sau nương rẫy; Chương trình đào tạo cho cán bộ làm công tác khuyến lâm; Chương trình thông tin, tuyên truyền; và Chương trình tư vấn và dịch vụ khuyến lâm: Nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn và khuyến lâm
2.4.2.3 Tình hình nghiên cứu LSNG ở Việt Nam
Tại Việt Nam, LSNG rất đa dạng, phong phú, giàu tiềm năng, phân bố rộng khắp cả nước, nhưng nghiên cứu về LSNG còn rất hạn chế.Chỉ có một
số ít các tổ chức, cơ quan nghiên cứu về vấn đề này.Năm 1978, Trung tâm
Trang 25nghiên cứu Đặc sản rừng được thành lập (thực chất là nghiên cứu về LSNG) với nhiệm vụ nghiên cứu phát triển LSNG, phương pháp chế biến, gây trồng lâm sản có giá trị Trung tâm này thường phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES-Đại học Quốc gia Hà nội) và Viện Kinh tế Sinh thái (ESCO-ECO) để thực hiện các dự án về sử dụng bền vững LSNG Các hoạt động nghiên cứu bao gồm: phát triển và thử nghiệm các hệ thống quản lý rừng và LSNG, nghiên cứu hệ thống sở hữu LSNG ở Việt Nam, nghiên cứu thử nghiệm gây trồng một số loài LSNG có giá trị kinh tế cao dựa theo nhu cầu của người dân địa phương, gây trồng một số loài tre và dược liệu Một số tổ chức khác có nghiên cứu về LSNG gồm có Trường Đại học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Viện Điều tra Qui hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Phạm Văn Điển (2001) đã đưa ra quan niệm về LSNG Sau khi điểm lại các thuật ngữ đang được sử dụng để gọi tên các lâm sản khác gỗ như: lâm sản phụ, lâm sản khác có giá trị kinh tế, đặc sản rừng, các lợi ích phi gỗ của rừng, tài sản phi gỗ và các dịch vụ, lâm sản ngoài gỗ,… tác giả đã đề nghị nên sử dụng lâm sản ngào gỗ để chỉ các lâm sản khác gỗ Theo tác giả, thuật ngữ LSNG có tính khoa học cao bởi phạm vi, độ chính xác và tính ổn định của nó Thuật ngữ này có triển vọng được sử dụng thống nhất và phù hợp với các yếu
tố có thể lượng hoá Nó loại trừ tất cả các sản phẩm và các hàng hoá đặc trưng của gỗ trong phạm vi lâm sản ngoài gỗ, cần tính đến các sản phẩm(từ các thực vật thân thảo và từ các bộ phận ngoài gỗ của thực vật thân gỗ thu được bởi các quá trình chiết suất bằng phương pháp hoá học và phương pháp chưng cất phá huỷ gỗ, chẳng hạn như sản phẩm dầu của gỗ đàn hương, dầu thắp sáng sinh học
Cũng theo Phạm Văn Điển (2001), những thực vật của rừng hoặc của
hệ thống sử dụng tưng tự rừng cho sản phẩm không phải gỗ, hoặc ngoài việc cung cấp gỗ chúng còn cho các sản phẩm khác gỗ từ thực vật như quả,vỏ, hạt,
Trang 26nhựa,tinh dầu, thuốc nhuộm, thuốc chữa bệnh,… được gọi chung là thực vật cho LSNG
Lâm sản ngoài gỗ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cuộc sống của con người, đặc biệt đối với một nước như Việt Nam LSNG là một thành phần chính trong sự sinh tồn của người nghèo ở nông thôn, là một nguồn cung cấp quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và sức khoẻ nhất là khi cấp bách, đóng góp vào việc cải thiện sinh kế bền vững, và LSNG đôi khi chưa được đánh giá đúng mức nhưng có tiềm năng cho phát triển nghề thủ công Vì vậy LSNG có thể được xem là một phương cách giúp giảm nghèo, tăng những khuyến khích cho tái sinh rừng, hợp tác quản lý các khu bảo tồn, vùng đệm và bảo tồn rừng.LSNG còn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Hơn nữa, các lâm sản ngoài gỗ còn đại diện và đóng góp vào đa dạng sinh học của rừng Việt Nam Kết quả khai thác cạn kiệt và không được kiểm soát là sự mất sinh cảnh LSNG, sử dụng không bền vững các loại LSNG
đe doạ cuộc sống của con người, đa dạng sinh học rừng và chức năng hệ sinh thái của đất nước
Trong khi các can thiệp liên quan đến LSNG là cần thiết để đảm bảo những chức năng vừa nhắc ở trên Phải thừa nhận rằng không phải tất cả các sáng kiến về LSNG luôn luôn có thể mang đến các tác động mong muốn Vi
dụ như, các bài học từ các nơi cho thấy các cố gắng tăng thu nhập bằng các hoạt động kinh doanh LSNG có thể làm tăng các hậu quả sau đây : làm cho cộng đồng lún sâu vào nghèo đói, dẫn đến tăng nợ nần và bóc lột người thu hái: các dẫn chứng đưa ra là thương mại hoá LSNG dẫn đến tăng sự phụ thuộc của người thu hái, làm mất quyền thu hái của người nghèo, cải tiến công nghệ sản xuất cũng có thể làm mất quyền lợi của các nhóm thiệt thòi (Tuan, 2005 Hoi thao LSNG)
Nghiên cứu về tiềm năng và vai trò LSNG đối với cộng đồng ở một số vùng đệm của vườn Quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên tại Việt Nam cho thấy
Trang 27gần 200 tấn cây dược liệu ở Vườn quốc gia Ba Vì được khai thác trong năm 1997-1998, ước tính gần 60% dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia vào thu hái cây dược liệu Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện nay là nguồn thu nhập thứ hại sau lúa và sắn (D.A.Gilmuor và Nguyễn Văn Sản, 1999) Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lân(1999) ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Nghệ An) cho thấy 100% hộ dân sống dựa vào rừng, sản phẩm khai thác gỗ và LSNG như măng, mật ong, song, Mây, nứa, củi… Tác giả cũng cho thấy 22,5% số hộ thường xuyên khai thác mét, nứa,song, mây; 11,75% số hộ thường xuyên khai thác măng, mộc nhĩ thu nhập 20.000đ/ngày và 8,3% số hộ chuyên khai thác củi bán lấy tiền mua lương thực và trong những ngày giáp hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn phải vào rừng đào củ mài, củ chuối, củ nâu, hái lá rừng để ăn
Trong công trình “ Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật và sinh thái núi cao SaPa” các tác giả Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thích 1995 đã đề cập đến tài nguyên thực vật cho LSNG theo hướng phân loại hệ thống sinh thái và thống kê thực vật có giá trị làm thuốc Tác giả tập trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loại thực vật này Lê Quý Ngư, Trần Như Đức (1998) đã tập trung đã tập trung mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, nơi mọc, kỹ thuật thu hái, chế biến và các bài thuốc làm từ các loài thực vật trong đó có thực vật cho LSNG Nghiên cứu của Christian Rake và cộng sự (1993) đã đề cập đến tiềm năng thực vật cho LSNG tại 3 tỉnh Hoà Bình,Sơn La và Lai Châu Các tác giả đã thống kê diện tích rừng tre nứa của 3 tỉnh này là 26.000 ha ( Hoà Bình 1.500 ha,Sơn La 16.500ha và Lai Châu 8.000ha) bình quân một năm lượng tre nứa được khai thác từ các tỉnh này là 13 tỷ cây, trong đó khoảng 90% là do hộ nông dân khai thác để cung cấp cho nhà máy giấy Bãi Bằng-Vĩnh Phú, đồng bằng Sông Hồng và xuất khẩu sang Đài Loan thu 300 triệu USD từ 1986-1992 Nghiên cứu cũng cho thấy thị trường Song Mây bắt đầu nở rộ từ 1973 để xuất khẩu sang Châu Âu,
Trang 28Bắc Mỹ và Nhật Bản Nhưng hiện nay lượng Song Mây ở vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình đã giảm do khai thác quá mức trong những năm qua
Phạm Xuân Hoàn đã nghiên cứu phân loại LSNG tại Phia Đén- Nguyên Bình- Cao Bằng theo mục đích sử dụng Theo tác giả việc phân loại LSNG theo mục đích sử dụng là thích hợp nhất khi nó được thực hiện bởi người dân địa phương Trong công trình này, tác giả cũng đánh giá tùnh hình khai thác LSNG và đã rút ra được một số nhận xét quan trọng, đại bộ phận người khai thác LSNG là nông dân, công việc khai thác được hành hầu như quanh năm Hầu hết các sản phẩm khai thác, thu hái đều được bán tại thị trường địa phương hoặc bán cho tư nhân ở ngoài bản vào mua Phương thức khai thác LSNG phụ thuộc vào bộ phận sử dụng, hầu hết là khai thác theo kiểu huỷ diệt làm một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng Nông dân không có nguồn thu nhập nào khác nên họ chỉ biết khai thác LSNG bất kỳ khi nào Từ đó tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên này như : tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, không bỏ sót loại LSNG, thúc đẩy giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng
Vì những lý do khác nhau mà cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về LSNG ở Việt Nam Phần lớn các nghiên cứu này mới được thực hiện ở mức độ nhất định, mới chỉ dừng lại ở việc mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, giá trị kinh tế, nơi mọc của thực vật cho LSNG và những công trình này còn tản mạn hoặc chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và công phu[9]
Việt Nam với một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất á- nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng,