1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong tập thơ tiếng thu của lưu trọng lư

118 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Lịch sử vấn đề (7)
    • 2.1. Thời kì đầu tiên (0)
    • 2.2. Thời kì thứ 2 (0)
  • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Nhiệm vụ, đóng góp của luận văn (11)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 5.1. Phương pháp tiếp cận thi pháp học (12)
    • 5.2. Phương pháp so sánh văn học (12)
    • 5.3. Phương pháp thống kê (0)
    • 5.4. Phương pháp phân tích (12)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (12)
  • Chương 1: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ TIẾNG THU (13)
    • 1.1. Hình tượng cái tôi trữ tình trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình (0)
      • 1.1.1. Hình tượng cái tôi trữ tình trong tập thơ Tiếng thu (16)
        • 1.1.1.1. Cái tôi mơ mộng (18)
        • 1.1.1.2. Mộng là gì ? (20)
        • 1.1.1.3. Mộng mới là quê hương của nhà thơ (21)
        • 1.1.1.4. Mộng trong Tiếng thu (22)
        • 1.1.1.5. Mộng với sầu, buồn với say (25)
        • 1.1.1.6. Cái tôi tinh tế, nhạy cảm (32)
        • 1.1.1.7. Cái tôi phiêu lãng với những giấc mộng giang hồ (34)
      • 1.1.2. Cái tôi cô đơn (39)
        • 1.1.2.1. Giấc mơ tình ái của nhà thơ (40)
        • 1.1.2.2. Tình yêu thầm kín đơn phương và nỗi thở than nuối tiếc ngàn đời (40)
        • 1.1.2.3. Giấc mộng tình tan vỡ (43)
      • 1.1.3. Cái tôi thành thực (44)
        • 1.1.3.1. Tình yêu êm đềm của nhà thơ (47)
        • 1.1.3.2. Sự trân trọng với các giai nhân (51)
      • 1.1.4. Cái tôi tha thiết với cuộc đời (0)
        • 1.1.4.1. Lòng yêu thương trắc ẩn với những thân phận bất hạnh (56)
        • 1.1.4.2. Tấm lòng với người mẹ, người chị( cõi riêng- ám ảnh) (59)
        • 1.1.4.3. Một tấm lòng gắn bó với đất nước, với dân tộc (62)
  • Chương 2: THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ TIẾNG THU (64)
    • 2.1. Thời gian nghệ thuật (0)
      • 2.1.1. Thế nào là thời gian nghệ thuật ? (0)
      • 2.1.2. Thời gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu (0)
        • 2.1.2.1. Thời gian Thực - Ảo (65)
        • 2.1.1.2. Thời gian quá vãng gắn với những hoài niệm (66)
        • 2.1.1.3. Thời gian hiện tại gắn liền với sầu đau, đổ vỡ, trống vắng (69)
        • 2.1.1.4. Thời gian chảy trôi đem đến sự tàn phai rơi rụng (71)
    • 2.2. Không gian nghệ thuật (75)
      • 2.2.1. Thế nào là không gian nghệ thuật? (75)
      • 2.2.2. Không gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu (76)
        • 2.2.2.1. Mây (77)
        • 2.2.2.2 Trăng (78)
        • 2.2.2.3. Dòng sông, bến nước, con thuyền (80)
  • Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT (84)
    • 3.1. Thể thơ (84)
      • 3.1.1. Các thể thơ tiêu biểu trong tập thơ Tiếng thu (84)
      • 3.1.2. Truyền thống và cách tân trong việc sử dụng một số thể thơ tiêu biểu ở Tiếng thu (85)
        • 3.1.2.1. Thể thất ngôn (85)
        • 3.1.2.2. Thể ngũ ngôn (88)
    • 3.2. Nhạc điệu thơ (91)
      • 3.2.1. Thế nào là nhạc điệu thơ? (91)
      • 3.2.2. Sự kết hợp hài hòa giữa vần và nhịp (92)
      • 3.2.3. Sự giao hoà giữa âm điệu của lòng người và ám thanh của ngoại giới (0)
      • 3.2.4. Sự kết hợp nhuần nhị các làn điệu dân ca (99)
    • 3.3. Ngôn ngữ thơ (101)
      • 3.3.1. Thế nào là ngôn ngữ thơ? (101)
      • 3.3.2. Ngôn ngữ tự nhiên (101)
      • 3.3.3. Ngôn ngữ của thế giới nội cảm (107)
      • 3.3.4. Ngôn ngữ vừacổ điển, vừa hiện đại (110)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Nhiệm vụ, đóng góp của luận văn

Chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu của Lưu Trọng

Luận văn này nhằm làm nổi bật những đặc sắc trong thế giới nghệ thuật thơ Lưu Trọng Lư trước cách mạng Bằng cách khảo sát các đặc điểm riêng của thơ ông trong tập "Tiếng thu", bài viết sẽ phân tích mối quan hệ thống nhất giữa tư tưởng, cảm xúc và hình thức biểu hiện qua ba phương diện chính.

- Hình tượng cái tôi trữ tình trong tập thơ Tiếng thu

- Thời gian và không gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu

- Một số phương diện nghệ thuật

Luận văn này làm nổi bật phong cách đặc trưng của Tiếng thu và thơ Lưu Trọng Lư, từ đó cung cấp tài liệu tham khảo quý giá cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy về tác phẩm của nhà thơ này trong môi trường giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp học, dựa trên cơ sở khái niệm về thế giới nghệ thuật để tiếp cận tập thơ.

Phương pháp thống kê

Luận văn này có khả năng làm rõ phong cách đặc trưng của Tiếng thu và thơ Lưu Trọng Lư, từ đó trở thành tài liệu tham khảo quý giá cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy về thơ Lưu Trọng Lư trong các trường học.

