1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên

62 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở em đã tiến hành thực tập tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Phương Lan

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em có cơ hội để học tập và rèn luyện trong thời gian qua

Đặc biệt là cô giáo Phạm Thị Phương Lan đã tận tình, động

viên, giúp đỡ và hướng dẫn để em hoàn thành tốt bản khóa luận này

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo công ty TNHH Deheus đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để chúng em được thực tập ở trang trại,

em xin cảm ơn toàn bộ công nhân trong trang trại đã quan tâm giúp đỡ động viên em trong quá trình thực tập

Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, cùng bạn bè

đã tạo điều kiện ủng hộ và động viên để em hoàn thành tốt khóa luận này

Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày….tháng….năm 2019

Sinh viên

Lầu A Dếnh

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Để trở thành một kĩ sư, bác sĩ giỏi được xã hội công nhận, mỗi sinh viên

khi ra trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và hiểu biết xã hội Do vậy, thực tập trước khi ra trường là một việc hết sức quan trọng đối với sinh viên nhằm giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc Qua đây, sinh viên sẽ được nâng cao trình độ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời, tạo cho sinh viên tác phong làm việc khoa học, tính sáng tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết giỏi về tay nghề, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở em đã tiến hành thực tập tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh

Hưng Yên với đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”

Mặc dù có cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn, bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ trong quá trình thực hiện đề tài nên khóa luận của em không tránh khỏi những sai sót, hạn chế Em mong nhận được những ý kiến góp ý của thầy cô, đồng nghiệp để khóa luận của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi tại trại qua 3 năm 2016 – 2018 6

Bảng 2.2 Lịch phun sát trùng toàn trại 8

Bảng 2.3 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với lợn con 9

Bảng 2.4 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với nái bầu và nái chửa 10

Bảng 2.5 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với lợn nái hậu bị 11

Bảng 2.6 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho lợn nái hậu bị và nái chửa ngoại 15

Bảng 2.7 Tăng khối lượng của lợn con có và không bổ sung thức ăn sớm 28

Bảng 4.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 37

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái 38

Bảng 4.3 Kết quả công tác chăm sóc lợn con tại cơ sở 41

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch tại trại 42

Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại 43

Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái nuôi con bằng vắc xin 43

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 44

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 45

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các công tác khác 54

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng nơi thực tập 4

2.1.3 Công tác phòng bệnh tại trại 6

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 12

2.2 Cơ sở khoa học 12

2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn nái 12

2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái giai đoạn chửa đẻ 15

2.2.3 Kỹ thuật chăm sóc lợn nái nuôi con 18

2.2.4 Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái 20

2.2.5 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 25

2.2.6 Một số đăc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 28

2.2.7 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 30

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 33

Trang 7

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 33

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 34

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 35

3.1 Đối tượng 35

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35

3.3 Nội dung tiến hành 35

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 35

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 35

3.4.2 Phương pháp thực hiện 35

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Kết quả áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc cho lợn nái và lợn con tại cơ sở 37

4.1.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con 42

4.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn con theo mẹ 44

4.2 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ tại cơ sở 41

4.2.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch 41

4.2.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 43

4.2.3 Kết quả thực hiện điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 44

4.3 Công tác khác 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1.Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp truyền thống, trong đó chăn nuôi

là một ngành chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi lợn Hiện nay, bên cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy

mô lớn như trang trại ngày càng được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường quốc tế

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn đã trở thành một trong những ngành chính mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hộ chăn nuôi nói riêng và xã hội nói chung Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng kể Trong

số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy mô chăn nuôi

và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Đặc biệt, hiện nay dịch bệnh PED ở lợn con đang xảy ra ở rất nhiều trang trại với khả năng lây lan nhanh

và tỷ lệ chết cao nhưng chưa có biện pháp phòng chống chủ động, hiệu quả Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất, chúng tôi tiến hành thực hiện đề

tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Trang 9

1.2.1 Mục tiêu

- Nắm được qui trình chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trại

- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái, một số bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại trang trại sinh thái Thanh Xuân,

xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái và lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao

- Xác định được tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

- Trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên có vị trí địa lý được xác định như sau:

+ Phía Nam giáp huyện Khoái Châu

+ Phía Đông Nam giáp huyện Yên Mỹ

+ Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thường Tín và huyện Thanh Trì của Hà Nội

+ Phía Đông Bắc giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội và huyện Văn Lâm, Hưng Yên

- Huyện có 11 đơn vị hành chính Dân số huyện Văn Giang hơn 12 vạn người, tổng diện tích tự nhiên là 71,79 km²

2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

- Huyện có địa hình tương đối bằng phẳng, tuy nhiên do nằm ven sông Hồng nên đất đai có độ cao không đồng đều và hình thành các dải cao thấp khác nhau theo dạng hình sóng

- Đất đai màu mỡ có nguồn gốc từ châu thổ sông Hồng

- Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 71,19 km2 trong đó:

+ Đất sản xuất nông nghiệp là 50,32 km2 (chiến 70%);

+ Đất chuyên dung là 12,31 km2 (chiến 17,1%);

+ Đất ở là 6,12 km2 (chiến 8,7%);

+ Đất chưa sử dụng là 3,04 km2 (chiến 4,2%)

Trang 11

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết

Theo phân vùng của nhà khí tượng thuỷ văn thành phố, trại nằm trong vùng có khí hậu đặc trưng của khu vực đó là nóng ẩm vào mùa hè, có mùa đông lạnh, mưa nhiều điển hình của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Hướng vòng cung của các dãy núi tạo thành hành lang hút gió rất mạnh, đón nhận trực tiếp khối không khí lạnh từ phương bắc tràn xuống làm cho mùa đông đến sớm, kết thúc muộn, nền nhiệt bị hạ thấp Khí hậu vùng này thích hợp cho thực vật nhiệt đới như chè, thuốc lá, hồi Tuy nhiên, thời tiết khu vực này hay nhiễu động trong năm gây ra những khó khăn đáng

kể, nhất là vào các thời kỳ chuyển tiếp

2.1.1.4 Điều kiện giao thông

- Nhìn chung mạng lưới giao thông phân bố khá đồng đều trên địa bàn huyện

- Có nhiều tuyến đường đã được cải tạo, nâng cấp lên; làm mới đường nội thị, đường liên xã, liên thôn và hầu hết các đường đều được rải nhựa hoặc đổ bê tông

Vì vậy, rất thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn và thuốc thú y cũng như tiêu thụ sản phẩm

- Kết nối giao thông thuận tiện với Thành phố Hà Nội và Hải Phòng là một trong những đầu mối giao thương chủ đạo của cả nước

2.1.2 Điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng nơi thực tập

2.1.2.1 Cơ sở vật chất của trại

Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao, dễ thoát nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 4 chuồng đẻ, trong đó: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng

có 66 ô chuồng và 1 chuồng đẻ có 120 ô chuồng, 2 chuồng bầu có 1020 ô chuồng, 6 chuồng lợn thịt với 700 con/chuồng, 1 chuồng tân đáo với 100 con/chuồng, 1 chuồng cai sữa với 750 con/chuồng và 1 chuồng đực với 70 ô chuồng, mỗi chuồng

Trang 12

đều có lối đi ở giữa Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa

hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa đông có hệ thống

bóng đèn hồng ngoại

2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng của trại

Trại được xây dựng trên nền đất cao với tổng diện tích của toàn trang trại là

4 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi, 1 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác

Khu hành chính được xây dựng ở đầu trại, mọi hoạt động sinh hoạt của cán

bộ, công nhân đều diễn ra tại đây Sau khu hành chính có một nhà kho dự trữ thức

ăn về tết, một kho chứa dầu để phục vụ xe công nông vận chuyển thức ăn đến các kho chứa của mỗi chuồng và cung cấp cho máy phát điện khi cần thiết

