1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Giải phẫu tạo hình - Trường Cao đẳng Lào Cai

85 389 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải phẫu tạo hình
Tác giả Hà Thị Minh Chính
Trường học Trường Cao đẳng Lào Cai
Chuyên ngành Hội họa
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Những kiến thức chung (7)
    • 1.1. Vai trò của giải phẫu tạo hình đối với mỹ thuật (8)
      • 1.1.1. Bộ môn nghiên cứu cơ sở đặt nền tảng tạo hình (9)
      • 1.1.2. Chi phối trực tiếp tới bộ môn hình họa (10)
      • 1.2.1. Tỷ lệ từng phần cơ thể nam giới trưởng thành (12)
      • 1.2.2. Tỷ lệ từng phần cơ thể nữ giới trưởng thành (13)
      • 1.2.3. So sánh sự khác nhau giữa nam và nữ (16)
      • 1.2.4. Tỷ lệ thân thể trẻ em (17)
    • 1.3. Cấu trúc hình thái trên khuôn mặt người (18)
  • Chương 2: Xương , cơ (25)
    • 2. Xương - Cơ (26)
      • 2.1. Xương đầu (26)
      • 2.2. Cơ đầu (29)
      • 2.3. Xương thân (34)
        • 2.3.1. Cột sống (35)
        • 2.3.2. Lồng ngực (37)
      • 2.4. Các cơ vùng cổ và thân (0)
        • 2.4.2. Các cơ vùng ngực (45)
        • 2.4.3. Các cơ vùng bụng (46)
  • Chương 3. Xương chi và cơ chi (50)
    • 3. Xương chi và cơ chi (50)
      • 3.1. Xương chi trên (50)
      • 3.3. Xương chi dưới (62)
      • 3.4. Cơ chi dưới (66)
  • Chương 4: Tư thế động tác của cơ thể người khi vận động (0)
    • 4. Vận dụng giải phẫu để vẽ dáng động (74)
      • 4.1. Tư thế động tác cơ thể người trong bước đi và chạy (74)
      • 4.2. Tư thế của con người trong bước đi (74)
      • 4.3. Tư thế người trong bước chạy (75)
  • Chương 5: Ghi chép hình bộ xương, vẽ lớp cơ phủ bên ngoài (77)

Nội dung

(NB) Giáo trình Giải phẫu tạo hình cung cấp cho người học những kiến thức như: Khái quát chung; Xương, cơ; Xương chi và cơ chi; Tư thế động tác của cơ thể người khi vận động; Ghi chép hình bộ xương, vẽ lớp cơ phủ bên ngoài. Mời các bạn cùng tham khảo!

Những kiến thức chung

Vai trò của giải phẫu tạo hình đối với mỹ thuật

Giải phẫu người đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nhân chủng học Các nhà nghiên cứu sử dụng hình thái và cấu trúc xương để phân biệt giữa các chủng tộc khác nhau của con người qua các thời kỳ lịch sử.

Trong y học, việc chẩn đoán, phẫu thuật và điều trị bệnh cho con người chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi người thầy thuốc nắm vững kiến thức về giải phẫu và sinh lý.

Trong mỹ thuật, hoạ sỹ và nhà điêu khắc cần nắm vững bản chất cơ thể con người, không chỉ dừng lại ở hình dạng bên ngoài Để tạo ra tác phẩm chính xác, họ phải có kiến thức cơ bản về giải phẫu học, bao gồm cấu tạo xương, cơ và tỷ lệ các bộ phận cơ thể Sự hiểu biết này rất quan trọng, ngay cả khi họ muốn đơn giản hóa, cách điệu hoặc biến dạng hình thể con người trong tác phẩm của mình.

Lịch sử hội họa thế giới cho thấy các họa sĩ thiên tài thời Phục hưng ở Châu Âu thế kỷ XV rất chú trọng đến giải phẫu, tạo ra những nhân vật sống động và chính xác về hình thái cấu trúc và tỷ lệ con người Nổi bật trong số đó là Leonardo da Vinci với tác phẩm "Đức mẹ và chúa hài đồng", và Michelangelo với các tác phẩm như "Chúa tạo ra Ađam", "Ngày và Đêm", và "Sự phán xét cuối cùng".