5.1 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp học, dựa trên cơ sở khái niệm về thế giới nghệ thuật để tiếp cận tập thơ

5.2 Phương pháp so sánh văn học

Luận văn áp dụng phương pháp này để làm nổi bật những đặc trưng riêng trong phong cách thơ của Lưu Trọng Lư, trong khuôn khổ của đề tài Đây là một phương pháp quan trọng mà chúng tôi sẽ sử dụng thường xuyên theo hai hướng khác nhau.

- Đồng đại: so sánh Lưu Trọng Lư với những nhà thơ cùng thời để khám phá những nét riêng, đóng góp mới của ông

Lịch sử văn học cho thấy thơ Lưu Trọng Lư có sự đối sánh rõ nét với thơ truyền thống, từ đó làm nổi bật sự tiếp nối và phát triển của tập thơ Tiếng thu trong bối cảnh di sản văn học dân tộc.

5.3 Phương pháp thống kê

Chúng tôi đã khảo sát 52 bài thơ để thống kê các biểu hiện đặc sắc của thế giới nghệ thuật trong tập thơ "Tiếng thu" Qua việc phân tích từ ngữ và hình ảnh độc đáo, chúng tôi chú trọng đến những hình tượng lặp lại trong từng bài và toàn bộ tập thơ, từ đó rút ra nhận xét về các phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Phương pháp phân tích

Để nghiên cứu tác phẩm và tác giả thơ, phương pháp chủ yếu sẽ là phân tích sâu sắc cả tác giả và tác phẩm văn học.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Hình tượng cái tôi trữ tình trong tập thơ Tiếng thu

Chương 2: Thời gian và không gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ TIẾNG THU

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ TIẾNG THU

Không gian nghệ thuật

2.2.1 Thế nào là không gian nghệ thuật?

Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể và cảm thụ chủ quan Nó được mô tả qua một điểm nhìn nhất định, tạo ra viễn cảnh nghệ thuật với các yếu tố như cao, thấp, xa, gần, rộng, dài Không gian nghệ thuật không chỉ bao gồm không gian vật thể mà còn có không gian tâm tưởng, thể hiện các mối liên hệ của thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức Nó có thể mang tính địa điểm, phân giới để mô hình hóa các phạm trù thời gian và tính cách con người Trong khi một số không gian nghệ thuật có thể cản trở, như trong việc thể hiện các kiểu tính cách, thì những không gian khác, như trong cổ tích, cho phép ước mơ và công lý được thực hiện dễ dàng Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú.

Các cặp phạm trù như cao-thấp, xa-gần, rộng-hẹp, cong-thẳng, bên này-bên kia, vững chắc-bập bênh, ngay-lệch thể hiện các giá trị phẩm chất trong đời sống xã hội Không gian nghệ thuật không chỉ phản ánh cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học và ngôn ngữ tượng trưng, mà còn bộc lộ quan niệm về thế giới cùng chiều sâu cảm thụ của tác giả hoặc một giai đoạn văn học Điều này tạo ra cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo và nghiên cứu các hình thức của các hình tượng nghệ thuật.

2.2.2 Không gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu

Cùng với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là "hình thức bên trong của thế giới nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó" [46.134]

Không gian nghệ thuật mang tính chủ quan và tượng trưng, bao gồm cả không gian vật thể lẫn không gian tâm tưởng Do đó, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối và không thể bị giới hạn bởi các yếu tố địa lý.

Không gian nghệ thuật trong văn học đóng vai trò quan trọng trong việc mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới, thể hiện tính địa điểm và tính phân giới.

Không gian nghệ thuật không chỉ phản ánh cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn thể hiện quan niệm về thế giới và chiều sâu cảm thụ của tác giả hoặc một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo và nghiên cứu các hiện tượng nghệ thuật.

Mỗi thời đại có cách cảm nhận và thể hiện không gian khác nhau; không gian trong thơ ca Trung đại là vũ trụ bao la, trầm lắng với hình ảnh núi non, suối nước, hoa cỏ và chim muông, nơi chỉ có con người trầm mặc suy tư Đến thời kỳ lãng mạn (1932-1945), không gian đã chuyển mình, từ vũ trụ thiêng liêng thành những không gian gần gũi hơn như dòng sông, bến nước, và con đường, phản ánh tâm sự cá nhân rõ nét Huy Cận mang đến không gian mênh mông mây nước, Thế Lữ vẽ nên thiên đường bồng lai, trong khi Hàn Mặc Tử tạo ra không gian siêu thoát, mờ ảo Xuân Diệu là biểu tượng của tuổi trẻ, còn Lưu Trọng Lư gợi lên sắc màu huyền diệu của cõi mộng Tập thơ Tiếng thu thể hiện sự phong phú và phức tạp của không gian nghệ thuật, với nhiều biểu hiện độc đáo.

Mây tạo nên một không gian rộng mở trong Tiếng thu, thường xuất hiện trong các tác phẩm thi ca lãng mạn Không gian này mang đến một bức tranh thiên nhiên đẹp với tầm cao, chiều rộng và độ sâu thăm thẳm, tạo điều kiện cho hồn thi sĩ thoải mái phiêu du đến chân trời hay những góc bể xa xôi.

Thuyền bơi trong quãng giời xanh ngắt Thẳm xa, xa thẳm một màu lơ

Nhìn mây thẳm trởi xa chóng mắt Van nàng cắm lại chiếc thuyền mơ

Mây trôi bồng bềnh mang theo những mộng ước, tạo nên khung cảnh thần tiên, khác xa cõi thực Điều này khơi gợi cho lữ khách cơ hội đưa giai nhân đến với bến mơ nơi tiên cảnh.

Bập bềnh vẫn trôi trên mây bạc Thuyền trôi đã quá giải Ngân Hà Giật mình nàng nhìn ta ngơ ngác Không biết còn trôi bến nào xa

Rồi lữ khách lại cùng tình nương:

Nơi nghìn trùng man mác Để hồn thơ trải rộng, tan biến vào không gian thăm thẳm ấy:

Như hai làn mây biếc cùng tan nơi mở mịt

Mây khi lại chỉ là một không gian gợi nhớ đến một mối tình trong mộng

( Lại nhớ, Trên bãi biển) , là nơi cho buồn xưa trú ngụ ( Mây trắng) Trong Một

73 mùa đông cái lang thang phiêu lãng của mây lại chính là cái lang thang của lòng người thi sĩ chơi vơi theo cánh gió:

Em là gái trong khung cửa

Anh là mây bốn phương trời

Không gian dòng sông, bến nước và con đò tạo nên vẻ đẹp hài hòa và thơ mộng trong Tiếng thu Khung cảnh khoáng đạt này không chỉ trả lại cho thiên nhiên vẻ đẹp vốn có mà còn chắp cánh cho hồn lữ khách bay bổng vào cõi mộng.

Hình tượng cái tôi mơ màng và người phụ nữ trong không gian mộng mơ tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo của Tiếng thu Thế giới này mang đến những cảm xúc đa dạng: từ mơ màng, hư ảo đến đắm say, sầu muộn, và tươi sáng trong trẻo, nhưng cũng có lúc u ám, não nề Tất cả đều được bao phủ bởi không khí huyền bí, tạo nên một hồn thơ mơ màng, là chốn trở về của những tâm hồn sầu mộng.

Trăng là một biểu tượng mộng mơ, hiện diện xuyên suốt trong tập thơ Tiếng thu, với 32 lần xuất hiện trong 17 bài thơ Ánh sáng huyền ảo của trăng không chỉ làm nổi bật tâm hồn thi sĩ mà còn tạo nên không khí lãng mạn, mơ màng cho toàn bộ tác phẩm Sự hiện diện dày đặc của trăng trong Tiếng thu góp phần tạo nên một thế giới nghệ thuật đầy diễm tình và lôi cuốn.

Trăng trong thơ Lưu Trọng Lư mang một vẻ đẹp huyền ảo, phản ánh thế giới mộng mơ và tâm trạng của thi sĩ Các từ chỉ tình thái đi kèm với hình ảnh trăng thể hiện sắc độ cảm xúc phong phú: từ trăng mờ thổn thức đến trăng lạnh lẽo, trăng sầu hay trăng vàng ngậm buồn ở cuối non tây Đặc biệt, trong bài thơ "Tiếng thu," hình ảnh trăng được nội tâm hóa sâu sắc, gợi lên những xao động và cảm xúc tinh tế trong tâm hồn.

Trong bài viết, hình ảnh ánh trăng được chuyển hóa thành tâm hồn của nhân vật trữ tình, thể hiện nỗi niềm thổn thức và rạo rực của người cô phụ trong "Tiếng thu" Ánh trăng trở nên mênh mang, gợi lên nỗi ngóng chờ vô vọng trong "Điệu hát lẳng lơ" Trong không gian đêm dài, trăng mang theo nỗi buồn của kỹ nữ trong "Giang hồ", nhưng đôi khi cũng lạnh lùng đùa bỡn trước nỗi đau của họ, như khi "Gió đùa trăng trên bãi lạnh lùng".

Trong đêm xuân, ánh trăng tạo nên một không gian lung linh và huyền diệu, mang đến cảm giác mơ màng Tuy nhiên, không gian ấy cũng có thể phản ánh nỗi buồn chán của những kẻ thất bại trong tình yêu, khi mà mọi sắc màu cây cỏ và gió trăng chỉ làm nổi bật thêm nỗi u uất.

Trăng mở rộng không gian, tạo nên bầu không khí sầu mộng hòa quyện với tâm tư của thi sĩ Không gian trăng gợi nhớ những giấc mộng ái ân, đưa người trở về với những kỷ niệm tình yêu đã vỡ vụn Đây là không gian ngọt ngào nhưng cũng đầy đớn đau và tiếc nuối, thể hiện rõ nét tình yêu trong Tiếng thu.

Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu

Em cười em nói suốt canh thâu

Cái lạnh lẽo của tình yêu được đem so sánh với cái phong sương của ánh trăng:

Tình yêu như bống giăng hiu quạnh Lạnh lẽo đêm trường giãi gió sương

Trong không gian chất đầy mộng ấy, hình bóng giai nhân chập chởn hư ảo:

Mặt hoa lảng đảng như lồng dưới trăng

( Giang hồ ) Vầng trăng từ độ lên ngôi

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Vầng trăng lên mái tóc mây Một hồn thu lạnh mơ say hương nồng

Có khi trăng như khúc nhạc lòng đầy nhớ nhung ân ái:

Lắng nghe trăng giãi bên thềm Lắng nghe trăng giãi bên thềm ái ân

MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

Thể thơ

3.1.1 Các thể thơ tiêu biểu trong tập thơ Tiếng thu

Lưu Trọng Lư là người tiên phong trong việc đổi mới và phát triển thơ ca dân tộc, và ngay từ những ngày đầu xuất hiện trong làng thơ, ông đã tạo ra một phong cách thể hiện độc đáo và sáng tạo.

Lưu Trọng Lư, giống như nhiều nhà thơ mới thế hệ đầu, đã chuyển mình từ Thơ Cũ sang Thơ Mới, nhưng vẫn mang đậm ảnh hưởng của phong cách truyền thống Sự kết hợp này đã tạo nên nét đặc sắc trong thơ của ông.

Lư một cốt cách tài tử in đậm vào thi hứng

Lưu Trọng Lưu, với tình yêu lối truyền thống, đã khởi xướng việc xây dựng nền thơ mới, kết hợp giữa di sản thơ ca cũ và tinh thần đổi mới Ông mong muốn phá vỡ những ràng buộc của cái cũ, giúp cho tình cảm phong phú và đa dạng của con người mới được thể hiện một cách tự do và tự nhiên.

Lưu Trọng Lư tiếp tục sử dụng các thể thơ truyền thống trong tập thơ Tiếng thu Qua thống kê, trong 52 bài thơ, chúng ta nhận thấy sự đa dạng về thể loại thơ mà ông đã lựa chọn.

- Song thất lục bát (2 bài)

- Những bài thơ phối hợp các thể

- Phối hợp các thể (7 bài)

Trong 52 thi phẩm của tập thơ, Lưu Trọng Lư đã viết 36 bài theo các thể thơ có nguồn gốc từ Trung Quốc, chiếm khoảng 69,2%, 8 bài viết theo các thể thơ dân tộc chiếm khoảng 15,4%, 8 bài viết theo thể tự do chiếm khoảng 15,4% Bên cạnh đó, thể thơ 8 chữ được coi là một sáng tạo của thơ mới trên cợ sở là thể hát nói - một thể thơ phổ biến của các nhà thơ trong phong trào thơ mới (kể cả những nhà thơ thuộc lớp đầu như Thế Lữ) Ở Lưu Trọng Lư có ít và nếu có sử dụng chỉ là kết hợp một số câu trong một số bài

Lưu Trọng Lư chủ yếu sử dụng các thể thơ truyền thống của văn học Trung đại, đồng thời cũng khai thác các thể thơ ca dân gian từ cả Việt Nam và Trung Quốc.

3.1.2 Truyền thống và cách tân trong việc sử dụng một số thể thơ tiêu biểu ở Tiếng thu Ở Tiếng thu Lưu Trọng Lư dùng nhiều thể thơ truyền thống Có điều, các thể thơ đó không còn nguyên vẹn nhưnó vốn có Từ những bài thất ngôn, ngũ ngôn từ khúc cho đến lục bát đã "mất đi nhiều khuôn phép xưa" [ 57.43], chúng đã bị rạn nứt và biến đổi sâu sắc Chứng tỏ thơ Lưu Trọng Lư luôn gắn bó sâu nặng với thơ ca truyền thống Nhưngvềcăn bản hồn thơ Lưu Trọng Lư vẫn là mới Ở đây, chúng tôi đi vào từng thể loại cụ thể để thấy đươc tính truyền thống và sự cách tân nghệ thuật đó

3.1.2.1 Thể thất ngôn: (24 bài) - Hôm qua, Nắng mới, Đan áo, Lá mồng tơi,

Mộng chiều hè với hình ảnh Túp lều cỏ, khi thu rụng lá mang đến một chút tình cảm lãng mạn Tình điên và hoa xoan gợi nhớ những kỷ niệm ngọt ngào, trong khi thuyền mộng và lá bàng rơi tạo nên không gian thư giãn Đợi mây trắng trong chiều cổ, điệu huyền của tình yêu và chia ly làm cho hương lòng thêm sâu lắng Cảnh thiên đường và chiếc cáng điều gợi lên những cảm xúc bâng khuâng, như một lần nữa ta lại uống những kỷ niệm xưa.

Thể thơ cổ phong và thơ Đường luật Trung Quốc, mỗi câu có 7 tiếng Ở

Lưu Trọng Lư trong bài thơ "Tiếng thu" đã từ chối sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật với những quy tắc đối ngẫu gò bó Ông cho rằng những giới hạn này như "Con chó đi ra, con mèo chạy vô" đã làm nghẹt cảm xúc sáng tác.

81 dụng thơ 7 chữ (Cổ Phong) nhưng ông đã tìm đến "Cái điệu rộng rãi và mềm mại hơn"[22.) 90]

Thể hiện ở thể thất ngôn trường thiên với khuynh hướng phá thể Bài Một chút tình là một tiêu biểu:

Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang Tình yêu như bóng giăng hiu quạnh Lạnh lẽo đêm trường giãi gió sương

Ta chỉ xin em một chút tình Cho lòng thắm lại với ngày xanh Sao em quên cả khi chào đón Tình ái, Chiều xuân, đến trước mành

Về cách gieo vần: Thơ thất ngôn cổ phong xưa với lối gieo nhiều vần trắc nên mang cái rắn rỏi, gân guốc

Bài thơ "Một chút tình" sử dụng liên tiếp các vần bằng như (Nàng, mang, sương, xanh, mành, lầu, đâu, sầu, thềm, em, xiêm, nhau, sau, đầu ) tạo nên một âm điệu uyển chuyển, mềm mại, giống như một bản nhạc tình say đắm và mơ mộng.

Cách hiệp vần trong thơ đã có sự biến đổi đáng kể Trong thơ cổ, vần thường chỉ được gieo ở cuối câu đầu và câu chẵn, chủ yếu sử dụng độc vận, với xu hướng dùng vần trắc Tuy nhiên, trong bài thơ "Tiếng thu," mỗi câu đều có vần bằng, phù hợp với điệu hồn nhẹ nhàng và đôi chút trầm lặng của Lưu Trọng Lư.