Gần khu chuồng, trại cho xây dựng một kho thuốc cùng các dụng cụ chăn nuôi và một kho bảo dưỡng

Bên cạnh đó, trại còn xây dựng một bể lọc và chứa nước; hiện nay trại đang xây dựng thêm một giếng khoan để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho sản xuất sinh hoạt Nhìn chung cơ sở hạ tầng của trại khá đầy đủ và hoàn thiện

2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức

- Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2009 trại đi vào sản xuất được 10 năm, xong hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng

và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn

và yêu nghề Trại có 40 cán bộ nhân viên trong đó:

- Lao động gián tiếp có 7 người:

+ Tổng giám đốc công ty: 1

+ Kế toán: 2

+ Làm vườn, nấu ăn: 1

+ Bảo dưỡng : 2

Trang 13

+ Bảo vệ: 1

- Lao động trực tiếp có 33 người:

+ 5 kỹ sư chăn nuôi

+ 28 công nhân

- 7 sinh viên thực tập

2.1.2.4 Tình hình sản xuất tại cơ sở

Trang trại sinh thái Thanh xuân là cơ sở chăn nuôi với quy mô công nghiệp vừa cung cấp con giống vừa cung cấp lợn thịt cho bà con nông dân và các cơ sở chăn nuôi khác quanh vùng và khu vực lân cận Nhằm mục đích tăng đàn nái ngoại trong nhân dân, cung cấp đủ đực giống cho lai kinh tế và một phần nhân thuần nuôi thịt để tăng tỷ lệ lợn nạc trong thịt lợn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Trại có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi chuyên môn, trong những năm qua chăn nuôi lợn của trại có những bước phát triển đáng kể, mỗi chuồng có một người đứng chuồng đảm nhiệm, giám sát mọi công việc trong chuồng và trại tiến hành bàn giao từng công việc cụ thể của từng chuồng đến từng công nhân, nên mọi công nhân đều

có tinh thần và trách nhiệm thực hiện công việc

Kết quả sản xuất của trại những năm qua được thể hiện qua bảng sau

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi tại trại qua 3 năm 2016 – 2018

Trang 14

Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng

cụ chăn nuôi và sinh sản… thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ

Khi ra vào trại, tất cả mọi người đều phải đi qua phòng sát trùng, trước khi xuống chuồng phải thay bảo hộ lao động (quần, áo, ủng, mũ, khẩu trang) chỉ sử dụng trong khu vực chăn nuôi nhằm hạn chế mang mầm bệnh từ bên ngoài vào

Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi “cùng vào - cùng ra”, trong đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi) Sau một thời gian nhất định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và

để trống ít nhất 5 - 7 ngày trước khi đưa đàn lợn mới lên đẻ Như vậy quy trình này

có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế được khả năng lan truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác

Hệ thống thông thoáng đối với chăn nuôi lợn công nghiệp rất quan trọng, ngoài việc cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp của lợn nó còn giúp giải phóng khí độc do phân, nước tiểu gây ra Chính vì vậy, trại đã sử dụng hệ thống làm mát và chống nóng ở mỗi dãy chuồng vào mùa hè và hệ thống sưởi ấm vào mùa đông Bên cạnh đó các dãy chuồng được sắp xếp theo hướng Đông Nam để đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè

Đặc biệt vào mùa hè, thời tiết rất nóng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái cũng như sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Do đó, trại đã lắp đặt hệ thống chống nóng gồm hệ thống quạt gió ở cuối mỗi dãy chuồng có tác dụng hút không khí có hơi nước từ hệ thống dàn mát trên đầu chuồng tạo luồng khí mát, thông thoáng Hai dãy tường chuồng được phủ một tấm lưới cách nhiệt và có tác dụng giữ ẩm Chính vì vậy, không khí trong chuồng lợn luôn mát và nhiệt độ luôn duy trì trong khoảng 28 oC – 30 oC