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều trường phái nghệ thuật mới như Dã thú, trừu tượng, Biểu hiện và Siêu thực đã ra đời, phản ánh trào lưu cách tân trong nghệ thuật hội hoạ Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật dẫn đến việc hình, không gian và nhân vật được thể hiện một cách đơn giản, cách điệu và biến dạng Tuy nhiên, kiến thức về giải phẫu học vẫn rất quan trọng, vì chỉ khi hiểu rõ cấu trúc cơ thể, nghệ sĩ mới có thể đạt được sự cách điệu đẹp mắt Nghiên cứu các tài liệu và tác phẩm của những danh hoạ như Đa-ly, Gô-ganh, Ma-tít-xơ và Pi-cát-xô cho thấy họ đều rất thành thạo trong lĩnh vực giải phẫu học.

Môn Giải phẫu học đã được đưa vào chương trình đào tạo tại trường Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1925, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam Những họa sĩ bậc thầy như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn và Lương Xuân Nhị, là những sinh viên đầu tiên của trường, đã thành công trong sự nghiệp sáng tác không chỉ về nội dung và bố cục mà còn trong việc áp dụng kiến thức giải phẫu học để xây dựng hình tượng con người Các tác phẩm nổi bật như “Thiếu nữ bên hoa Huệ” và “Đốt đuốc đi học” của Tô Ngọc Vân, “Em Thúy” của Trần Văn Cẩn, cùng “Gia đình thuyền chài” của Lương Xuân Nhị đã thể hiện rõ điều này.

Ngày nay, đối với sinh viên mỹ thuật, "giải phẫu tạo hình" đóng vai trò quan trọng trong việc giúp họ xây dựng và cảm nhận chính xác về cơ thể người khi vẽ hình hoạ Đây là một bộ môn cơ bản thiết yếu, chiếm phần lớn thời gian học tập chuyên môn Việc ứng dụng kiến thức giải phẫu vào các bài vẽ ký hoạ, bố cục và trang trí sẽ giúp sinh viên tạo ra những tác phẩm với hình dáng người chính xác, đẹp mắt và sinh động hơn.

1.1.1 Bộ môn nghiên cứu cơ sở đặt nền tảng tạo hình Đối với mỹ thuật, bộ môn Giải phẫu tạo hình chủ yếu nghiên cứu các bộ phận chính của cơ thể người Đó là xương và cơ ( đây là những bộ phận chính xây dựng nên vóc dáng của cơ thể), tỷ lệ toàn thân, tỷ lệ từng bộ phận Bởi lẽ những cử động thân thể người trước hết phải biểu lộ ở xương và cơ Nếu xét riêng biệt thì từng xương ở người trưởng thành là những phần cứng nhắc không thể thay đổi được trong khi toàn thể bộ xương lại có sự linh động khác thường nhờ các khớp và những cơ Điều đáng lưu ý là chiều cao của con người và tỷ số các phần khác nhau của cơ thể xác định bằng bộ xương Trái lại những kích thước và độ lớn của bề mặt cơ thể lại phụ thuộc hệ thống cơ và các mô mỡ Nhiều phần của xương hiện rõ trên cơ thể ( xương trán, xương nơi khuỷu tay, xương nơi đầu gối…) với hình thái rõ ràng ngay dưới da, nhưng những hình thù ngay bên ngoài đó khó có thể xác định đúng nếu ta không biết các xương được cấu tạo như thế nào

Nghiên cứu tỷ lệ cơ thể con người giúp sinh viên hiểu rõ vẻ đẹp hài hòa và mối tương quan giữa các bộ phận chính, cũng như sự biến đổi theo tuổi tác Điều này rất quan trọng khi vẽ nhân vật trẻ em, tránh việc tạo ra hình vẽ thu nhỏ của người già, một sai lầm thường gặp ở những người không nghiên cứu giải phẫu Trong quá trình học giải phẫu tạo hình, sinh viên không cần nhớ tên toàn bộ xương và cơ, mà cần nắm vững hình dáng, tỷ lệ và cấu trúc của các bộ phận trên cơ thể, đặc biệt là các xương chính và cơ ảnh hưởng đến hình dạng bên ngoài của con người.