Hôm qua bạn ạ ta chiêm bao

Gò ngựa bền sông dưới gốc đào Sớm ấy đông qua đào chín ửng

Ta trèo vin hái trên cành cao

Cách gieo vần tương đối linh hoạt:

Một buổi trăng thu chồng thử vợ Đôi ta sớm nặng thú thiên nhiên Hãy đợi lúc răng long đầu bạc

Về đây ngồi ngắm buổi trăng lên '

Hôm qua ta đứng bên Hồ Kiếm Quanh ta rộn rịp biết bao người

Mà ta chỉ thấy người hôm ấy

In giữa không gian một nụ cười

Lưu Trọng Lư áp dụng lối gieo vần bốn câu ba vần và vần gián cách, chịu ảnh hưởng từ thơ Pháp Phong cách gieo vần này được ông sử dụng một cách uyển chuyển, nhuần nhuyễn và mềm mại hơn.

Trong thơ thất ngôn truyền thống, nhịp điệu thường được ngắt theo tỷ lệ 4/3 hoặc 2/5 Tuy nhiên, Lưu Trọng Lư đã sáng tạo ra những cách ngắt nhịp linh hoạt, mang đến sự mới mẻ cho thể loại này.

Thuyền bơi trong quãng/ giời xanh ngắt Thẳm xa/ xa thẳm/ một màu lơ

Nhìn mây thẳm/ trời xa chóng mặt Van nàng/ cắm lại/ chiếc thuyền mơ

Câu thơ 7 chữ thể hiện sự xáo động, mang đến nhịp điệu bồng bềnh như sóng nước, đồng thời gợi lên cảm giác du dương khi con thuyền tình lướt vào cõi mộng.

Trong thơ Lưu Trọng Lư, các bài thơ thất ngôn thường không giới hạn về số câu nhưng thường được tổ chức thành những khổ 4 câu, nhờ vào sự biến đổi trong cách gieo vần Chẳng hạn, bài thơ "Hôm qua" có 7 khổ (36 câu), "Nắng mới" gồm 3 khổ (12 câu), "Tình điên" có 8 khổ (32 câu), và "Thuyền mộng" với 5 khổ (20 câu) Mỗi khổ thơ như một bài thất ngôn tứ tuyệt, mang đến sự hoàn chỉnh về tình cảm và ý nghĩa.

Lưu Trọng Lư đã phá vỡ khuôn khổ luật thi để đem lại cho Tiếng thu một nhịp đập mới hòa điệu với nhịp sống của thời đại

3.1.2.2 Thể ngũ ngôn( 2 bài ) - Một mùa đông, Trăng lên

Nhạc điệu thơ

3.2.1 Thế nào là nhạc điệu thơ?

Thơ được ví như "lâu đài của những âm vang," trong đó nhạc điệu là yếu tố cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn và cảm xúc sâu lắng Nhờ nhạc điệu, thơ dễ dàng chạm đến trái tim người đọc và lưu giữ lại những cảm xúc riêng tư Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhạc điệu được định nghĩa là "cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật," trong đó có các yếu tố như điệp âm, điệp vần, nhịp điệu, và ngữ điệu Hồn của nhạc điệu không chỉ nằm ở cấu trúc âm thanh mà còn ở khả năng gợi lên cảm giác âm nhạc trong lòng người thưởng thức.

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có khả năng truyền cảm đặc biệt, vì vậy các nhà thơ lãng mạn rất coi trọng nhạc tính trong thơ Mỗi nhà thơ trong phong trào lãng mạn đã tạo ra một nhạc điệu riêng, góp phần hình thành một dàn đồng ca đa dạng trong trào lưu thơ này, từ sự trong sáng của Nguyễn Nhược Pháp đến sự hối hả của Xuân Diệu và sức mạnh hùng tráng của những tác giả khác.

87 tráng như Huy Thông, nghẹn ngào như Vũ Đình Liên và trong dàn đồng ca đó Lưu Trọng Lư là nhạc sĩ đặc sắc hơn cả

Nhạc điệu là yếu tố quyến rũ nhất trong thơ của Lưu Trọng Lư Ông luôn tìm kiếm những cách thể hiện mới mẻ và sáng tạo trong sáng tác, mang đến một điệu thơ rộng rãi, mềm mại và giàu nhạc tính.

Năm 1936, Lê Tràng Kiều đã khẳng định rằng thơ mới, với âm nhạc rõ rệt, là sự phản kháng mạnh mẽ đối với thơ cũ, và Lưu Trọng Lư là người tiên phong gieo hạt thơ mới vào miền Bắc Vũ Ngọc Phan, một nhà văn hiện đại, cũng đặc biệt nhấn mạnh tính nhạc trong thơ của Lưu Trọng Lư, gọi nó là "Những khúc bi ca của con người hay mơ mộng".

Hoài Thanh mô tả thơ Lưu Trọng Lư như "Một ít khúc đàn bình dị, khúc đàn xưa," thể hiện sự giản dị nhưng sâu lắng Nguyễn Văn Long cũng đồng tình, nhận định rằng "Âm thanh, nhạc điệu là sức mạnh đặc biệt của thơ Lưu Trọng L." Sức mạnh này trong tác phẩm "Tiếng thu" đến từ khả năng kết hợp hài hòa giữa vần và nhịp, cùng với khả năng nắm bắt sự hòa điệu giữa âm thanh của thế giới bên ngoài và cảm xúc nội tâm, kết hợp với các làn điệu dân ca truyền thống.

3.2.2 Sự kết hợp hài hòa giữa vần và nhịp

Tiếng thu là một hệ thống ký hiệu thơ giàu cảm xúc, ước mơ và hồi ức của nhà thơ Lưu Trọng Lư chọn tên tập thơ là Tiếng thu vì hai chữ này vang lên như một nốt nhạc mơ hồ, gợi cảm và đầy huyền bí.

Tiếng thu là âm thanh đặc trưng của mùa, là tiếng lá rơi và sự hòa quyện của đất trời, mang đến cảm xúc về quá khứ và tâm hồn thi nhân Đây là bản hợp âm vừa hiện hữu vừa mơ hồ, mà chỉ có thể cảm nhận qua tâm hồn thi sĩ.

Trong bài thơ "Tiếng thu," Lưu Trọng Lư chú trọng đến âm điệu, thể hiện qua cấu trúc ngôn từ giàu tính nhạc Tác phẩm tạo nên một chỉnh thể nhuần nhuyễn, chặt chẽ, với sự hòa quyện tự nhiên và hài hòa giữa các yếu tố.

Bài thơ sử dụng 88 vần và nhịp, kết hợp hài hòa giữa hai hệ thống âm vần: vần bằng và vần trắc Vần bằng chiếm ưu thế với 32 âm tiết so với 13 âm tiết vần trắc, tạo nên giai điệu quyến rũ cho bài thơ Những câu thơ như "Em không nghe mùa thu" sử dụng hoàn toàn âm bằng, mang lại nền nhạc trong sáng và êm đềm, phản ánh không khí bàng bạc của mùa thu Tuy nhiên, phần độc đáo nhất lại nằm ở âm trắc với các từ láy như thổn thức, ngơ ngác, rạo rực, xào xạc, gợi lên tâm trạng xao xuyến và sắc thái ngân luyến vang vọng Sự kết hợp này tạo ra một bản nhạc êm đềm nhưng cũng đầy xôn xao, rung lên trong lòng trời đất và tâm hồn thi nhân.

Nhịp điệu của bài thơ được tạo ra trước hết cũng bởi thể loại Thơ ngũ ngôn

Bài thơ gồm ba khổ, mỗi khổ mở đầu bằng câu "Em không nghe?" tạo thành điệp khúc mạnh mẽ Mỗi câu trong bài có năm chữ, tạo ra nhịp điệu đều đặn Sự lặp lại này nhấn mạnh cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm Tính nhịp nhàng và lặp lại giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được tâm trạng của nhân vật Bài thơ thể hiện sự khao khát được lắng nghe và thấu hiểu.

Khúc nhạc đó gồm ba lời, được phát triển theo ba khổ Khổ một 2 dòng, khổ hai

Sự gia tăng cảm xúc trong bài viết được thể hiện qua từng mảng nội dung, từ những âm thanh mơ hồ của mùa thu dưới ánh trăng mờ đến những tiếng xào xạc cụ thể hơn Âm thanh mùa thu được phát triển theo trình tự, từ tiếng thổn thức của lòng người cô phụ đến tiếng rạo rực trong đêm thu, cho thấy sự chuyển biến từ xa đến gần, từ kín khuất đến phát lộ.

Bản hòa âm ngôn từ trong bài thơ tạo nên âm hưởng đặc trưng, nhưng giá trị thực sự không chỉ nằm ở từng con chữ Cái hay của bài thơ vượt lên trên ngôn ngữ, thể hiện cái hồn tinh tế, phảng phất sau những câu chữ rõ ràng và sâu lắng.

Tiếng thu được xem như bức tranh thiên nhiên sống động, thể hiện tâm hồn thi sĩ qua âm điệu riêng biệt Trần Đăng Khoa mô tả tiếng thu là "kiệt tác hiếm có", một "khúc nhạc huyền bí của thần linh" chứ không phải là tiếng ca phàm tục Âm điệu thơ luôn mang trong mình sự cất cánh và hiện hữu của hồn thơ, và trong bài Hoàng hôn, âm điệu này được tạo ra từ sự phối hợp nhịp và vần một cách tài tình.

Bên thành con chim non Hót nỉ non

Giục lòng em bồn chồn Buổi hoàng hôn

Em trách gì chim non

Em oán gì con chim non?

Sao em ngớ ngẩn Đã để tình lang em lận đận Chốn xa xôi

Bài thơ thể hiện nỗi buồn nhớ của người thiếu phụ qua những câu thơ với vần bằng như con, non, chồn, hôn Nhịp điệu dài ngắn xen kẽ (5-3-5-3) tạo cảm giác buông lửng, trong khi những vần trắc ở đoạn cuối (hận, ngớ ngẩn, lân đận) thể hiện nỗi đau sâu thẳm Cảm xúc được kéo dài qua những vần bằng (xôi, vời, giời, lời), tạo nên một không gian thê thiết Đặc biệt, hai từ "nước non" gây ấn tượng với cách ngắt đột ngột, tạo ra âm hưởng ngân dài, đầy dư âm và cảm xúc.

Bài Xuân về cũng có một nhịp điệu đặc biệt của những câu thơ đi từ dài đến ngắn và ngắt nhịp đột ngột:

5- Vườn sau oanh giục giã

Những câu thơ với độ dài từ ngắn đến dài, hòa quyện nhịp nhàng giữa các vần bằng - trắc, tạo nên nhịp điệu đều đặn như bước đi thong thả của thời gian trong tình yêu rộn rã của đôi lứa Hạnh phúc trong những câu thơ này không mang sắc thái buồn bã, mà ngược lại, dư vị ngọt ngào dường như được kéo dài hơn nhờ âm vang của từng câu chữ.

5 - Dừng tay tôi kêu chàng

5 - Này này / bạn xuân sang

5 - Chàng nhìn xuân hớn hở

Nhưng thời gian như nước trôi vô tình những ngày xuân vội vã ra đi đem theo những phút giây ấm nồng hạnh phúc

3 - Lá cành: rụng 3- Ba gian: trống 2- Xuân đi

Ngôn ngữ thơ

3.3.1 Thế nào là ngôn ngữ thơ?

Thơ ca được coi là tinh hoa của ngôn ngữ, với khả năng thể hiện những điều mơ hồ mà các loại hình nghệ thuật khác không thể Lưu Trọng Lư, với tác phẩm "Tiếng thu", đã xây dựng một thế giới ngôn ngữ độc đáo, phản ánh tâm hồn chân thực và gắn bó với quê hương Ngôn ngữ trong thơ của ông mang đậm sắc thái cảm xúc, vừa cổ điển vừa hiện đại, như dòng suối hồn nhiên chảy từ đáy tâm hồn.