Trang 15

Trại trang bị hệ thống lồng úm bên trong có treo một bóng đèn hồng ngoại công suất 175W hoặc lắp một tấm sưởi ở mỗi ô chuồng Với lợn sau cai sữa cũng có một đèn sưởi hoặc tấm sưởi ở mỗi ô chuồng, đảm bảo luôn duy trì nhiệt độ thích hợp cho lợn con

Bảng 2.2 Lịch phun sát trùng toàn trại Thứ

Trong chuồng

Ngoài Chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái

chửa Chuồng đẻ

Chuồng Cai sữa

Thứ 2 Phun sát trùng

Dội vôi sút + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

Thứ 3 Dội vôi xút

gầm

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Thứ 4 Phun sát trùng

Dội vôi sút + rắc vôi hành lang

Xả vôi xút gầm

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng Thứ 5 Cọ rửa máng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng Thứ 6 Phun sát trùng

Dội vôi sút + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

Thứ 7 Dội vôi sút

gầm

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực chăn nuôi Chủ

nhật Phun sát trùng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Xả vôi xút gầm

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng Lịch phun sát trùng tại trại được công nhân và sinh viên được thực hiện đầy

đủ và nghiêm túc, để phòng những mầm bệnh có thể phát sinh Đối với chuồng đẻ công việc sát trùng được thực hiện 1 lần/ngày vào buổi chiều

Trang 16

Công việc vệ sinh sát trùng được thực hiện nhanh chóng với tỷ lệ phun hợp

lý, khi phun thuốc sát trùng, thuốc ghẻ, các máng ăn của lợn được để ý để không bị dính thuốc vào

2.1.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin tại trại

Việc phòng bệnh bằng vắc xin luôn được cán bộ kĩ thuật coi trọng và đặt lên hàng đầu với mục tiêu phòng hơn chống Do đặc thù trại nái ngoại chuyên sản xuất con giống nên trại có

đủ các loại lợn ở mọi lứa tuổi khác nhau Chính vì vậy việc Theodõi và thực hiện lịch tiêm phòng vắc xin chính xác là rất quan trọng Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nuôi tại trại được thể hiện qua các bảng 2.3; 2.4 và 2.5

Bảng 2.3 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với lợn con

Thời Tên vắc xin Phòng bệnh Liều

lượng Lần Vị trí

10- 14

21- 23

ngày Circovac Circo 0.5ml Mũi 1 Tiêm bắp

28 ngày Colapest Dịch tả 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

5 Tuần JXA1-R Tai xanh 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

7 tuần APP Viêm phổi dính sườn 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

8 Tuần Colapest Dịch tả 2ml Mũi 2 Tiêm bắp

9 Tuần Aftogen leo Lở mồm long móng 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

10 tuần APP Viêm phổi dính sườn 2ml Mũi 2 Tiêm bắp

Trang 17

Bảng 2.4 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với nái bầu và nái chửa

Tuần chửa Tên thuốc,

Lở mồm long móng 2ml Mũi 1 Tiêm bắp Auphyl Plus Giả dại 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

12 Coglapest Dịch tả 2ml Mũi 1 Tiêm bắp

13 Circovac Circo 0.5ml Mũi 1 Tiêm bắp

Trang 18

Bảng 2.5 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại đối với lợn nái hậu bị

Tuần 9 Tactic Ký sinh trùng 2 20ml/5l

nước Tắm (phun) Tuần 10

Vitamin Giảm stress, chuẩn

bị phối giống 3 ngày

Trộn thức ăn hoặc tiêm bắp

Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 trại đã tiến hành tiêm phòng toàn bộ đàn lợn bằng vắc xin giả dại Begonia, với liều lượng 2 ml/con, tiêm bắp

Đối với lợn đực:

- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vắc xin dịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vắc xin Lở Mồm Long Móng Aftopor, vắc xin giả dại Begonia

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy

đủ và đúng kỹ thuật Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mạn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất

Trang 19

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn

2.1.4.1 Thuận lợi

+ Trại được xây dựng trên một khu đất ở giữa cánh đồng nên cách xa khu dân

cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh Trại có vị trí địa lý thuận lợi

về giao thông vận tải và giao lưu với cư dân quanh vùng

+ Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc và có lòng yêu nghề

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.1.4.2 Khó khăn

+ Do trang trại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều, vậy nên vào mùa mưa trại thường bị ngập một số nơi làm ảnh hưởng đến việc đi lại và vận chuyển thức ăn đến các chuồng

+ Nước dùng trong quá trình vệ sinh chuồng trại không được đảm bảo nên lợn trong trại thường bị mắc các bệnh về tiêu chảy đặc biệt là lợn con

Theo Hughes và James (1996) [34], lợn cái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở

165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn cái hậu bị động dục lần đầu

- Sự thành thục về thể vóc: Thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa là cơ thể đã tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan, bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003 [12])

Trang 20

* Trứng chín và rụng trứng: Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23], dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triển rất nhanh, lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên mặt buồng trứng như những bóng nước Tế bào trứng nằm trong nang trứng tiến hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bào trứng chín Noãn bào dần dần lớn lên, nổi rõ trên

bề mặt của buồng trứng dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Sau đó noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Thời gian trứng rụng vào lúc 36 – 42 giờ sau khi xuất hiện động dục

* Sự hình thành thể vàng: Sau khi trứng rụng, trên bề mặt buồng trứng hình thành một vết sẹo phát triển thành cơ quan nội tiết gọi đó là thể vàng Thể vàng này tiết ra hóc môn progesteron có tác dụng ức chế sự phát triển của noãn bào ức chế quá trình tiết hooc môn sinh dục cái, do đó ức chế quá trình động dục Nếu trứng được thụ tinh, con vật có chửa thì thể vàng tồn tại trong suốt quá trình có chửa, gia súc không động dục Ngược lại, nếu trứng rụng nhưng không được thụ tinh thì thể vàng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, sau đó tiêu biến và con vật động dục trở lại (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [23]

* Chu kỳ động dục: Thời gian chu kỳ động dục là 21 ngày, thời gian động dục là 48 giờ, biểu hiện điểm hình khi động dục là âm hộ sưng tấy, đỏ mọng và mở rộng, kêu rống, kém ăn, hoạt động nhiều Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [28] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục:

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

- Giai đoạn động dục:

Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch

Trang 21

trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

- Giai đoạn sau động dục:

Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn

- Giai đoạn nghỉ ngơi:

Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

* Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [5]

* Sự thụ tinh: Là quá trình gặp nhau và đồng hóa lẫn nhau giữa tinh trùng và

tế bào trứng để tạo ra hợp tử mới, quá trình này xảy ra ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng trong tử cung con cái và thụ thai ở đó Thời điểm phối tinh thích hợp là 24 – 39 giờ

kể từ khi xuất hiện động dục và số trứng rụng 16 – 17 tế bào (Trần Văn Phùng và

cs, 2004) [23]

* Chửa: Là thời gian phát triển của thai trong tử cung con mẹ, được tính từ khi trứng được thụ tinh phát triển thành hợp tử đến khi thai phát triển hoàn chỉnh thành cơ thể mới và được đẻ ra ngoài cơ thể mẹ Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento và cs, 2013) [35]

* Đẻ: Là hoạt động sinh lý bình thường của gia súc cái; khi thai phát triển hoàn chỉnh, con mẹ đẩy thai, màng nhau và các sản phụ ra ngoài hoàn toàn Đẻ Là

Trang 22

một phản xạ không điều kiện dưới sự chỉ đạo của thần kinh và thể dịch Trước khi

đẻ con vật có biểu hiện về toàn thân và cục bộ hệ sinh dục

2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái giai đoạn chửa đẻ

* Kỹ thuật nuôi lợn nái chửa đẻ

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23], thức ăn dùng cho lợn nái trong giai đoạn này phải là thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái

ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn nái đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước khi đẻ 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn

mà giảm dung tích thức ăn bằng cách cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Ngày lợn nái đẻ có thể không cho ăn hoặc cho ăn theo khẩu phần của nái trước đẻ 1 ngày và giữ nguyên cho 1 ngày sau đẻ Sau khi đẻ 2 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột, mà tăng từ từ đến ngày thứ 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, có dung tích nhỏ và có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn của lợn nái

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng lợn nái, sự phát dục của bầu vú,

để quyết định chế độ nuôi dưỡng cho hợp lý theo bảng khẩu phần của lợn nái hậu bị

và nái chửa sau:

Bảng 2.6 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho lợn nái hậu bị và nái chửa

Trang 23

* Chuẩn bị trước khi đỡ đẻ

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23], căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính xác, để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ

đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra

- Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ: Trước khi lợn đẻ 10 – 15 ngày cần chuẩn

bị chuồng đẻ như: Tẩy rửa, vệ sinh, khử trùng toàn bộ các ổ chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch

sẽ và có đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 – 5 ngày trước khi nhập lợn nái vào đẻ

- Chuẩn bị ô úm cho lợn con: Ô úm được cọ rửa sạch sẽ, phun khử trùng và được đưa vào các ổ đẻ trước ngày đẻ dự kiến 2 – 3 ngày Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt là những ngày đầu mới đẻ lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa phục hồi Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn đẻ những tháng mùa đông

- Chuẩn bị dụng cụ: Cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như sau: Khay đựng dụng cụ (kéo, cồn sát trùng, dây buộc rốn,…), bóng úm, thảm để lót lồng úm, giẻ hoặc khăn lau, cân để cân khối lượng sơ sinh, khay, thùng hoặc xô đựng nhau thai,

sổ ghi chép và một số thuốc trợ đẻ, bổ trợ, kháng sinh,…

- Trực và đỡ đẻ lợn: Trực đẻ rất cần thiết để có thể hỗ trợ lợn nái trong những trường hợp bất thường Quan sát được những biểu hiện của lợn nái khi có hiện tượng sắp đẻ, để có kế hoạch trực và đỡ đẻ cho lợn nái

Những biểu hiện lợn nái sắp đẻ: Khi thấy lợn bắt đầu cắn ổ, đi lại không yên, có hiện tượng đái són là lợn sắp đẻ và khi lợn nằm, âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ

Những biểu hiện khi lợn nái đẻ: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], khi lợn

đẻ toàn thân co bóp, áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Lợn là loài đa thai nhưng đẻ từng con một, thường cứ 15 – 20 phút đẻ 1 con, cũng có khi đẻ liên tiếp nhiều con rồi nghỉ

Trang 24

ngơi một thời gian, nếu đẻ con này cách con kia trên 1 giờ thì phải có biện pháp can thiệp Bình thường trong vòng 3 – 4 tiếng lợn nái sẽ đẻ hết số con và nhau được tống ra ngoài Những con nái tống nhau ra ngoài hàng loạt sau đó sẽ ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì kèm theo nhau thì có những chất dịch hậu sản cũng được bài thải ra khỏi ống sinh dục Cũng

có trường hợp sau khi đẻ nhau được bài thải ra ngoài hết nhưng vẫn còn kẹt lại 1 con cuối cùng, con này thường to và nái mệt nên không đẻ ra được Điều này sẽ gây ra chết thai bên trong, gây thối và nhiễm trùng nặng cho nái, nái sốt cao, bỏ ăn, mất sữa dẫn đến lợn con chết nhiều vì đói

Phải cảnh giác trường hợp nái đang đẻ nhanh thì bỗng nhiên ngừng, cường độ rặn đẻ yếu, phải can thiệp kịp thời để tống những thai chết hoặc nằm ngang tử cung ra ngoài, cứu sống những thai sống trong bụng nái Trường hợp này không nên can thiệp bằng Oxytocin, cần phải kiểm tra, khám trước mới tiêm nhưng lúc khám không được thọc tay vào quá sâu bên trong

