ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- LÝ THỊ HỒNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LÝ THỊ HỒNG
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH, XÃ BA TRẠI, HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y - POHE Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LÝ THỊ HỒNG
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH, XÃ BA TRẠI, HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y - POHE Lớp: K47-CNTY-Marpha Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS LÊ MINH
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, kết hợp với 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội, em đã nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và các bạn để đến nay, em đã hoàn thành chương trình học
và thực tập tốt nghiệp của mình
Để có được thành công này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Ban chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y, những người đã dành nhiều tâm huyết, tình cảm và sự hỗ trợ lớn nhất cho tập thể lớp K47 – CNTY – Marpha trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K47 – CNTY – Marpha đã luôn đoàn kết và sát cánh bên nhau cả trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bác, các cô chú, các anh cán bộ kỹ thuật và các anh chị trong trang trại chăn nuôi đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ trong thời gian thực tập
Đặt biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Lê Minh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận này
Qua đây, em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện vật chất cũng như tinh thần để động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Lý Thị Hồng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các từ viết tắt v
Phần 1:Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 1
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 3
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan tới chuyên đề 6
2.2.1 Đối với lợn nái sinh sản 6
2.2.2 Đối với lợn con 18
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 25
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 27
Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29
3.1 Đối tượng 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung thực hiện 29
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 29
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.2 Phương pháp thực hiện 29
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36
Trang 5Phần 4.Kết quả thực hiện và thảo luận 38
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ năm 2016 đến tháng 5/2018 38
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản 39
4.2.1 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 39
4.2.2 Tình hình sinh sản của lợn nái 40
4.2.3 Chỉ tiêu về số lượng lợn con đẻ ra của lợn nái sinh sản 40
4.2.4 Kết quả thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản 41
4.3 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn con 43
4.3.1 Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 43
4.3.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con 43
4.3.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn con 44
4.3.4 Kết quả thực hiện các biện pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con 44
Phần 5:Kết luận và đề nghị 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
Tài liệu tham khảo 49
Phụ lục 1
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Quy định lượng thức ăn chuồng đẻ 30
Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội từ năm 2016 đến tháng 5/2018 38
Bảng 4.2: Số lượng lợn nái đẻ và lợn con trực tiếp chăm sóc, 39
nuôi dưỡng tại trại 39
Bảng 4.3: Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 40
Bảng 4.4: Chỉ tiêu về số lượng lợn con đẻ ra/lứa của lợn nái sinh sản 40
Bảng 4.5: Kết quả thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 41
Bảng 4.6: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 42
Bảng 4.7: Kết quả thực hiện một số công tác thú y trên đàn lợn con 43
Bảng 4.8: Kết quả thực hiện một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con 44
Bảng 4.9: Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con 45
Bảng 4.10: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 45
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5S: Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc, Sẵn sàng Circovac: Vaccine phòng virus Circo
Trang 8Trước xu thế đó, phát triển chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công của chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, đảm bảo an toàn dịch bệnh
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giảng
viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản và lợn con, khẩu phần
ăn và cách cho lợn ăn qua từng giai đoạn
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ để
có phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
Trang 91.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại,
Trang 10PHẦN 2:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn thôn 6, xã Ba Trại, huyện Ba Vì,
Hà Nội
Ba Trại là một xã miền núi của huyện Ba Vì, Hà Nội với tổng diện tích đất tự nhiên là 2017,4 ha, dân số toàn xã năm 2017 là 3.700 hộ gia đình với 14.681 nhân khẩu
Ba Trại xưa thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội Ba Trại nằm dưới chân núi Ba Vì, phía đông giáp xã Tản Lĩnh; phía tây giáp xã Minh Quang, Thuần Mỹ; phía nam giáp xã Ba Vì; phía bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, Sơn
Đà
Đặc điểm chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C Nhìn chung địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn Diện tích ruộng có 730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi
Hoạt động kinh tế chủ yếu của xã là trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và du lịch như phát triển thương hiệu chè Ba Vì, phát triển mô hình chăn nuôi trang trại, trong
đó các trang trại chăn nuôi lợn ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trang 11ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch là một trong những trang trại gia công có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích là 2 ha, được xây dựng cách xa khu dân cư và trường học Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nước vào mùa mưa nhiều, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây
Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2010 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp lợn con của giống nái Landrace – Yorkshire với đực Pietrain – Duroc
Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân; bếp ăn tập thể; các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại; khu chăn nuôi
Ngay lối vào khu chăn nuôi có xây dựng 4 phòng tắm sát trùng, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 kho vôi, 1 kho tải, 1 kho dụng cụ, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân
Khu chăn nuôi được xây dựng cách biệt trên một diện tích rộng, các hệ thống
chuồng nuôi theo dây chuyền Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp
với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn
nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:
- 3 chuồng đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu, mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có
32-33 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
- 1 chuồng bầu: gồm 14 dãy chuồng, mỗi dãy gồm 80 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Dãy
1 - 4 được thiết kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và có khu thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
- 1 chuồng đực giống: bao gồm 34 ô để nuôi lợn đực và 1 ô khai thác tinh
Trang 12- 3 chuồng cách ly: nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 2-3 tháng để làm vaccine đầy đủ trước khi được đưa lên phối giống
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn với đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt thông gió Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối mỗi chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử
lý qua hệ thống thoát nước ngầm thải ra ao xử lý ở cuối trại, phân được tập kết tại bãi phân và được xuất đi hàng tháng
Hệ thống nước uống tự động thuận tiện cho chăm sóc và nuôi dưỡng Nước dùng cho chăn nuôi được bơm từ giếng khoan qua hệ thống bể lọc, xử lý qua clorin, đưa lên các bể chứa nước ở vị trí cao hơn khu vực chuồng nuôi, áp lực đủ mạnh để dẫn nước trực tiếp tới các vòi uống tự động ở từng ô chuồng
Trong khu chăn nuôi có trang bị đầy đủ kính hiển vi, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, đèn cồn, nhiệt kế, nồi hấp, panh, kéo,… Một số thiết bị khác cũng được
trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc, xe
chở cám, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi, máy phát điện,…
Nhìn chung khu vực chăn nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng và thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng; cơ sở vật chất của trại là khá hoàn chỉnh và đạt yêu cầu so với một chuồng nuôi kín hiện nay
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
Trang 13Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Con giống, thức ăn, thuốc có chất lượng tốt, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
2.1.4.2 Khó khăn
Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp khó khăn Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng
và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
Trại được xây dựng khá lâu nên một số điều kiện cơ sở vật chất đã xuống cấp, trại chưa có hệ thống cho ăn tự động nên vẫn tốn khá nhiều công sức trong nuôi dưỡng
và chăm sóc
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan tới chuyên đề
2.2.1 Đối với lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Đặc điểm của một số giống lợn nái ngoại nuôi tại trại
* Giống lợn Yorkshire:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], nguồn gốc của giống lợn này được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn, 4 chân dài chắc chắn, có 14 vú Da của lợn Yorkshire có màu trắng, tuy nhiên thỉnh thoảng có một số nốt đen
Giống lợn Yorkshire có tính di truyền ổn định, tầm vóc to, khả năng sản xuất cao và khả năng thích nghi tốt Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành của con đực từ 250-300 kg, con cái từ 200-250 kg
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 650-750 g/con/ngày; FCR từ 2,8-3,0 kg, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 55-59%
Lợn có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ trung bình 10-11 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1-1,2 kg/con
* Giống lợn Landrace:
Trang 14Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], giống lợn Landrace được tạo ra ở Đan Mạch từ năm 1895
Lợn Landrace có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16-17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn Landrace có từ 12-14 vú
Landrace là giống lợn có năng xuất cao Tốc độ sinh trưởng nhanh, FCR thấp,
từ 2,70-3,01 kg; tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700-800 g; tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ
58 – 60%
Khối lượng cơ thể của lợn đực từ 280–320 kg, lợn nái từ 220–250 kg
Landrace là giống lợn có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo, là giống lợn hướng nạc và thường được chọn làm dòng nái trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [28] cho biết, một trong những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo với nhau Trong
đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại Landrace và Yorkshire và ngược lại, tạo
ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực
tế sản xuất
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:
- Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng là ống dài ngoằn ngoèo, một đầu loe rộng tạo thành loa kèn để đón trứng từ buồng trứng rụng xuống, đầu kia nối liền với sừng tử cung Ống dẫn trứng dài 15 - 30cm
- Tử cung: Tử cung lợn nái bao gồm 1 thân và 2 sừng Hai sừng của tử cung có hình dạng chữ V, nơi tiếp xúc với thân tử cung tạo thành ngã ba Sừng tử cung là nơi chứa thai (2 sừng tử cung dài khoảng 1 m), thân tử cung dài khoảng 5cm Phần cuối của tử cung là cổ tử cung Đây là một cái eo, thường khép kín Tận cùng của bộ máy sinh dục cái là âm hộ Trong âm hộ có lỗ thông ra ngoài của ống dẫn nước tiểu gọi là
lỗ đái và tuyến tiết dịch nhờn
* Sự thành thục về tính:
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục
và có khả năng sinh sản Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [11], lúc này tất cả các
Trang 15bộ phận sinh dục như tử cung, buồng trứng, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì đồng thời ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ
về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện bên ngoài cũng như cách chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Lê Xuân Cương (1986) [6], tuổi thành thục về tính của lợn cái lai và lợn cái ngoại muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Móng Cái, Mường Khương, Ỉ…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào lúc 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Lợn ngoại vào lúc 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng và quản lý: Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn
và ngược lại Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái
- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [42] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm
- Điều kiện bên ngoài: Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu ôn đới và hàn đới thường thành thục về tính muộn hơn những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông Điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt
độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu
Trang 16sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo
12 giờ mỗi ngày
- Bên cạnh những yếu tố trên thì sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới
sự thành thục về tính của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính
ở gần ô chuồng của con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng McIntosh (1996) [45], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
* Sự thành thục về thể vóc:
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về thể chất và ngoại hình đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Vì vậy, không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối; đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [15]
* Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp:
và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [36]
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [26] cho biết: chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi
- Thời điểm phối giống thích hợp:
Trang 17Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [31], trứng rụng tồn tại ở trong
tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai tính từ lúc bắt đầu động dục cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái nội thì sớm hơn một ngày, vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm thích hợp nhất
Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi (2005) [24], một trong những yếu tố quan trọng là xác định thời điểm phối giống thích hợp Nếu phối giống hay dẫn tinh quá sớm hoặc quá muộn tỷ lệ thụ thai sẽ kém và nếu có thụ thai thì lợn nái sẽ đẻ
từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Trong thời gian vài ngày, thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần
Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ
Trang 18ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
2.2.1.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái đẻ
Mục đích của chăn nuôi lợn nái đẻ là áp dụng các biện pháp khoa học để đảm bảo lợn mẹ sinh đẻ và lợn con được đẻ ra an toàn, tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và
khối lượng cai sữa cao, thời gian phối giống trở lại của lợn mẹ sau khi tách con ngắn
- Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính xác, từ
đó có kế hoạch phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn con và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh được những thiệt hại đáng tiếc
- Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý lợn nái đẻ:
Thức ăn dùng cho lợn nái ở giai đoạn này là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai, gây đẻ khó, đẻ non hoặc thai chết ngạt
Căn cứ vào tình trạng sức khỏe của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức
ăn từ một tuần trước khi đẻ Đối với những con nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước khi đẻ 2-3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu, giảm lượng thức ăn ít hơn so với con khỏe
Khẩu phần ăn phải hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái nuôi con Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết của sữa Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ năng lượng, protein và các thành phần vitamin, khoáng chất theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal; protein 15%; canxi từ 0,9 - 1,0%; photpho 0,7% Thức ăn cần chế biến tốt, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn của lợn nái
Vận động là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Vì vậy, sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, tăng dần thời gian vận động
Trang 19Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt, máng ăn cũng phải đc
cọ rửa thường xuyên Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24°C, ẩm độ là 70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con, đệm lót và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục, nhất là trong những ngày đầu sau đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng, để có biện pháp xử lý kịp thời
2.2.1.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
* Đẻ khó:
Đặc trưng của đẻ khó là các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc
mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:
- Cơn co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát;
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh nhưng không có kết quả;
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [50]
* Sót nhau:
- Nguyên nhân
+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung sau khi đẻ, nhau bị sót không ra hết, vội vàng can thiệp thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Ngoài ra, do lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
Theo Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010) [30], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thích hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là photpho và canxi Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá béo hoặc quá gầy, chửa quá nhiều thai, thai quá to, đẻ khó, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
Trang 20+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh sảy thai truyền nhiễm, hoặc do cấu tạo của nhau
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường
là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ Ở động vật đơn thai, một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ
Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con lúc đó như thế nào sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
- Điều trị
Theo Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010) [30] cho biết: Khi nái có biểu hiện bị bệnh can thiệp kịp thời, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp cần có kỹ thuật tránh những tổn thương, không quá mạnh tay Tiêm oxytocine dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
* Bệnh viêm vú:
- Nguyên nhân:
Theo Trần Minh Châu (1996) [4] cho biết: khi lợn nái đẻ, nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra bệnh viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ, lợn con không bú hết, sữa lưu là môi
trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella spp
- Triệu chứng:
Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 -
10 ngày, có con đến một tháng Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [26],
Trang 21viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú, nhưng đôi lúc cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, hơi cứng, sờ vào thấy nóng, ấn vào lợn bị đau
Lợn giảm ăn, nếu bị nặng bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42°C Lượng sữa giảm, ít cho con bú, lợn nái thường úp đầu vú xuống sàn
Lợn con kêu la vì thiếu sữa, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, xù lông, ỉa chảy, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2004) [19] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Theo Đỗ Quốc Tuấn (1999) [34], viêm vú được chia thành các thể sau:
+ Thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch tiết ra nhiều, nước viêm thải ra thấm các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng
to, có khi cả bầu vú Lúc đầu sữa biến đổi không rõ sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm
+ Thể cata: Trong nang sữa có chứa nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to
ra, bị thoái hóa và bong ra Vắt sữa có những cục màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
+ Thể fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa fibrin và cục casein bị đông vón Nhiệt độ
cơ thể lên tới 40 - 42°C, vú viêm sưng, sờ thấy đau
+ Thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, mủ và tế bào hoại
tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Con vật có triệu chứng toàn thân: sốt cao,
hô hấp và tuần hoàn tăng
+ Thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở dưới da Con vật ngừng tiết sữa, vắt ra có đầy mủ, máu và casein
+ Thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm gan cata và viêm có mủ Lượng sữa ít, có nhiều gạch nhỏ,
sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, nhịp tim và mạch rối loạn
+ Thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hay viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và
Trang 22hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng, màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 41°C
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ: Giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh vào để giảm sưng, giảm đau hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn
vú viêm 4 - 5 lần tránh lây sang vú khác
+ Điều trị toàn thân: Sử dụng một số loại kháng sinh như: pendistrep, penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin,… đều đạt kết quả tốt
bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái
Nguyên nhân gây ra bệnh viêm tử cung chủ yếu là do vi khuẩn tụ cầu vàng
(Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli,… (Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, 2002) [4]
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [18] trong quá trình mang thai lợn ít được vận động lại ăn nhiều chất dinh dưỡng nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu chất dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại được vi trùng gây bệnh cũng gây nên viêm Cũng có khi nái bị nhiễm một số bệnh
truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), sảy thai truyền nhiễm
Trang 23(Brucellosis), Parvovines và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cho cơ thể lợn nái
yếu dần dẫn đến việc sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung, đẻ non
Theo Lê Văn Năm (1999) [21] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến muxin của chất nhầy các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc thiếu sự vận động và chăm sóc nuôi dưỡng hợp
lý đã dẫn đến làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường, dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây
là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh
Lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc bằng dụng cụ trợ sản, thao tác của người thực hiện không đảm bảo mặt kỹ thuật làm tổn thương cổ tử cung bị xây xát, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm
Lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ, để nền, sàn chuồng bẩn, dây rốn lợn con và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung, sót nhau (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2005) [24]
- Triệu chứng:
Nguyễn Văn Thanh (2007) [28] cho biết: khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu lâm sàng như tần số hô hấp, thân nhiệt đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C; chiều 40 - 410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy
ra nhiều hơn
- Viêm tử cung ở lợn nái có các thể sau:
+ Thể nhẹ gọi là viêm tử cung nhờn: thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39
- 39,5oC Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ, 12 - 72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 – 40oC Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, mùi tanh thối Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc
có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi hôi thối
Trang 24+ Thể nặng thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt của lợn nái tăng cao 39,5 – 40oC Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn, dịch tiết ra từ âm hộ mùi tanh thối có dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở, có mủ trắng đục chảy ra, mùi hôi thối Trạng thái này xuất hiện chậm 7
- 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh có ảnh hưởng lớn đến sản lượng sữa
- Hậu quả:
Lê Minh và cs (2017) [20], bệnh viêm tử cung ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất, có những trường hợp nặng gia súc mất khả năng sinh sản, vô sinh vĩnh viễn Còn nhẹ hơn là làm cho gia súc mất sữa, chậm động dục trở lại, không thụ thai, làm giảm năng suất
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố Spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [21]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc,…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa dạ con và bào thai, nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
- Chẩn đoán:
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn, khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều, đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai
Ngoài ra, có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1% (hay dấm) Nếu cho phản ứng dương tính, muxin kết tủa, khi
đó lợn mắc bệnh, nếu ngược lại muxin không kết tủa thì lợn không mắc bệnh (Lê Văn Năm, 1999) [21]
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ: thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,9%; KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%; sau đó thụt vào tử cung một trong các loại thuốc kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramyxin,…
Trang 25+ Điều trị toàn thân:
Tiêm oxytocin 2 - 3 ml/con/ngày Ngày 2 lần, tiêm trong 2 ngày
Kháng sinh: ceftionel 10 ml/con, tiêm trong 2 - 3 ngày, kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B - complex, anagin - C,…
Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [17] cho biết, sử dụng kháng sinh tổng hợp có tác dụng cao Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram(-) và vi khuẩn
Gram(+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E coli, tụ cầu khuẩn, liên
cầu khuẩn yếm khí, xoắn khuẩn Ngoài oxytetracylin thì penicillin bán tổng hợp cũng
có tác dụng với hầu hết các vi khuẩn Gram(-) và Gram(+)
2.2.2 Đối với lợn con
2.2.2.1 Đặc điểm của lợn con
* Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con:
Đối với chăn nuôi lợn nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt, con được sinh ra khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], lợn con ở giai đoạn sơ sinh và bú sữa
có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh, khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, 30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7-8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12-14 lần
Lợn con bú sữa có sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng thường kéo dài 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách tập ăn sớm cho lợn con
Do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh Ví dụ, lợn con ở 3 tuần tuổi, mỗi ngày có thể tích lũy được 9-14g protein/1 kg khối lượng cơ thể Trong khi đó, lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3-0,4g protein/1 kg khối lượng cơ thể
Trang 26Hơn nữa, để tăng khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn ít thức ăn hơn so với lợn to Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg nạc thì tiêu tốn ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1 kg mỡ
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa:
Cơ quan tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa
* Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt:
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó, việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường như nhiệt độ, độ ẩm
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh và chết
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp, lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt
ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Sau 3 tuần tuổi, cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con mới tương đối hoàn chỉnh và thân nhiệt của lợn con được ổn định hơn (39-39,5oC)
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa
Trang 27đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ-globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ-globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gianNếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức
đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.2.2 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
* Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống: lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt, lợn con dễ mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ ra còn non yếu, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa
đẻ xong, cơ thể mệt mỏi, việc đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục nên dễ đè chết lợn con Cần chú ý chăm sóc lợn con chu đáo ở giai đoạn này
* Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa lợn mẹ tăng dần sau đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau
đó lượng sữa mẹ giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con càng tăng, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con
ăn sớm từ khoảng 5-7 ngày tuổi
* Thời kỳ sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn khi thức
ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Do đó trong giai đoạn này nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ
bị còi cọc, mắc các bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Trang 282.2.2.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con theo mẹ
* Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được uống sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần từ khi đẻ, nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con cùng bú, nếu lợn
mẹ chưa đẻ xong thì cho những con đẻ trước bú trước
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con
là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn
Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết
vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí liên tục thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn
Theo Duy Hùng (2011) [46], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu
và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước
và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm
Trang 29vú, không nên cho lợn con bú ở những vú bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng bị sưng
Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con cũ và mới mới không để lợn mẹ phát hiện, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú
* Bổ sung sắt cho lợn con:
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ngày =
210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2mg/ngày (36 - 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc 3 tuần tuổi, tiêm
1 lần 200mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200mg sắt chia 2 lần: lúc 3 ngày tuổi và lúc 10 - 12 ngày tuổi
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, nhợt nhạt, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết
Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn
Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất
có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách thức sử dụng:
- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200 mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con
- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng 100 mg cho 1 lợn con
Trang 30Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500mg) Nếu thiếu vitamin
E bổ sung thì cần cung cấp 20-30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con
* Tập cho lợn con ăn sớm:
- Lợn con được bổ sung thức ăn sớm có rất nhiều tác dụng:
+ Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng và phát dục bình thường, giảm stress, không
bị thiếu hụt dinh dưỡng do nhu cầu sinh trưởng nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa
+ Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa phát triển và hoàn thiện nhanh hơn
+ Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái
+ Nâng cao khối lượng cai sữa của lợn con Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ là 38% và khối lượng sơ sinh là 5%
+ Lợn con được tập ăn sớm tăng khối lượng nhanh hơn và ít mắc bệnh hơn, tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm
- Kỹ thuật tập cho lợn con ăn sớm:
Thường bắt đầu tập cho lợn con ăn sớm từ 7-10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì nên tập ăn sớm cho lợn con từ lúc 5 ngày tuổi Tốt nhất nên sử dụng loại thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sản xuất riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg
Thức ăn thường ép thành dạng mảnh hoặc viên nhỏ, thơm ngon Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi nền truyền thống thì để máng tập ăn vào ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng từng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn lợn con ăn
2.2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Hội chứng tiêu chảy:
Phạm Ngọc Thạch (1996) [25] cho biết, tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với