Nếu Thế Lữ là một thi sĩ chăm chỉ trong việc sử dụng từ ngữ và cấu trúc câu, thì Lưu Trọng Lư lại thể hiện sự tự do trong sáng tác, không chú trọng đến kỹ thuật gọt dũa ngôn từ Như nhận định, "Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy," cho thấy phong cách viết phóng khoáng và chân thành của ông.

Người yêu thơ thường tìm kiếm hình ảnh mới mẻ và những câu thơ cuốn hút, nhưng có thể sẽ cảm thấy không hài lòng khi tiếp cận tác phẩm của Lưu Trọng Lư.

Ngôn ngữ thơ của Lưu Trọng Lư mang đặc trưng tự nhiên, trong sáng và giản dị, điều này có thể so sánh với hai tác phẩm nổi bật trong thơ mới là "Nhớ rừng" của Thế Lữ và "Tiếng thu" của chính Lưu Trọng Lư Sự giản dị trong ngôn từ của ông không chỉ tạo nên vẻ đẹp thơ mộng mà còn dễ dàng chạm đến trái tim người đọc.

Nhớ rừng là một bức vẽ công phu về vị chúa tể rừng xanh, một bức tranh thiên nhiên hoành tráng với những nét vẽ điêu luyện:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suôi

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới

Bài thơ "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư khắc họa hình ảnh con nai vàng một cách đơn giản nhưng đầy tinh tế, thể hiện rõ nét chất nghệ thuật của Thế Lữ Con nai ngơ ngác, bước trên lá vàng khô, trở thành biểu tượng của sự hồn nhiên và trong trẻo Hình ảnh này không chỉ dễ vẽ mà còn in đậm dấu ấn trong nền thơ đầu thế kỷ, nhờ vào sự tài hoa của Lưu Trọng Lư.

Tình yêu trong "Tiếng thu" không chỉ đơn thuần là sự say mê, mà còn phản ánh những vấn đề sâu sắc của cuộc sống Đôi mắt buồn của em thể hiện nỗi niềm không nói thành lời, tạo nên một mối tình đầy cảm xúc và vời vợi.

Có nói cũng không cùm;

Những câu thơ thể hiện nỗi buồn trong tình yêu, như một lời tâm tình chân thành Nỗi buồn được diễn tả một cách nhẹ nhàng, nhưng cũng sâu lắng và mênh mang Đây là những vần thơ phản ánh cuộc tình lỡ dở, mang đến cảm xúc thấm thía cho người đọc.

Giời hết một mùa đông Gió bên thềm thổi mãi Qua rồi mùa ân ái Đàn sếu đã sang sông?

Bài thơ mang âm hưởng nhẹ nhàng và ý nghĩa sâu sắc, thể hiện nỗi chia ly trong tình yêu mà không gây dằn vặt Ngôn từ lan tỏa một cách dịu dàng, phản ánh tâm hồn thi nhân luôn sống trong những u hoài và mộng mị.

Lý lẽ trong tình yêu cũng thật giản dị:

Ai bảo em là giai nhân Cho đời anh đau khổ

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ Cho vướng víu nợ thi nhân

Ngôn ngữ thơ của Lưu Trọng Lư thể hiện phong cách trữ tình với sự tự nhiên và chân thật, giống như lời nói hàng ngày Những câu thơ như "Ai bảo em / cho đời anh " chứa đựng sự dịu dàng và tình cảm, như một lời trách móc nhẹ nhàng trong tình yêu Trong khi nhiều nhà thơ tìm kiếm sự sáng tạo trong ngôn ngữ, Lưu Trọng Lư lại sử dụng từ ngữ thông dụng như "Hôm qua, bữa ấy, chửa biết tên nàng " và những từ mang sắc thái địa phương như "Chừ đây, hôm ni, hôm nớ " Cách diễn đạt này mang đến cho thơ của ông vẻ đẹp tự do, phóng khoáng, khác biệt so với những câu chữ bị gò bó trong khuôn khổ của thơ trữ tình điệu ngâm.

Lưu Trọng Lư không chú trọng nhiều đến các phương thức chuyển nghĩa, điều này khác biệt so với các nhà thơ lãng mạn cùng thời như Thế Lữ, Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử.

Mạc Tử và Nguyễn Bính thường áp dụng các biện pháp tu từ phong phú trong thơ ca của họ Trong khi đó, Lưu Trọng Lư thường bộc lộ trực tiếp cảm xúc qua các tác phẩm như "Mưa mưa mãi," "Còn chi nữa," "Một mùa đông," và "Lại uống " Những cảm xúc này đôi khi được diễn đạt bằng các từ và câu cảm thán đầy sâu sắc.

- Than ôi! ngoảnh mặt biến đâu rồi

- Than ôi, trời giá đêm đông

- Sao chẳng em ôi chầm chậm lại

- Đừng vỡ nữa tình ơi!

Lưu Trọng Lư thể hiện phong cách thơ tự nhiên, không cầu kỳ với lối nói thậm xưng hay ngoa dụ trong tác phẩm "Tiếng thu" Nghệ thuật của ông không bị gò ép, và các biện pháp tu từ xuất hiện một cách mềm mại, tự nhiên Để diễn đạt sắc thái tâm trạng, ông sử dụng một số biện pháp như so sánh, đảo ngữ và câu hỏi tu từ.

Cách thức so sánh của Lưu Trọng Lư cũng có nét riêng, phù hợp với phong cách nghệ thuật của tác giả Thường là so sánh đơn, một tầng:

- Thơ ta cũng giống tình nàng vậy

- Lòng anh như nước hồ thu lạnh Quạnh quẽ đêm soi bóng nguyệt tà

- Mắt em là một dòng sông

Có khi là một chuỗi những hình ảnh so sánh đẹp, trong trẻo:

Tình trong như nước hiển trong xanh Huyền ảo như giăng lọt kẽ mành Phơi phới như hoa đùa nắng sớm Rạt rào như sóng vỗ đêm thanh

Khác xa với kiểu so sánh của Thế Lữ: Êm như lọt tiếng tơ tình Đẹp như ngọc nữ, uốn mình trong không

Hồ trong như ngọc tấm thân nga

Lồ lộ da tiên thô sắc hoa

So sánh là một phép tu từ quan trọng giúp nhà thơ tạo dựng hình ảnh sinh động Trong bài thơ "Tiếng thu", các vế so sánh chủ yếu sử dụng những hình ảnh cụ thể, dễ hình dung, thay vì ở dạng trừu tượng, điều này giúp người đọc cảm nhận rõ nét hơn về ý nghĩa tác phẩm.

- Ngoan ngoãn như con cừu non dại

- Mặt hoa lảng đảng như lồng dưới trăng

Cách so sánh như thế khiến cho hình ảnh thơ gần gũi, dễ hiểu, thể hiện một mong muốn được giãi bày, tâm sự của chủ thể trữ tình

Câu hỏi tu từ là một phép tu từ trong Tiếng thu, thường được thể hiện dưới dạng câu hỏi không nhằm mục đích trả lời, mà để bộc lộ và khẳng định ý tưởng của người viết.

Câu hỏi tu từ trong Tiếng thu có khi được sử dụng như một hoạt động hướng nội Nhà thơ tự ngẩn ngơ bâng khuâng:

Mùa đông đến từ hôm nào nhỉ ?

- Chua chát lòng anh biết mấy tình?

- Tình anh lưu luyến một bên lòng? ,

- Tình ái chiều xuân, đến trước mành?

- Sá gì hớp rượu bận lòng Đợi gì môi nhấp rượu nồng mới say?

- Than ôi trời giá đêm đông Máu du tử thực bên lòng hết sôi?

- Em không nghe mùa thu?

- Em không nghe rạo rực ?

- Em không nghe rừng thu ?

- Còn chi nữa em ơi?

- Trên những vòng lóc rối

- Rượu tân hôn chưa uống cũng say nồng ?

Trong 52 thi phẩm, câu hỏi tu từ xuất hiện 29 lần, cho thấy mật độ sử dụng cao hơn so với phép tu từ so sánh và đảo ngữ Điều này góp phần thể hiện rõ nét cái tôi trữ tình trong "Tiếng thu", một cái tôi sầu luôn ngẩn ngơ, băn khoăn và tiếc nhớ về những điều đã đến rồi lại ra đi trong cõi mộng Đảo ngữ, với vai trò là một biện pháp nghệ thuật, làm tăng tính hiệu quả của hình tượng thơ Lưu Trọng Lư đã khéo léo sử dụng phép tu từ này để nhấn mạnh cảm xúc và tâm trạng của cái tôi trữ tình, một cái tôi đang bị cảm giác cô đơn và tê lạnh xâm chiếm.

- Lạnh lùng thay gió thổi đêm đông

- Cười chim cợt gió nào đâu biết Chua chát lòng anh biết mấy tình

- Rộn ràng lá đổ, vàng rơi đầy thềm

- Lạnh lùng từng tiếng não bên tai Lạnh lùng như người trong cung quảng

Cũng có trường hợp đảo ngữ được sử dụng với mục đích tạo hình, tạo ấn tượng:

- Nét cười đen nhánh sau tay áo

- Áo đỏ người đưa trước dậu phơi

Ngày đăng: 15/07/2021, 10:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lê Thị Chính, Luận văn Thạc sĩ “Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Đình Thi”, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Đình Thi
8. Phan Cự Đệ, Phong trào thơ mới (1932 - 1945), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1932 - 1945)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
38. Phạm Thế Ngũ, Lưu Trọng Lư trong cuốn Thơ Lưu Trọng Lư những lời bình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Trọng Lư
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
59. Trần Trung, Phong cách nghệ thuật thơ Thế Lữ qua tập Mấy vần thơ, Tập mới, Luận văn Thạc sĩ, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật thơ Thế Lữ qua tập Mấy vần thơ, Tập mớ
1. Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hòa, Thành Thế Yên Bái (dịch) Aritxtot Nxb Văn học, Hà Nội,1999 Khác
2. Huy Cận, Hà Minh Đức (Chủ biên), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Khác
3. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987 Khác
4. Chavalier ( J), Gheerbrant ( A), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng,Trường viết văn Nguyễn Du,Hà Nội,1997 Khác
6. Trường Chinh , Bàn về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội ,1963 Khác
7. Xuân Diệu , Sự uyên bác trong việc làm thơ, Nxb Văn học, 1986 Khác
9. Phan Cự Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam( 1930-1045), Nxb Giáo dục , Hà Nội ,1997 Khác
10. Phan Cự Đệ, Thơ mới tác phẩm và dư luận, Nxb Văn học, Hà Nội ,2002 Khác
11. Nguyễn Đăng Điệp , Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003 Khác
12. Hà Văn Đức, Luận án PTS Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, Hà Nội Khác
13. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, 1998 Khác
14. Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971 Khác
15. Đỗ Thị Hương Giang, Báo cáo khoa học, Mộng và sự thể hiện mộng trong tập thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Hà Nội ,4/2001 Khác
16. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Quốc gia, Hà Nội, 1997 Khác
17. Lê Bá Hán( chủ biên), Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng, Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục , Hà Nội ,1998 Khác
18. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm