Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều.. Acid pak 4 way là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 th
Trang 1KHỔNG THỊ HỒNG CẨM
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ACID PAK 4 WAY ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LÔNG MÀU NUÔI CHUỒNG HỞ
TẠI THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại giảng đường trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và quá trình thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc nhất tới: Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo cùng ban lãnh đạo xã Quyết Thắng - TP Thái Nguyên Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình
của toàn thể gia đình thầy giáo PGS.TS Trần Thanh Vân, cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ, đã trực tiếp chỉ bảo, động viên và hướng
dẫn em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp Tất cả những bài học đó sẽ giúp em vững tin hơn trong cuộc sống cũng như công tác sau này Một lần nữa em xin kính chúc thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành công hơn nữa trong sự nghiệp trồng người
Cuối cùng em xin trân trọng gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo trong hội đồng chấm báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 06 năm 2019
Sinh viên
Khổng Thị Hồng Cẩm
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Với phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực
tiễn”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Trường Đại Học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên nói riêng Và mỗi sinh viên đều phải trải qua đợt thực tập tốt nghiệp, đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên tiếp cận với sản xuất, nhằm nâng cao kiến thức đã được học trong nhà trường đồng thời giúp sinh viên có được những kinh nghiệm thực tế Từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu xã hội góp phần xây dựng nền nông nghiệp
nước nhà ngày càng phát triển
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Thanh Vân và cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ, em tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà lông màu nuôi chuồng hở tại Thái Nguyên” Do bước đầu làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa luận của
em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để bản khóa luận của em được hoàn
thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 08 tháng 06 năm 2019 Sinh viên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Bảng 4.1 Chương trình sử dụng vắc-xin 29
Bảng 4.2 Kết quả phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (%) 32
Bảng 4.4 Sinh trưởng tích lũy gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 33
Bảng 4.5 Tăng khối lượng tuyệt đối theo tuần của gà thí nghiệm 35
Bảng 4.6 Sinh trưởng tương đối theo tuần của gà thí nghiệm (%) 37
Bảng 4.7 Thu nhận thức ăn theo tuần của gà thí nghiệm (gam/con/ngày) 38
Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho 1 kg khối lượng (kg) 39
Bảng 4.9 Chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN) của gà thí nghiệm 40
Bảng 4.10 Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 84 ngày tuổi 42
Bảng 4.11 Sơ bộ hạch toán thu – chi phí trực tiếp của gà thí nghiệm 43
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hệ tiêu hoá của gia cầm 7
Hình 2.2 Gà Ri 15
Hình 2.3 Gà Lương Phượng Error! Bookmark not defined Hình 2.4 Gà F1 17
Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 34
Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối 36
Hình 4.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối 37
Hình 4.4 Đồ thị tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho 1 kg khối lượng 40
Hình 4.5 Biểu đồ chỉ số sản xuất 41
Hình 4.6 Biểu đồ chỉ số kinh tế 41
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Vài nét giới thiệu về Acid pak 4 way 3
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 7
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 10
2.1.4 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng và gà F1 15
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
Trang 83.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 22
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 27
4.2 Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học 31
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 31
4.2.2 Sinh trưởng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33
4.2.3 Khả năng thu nhận và chuyển hoá thức ăn của gà thí nghiệm 37
4.2.4 Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 40
4.2.5 Kết quả mổ kháo sát của gà thí nghiệm 42
4.2.6 Chi phí trực tiếp cho 1 kg gà xuất bán 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Tồn tại 45
5.3 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 9gà nói riêng bao giờ cũng được quan tâm hơn các loại vật nuôi khác vì nó phù hợp với tất cả gia đình nhất là những gia đình không có đủ khả năng để nuôi những động vật đòi hỏi kinh phí lớn như: nuôi lợn, nuôi trâu, bò thịt, bò sữa Từ nhiều năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh và có những tiến bộ vượt bậc là nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất Chăn nuôi gia cầm chỉ đứng hàng thứ hai sau chăn nuôi lợn, giữ một vai trò quan trọng trong nông nghiệp
và nông thôn ở nước ta
Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều Ngày nay việc sử dụng các chất này có xu hướng giảm dần do chúng có tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng bởi sự tồn dư của chúng hầu hết ở trong sản phẩm thịt, trứng Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Họ đòi hỏi thực phẩm có chất lượng cao, mùi vị thơm ngon Chính vì vậy, nghiên cứu về tiềm năng của các chất bổ sung có thành phần tự nhiên để thay thế các chất hóa học có ý nghĩa rất quan trọng
Hiện nay, ở nước ta Acid pak 4 way được sử dụng khá phổ biến đặc biệt trong các trang trại lớn để thay thế các chất kích thích tăng trưởng và kháng sinh Acid pak 4 way
là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 thành phần thiết yếu (acid, enzyme, chất điện giải và vi khuẩn acid lactic), cung cấp đủ nguồn acid dùng cho quá trình tiêu hóa protein và duy trì pH, nhằm cung cấp môi trường đường ruột tối ưu cho vật nuôi, cho phép các vi sinh vật sản xuất acid lactic đi qua đường ruột đồng thời hạn chế vi khuẩn gây bệnh mà không ảnh hưởng đến cân bằng điện giải Hiệu quả của acid pak 4 way đã
Trang 10được thử nghiệm trên hầu hết các loài gia súc, gia cầm trên thế giới Tuy nhiên, chưa có nhiều công bố kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh học này đến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way đến khả năng sản
xuất thịt của gà lông màu nuôi chuồng hở tại Thái Nguyên”
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc dùng Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai nuôi chuồng hở vụ Hè tại Thái Nguyên
- Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Vài nét giới thiệu về Acid pak 4 way
2.1.1.1 Đặc điểm của Acid pak 4 way
Acid Pak 4 way là chế phẩm bột để pha vào nước uống có chứa bốn thành phần thiết yếu: acid hữu cơ, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn acid lactic Việc bổ sung acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước giảm xuống dưới 4 và mức tốt nhất là từ 3 đến 3,5 Giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat, florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của gà
- Cơ chế tác động: Chất acid hóa trong AP4W là một chất đệm acid citrate bao gồm acid citric và natri citrate Thông qua hoạt động đệm của acid này AP4W có thể làm giảm pH đến khoảng mong muốn, rồi giữ ở mức đó
- Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi ngựa, thú cưng
- Thành phần acid pak 4 way: gồm 4 nhóm
Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic)
Acid hữu cơ được dùng khá phổ biến trong thức ăn công nghiệp So sánh với các thức ăn bổ sung khác, acid hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối với thành tích chăn nuôi Các acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi gồm có formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric, citric, benzoic, và malic, và được chia làm 2 nhóm dựa theo đặc tính của chúng Nhóm thứ nhất gồm có: Lactic, fumaric, citric có đặc tính gián tiếp giảm thiểu số lượng vi khuẩn bằng cách giảm trừ độ pH trong dạ dày; trong khi đó, nhóm thứ hai
Trang 12gồm có: Formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm
độ pH trong đường tiêu hóa trên tế bào của vi khuẩn Gram
Theo nghiên cứu của Byrd J và cs, (2001) [15] chỉ ra rằng việc bổ sung acid hữu cơ vào nước uống giúp giảm mức độ mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng
Acid citric (C6H8O7)
+ Là một acid hữu cơ yếu, tồn tại trong các loại rau củ (chanh, cam, bưởi)
+ Cấy nấm Aspergillus niger trong môi trường glucoza lọc ra được dung dịch
Ca(OH)2 muối Canxi citrate + acid sulfuric acid citric
+ Các chất đệm của các citrat được sử dụng để kiểm soát pH, đồng thời có khả năng làm mềm nước cứng, rất tốt để sử dụng trong chăn nuôi
+ Ngoài ra acid citric còn được sử dụng như thành phần hoạt hóa trong sản xuất mô kháng virut
hương vị ban đầu
Tác dụng của acid hữu cơ:
+ Ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột
+ Hỗ trợ sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
+ Làm giảm hệ đệm của thức ăn, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn
+ Giảm pH trong dạ dày, đặc biệt ở ruột non, cải thiện việc giữ lại nitơ và làm tăng khả năng tiêu hóa
Nhóm 2: Các chất khoáng (NaCl, ZnSO4, MgSO4, K)
NaCl, Kali: Tăng tính ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu protein,
giúp ổn định độ toan kiềm của máu, tham gia vào hệ đệm của máu, giữ áp suất thẩm
Trang 13thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp, giúp cho các dây thần kinh và
cơ bắp hoạt động đúng chức năng, giảm stress do nhiệt
ZnSO4: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit
Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa
MgSO4: Là thành phần của xương và răng Đảm bảo khả năng hoạt động của
hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme Điều hòa phản ứng photphoryl - oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt
Nhóm 3: Các chiết xuất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus niger, chiết xuất men Bacillus subtilis, sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus
và chiết xuất men Enterococcus faecium đều được sấy khô)
Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô
+ Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt nhiều ở vùng khí hậu ấm áp) Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khả năng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ
+ Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose,
từ đó tham gia quá trình sản xuất acid citric
Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô
+ B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là
amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa
+ B.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng
ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh
+ B.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi
uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy Ở ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài
Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô
Trang 14Tác dụng lactobacillus trong chăn nuôi là dùng để sản xuất men và chất diệt
khuẩn lactocidin, ức chế sinh trưởng số lượng vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho vật nuôi Tăng cường kháng sinh tự nhiên và hệ miễn dịch đường ruột Khả năng
tạo acid của Lactobacillus acidophilus khoảng 2 %
Chiết xuất men Enterococcus faecium sấy khô
+ Là tăng cường enzyme tiêu hóa chất hữu cơ như tinh bột, đường, kích thích
tiêu hóa cho vật nuôi
+ Trong quá trình kích thích tiêu hóa, vật nuôi hạn chế rơi vào tình trạng rối loạn tiêu hóa do thức ăn, mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột do rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa dấu hiệu tiền bệnh của những loại bệnh đường tiêu hóa
Nhóm 4: Các chất khác (Maltodextrin, Silicon dioxide, natri citrate)
Natri citrate:
+ Là một base liên hợp của một acid yếu, citrat có thể đóng vai trò làm chất đệm hay chất điều chỉnh độ chua, chống lại sự thay đổi pH Natri citrat dùng để kiểm soát độ acid trong vài chất, như thạch Hợp chất này là thuốc kháng acid (antacid), như Alka-Seltzer, khi được hòa tan trong nước
+ Có tính kiềm nhẹ và có thể được dùng chung với acid citric để tạo các dung dịch đệm tương thích sinh học
2.1.1.2 Tác dụng của AP4W đến hiệu quả chăn nuôi
- Giúp duy trì môi trường của hệ tiêu hóa, hiệu quả cao khi sử dụng cho việc
úm gà, rút ngắn thời gian chuyển tiếp trước và sau khi chuyển đàn
- Gia tăng khả năng miễn dịch: Giảm các phản ứng do tiêm chủng vắc -xin và
Trang 15gia tăng chuẩn độ kháng thể
- Khống chế và giảm tối đa vi khuẩn gây bệnh đường ruột
- Bổ sung vitamin tổng hợp giúp vật nuôi khỏe mạnh nhanh, mau lớn, trứng to,
vỏ dày, ngoại hình đẹp
- Phân khô, giảm mùi nhanh chóng sau khi sử dụng
2.1.1.3 Liều lượng sử dụng Acid pak 4 way
Liều lượng và cách bổ sung AP4W: Pha 0,5 g/1 lít nước AP4W cho gà uống liên tục trong 5 ngày đầu tiên và 1lần/ tuần vào các tuần tiếp theo ( pha 0,5 g/1 lít nước uống)
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
Hình 2.1 Hệ tiêu hoá của gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức
ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm (Xelianxki, 1986) Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, số lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của gia
Trang 16cầm, trung bình một phút gà mổ từ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác
và khứu giác kém phát triển Thiếu ánh sáng gà ăn kém
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy, nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt
* Tiêu hóa ở diều
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Ở vịt và ngỗng, diều là phần giãn rộng không lớn lắm nhưng rất dài của thực quản, làm cho nó có thể chứa được một lượng thức ăn cực lớn Ở gà, diều chứa được 100 - 120 gam thức ăn Khi gia cầm đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều
Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn Thức ăn ở diều được thấm ướt, làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường
đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza
* Tiêu hoá ở dạ dày
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm và liên tục Ở đáy màng nhầy có những tuyến hình túi phức tạp Dịch tiêu hóa của dạ dày tuyến chứa HCL, men pepxinogen tham gia trong thành phần acid HCL để chuyển thành men pepsin Nó phân giải protein thành pepton Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng được tăng cường Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút)
Trang 17Dạ dày cơ (mề) có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất dày, có màu đỏ sẫm… Phần trên của dạ dày cơ thông với dạ dày tuyến qua khe tương đối thắt lại, gần vị trí đó là khe thông với tá tràng Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các acid amin Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid Sỏi và các
dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày Đối với gia cầm, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với acid clohidric của dịch dạ dày
* Tiêu hoá ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Toàn bộ phần ruột non dài khoảng 100 - 150 cm Ruột non bắt đầu từ bên phải dạ dày cơ đi xuống phía dưới dạ dày cơ, cong gập lại, đi xuống xoang chậu rồi ngược trở lại lên phía trên tạo thành vòng Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non
Phần ruột già gồm manh tràng (có hai manh tràng) và trực tràng
Dịch ruột gà là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH = 7,42) với tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza
Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm ( pH = 6 ở gà, pH = 7,2 - 7,5 ở gia cầm khác) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl 2, NaHCO3 ) Dịch này có men tripsin, carboxin peptidaza, mantaza và lipaza Dưới tác dụng của các men hoạt hóa lần lượt phân giải protein, polysacarit, lipit thành axit amin, monosacarit glucoza, glyxerin và axit béo
Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8 ml/giờ, sau khi 5 -
10 phút lượng tiết tăng gấp 3 - 4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy: thức ăn giàu protein
Trang 18nâng hoạt tính proteolytic lên 60 %, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic, v.v Mật được gan tiết ra không ngừng, một phần đi vào túi mật (gà, vịt, ngỗng), phần còn lại thì đổ trực tiếp vào tá tràng Mật gia cầm là một chất lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, kiềm tính (pH 7,3 - 8,5) Dịch trong túi mật đậm đặc hơn và có màu đậm hơn Các thành phần điển hình của mật là các axit mật, sắc tố, và cholesterin, ngoài ra còn có gluxit, các axit béo và các lipit trung tính, musin, các chất khoáng
và các sản phẩm trao đổi chất có chứa nitơ Ngoài sự tham gia vào quá trình tiêu hoá ở ruột, gan còn đóng vai trò quan trọng trong trao đổi protein, gluxit, lipit và khoáng
Ở ruột gluxit được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dịch ruột Phần dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già
Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của enzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được hấp thu ở đây
* Sự hấp thu
Ở gia cầm, các quá trình hấp thu chủ yếu xảy ra ở ruột non Ở đây các sản phẩm phân giải cuối cùng protein, lipit và gluxit; nước, các chất khoáng, các vitamin được hấp thu
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.1.3.1 Khái niệm sinh trưởng
Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và thể tích
cơ thể tăng lên Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước Từ đó, dẫn đến
Trang 19khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích lũy các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định Trần Đình Miên và cs, (1992) [5], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước.”
Theo tài liệu của Chambers (1990) [16], thì tác giả MoZan (1977) đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác
Theo Trần Thanh Vân và cs, (2015)[13], sinh trưởng là đặc điểm chất lượng phản ánh sức sản xuất, nó mang tính di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất và kiểu hình của dòng, giống Đặc điểm này có ý nghĩa trong thực tế rất lớn Nếu giống gia cầm nào đó có sức sinh trưởng nhanh thì vỗ béo và giết thịt sớm hơn,
sử dụng thức ăn tốt hơn
2.1.3.2 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt
- Khối lượng cơ thể: Sức sản xuất thịt của gia cầm là khả năng hình thành cơ ở giai đoạn sớm, chi phí thức ăn cho tăng khối lượng ít, nghĩa là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trên mỗi đơn vị sản phẩm Khả năng này của các loài gia cầm liên quan mật thiết với đặc điểm, ngoại hình, thể chất, sinh trưởng… Trong thực tế sản xuất cho thấy: tùy thuộc vào loài giống gia cầm, trình độ chăn nuôi và thị hiếu người tiêu dùng mà có tuổi và khối lượng giết thịt khác nhau Để đạt hiệu quả kinh tế, tất cả các loại gia cầm tuổi giết thịt không nên vượt quá 10-12 tuần tuổỉ (Trần Thanh Vân
và cs, 2015) [13]
- Tỷ lệ nuôi sống: Là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sức sống và khả năng chống bệnh của gia cầm Nó có vai trò rất quan trọng góp phần tăng hiệu quả chăn nuôi (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [13]
- Sinh trưởng tích lũy:
Trang 20Sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng (thường xác định theo tuần tuổi) Các thông số thu được qua các lần cân, đo là biểu hiện sự sinh trưởng tích lũy Ta
có thể biểu thị trên đồ thị, đồ thị sinh trưởng tích lũy có hình chữ S
- Sinh trưởng tương đối:
Là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lượng, kích thước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N.2, 40 - 77 [11]) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypebol, gà còn non có tốc độ sinh trưởng cao, sau đó giảm dần theo tuổi
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng kích thước của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N.2, 39 - 77 [10]), sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parapol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được 1 kg thịt,
với gà broiler tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối lượng Hệ số chuyển hóa thức ăn càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao
- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:
+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống
+ Tỷ lệ thịt đùi (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi và khối lượng thân thịt
+ Tỷ lệ thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt ngực và khối lượng thân thịt
+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt
+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối
lượng thân thịt
- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng
biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời gian nuôi Chỉ số sản xuất là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế của nuôi
Trang 21Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới tính, tốc
độ mọc lông, dinh dưỡng, các điều kiện chăn nuôi
-Ảnh hưởng của dòng, giống
Theo tài liệu của Chambers (1990) [16], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng lẻ
Mỗi giống có một khả năng sinh trưởng nhất định, sự khác nhau về sinh trưởng
đó là do bản chất di truyền quyết định Các loài gia cầm khác nhau thì có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau
Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) [6], khi nghiên cứu ba giống gà AA, Avian và BE88 nuôi 49 ngày tuổi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau, khối lượng cụ thể của từng giống như sau: giống gà AA là 2501,09 g; giống gà Avian là 2423,28 g; giống BE88 là 2305,14 g
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương và cs, (2017) [7]: Ở gà H’Mông nuôi theo phương thức công nghiệp khối lượng lúc 10 tháng tuổi, con trống đạt 967,6 g/con trống; 822,6 g/con mái, lúc 12 tháng tuổi đạt tương ứng 1206,7 g/con và 1026,7 g/con
-Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm tốc độ sinh trưởng giữa 2 giới có sự khác nhau về trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Thường thì con trống có tốc
độ sinh trưởng mạnh hơn con mái Sự khác nhau này được giải thích thông qua tác động của các gen liên kết giới tính
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Vân và cs, (2015) [13]: Ở gà hướng
Trang 22thịt, giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250 g
Theo North, 1990 [19] kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1 %, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn, ở 2 tuần tuổi là 5 %, 3 tuần tuổi là >11 %, 5 tuần tuổi là >17 %, 6 tuần tuổi là >20 %, 7 tuần tuổi là >23 %, 8 tuần tuổi là >27 % -Ảnh hưởng của độ tuổi và mức độ dinh dưỡng
Theo Chambers (1990) [16] cho biết: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào
độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác
- Ảnh hưởng của môi trường chăm sóc nuôi dưỡng
Khả năng sinh trưởng của gia cầm bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố môi trường
và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, chăm sóc quản lý chu đáo sẽ có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng nâng cao năng suất chăn nuôi
Nhiệt độ, ẩm độ, chế độ chiếu sáng và mật độ nuôi nhốt đều có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống và sức chống chịu bệnh tật của gia cầm
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt là giai đoạn gà con Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr, 1992 [22])
Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm Khi ẩm
độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc làm ảnh hưởng xấu đến gà Đặc biệt là NH3 do vi khuẩn phân hủy acid uric trong phân và chất độn chuồng, làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm bệnh cầu trùng, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của gà
Trong điều kiện nóng ẩm mưa nhiều như nước ta, độ thông thoáng trong chuồng có vai trò quan trọng trong việc giúp gà có đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác, nó giúp giảm ẩm độ chuồng nuôi, điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi, qua đó
Trang 23hạn chế bệnh tật
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà, gà rất nhạy cảm với ánh sáng, mỗi giai đoạn gà cần chế độ chiếu sáng khác nhau Theo Trần Thanh Vân và cs, (2015) [13], đối với gà giết thịt sớm 38 - 42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ ánh sáng 20 lux/m2, ngày thứ tư đến khi kết thúc thời gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5 lux/m2
Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi gà đạt hiệu quả cao Mỗi giai đoạn sinh trưởng, mỗi phương thức nuôi đều có quy định mật độ nuôi nhất định Theo Van Horne P (1991) [21]: Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2, H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao Vì khi mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng đến việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao
2.1.4 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng
Rất đa dạng, gà mái: Lông màu vàng
rơm, vàng đất hoặc nâu nhạt, xung quanh cổ
có hàng lông đen, mào kém phát triển, lá tai
chủ yếu màu đỏ, một số lá tai màu trắng
Gà trống: Màu lông phổ biến là đỏ thẫm,
đầu lông cánh và lông đuôi có lông đen ánh
xanh, ngoài ra còn có các màu: Trắng, hoa mơ
Hình 2.2 Gà Ri
Trang 24đốm trắng Mào cờ, mào tích đốm đỏ tươi rất phát triển
Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi
* Khả năng sản xuất
Dẫn theo Trần Thanh Vân và cs, (2015) [13], các kết quả nghiên cứu được công bố của Nguyễn Viết Ly, 2001; Át lát vật nuôi, 2004; Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thanh Sơn, 2000; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006 thì:
Khối lượng mới nở là 30 - 31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là
1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon màu trắng
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 - 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 - 15 quả Năng suất trứng có thể đạt từ 70 - 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6 %, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78 %, tỷ lệ gà con loại
I đạt 94,1 %
Gà nuôi thịt đến 12 tuần: Tỷ lệ nuôi sống là 95,7 % Khối lượng con trống: 1.140,7 g; con mái 940,5 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75 % Còn tỷ
lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37 %
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả
2.1.4.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng
* Nguồn gốc
Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa, do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Việt Nam nhập từ Trung Quốc năm 1997
* Đặc điểm ngoại hình
Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta Lông màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ Gà
Trang 25trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon
* Khả năng sản xuất
Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 - 1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95 %
Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả vườn, ngoài đồng, trên đồi
2.1.4.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)
Thế hệ con lai vẫn giữ được màu lông tương
tự gà Ri, qua ba thế hệ tự giao ngoại hình vẫn ổn
định, tỷ lệ nuôi sống từ 1 - 19 tuần tuổi là 89 - 91%,
khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,7 - 1,9 kg,
sản lượng đến 52 tuần tuổi đạt 115 - 118 quả/mái
Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần
tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97 - 100 %, khối lượng cơ
thể 2,0 - 2,1 kg/con Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần
tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 96 % , khối lượng cơ thể đạt 1,8 - 2,1 kg Chất lượng thịt ngon như gà Ri
Hình 2.4 Gà F1
Trang 262.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Thủy và cs, (2017) [8] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm acid hữu cơ (Poulacid) vào khẩu phần gà đẻ chuyên trứng
từ 19-28 tuần tuổi (chia 2 giai đoạn 19 - 21 và 22 - 28 tuần tuổi) Có 540 con gà mái đẻ Hisex Brown được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 3 nghiệm thức (NT), 45 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại trên 1 ô chuồng gồm 4 con gà mái Các NT như sau: NT A0: KPCS + 0 % Poulacid (Đối chứng); NT A0.15: KPCS + 0,15 % Poulacid; NT A0.2: KPCS + 0,2 % Poulacid Kết quả cho thấy khi bổ sung Poulacid vào khẩu phần không ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ thức ăn (TTTA) và khối lượng trứng, nhưng có chiều hướng tăng nhẹ về tỷ lệ đẻ và TTTA/trứng ở NT A0.15 so với NT A0.2 và NT A0 Khi bổ sung 0,15 và 0,2 % poulacid trong khẩu phần cho số lượng trứng bể và trứng đôi thấp hơn đối chứng Các chỉ tiêu chỉ số hình dáng, tỷ
lệ vỏ, lòng trắng và lòng đỏ, độ dầy vỏ và đơn vị Haugh không có sự khác nhau, nhưng chiều cao lòng trắng và màu lòng đỏ có cải thiện ở các khẩu phần có bổ sung Poulacid so với đối chứng Kết quả đó cho thấy khi bổ sung Poulacid ở mức 0,15 % trong khẩu phần có khuynh hướng cải thiện tỷ lệ đẻ, màu lòng đỏ và chiều cao lòng trắng đặc, tuy nhiên chưa cải thiện được độ dầy vỏ trứng ở gà chuyên trứng giai đoạn mới bắt đầu đẻ
Năm 2009, Trần Quốc Việt và cs, [14] đã tiến hành thí nghiệm trên 600 gà Ross 308 (nuôi 49 ngày) được chia thành 6 lô với 4 lần lặp lại Gà ở lô 1 không bổ sung kháng sinh, gà ở lô 2 được bổ sung kháng sinh chlotetracycline vào thức ăn
Gà ở lô 3 và lô 4 được uống nước có bổ sung chế phẩm probiotic dạng lỏng PBL1
(gồm 2 chủng: Bacillus subtilis – H4; Saccharomyces boulardi và PBL2 (gồm 5
chủng: Bacillus subtilis – H4; Saccharomyces boulardi; Enterococcus faeci; Pediococcus pentosaceus §7; Lactobacillus fermentum) với liều 2 ml/lít Gà ở các
lô 5 và 6 được bổ sung Probiotic PBB1 và PBB2 (tương tự PBL1và PBL2 nhưng ở dạng bột) với liều 2000g/tấn thức ăn bột Kết quả cho thấy, tăng khối lượng tuyệt đối cộng dồn của gà tại 49 ngày tuổi của gà ở các lô 2, lô 4 và lô 6 là 50,3; 49,1 và
Trang 2750,1 g/con/ngày cao hơn so với lô 1 lần lượt: 8,4%; 5,8% và 8,0% tương ứng Tăng khối lượng tuyệt đối cộng dồn ở lô 4 được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm PBL2 cao hơn 4,2% (P>0,05) so với lô 3 được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm PBL1 Tương tự, tốc độ sinh trưởng của gà ở lô 6 cao hơn so với lô 5 là 5,7% (P>0,05) Điều đó cũng có nghĩa là hiệu quả kích thích sinh trưởng phụ thuộc vào mức độ đa chủng của các chế phẩm probiotic
Phạm Tất Thắng và cs, (2010) [24] đã thực hiện nghiên cứu sử dụng acid fomic (dưới dạng difomat kali) thay thế kháng sinh bổ sung vào thức ăn cho lợn thịt.Thí nghiệm gồm 400 lợn giống Duroc x (Yorshire x Landrace) 60 ngày tuổi được bố trí gồm 5 lô với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 20 con Lô 1 đối chứng; lô 2 bổ sung
180 ppm clotetracyclin; lô 3 bổ sung 0,14 % acid fomic; lô 4 bổ sung 0,21 % acid fomic; lô 5 bổ sung 0,28 % acid fomic Kết quả cho thấy, việc bổ sung acid fomic dưới dạng difomat kali vào thức ăn cho lợn thịt đã có tác dụng tốt trong việc kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn có hại trong thức ăn và trong đường ruột, giúp cân bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn Bổ sung acid fomic cũng như bổ sung kháng sinh clotetracyclin có tác dụng tốt đối với lợn ở giai đoạn sinh trưởng Bổ sung 0,21 % acid fomic vào thức ăn đã có tác dụng cải thiện 2,3 % tăng trọng, giảm 1,695 hệ số chuyển hóa thức ăn, giảm 0,65 % chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng và giảm 25,4 % số ngày con tiêu chảy so với đối chứng Không
có sự khác biệt thống kê giữa lô bổ sung 180 ppm clotetracyclin với lô bổ sung 0,21 % acid fomic Như vậy có thể sử dụng acid fomic thay thế cho kháng sinh trong việc bổ sung vào thức ăn nhằm phòng bệnh tiêu chảy và kích thích tăng trưởng cho lợn thịt
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Grashorn M và cs, (2013) [17] về Ảnh hưởng của các axit hữu cơ chế độ ăn uống đến chất lượng và các thuộc tính cảm quan của trứng gà, cho thấy rằng bổ sung hỗn hợp axit hữu cơ ( chứa 40 % axit formic, 30 % proponiat amoni, 26 % axit lactic, 0,5 % axit sorbic, 0,5 % natri benzoat) cho gà mái đẻ giúp tăng trọng lượng trứng trung bình (P<0,05) và khả năng sản xuất trứng trong giai đoạn thí nghiệm khoảng 5 % và FCR được cải thiện (P<0,05) 3 %
Trang 28Theo Izat A và cs, (1990) [18], chế độ ăn uống 0,5 % của axit fumaric hoặc formic và 0,75 % axit axetic hoặc 2 % axit citric cải thiện cả khả năng tiêu hóa: ME
và chất dinh dưỡng protein (CP), chiết xuất ête (EE), xơ thô (CF) và chiết xuất không chứa nitơ (NFE) trong chế độ ăn của gà thịt
Theo Vũ Duy Giảng (2008) [23] Một nghiên cứu trên lợn 7-30 kg ở Đan Mạch năm 2001 cho biết chênh lệch về tăng khối lượng hàng ngày của lợn ăn khẩu phần đối chứng và thí nghiệm có và không bổ sung acid hữu cơ là 40 %, trong khi chênh lệch này ở khẩu phần bổ sung hương liệu, probiotic, enzyme chỉ là 19 %, 14 % và
9 %
Nghiên cứu của Hiệp hội thú y Hoa Kỳ (USAMV) số 63 (2006) [20] về “Ảnh
hưởng của việc bổ sung acid pak 4 way đến những thông số sinh hóa trên gà thịt”
tiến hành thí nghiệm trên 41000 gà thịt, phân thành các lô Sự bổ sung acid pak 4 way vào nước uống có mục đích nhằm tạo các kết quả cao hơn liên quan đến giống
và nuôi thịt của gia cầm Gia cầm được cân hàng tuần và kiểm tra cho đến ngày giết thịt( 40 ngày) Khối lượng trung bình cuối cùng của lô thí nghiệm đạt 118% tốt hơn
so với lô đối chứng Khối lượng tăng trưởng hàng ngày đạt 57 g so với kết quả đạt được ở lô đối chứng (47,7 g) và lượng thức ăn thu nhận là thấp hơn Lô thí nghiệm
có tính chất đồng đều cao hơn và tỷ lệ chết giảm 1,4 %
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Gà F1 (Ri × Lương Phượng) nuôi từ một ngày tuổi đến 84 ngày tuổi
- Acid pak 4 way
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trang trại gia cầm VM, Xã Quyết Thắng - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 18/5/2018 đến ngày 18/11/2018