Dấu hiệu sót nhau: Sau khi đẻ 4 – 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Thấy lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41°C trong vòng 1 – 2 ngày, cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra có màu đục, lẫn máu

Trong lúc đẻ nái thường đứng dậy, đi phân, đi tiểu và trở về nằm nhiều lần Việc làm như vậy giúp thai ở hai bên sừng tử cung phân bố di chuyển để cho việc sinh đẻ dễ hơn, vì vậy khi thấy nái đẻ một số con rồi nghỉ thì nên tác động cho nái đứng và trở về nằm (nếu muốn nái nằm bên trái thì xoa nắn bệ vú, hàng vú bên phải và ngược lại)

Một số nái khi sắp đẻ thì bị sưng phù âm môn rất nặng và nếu nái rặn đẻ quá mạnh hoặc dùng thuốc kích thích rặn đẻ thì dễ dẫn đến vỡ âm môn, xuất huyết Cần có biện pháp cầm máu kịp thời (dùng kẹp mạch máu, chỉ cột mạch máu), tránh làm nái tử vong

Trang 25

lợi và tránh cho lợn bị cảm lạnh Các động tác cần làm nhẹ nhàng, khéo léo để lợn con không kêu ảnh hưởng đến lợn mẹ

- Cắt rốn: Dùng chỉ thắt lại chỗ cắt, độ dài rốn để lại là 4 – 5cm rồi cắt bằng kéo đã sát trùng, sau đó dùng cồn sát trùng vết cắt

- Bấm nanh: Dùng kìm bấm nanh, không bấm nanh quá nông vì bấm nông thì răng vẫn còn nhọn dễ làm tổn thương vú lợn mẹ khi lợn con bú, bấm quá sâu dễ gây viên lợi cho lợn con

2.2.3 Kỹ thuật chăm sóc lợn nái nuôi con

* Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

Thức ăn cho lợn nái nuôi con, phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột

mì Các loại thức ăn bổ sung đạm động, thực vật, các loại khoáng, vitamin…

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 – 1,0% và phospho 0,7% (Trần Văn Phùng và cs, 2004 [23])

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy

ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 -

2 - 3kg tương ứng

Trang 26

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày

= 2kg + (số con x 0,35kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội

Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm:

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô: 0,4 đơn vị

Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm

* Kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái nuôi con

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [23], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ

Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là

Trang 27

30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần: Đảm bảo thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Đảm bảo thức ăn nước uống sạch cho lợn nái, đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho cả lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này

Thường xuyên theo dõi lợn mẹ và lợn con vì rất dễ mắc các bệnh ở lợn mẹ: Viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau đẻ,…

Đảm bảo chuồng luôn khô ráo, không để phân và nước tiểu tồn đọng trong chuồng nuôi

- Triệu chứng: Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không ra hết là

bị sót nhau Thấy lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 410C trong vòng 1 - 2 ngày, cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra có màu đục, lẫn máu

Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không

* Hiện tượng đẻ khó:

Theo Lê Minh và cs, (2017) [18], hiện tượng đẻ khó xuất hiện dưới nhiều hình thức và do nhiều nguyên nhân gây ra

Trang 28

Trường hợp đẻ khó do nguyên nhân từ cơ thể mẹ có thể liên quan đến một

số vấn đề sau: Do tử cung co bóp và sức rặn đẻ của mẹ yếu; hoặc các phần mềm như cổ tử cung, âm đạo, âm hộ giãn nở không bình thường; hoặc hệ thống khung xoang chậu hẹp hay biến dạng; hoặc tử cung bị xoắn, hay bị vặn

Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc

mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:

- Cơ co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh nhưng không có kết quả

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và mẹ

Trường hợp gia súc đẻ khó có nguyên nhân do bào thai, đó là: Thai quá to không phù hợp với xoang chậu; hoặc chiều, hướng, tư thế của thai không bình thường; hoặc thai dị hình hay quái thai

* Bệnh viêm tử cung:

Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [7], viêm tử cung là một quá trình bệnh

lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung

Qua khảo sát của Trần Ngọc Bích và cs, (2016) [2], về tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%

Trang 29

Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái (Lê Thị Tài và cs, 2000) [25].

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [16], Lê Minh và cs, (2017) [18], Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung ở lợn nái thường do:

- Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối trực tiếp hoặc gia súc đực bị viêm cơ quan sinh dục

- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường

- Trong trường hợp đẻ khó, nuôi dưỡng kém thời kỳ hồi phục tử cung sau khi

đẻ không đảm bảo vệ sinh, sát nhau, giãn cổ tử cung, âm đạo tích chất bẩn, tích nước tiểu, những thao tác kỹ thuật lúc đỡ đẻ không đảm bảo vệ sinh sây sát niêm mạc tử cung

- Kế phát do sót nhau hoặc từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang, các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

- Yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70% (Nguyễn Thị Hồng Minh 2014) [19]

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [27], tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên

620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung

ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8

Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [7], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: Lợn dễ bị sảy thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Triệu chứng:

Trang 30

Theo Đặng Đình Tín (1986) [29], Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [7], cho biết triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:

- Viêm nội mạc: Lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám

và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ

- Viêm cơ: Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong, (2000) [20], viêm

cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

Lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt

- Viêm tương mạc: Lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt

và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: Urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: Ketovet,…

Theo Smith và cs (1995) [39], Popkov (1999) [22], chữa bệnh viêm tử cung bằng cách sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: Streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000

UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml và vitamin C

Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000

* Bệnh viêm vú

Nguyên nhân:

+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú Do kế phát từ môt số bệnh: Bại liệt sau khi đẻ, sốt sữa, hóa mủ

Trang 31

+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy,

vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

(Christensen và cs, 2007) [31]

+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây

viêm như: E coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella…( Duy Hùng, 2011)

[41]

+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú

+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm

+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

Các nghiên cứu của Trekaxova A V và cs, (1983) [30], về chữa trị bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [10], trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, bấm răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 -

2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày

Dùng Novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày

Ngày đăng: 15/07/2021, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh lợn nái - lợn con - lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái - lợn con - lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng têu chảy của lợn con , các phác đồ điều trị, Luận án Tiến sĩ Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng têu chảy của lợn con , các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
5. Khuất Văn Dũng (2005), Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái nuôi tại nông trường Hữu Nghị Việt Nam - Mông Cổ, Ba Vì, Hà Tây, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái nuôi tại nông trường Hữu Nghị Việt Nam - Mông Cổ, Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Khuất Văn Dũng
Năm: 2005
6. Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị, Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2013
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiêp ̣, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiêp ̣
Năm: 2002
8. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
10. Hội Chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Hội Chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Trần Đức Hạnh (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn nái tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn nái tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Năm: 2013
12. Nguyễn Ðức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Vãn Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Ðức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Vãn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
13. Hoàng Phú Hiệp (2014), Nghiên cứu phát triển kỹ thuật phát hiện chủng vi khuẩn Escherichia coli O157:H7 và tạo kháng thể tái tổ hợp đặc hiệu, Luận án Tiến sĩ sinh học, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển kỹ thuật phát hiện chủng vi khuẩn Escherichia coli O157:H7 và tạo kháng thể tái tổ hợp đặc hiệu
Tác giả: Hoàng Phú Hiệp
Năm: 2014
14. Lý Thị Liên Khai (2001), “Phân lập, xác định độc tố ruột của các chủng E.coli gây tiêu chảy cho lợn con”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, xác định độc tố ruột của các chủng "E.coli" gây tiêu chảy cho lợn con”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lý Thị Liên Khai
Năm: 2001
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y, tập XIII (4), 92 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
16. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), “Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, tập II, tr. 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Năm: 2002
17. Phạm Sỹ Lăng (2009), “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (số 5), tr. 80 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2009
18. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
19. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
20. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm