LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp:“Nghiên cứu sinh trưởng loài cây gừng núi đá trên giá thể đất Zingiber purpureum Roscoe tại mô hình khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Các loài thực vật mọc hoang dã được con người sử dụng phục vụ cuộc sống Nhưng hiện nay những tài nguyên thiên nhiên đó đang trở lên rất khan hiếm, chính vì vậy việc tìm kiếm ngoài tự nhiên ngày thêm khó khăn và hiện nay đặt ra thách thức cho những người không biết quý trọng và bảo tồn nguồn tài nguyên đó… Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta đa dạng sinh học đang bị khai thác từng ngày từng giờ làm cho số lượng loài không ngừng suy giảm, bên cạnh đó là các loài đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy cơ bị tuyệt chủng.Vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là đòi hỏi chúng ta phải hành động ngay trên phạm vi toàn cầu Như chúng ta đã biết việc trồng rừng, thâm canh rừng lấy gỗ, trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng, trồng rừng đối với các loài cây lâm sản ngoài gỗ… đã được tiến hành từ lâu với nhiều phương thức trồng khác nhau nhưng cho đến nay việc trồng cây cảnh, cây đặc sản, cây dược liệu và nhất là các loài cây dược liệu quý, trồng cây để bảo tồn tránh tuyệt chủng thì mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và thử nghiệm vào những năm gần đây Đặc biệt là các loài cây thuốc sử dụng làm dược liệu Hiện nay nhiều loài cây dược liệu đang trong tình trạng suy giảm, bị đe dọa nghiêm trọng trước sự khai thác quá mức của con người, cho nên việc nghiên cứu các đặc tính sinh học, cách gây trồng loài cây này là rất cần thiết, nhằm tránh khỏi sự suy giảm, mất đi nguồn gen quý hiếm này
Trong những năm gần đây có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cây gừng núi đá, nhân giống trồng ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, nhằm cải thiện đời sống kinh tế có các hộ dân, mở rộng các vùng phục vụ cho các đề tài nghiên cứu, cây gừng núi đá có rất nhiều công dụng trong đời sống dùng làm thuốc chữa đau bụng,dùng làm gia vị.
Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trên thế giới
Cây gừng núi đá là loài mới, chưa được nghiên cứu nhiều Tài liệu hạn chế, không tìm được các nghiên cứu trên thế giới, bởi vậy phần tổng quan tài liệu tình hình nghiên cứu trên thế giới còn chưa được tác giả tham khảo nhiều.[1]
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” [12]
Trên thế giới, tính đến nay số loài thực vật được sử dụng vào mục đích chữa bệnh lên đến khoảng 35.000 – 70.000 loài Trong đó, Trung Quốc ước tính có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 – 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500, Malaysia có khoảng 2.000 loài ,Nepan có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 – 700 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài thực vật có thể được sử dụng trong y học truyền thống Trong những năm gần đây, nước Mỹ - một nước có nền công nghiệp hiện đại, rất quan tâm đến nguồn tài nguyên cây thuốc phục vụ cho công tác chữa bệnh, họ đã thực hiện những chương trình sàng lọc các hợp chất tự nhiên từ thực vật nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng Đồng thời, nước này còn đầu tư lớn vào việc nghiên cứu dược thảo, đào tạo chuyên gia và thành lập trung tâm quốc gia nghiên cứu bổ sung và chọn lọc thuốc của Mỹ [13]
Nhận thấy sự nguy cấp của sự đa dạng các loài thực vật trên thế giới, trong đoa có cả những loài lâm sản ngoài gỗ, cùng với đó là trách nhiệm phải bảo tồn những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời có thể kết hợp tham quan giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập, nghiên cứu, thư giãn nên trên thế giới con người đã xây dựng các vườn thực vật chuyển vị để góp phần bảo vệ nguồn gen của các loài thực vật Hiện nay có khoảng 1800 vườn bách thảo tại 150 nước thuộc phần lớn tại các vùng có khí hậu ôn hòa Trong đó có
400 vườn ở Châu Âu, 200 ở Bắc Mỹ, 150 ở Nga, và một số càng ngày càng tăng lên ở Đông Á Những vườn này lôi cuốn mỗi năm khoảng 150 triệu du khách.Trong quá khứ, các vườn bách thảo trao đổi các cây cối qua việc ấn hành danh sách các hạt giống Đó là một phương tiện để trao đổi không những các thực vật mà cả các thông tin giữa các vườn bách thảo với nhau Ở Châu Âu, từ năm 1492 đã có vườn bách thảo Arboretum von Trsteno gần Dubrovnik Tổng diện tích của Arboretum là 28 hecta Trong suốt 5 thế kỷ tồn tại, các yếu tố của thời kỳ Phục Hưng Baroque và Romanticism có thể được nhìn thấy trong kiến trúc cảnh quan Trên một số bậc thang bên cạnh cây trồng ở Địa Trung Hải như ô liu, cây sung hoặc cây có múi cũng có rất nhiều cây cọ, cây bạch đàn, cây laurel, cây xương rồng và các cây kỳ lạ khác[14]
Bộ sưu tập của vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau.Vườn thực vật Na Aina Kai, Mỹ khoảng 240 loài Và còn vườn thực vật đại học Hokkaido rộng hơn 13 hecta trồng khoảng 4000 loại thực vật được mở cửa vào cuối thế kỷ 19 Bên cạnh đó là rất nhiều vườn thực vật nổi tiếng, lưu giữ nhiều loài thực vật trên thế giới như: Vườn Butchart, British Columbia, Canada, Villa D’este, Italy, Villa Eprhussa de Rothchild,
Pháp…xây dựng với mục đích bảo vệ các loài thực vật quý hiếm lồng ghép thăm quan giải trí cho con người Ở Đức vườn bách thảo đầu tiên được thành lập ở Leipzig (1580), Jena (1586), Heidelberg (1593), Gieòen (1609) hay Freiburg (1620), thường thuộc về phân khoa Y học là vườn dược thảo Vườn bách thảo Kiel là vườn bách thảo đầu tiên theo nghĩa hiện nay Nó được hình thành bởi Johann Daniel Major vào năm 1669 tại Christian-Albrechts- Universitọt zu Kiel Ở Bồ Đào Nha vườn bỏch thảo đầu tiờn do bỏ tước Grafen von Pombal thuộc Universitọt Coimbra xõy vào năm 1772[17]
Tại Châu Á, có vô vàn các vườn thực vật lớn nhỏ của các nước như: Trung Quốc có 152 vườn thực vật điển hình như là Vườn Thực Vật Bắc Kinh
- Khu vườn được thành lập năm 1953 và hiện nay có diện tích 564.000 m2 Chúng bao gồm 6.000 loài thực vật, bao gồm 2.000 loại cây và bụi rậm, 1.620 loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới và 500 loài hoa Bộ sưu tập này bao gồm một số loài quý hiếm, ngoài ra còn có Vườn thực vật Nam Trung Quốc là một phần của Học viện Khoa học Trung Quốc, trước đây gọi là Viện Nông Lâm nghiệp, Đại học Sun Yat-Sen, được thành lập vào năm 1929, Vườn Bách thảo Nhiệt đới Xishuangbanna của Học viện Khoa học Trung Quốc được thành lập năm 1959 Vườn thực vật Kadoorie và Vườn Bách thảo Kadoorie và Vườn Bách thảo trải dài trên 148 hecta đất và nằm trên sườn núi phía bắc và chân núi của ngọn núi cao nhất ở Hồng Kông - Tai Mo Shan, Vườn thực vật
Vũ Hán, Nghiên cứu vườn thực vật theo định hướng này là một phần của Học viện Khoa học Trung Quốc và được thành lập vào năm 1956 và mở cửa cho công chúng vào năm 1958 Hơn 10.000 loài thực vật và các giống và có 16 vườn đặc sản Vườn hoa quả hoang dã, Vườn thực vật quý hiếm và Vườn cây thuốc là một trong những vườn lớn nhất Trung Quốc và Vườn Thực vật Xiamen - nằm trên núi Wanshi ở phía đông nam của đảo Hạ Môn Còn được gọi là Vườn Thực Vật Wanshi có diện tích 4,93 km2 và chứa hơn 6.300 loại cây cảnh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới cộng thêm 10 vườn độc đáo dành riêng nhỏ hơn Ấn độ có 131 vườn thực vật nổi tiếng như Vườn thực vật nhiệt đới Jawaharlal Nehru và Viện nghiên cứu, Trivandrum, Kerala 121 ha ở độ cao
100 m trên mực nước biển Bảo tồn số lượng lớn nhất các bộ sưu tập cây trồng nhiệt đới tại các vườn thực vật ở châu Á, vườn thực vật Acharya Jagadish Chandra Bose được thành lập năm 1786, mục đích của vườn bách thảo hoàng gia là thu thập các cây bản địa và giới thiệu làm cho cây trồng được phục hồi lại từ các nước khác Các vườn cũng là một nguồn cung cấp cây trồng quan trọng cho Kew và các vườn khác của châu Âu Vườn bách thảo Jhansi, Jhansi, Uttar Pradesh, Vườn Bách thảo Saharanpur, Saharanpur, Uttar Pradesh, Vườn thực vật Lloyd's, Darjeeling, Tây Bengal được thành lập vào năm 1878 như là một phụ tùng xa xôi của Vườn thực vật Calcutta Tại Indonesia có 5 vườn thực vật nổi trội đó là Vườn Bách thảo Bali.Nhật bản có
64 vườn thực vật đặc biệt phải kể đến đó là Vườn thực vật, Trường đại học Khoa học, Đại học Tokyo Đại học Tokyo Botanical Gardens, Hakusan, Bunkyo-kuTokyo, Nhật Bản Lào có Vườn thực vật Pha Tad Ke xây dựng vào năm 2008 và mở cửa vào năm 2015 Đến với Malaysia phải kể đến Rimba Ilmu Rimba Ilmu là một khu vườn thực vật nhiệt đới, được thành lập tại khuôn viên trường Đại học Malaya ở Kuala Lumpur, Malaysia.Rimba IlmuInstitute of Biological Sciences, Đại học Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia.Singapore có 2 vườn không thể không nhắc đến Singapore Botanic Gardens nằm ở trung tâm thành phố và được thành lập vào năm 1859.Với diện tích gần 74 hecta, khu vườn là nơi nghiên cứu và bảo tồn hơn 30.000 loài thực vật Khu vườn này nổi tiếng trên thế giới với Vườn lan Quốc gia, nơi trưng bày hoa lan nhiệt đới lớn nhất thế giới với hơn 1.000 loài phong lan và 2.000 loại lan lai tạo Nam Triều Tiên có 54 vườn những cái tên thường được nhắc đến như Vườn Bách Thảo Namsan có trụ sở tại Seoul nó chiếm một khu vực 59 m2, có tổng cộng 117.132 cây từ 269 loài trên có 13 khu vườn theo chủ đề Oedo - một vườn thực vật ven biển được xây dựng năm 1969 bởi Lee
Chang Ho và vợ ông, trong công viên biển quốc gia được gọi là Vườn Quốc gia Hallyeo Haesang Vườn Sinh thái Eco Yanggu - khai trương năm 2004.Chiếm 189.141 người.Đặt tại chân núi Daeamsan Đây là khu vườn sinh thái cực bắc của Hàn Quốc và được phát triển như là một trung tâm khôi phục hệ sinh thái Nam và Bắc Triều Tiên Bao gồm hơn 400 thực vật quý hiếm bao gồm các loài thực vật bản địa Hàn Quốc và được bảo vệ bởi Bộ Môi trường Hàn Quốc.Vườn thực vật Yeomiji mở cửa năm 1989 bao gồm 112000 m2, có vườn trong nhà và ngoài trời Theo chủ đề trong các khu Một số vườn tạo ra các phong cách được tạo ra ở các nước khác trong quá khứ Tiếp đó là Sri Lanka có các vườn thực vật nổi tiếng như Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Sri
Lanka, Peradeniya, Kandy có 147 mẫu vật nằm ở độ cao 460 mét so với mực nước biển, bao gồm hơn 4.000 loài thực vật và nổi tiếng với bộ sưu tập hoa phong lan, ngoài ra còn có Vườn Bách thảo Hakgala, Vườn Bách thảo Henarathgoda và Vườn Bách thảo Mirijjawila Đài loan có 5 vườn nổi trội kể đến là Vườn Bách thảo Đài Loan, Đài Loan năm 1896, một vườn ươm chính thức với diện tích dưới 5 ha đã được thành lập gần Xiaonanmen ở phía tây nam thành phố Đài Bắc Điều này đánh dấu sự ra đời của Vườn thực vật Đài Bắc và Thái Lan có 12 vườn thực vật gồm có vườn thực vật Queen Sirikit là vườn thực vật quan trọng nhất và lâu đời nhất ở Thái Lan và là trung tâm nghiên cứu khoa học chính Dành riêng cho việc bảo tồn hệ thực vật Thái Lan Vườn Bách Thảo Queen Sirikit, trước đây gọi là Vườn Bách Thảo Mae
Sa Nằm cách Pattaya 20km về phía Nam tại Thái Lan vườn thực vật Nong Nooch rộng khoảng 2,4 km2 đã sưu tập khoảng 20.000 loại cây nhiệt đới khác nhau đặc biệt tại Nong Nooch có hơn 670 loài hoa lan Tất cả những vườn thực vật kể trên hiện tại ngoài mang nhiệm vụ là nơi bảo vệ được các nguồn gen quý của các loài cây mà còn có thể trở thành nơi thăm quan giải trí và tạo ra một địa điểm hùng vĩ của các đất nước đó
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
LSNG từ xưa đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của các gia đình dân cư vùng trung du và miền núi nước ta Gần đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này được đánh giá cao hơn Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta còn rất nhiều các hạn chế một trong những hạn chế đó là về mặt cách thức khai thác và sử dụng của người dân bản địa đối với nguồn tài nguyên phong phú này
Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”
Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng ( hiểu theo nghĩa rộng hơn gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, lầm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên vật liệu giấy, sợi [10]
*Nghiên cứu về phân loại lâm sản ngoài gỗ Đỗ Tất Lợi (1977) trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”- tái bản lần thứ 3 có sửa đổi và bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này
Theo Vũ Văn Dũng và Lê Viết Lâm (2005) thì Việt Nam có trên 140 loài của 29 chi và có thể còn tìm thấy các loài mới, trong đó có rất nhiều loài có giá trị và kinh tế cao cũng như có giá trị trong việc nghiên cứu Cũng cùng năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã rà soát các kết quả nghiên cứu về phân loại tre trúc ở Việt Nam kết hợp với một số nghiên cứu, khảo sát ở thực đã đưa ra danh sách của 216 loài thuộc 25 chi tre trúc phân bố tự nhiên ở Việt Nam.[4]
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả (2007) đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG Trong đó phân thành 6 nhóm: nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); nhóm cây thuốc (76 loài); nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); nhóm tanin, thuốc nhuộm (19 loài); nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)
Ngiên cứu khoa học “Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cây thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở các tỉnh miền núi phía Bắc” do tác giả Lê
Văn Thành (2004) – Phòng nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng thực hiện nhằm điều tra đánh giá lại thực trạng gây trồng Thảo quả ở Lào Cai và khảo sát tình hình gây trồng ở một số tỉnh lân cận, từ đó tập hợp kinh nghiệm gây trồng thực tế trong nhân dân kết hợp với điều tra nghiên cứu ngoài thực địa, cùng các chuyên gia và các tài liệu khoa học tiến hành xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật phục vụ cho việc gây trồng phát triển cây thảo quả
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm.[7]
2.3.2 Các nghiên cứu về cây gùng núi đá
Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm- Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn biết, nghiên cứu nhân giống gừng đá có tính chất đặc sản khu vực, không chỉ bảo tồn phát triển nguồn gen gừng bản địa mà còn có thể khai thác tiềm năng của chúng phục vụ công tác chọn tạo giống gừng mới trong tương lai và phát triển kinh tế Cây gừng đá đã được xếp vào nhóm giống cây thực phẩm quý hiếm cần được bảo tồn theo Quyết định 80/2005/QĐ- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2005 Giá bán 01 kg gừng đá hiện tại từ 500.000 - 800.000đ là cơ sở để tin rằng đây là một tiềm năng phát triển kinh tế rất khả thi
Qua 01 năm triển khai, dự án đã hoàn thành điều tra, khảo sát tình hình sản xuất giống gừng đá tại xã Liêm Thủy và Xuân Dương; đánh giá, chọn lọc các cá thể gừng đá trên đồng ruộng, nhân giống thành công giống gừng đá
Bắc Kạn bằng phương pháp Invitro, phân tích các thành phần chính của giống gừng đá Bắc Kạn nhằm đánh giá giá trị nguồn gen của giống tại vùng nghiên cứu Mô hình trồng 500m2 diện tích gừng tại núi đá trong đó 200m2 trồng từ củ của địa phương và 300m2 trồng từ cây nuôi cấy bằng phương pháp Invitro cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt Chiều cao cây trồng từ cây nuôi cấy mô đạt 15 - 18 cm, được 8 - 10 lá và đã đẻ 3 - 5 nhánh Gừng trồng từ củ của địa phương cây sinh trưởng phát triển tốt, mỗi khóm từ 6 - 10 nhánh
Theo đánh giá của dự án, hiện tại nhu cầu về sản xuất gừng đá làm dược liệu và thực phẩm rất cao, cung không đủ cầu.Giống được triển khai không những phục vụ nhu cầu cho riêng Bắc Kạn mà còn cho các vùng miền núi có điều kiện sinh thái tương tự Về lâu dài, với tiềm năng cũng như sự chủ động về nguồn giống thì tính toán xây dựng thị trường tiêu thụ để đưa cây gừng đá trở thành đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao là điều cần thiết và hết sức khả thi [3]
Khái quát một số đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
a Đất đai Đất đai của Mô hình khoa Lâm Nghiệp được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ
Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành Đất phù sa không được bồi tụ hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị xói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralit: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn Đất khu vực mô hình khoa Lâm Nghiệp là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển kém
Bảng 1.1 Kết quả phân tích mẫu đất Độ sâu tầng đất (cm)
Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất Mùn N P 2 O 5 K 2 O N P 2 O 5 K 2 O PH
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)
- Độ pH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây chua
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp.Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng b Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm nằm trong khu vực xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ các đặc điểm khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông Có 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau c Dân số - lao động
Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 người, người dân nơi đây đa số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỷ lệ hộ sống dựa vào ngành nông nghiệp vẫn còn cao
Số lao động trong độ tuổi là khoảng 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số nhân khẩu của toàn xã d Giao thông- thủy lợi
Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, các tuyến đường liên xã đều được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được bê tông hóa tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp nên gây khó khăn trong việc trao đổi mua bán hàng hóa của người dân
Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Núi Cốc, suối và hồ, ao trên địa bàn phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông lâm nghiệp, vì vậy công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu tư Toàn xã xây dựng được 15km kênh mương đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt e Kinh tế- xã hội
- Sản xuất nông nghiệp: Chiếm 80% số hộ là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có sự kết hợp giữa vật nuôi và cây trồng
- Sản xuất lâm nghiệp: Từ 10 năm trở lại đây việc trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được tiến hành Hiện nay toàn xã đã phủ xanh được phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc Mặc dù thu nhập từ lâm nghiệp chưa đáng kể nhưng thời điểm này có một số rừng trồng đã đủ tuổi khai thác
- Dịch vụ: Hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đi lên Nhìn chung kinh tế của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có kế hoạch cụ thể, rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển tương đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều
Trong những năm gần đây mức sống của người dân tăng lên rõ rệt Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư và phát triển đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi là lĩnh vực quan trọng để phục vụ về các mặt của đời sống, kinh tế, xã hội của nhân dân trong xã.
Khái quát một số đặc điểm của cây gừng núi đá ( Zingiber purpureum Roscoe)
2.5.1 Đặc điểm nhận biết cây gừng núi
Hình 2.1: Ảnh được chụp tại mô hình khoa Lâm Nghiệp
Cây gừng núi đá được trồng tại mô hình trong vườn cây lâm sản ngoài gỗ Gừng núi đá là cây thân thảo cao khoảng45-50 cm, tiết diện tròn, màu xanh, nhẵn, mang 10-15 lá, lá bẹ ôm sát thân cây, có củ phát triển ngầm dưới đất Lá đơn, không cuống, mọc so le thành 2 dãy, hình ngọn giáo Lá xanh nhạt, mặt nhẵn bóng, không lông, dài 12-17 cm, rộng 3-6 cm
2.5.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Gừng núi đá là loài cây ưa bóng, sinh trưởng tốt dưới tán rừng
Gừng núi đá sống dưới tán rừng, đặc biệt trong các khe núi đá, có độ ẩm không khí cao, cây sinh trưởng tốt và cho năng suất khi ở nơi có độ ẩm cao và mát mẻ
Gừng núi đá sống ở nơi nhiều mùn lá cây, giàu mùn, đạm và kali Đất có độ tơi xốp cao, độ ẩm quanh năm nhưng khong bị úng thoát nước tốt
Gừng núi đá mọc thành khóm bụi phát triển nhân giống bằng củ
Gừng núi đá mọc hoang và được bà con nông dân mang về nhà ươm trồng ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn
Trong Đông y, gừng núi có vị cay, đắng, mùi thơm nồng, tính ấm, có tác dụng làm thông hơi, điều kinh, hơi nhuận tràng, cầm lỵ, giúp da dẻ hồng hào, giảm đau, chống viêm
Khoa học hiện đại đã chứng minh về những tác dụng của cây gừng núi: tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, chống vi khuẩn (có trong tinh dầu Monoterpenes); tác dụng chống viêm, giảm đau (có trong Arylbutanoids); tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, chống vi khuẩn (có trong dẫn xuất Curcuminoid); tác dụng ngăn chặn các gốc tự do sinh ra do protein ở thời kỳ tiền nhiễm và ngăn chặn sự phát triển đột biến của tế bào ung thư (có trong Zerumbon)
Cây được sử dụng rất nhiều trong ẩm thực Vùng Lạng Sơn, thường dùng cây này để tẩm ướp thịt lợn hay làm món lạp xưởng Nhờ tinh dầu và mùi thơm đặc trưng mà giúp món ăn không những có hương vị thơm ngon mà còn giúp bảo quản món ăn được lâu hơn
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là loại cây gừng núi đá (Zingiber purpureum Roscoe) thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ thuộc Họ gừng (Zingiberaceae) trong mô hình khoa Lâm Nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Mô hình khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Nội dung nghiên cứu
- Một số đặc điểm của loài cây gừng núi trồng trong mô hình ngoài trời tại Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đánh giá tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính sát gốc và chiều cao vút ngọn, khả năng ra lá của loài cây gừng núi trong mô hình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trong mô hình khoa Lâm Nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu
Sinh trưởng là sự biến đổi theo tuổi của các nhân tố điều tra, là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa của một vật sống Quá trình sinh trưởng của cây rừng nói riêng, các loài thực vật nói chung là kết quả tổng hợp của nhân tố nội tại và điều kiện ngoại cảnh, vì vậy nếu điều kiện ngoại cảnh đồng nhất thì nhân tố nội tại sẽ quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát triển của mỗi loài cây Do đó trong cùng một loài cây ở một điều kiện ngoại cảnh khác nhau nó sẽ sinh trưởng khác nhau vì mỗi loại cây
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá sinh trưởng loài cây gừng núi đá
Kết quả điều tra được tỷ lệ sống của loài cây gừng núi đá trong các công thức là
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của loài cây gừng núi đá trong các công thức Các lần đo
Từ kết quả bảng 4.1 cho thấy: trong các công thức tỷ lệ sống thấp nhất ở lần đo cuối là ở công thức 1 với tỷ lệ sống là 73.33% Công thức 4 có tỷ lệ sống cao nhất ở lần đo cuối đạt tới 90% Có thể nhận thấy rằng công thức 4 thành phần gồm đất tự nhiên tại khu vực nghiên cứu + 5 kg phân chuồng ủ hoai mục (phân gà) + 1 kg phân NPK Sông Gianh (phân đa lượng 16.12.8+TE) là cho tỷ sống cao nhất
4.1.2 Sinh trưởng đường kính của cây gừng núi đá trong các công thức
Sinh trưởng đường kính: Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng đường kính sát gốc(D00) được trình bày tại bảng 4.2