1.1.2 Chi phối trực tiếp tới bộ môn hình họa

Nghiên cứu bộ môn Giải phẫu tạo hình yêu cầu sinh viên ghi chép và vẽ minh họa cho từng phần và bài học, với ý thức tạo hình rõ ràng Cần tránh lối vẽ giống như minh họa môn sinh vật ở trường phổ thông Sinh viên nên thường xuyên áp dụng kiến thức giải phẫu vào các môn học cơ bản của hội họa và điêu khắc Ngoài việc nghiên cứu xương và cơ trên mô hình và giáo cụ trực quan, sinh viên cũng cần thực hành qua các bài ký họa và các dáng hoạt động đơn giản, nhằm tìm hiểu cấu trúc và sự liên kết giữa xương và cơ.

Các bài tập xác định vị trí cơ dựa trên tượng lột da giúp người học hiểu rõ hơn về cấu trúc xương Việc áp dụng phương pháp này không chỉ nâng cao kiến thức mà còn hỗ trợ trực tiếp cho các bài hình hoạ.

Khi nghiên cứu một môn học, cần tránh quan niệm học xong để đó mà không nhận thấy tác động tích cực của nó đến các bài nghiên cứu sâu sắc Việc nắm bắt kiến thức một cách bao quát và vững chắc là rất quan trọng Đồng thời, cũng cần tránh việc mô tả quá tỉ mỉ từng bộ phận không cần thiết, vì điều này có thể làm mất đi cảm xúc và sự kết nối với đối tượng nghiên cứu, dẫn đến những bài viết cứng nhắc và khô khan.

1.2 Tỷ lệ cơ thể người

Trong thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu, con người đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện ra các quy luật của cơ thể, trong đó đầu người được sử dụng làm mẫu chuẩn cơ bản cho các đơn vị đo lường.

Hình 1 cho thấy cơ thể con người được chia thành 8 đầu, với trục giữa thân người tạo ra 2 phần đối xứng Chiều cao của cơ thể tương ứng với khoảng cách từ đầu ngón tay giữa bên trái đến đầu ngón tay giữa bên phải Đặc biệt, điểm số 3 trên trục thẳng đứng tương ứng với lỗ rốn, là giao điểm của đường chéo nối giữa đầu xương đòn bên phải và mấu chuyển xương đùi trái, cũng như ngược lại.

Mô tả bằng hình 1/15: Tỷ lệ cơ thể người

Sau đây là nghiên cứu của danh hoạ Lê-ô-na đờ vanh-xi ( chúng tôi đưa ra đây nhằm mục đích tham khảo)

Dựa trên nhiều tài liệu nghiên cứu về con người, các nhà giải phẫu học hiện nay đã xác định một số nguyên tắc về tỷ lệ cơ thể, trong đó đầu được sử dụng làm đơn vị so sánh với tỷ lệ toàn thân.

- Nam giới ở tuổi trưởng thành đo được 15/2 đầu

- Nữ giới ở tuổi trưởng thành đo được 34/5 đầu

Cấu trúc hình thái trên khuôn mặt người

- Nhìn trực diện ta thấy mắt ở vào đường phân đôi theo chiều ngang của mặt tính từ đỉnh đầu đến cằm

- Mặt: từ chân tóc đến cằm được chia làm 3 phần:

Chiều dài từ chân tóc đến lông mày, từ lông mày đến chân mũi, và từ chân mũi đến cằm cần được cân đối Ngoài ra, tỷ lệ chiều ngang giữa mắt, mũi và miệng cũng phải đồng đều để tạo nên sự hài hòa cho khuôn mặt.

- Bề ngang của 1 con mắt bằng khoảng cách giữa 2 con mắt

- Hai đầu mắt dóng thẳng xuống bằng bề ngang của mũi ( trong nhiều trường hợp mũi rộng hơn 1 chút )

- Miệng rộng hơn mũi, nếu so sánh giữa mắt và miệng thì tỷ lệ bằng khoảng 2/3

- Chiều ngang của mặt bằng từ đỉnh đầu tới chân mũi

Tai nằm giữa lông mày và chân mũi, với trẻ em có bộ phận sọ dài và lớn hơn mặt, khiến đường phân đôi mặt thường ở vị trí cao hơn mắt Tỷ lệ giữa sọ và mặt sẽ giảm chênh lệch theo từng lứa tuổi, dẫn đến sự biến đổi của đường phân đôi mặt.

Trẻ sơ sinh: đường phân đôI mặt ở trên lông mày

Trẻ 1 tuổi: đường phân đôI mặt gần chạm lông mày

Trẻ 4 tuổi: đường phân đôI mặt chạm lông mày

Thanh niên: đường phân đôi mặt nằm ở mí mắt trên

Các cơ trên mặt người tuy không nhiều nhưng hoạt động rất phức tạp, đóng vai trò quan trọng trong việc biểu lộ tình cảm và giác quan Vì vậy, nét mặt là phương tiện chính để thể hiện cảm xúc của nhân vật Đối với các họa sĩ, việc hiểu biết cấu trúc các bộ phận trên mặt người là điều cần thiết.

Tóc trên da đầu thường có kiểu dáng đồng nhất với đường chân tóc rõ ràng trên trán Đặc điểm của tóc phụ thuộc vào chủng tộc và từng cá nhân, với sự khác biệt giữa tóc quăn và tóc thẳng do cấu trúc sợi tóc Màu sắc tóc có thể thay đổi do tác động của không khí và ánh sáng, và theo thời gian, tóc sẽ phai màu Thêm vào đó, ở vùng thái dương, sau gáy và trước trán, tóc thường mềm mại và có kích thước sợi nhỏ hơn.

Lông mày nằm trên ụ mày, có màu sắc tương đồng với tóc và mọc không theo một chiều nhất định Phần đầu lông mày thường rậm và mọc thẳng đứng, sau đó ngả dần ra ngoài và đến cuối thì nằm ngang, thưa và nhỏ lại Chiều cao của lông mày có sự khác biệt giữa từng người, tạo nên bề mặt của mi mắt trên Da ở khu vực lông mày dày, bên trong có mỡ giúp dễ cử động và liên quan đến các cơ biểu hiện cảm xúc Lông mày của phụ nữ thường mọc trong phạm vi hẹp, với đường cong rõ ràng và kích thước nhỏ.

“ ĐôI mắt là cửa sổ của tâm hồn”

Mắt người ta được tạo nên bởi nhãn cầu nằm trong hố mắt, phía trước có mí mắt trên và mí mắt dưới bảo vệ

Hai hố mắt chứa đựng nhãn cầu, được bao quanh bởi xương hình 4 cạnh, với hốc mũi ở phía trong, gờ hố mắt trên ở phía trên, gờ hố mắt dưới ở phía dưới và gờ cong lõm ở phía ngoài Vị trí nhãn cầu có sự khác biệt giữa các cá nhân; những người có nhãn cầu lồi thường có mi mắt bị đẩy ra ngoài, được gọi là mắt ốc nhồi, trong khi những người có nhãn cầu sâu lại có mắt nhỏ và dài, được gọi là mắt lá dăm.

Cầu mắt ( gọi là nhãn cầu )

Nhãn cầu nằm ở giữa hai hố mắt, nhưng có xu hướng nghiêng lên trên Ở trung tâm nhãn cầu là giác mạc, một bộ phận trong suốt và hơi lồi như mặt kính đồng hồ Lòng trắng bao quanh nhãn cầu, tạo thành một gờ nổi Bên trong giác mạc là mộng mắt, với đồng tử nằm ở giữa, thường bị che khuất một phần bởi mi dưới Màu sắc của mộng mắt có thể là đen, nâu hoặc xanh, tùy thuộc vào chủng tộc, và theo thời gian, màu sắc này có thể nhạt dần khi con người già đi.

Lòng trắng chung quanh giác mạc là bạch mạc ở trẻ em bạch mạc màu trắng thường hơI biếc xanh

Mí mắt, một phần của cơ vòng mi, có chức năng bảo vệ nhãn cầu, với mi trên rộng hơn mi dưới và che kín một phần nhãn cầu Lông mi trên dài và cong hơn lông mi dưới, khi nhắm mắt, lông mi trên sẽ đè lên lông mi dưới, tạo nên hình ảnh đặc trưng Góc đầu mắt tròn và có một hạch mỡ màu hồng gọi là nhũ phụ, trong khi đuôi mắt nhỏ hơn và thường chếch lên, đặc điểm này nổi bật ở người châu Á Khi nhắm mắt, đuôi mày có vẻ thấp hơn do mi trên phủ lên.

Tai là cơ quan thính giác của con người, nằm giữa hai đường ngang qua lông mày và chân mũi Vành tai có hình bầu dục, giống như cái phễu, giúp hứng âm thanh Nó được cấu tạo từ một mảnh cơ thịt sụn gấp lại với hình dáng lồi lõm, và ở giữa vành tai có lỗ tai.

Vành tai được cấu tạo bởi 4 gờ, được phân cách bởi các rãnh, trong đó vành ngoài bắt đầu từ lỗ tai, vòng lên và nối liền với dái tai ở phía dưới Vành tai trong song song với vành ngoài, bao quanh lỗ tai trên và chia thành 2 nhánh Rãnh giữa vành trong và vành ngoài được gọi là rãnh thuyền Cuối cùng, hai mấu nổi ở phía trước và phía tai có chức năng thu hẹp lỗ tai, đồng thời bảo vệ ống thính giác.

Có 4 loại tai: tai tam giác, tai hình chữ nhật, tai bầu dục, tai tròn

Gốc mũi là phần nối giữa xương trán và xương sống mũi, với phần dưới được tạo thành từ các mảnh sụn hình thành nên mũi Lỗ mũi có hình bầu dục, với đầu mũi cao ở giữa và hai cánh mũi hai bên Da mũi rất mỏng, và đầu cùng cánh mũi có chất nhờn giúp da luôn bóng mượt, trong khi phụ nữ thường có mũi nhỏ hơn và ít chất nhờn hơn Có bốn loại mũi chính: mũi lồi, mũi lõm, mũi dọc dừa và mũi hếch.

Môi có vai trò quan trọng trong việc hình thành hình thái của miệng, với độ rộng hay hẹp được quyết định bởi chiều dài của môi Đường khép giữa môi trên và môi dưới nằm ở trung tâm của hàm răng trên Môi trên được chia thành ba đoạn, với nhân trung nằm giữa mũi và môi trên, hai đoạn bên mỏng dần về phía hai bên miệng Môi dưới có hai đoạn ngang nối nhau ở giữa và thon lại ở hai bên mép, trong khi môi trên dài hơn và nhô ra phía trước Độ dày của môi thay đổi theo từng cá nhân và chủng tộc; ở người già, khi răng rụng, môi có xu hướng thụt vào, tạo nên hiện tượng được gọi là móm.

Các trạng thái biểu lộ tình cảm của con người được hình thành từ sự co cơ, với sự phối hợp của nhiều nhóm cơ khác nhau để thể hiện cảm xúc một cách rõ ràng.

Trên hình 21 là những hình vẽ đơn giản để nhấn mạnh các cơ chính biểu lộ tình cảm nét mặt của con người

Hình a: nét mặt bình thường các cơ không có biến đổi rõ rệt

Hình b: Góc miệng được kéo lên bởi cơ nanh và cơ mút biểu hiện nét mặt vui tươI hớn hở

Cơ tiếp lớn kéo góc miệng lên trên và ra ngoài, tạo nên hình dáng cong của miệng và hình thành nếp nhăn hai bên mép, biểu thị trạng thái vui vẻ và hớn hở.

Hình d: là sự kết hợp của cơ mày, cơ tháp mũi và cơ tam giác môI biểu hiện nét mặt hung dữ, kiêu kỳ

Hình e: Cơ tam giác môi kéo mép xuống ( bĩu môi dưới ) biểu hiện người buồn bã, khinh bỉ

Hình f: do tác động của cơ búp cằm, nét mặt thể hiện sự nức nở sắp khóc

Hình g: Kết hợp cơ trán, cơ tam giác môi và cơ ngang mũi biểu hiện sự chán chường tuyệt vọng

Hình h: cơ trán bị đẩy lên do cơ mày dướn gây nét mặt ngạc nhiên

Hình i: cơ trán co còn cơ mày chau lại tạo cảm giác đang suy nghĩ

Hình 22 minh họa các nét vẽ đơn giản thể hiện tình cảm con người qua các cơ quan chính như mắt, mũi và miệng Khi vẽ khuôn mặt trẻ em, cần chú ý đến một số đặc điểm đặc trưng để thể hiện đúng cảm xúc và biểu cảm.

Khuôn mặt trẻ em nhỏ hơn so với phần còn lại của cơ thể

Phía sau đầu nhô ra và cổ nhỏ hơn

Với những trẻ càng nhỏ tuổi 2 mắt càng ở xa nhau hơn

Lông mi trông có vẻ dài hơn trong khi lông mày lại mỏng hơn

Tóc thường nhỏ sợi, thưa và mềm

Mũi trong thời kỳ đầu của trẻ thưòng hếch lên, vách ngăn giữa mũi thường phẳng Môi trên nhô ra, khoé miệng tụt vào sâu hơn

Cằm của trẻ ít lồi hơn và hơi thụt vào ở những trẻ nhỏ tuổi, má thường tròn và bầu hơn nhìn không rõ xương

Những biểu hiện tình cảm trên khuôn mặt

Câu hỏi ôn tập và vận dụng:

Xương , cơ

Xương - Cơ

Xương đầu gồm 22 xương được chia làm 2 phần: xương sọ và xương mặt Trong đó xương hàm dưới là xương duy nhất cử động được b Xương sọ

Xương sọ là một cấu trúc xương hình trái xoan khi nhìn từ trên xuống và hình cầu từ phía sau, bao gồm 8 xương dẹp và cong được kết nối bằng các khớp răng cưa không di động Chức năng chính của xương sọ là chứa đựng và bảo vệ bộ não, đồng thời khi nhìn từ bên, toàn bộ xương sọ có hình dáng hơi chếch lên.

Xương trán là xương dẹp kết nối giữa sọ và mặt, nổi bật rõ ràng ở khuôn mặt Xương này có ba diện: diện trước tiếp xúc với da tạo thành hai ụ trán, bên dưới là hai ụ mày đối xứng Diện sau của xương trán liên kết với đại não, trong khi phần dưới của nó tạo thành phần trên của hố mắt và hố mũi.

- Xương đỉnh: hai xương đỉnh nằm trên đỉnh đầu giữa xương trán và xương chẩm, phía dưới tiếp giáp với xương tháI dương

Xương chẩm là xương nằm ở phần sau của đầu, có hình dạng giống như con trai, với lồi chẩm ở phía sau Phía dưới xương chẩm có lỗ chẩm, nơi hộp sọ kết nối với đốt sống và cũng là lỗ đại não xuyên qua Hai bên lỗ chẩm có hai lồi cầu, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của hộp sọ.

- Xương thái dương: hai xương tháI dương hình con trai nằm hai bên tháI dương được chia làm 3 phần

Xương đá là một phần nằm dưới sọ, thường không dễ nhận thấy Nó tạo thành một khối xương đặc cứng bên ngoài, bên trong chứa các bộ phận liên quan đến thính giác và lỗ ống tai.

Xương trai là một phần quan trọng của thành bên hộp sọ, với mỏm ngang kéo dài từ trên xuống lỗ tai Nó tiếp giáp với xương gò má qua mỏm tiếp, tạo nên cung tiếp, và phía trên thì tiếp xúc với xương đỉnh.

+ Xương chũm: kéo dài từ trên xuống thành 1 mỏm khoẻ nhưn chũm cau, nổi gồ phía sau ( nơI không có tóc ) gọi là mỏm chũm

- Xương bướm: là xương đơn nằm giữa nền sọ Xương này chỉ nhìn thấy 1 phần nhỏ nằm cạnh xương thái dương

- Xương sàng: hoàn toàn không nhìn thấy ở bên ngoài Nó góp phần tạo nên vách lá mía và vách ngoài của hốc mũi c Xương mặt

Xương mặt bao gồm 14 xương, trong đó xương mũi, xương má, xương hàm trên và xương hàm dưới là những xương chính tạo nên hình dáng bên ngoài của khuôn mặt Những xương này cũng hình thành các hố mắt, hố mũi và hố miệng, góp phần quan trọng vào cấu trúc và chức năng của khuôn mặt.

Xương má là xương kết nối với xương trán, xương thái dương và xương hàm trên Nó có hai cạnh, cạnh trước và cạnh bên, gặp nhau tại điểm cao nhất gọi là gò má.

- Xương mũi: hai xương mũi tiếp khớp ở ngang đường chân mũi Phía ngoài tiếp khớp với xương hàm trên, bên trên tiếp khớp với xương trán và xương sàng

Xương hàm trên là xương chính cấu tạo nên khuôn mặt, bao gồm hai xương ghép lại với nhau Nó kết nối với các xương khác để hình thành hố mắt, hố mũi và hố miệng Cấu trúc của xương hàm trên bao gồm thân xương và bốn mỏm.

+ Mỏm trên tiếp giáp với xương trán

+ Mỏm gò má nối với cung tiếp phía bên

+ Mỏm răng phía dưới có 8 lỗ chân răng

+ Mỏm khẩu cái ở mặt trong tạo nên vòm miệng

- Xương hàm dưới: là xương duy nhất cử động được Xương hình móng lừa gồm

Xương hàm dưới gồm một thân xương và hai nhánh dọc, được gọi là quai hàm Mỏm vẹt nằm ở bờ trên quai hàm phía trước, là nơi bám của cơ thái dương, trong khi lồi cầu ở phía sau là mấu chuyển động khớp với hõm khớp của xương sọ gần tai Phía trước xương hàm dưới có lồi cằm, và bên trên thân xương là bờ hố răng.

Hình 2.4 Xương hàm dưới của phụ nữ thon hơn nên khuôn mặt thường có hình trái xoan, ở nam giới nở hơn nên khuôn mặt trở nên vuông vức

Người lớn có tổng cộng 32 chiếc răng, với mỗi hàm chứa 16 chiếc Cấu trúc của mỗi nửa hàm bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh, 2 răng hàm bé và 3 răng hàm lớn Khi ngậm miệng, các răng cửa trên sẽ nhô ra một chút để che phủ răng cửa dưới.

Răng của phụ nữ nhỏ và đều hơn, men răng trắng hơn của nam giới

Cốt lõi của đầu người được xác định bởi xương, bao phủ bởi các cơ có chức năng phức tạp như giương, hạ mi mắt, chuyển động hàm khi nhai và điều tiết không khí khi nói Hệ cơ này không chỉ thể hiện cảm xúc mãnh liệt như sợ hãi, đau đớn, tức giận, buồn rầu, mà còn phản ánh cá tính và tính khí hàng ngày Tâm trạng tiêu cực kéo dài có thể để lại dấu vết trên khuôn mặt, hình thành nếp nhăn vĩnh viễn theo thời gian Tuổi tác cũng được nhận diện qua những nếp nhăn sâu, cho thấy dấu ấn của thời gian trên làn da.

Khối cơ cử động hàm dưới

Khối cơ sọ rất mỏng và gắn liền với da, được gọi là cơ dưới da Những cơ này không có hình dạng rõ rệt trên bề mặt da, nhưng chúng tạo ra các nếp nhăn khi biểu hiện cảm xúc.

Cơ trán: gồm 2 cơ nằm trên trán rộng và dẹt một đầu bám vào ụ mày còn đầu kia chạy ngược lên phủ ụ trán và bám vào cơ bó đầu

Tác dụng: làm nhăn trán khi rướn cao lông mày

Cơ chẩm là cơ nằm ở vùng phía sau của đầu, bắt nguồn từ đường cong trên của xương chẩm và kéo dài xuống tới mỏm chũm, với phần trên gắn liền với cơ bó đầu Chức năng chính của cơ chẩm là giúp kéo đầu ra sau, đồng thời phối hợp với cơ trán để thể hiện các biểu cảm tình cảm.

Cơ tai bao gồm ba cơ: cơ tai trên, cơ tai trước và cơ tai sau, nằm bên ngoài cơ thái dương xung quanh nửa trên lỗ tai Đây là di tích của cơ tai động vật, đã bị thoái hóa do sự tiến hóa của con người khi đứng thẳng, dẫn đến việc các cơ này không còn chức năng vận động.

Những cơ mặt với các vị trí nhất định trên xương mặt tạo nên các trạng thái biểu hiện tình cảm của con người gồm 3 khối:

Khối cơ mắt cơ mũi

Khối cơ mắt: gồm cơ mày và cơ vòng mi

Cơ mày: ở dưới nửa của lông mày, bám vào xương trán gần gốc mũi và hướng ra ngoài bám vào phần trong cơ vòng mi

Tác dụng: dướn cao lông mày lúc ngạc nhiên, chau mày khi đau đớn tức giận

Cơ vòng mi là cơ bám quanh hố mặt, bao gồm hai phần: phần mi mắt nằm ở trong chiều dày của mi mắt và phần hố nằm ở chân nền xung quanh hố mắt.

Tác dụng của cơ vòng mi là khép và mở mi mắt

Khối cơ mũi: bao gồm cơ tháp mũi, cơ ngang mũi và cơ nở cánh mũi

Xương chi và cơ chi

Xương chi và cơ chi

Xương chi trên gồm có 2 phần chính: những xương đai vai và những xương tay

Chi trên gắn liền với thân mình gồm có 2 xương Đó là xương đòn ở phía trước, xương bả vai ở phía sau

Là 1 xương hình ống xong hình chữ S nằm giữa chi trên và xương ức Xương dẹp theo hướng trên dưới Đầu ngoài nối với mỏm cùng vai của xương bả vai Đầu trong khớp với xương ức Đoạn giữa là thân xương

- Xương đòn có chức năng quan trọng giữ cho khớp bả vai có 1 khoảng cách nhất định với xương ức giúp chi trên hoạt động tự do

Hình tam giác nằm ở phía sau lồng ngực, giữa xương sườn thứ 2 và thứ 8, với góc ngoài xương bả vai có mỏm cùng vai ở phía sau và mỏm quạ ở phía trước.

Mặt sau xương có gai vai được chia thành hố trên và hố dưới gai Bờ sống song song với cột sống, bờ nách là bờ ngoài, và bờ vai là bờ trên Trên hõm nách có hố khớp để khớp với chỏm xương cánh tay.

Xương bả vai di chuyển lắc lư đầu ngoài theo các động tác của tay như đưa sang ngang hoặc giơ tay lên cao

- Xương tay: được chia làm 3 khối: Khối xương cánh tay, khối xương cẳng tay và khối xương bàn tay

Lầ 1 xương dài hình ống, thân xương không đều trông như bị xoắn gồm 1 thân xương và 2 đầu Đầu trên là 1 chỏm bán cầu bọc sụn khớp với hõm khớp của xương bả vai Tiếp theo là cổ xương, phía dưới có mấu động lớn nằm ở phía ngoài và mấu động bé ở phía trước Có 2 mào tương ứng chạy về phía thân cạnh hai mấu gọi là mào mấu động lớn và mào mấu động bé Đầu dưới xương cánh tay rộng và dẹt theo hướng trước mặt sau có diện khớp ròng rọc để khớp với hõm khớp bán nguyệt của xương trụ Mặt trước có hố vẹt, mặt sau có hố khuỷu Hố ngoài ròng rọc có 1 chỏm tròn gọi là lồi cầu khớp với đầu trên xương quay

Gồm có 2 xương nằm song song bên nhau là xương trụ và xương quay

Xương trụ là xương dài nằm ở phía trong, có hình dạng giống như cờ lê Đầu trên của xương có hõm khớp hình bán nguyệt, với một gờ ngăn cản sự trượt ngang của hõm khớp Hõm khớp này tạo thành hai mỏm: mỏm vẹt ở phía trước khớp kết nối với hố vẹt của xương cánh tay khi gấp cẳng tay, và mỏm khuỷu ở phía sau để khớp với hố khuỷu xương cánh tay khi duỗi cẳng tay Thân xương có hình lăng trụ, với đầu dưới nhỏ hơn, bên trong có mỏm trâm nhô ra và một rãnh gân của cơ trụ sau.

Xương nằm ở phía ngoài có đầu trên nhỏ và đầu dưới lớn hơn, với đầu trên là đài quay lõm hình lòng chảo khớp với lồi cầu của xương cánh tay Phía dưới đầu xương là cổ xương, và dưới cổ có củ lồi quay xù xì Thân xương có hình lăng trụ với ba mặt, đầu dưới rộng hơn khớp với các xương cổ tay, bên ngoài có mỏm trâm lớn và bên trong có hõm khớp nhỏ kết nối với đầu xương trụ.

Hai xương cẳng tay, gồm xương quay và xương trụ, có mối quan hệ chặt chẽ trong các động tác Khi bàn tay ở vị trí ngửa, hai xương này đứng song song, nhưng khi bàn tay úp sấp, xương quay ở phía dưới sẽ bắt chéo qua xương trụ, tạo thành hình chữ X.

- Cấu trúc của khuỷu tay

Khi vẽ khuỷu tay, cần chú ý đến ba khu vực xương nổi trên bề mặt: mỏm lồi cầu xương cánh tay, mỏm khuỷu xương trụ và đầu xương quay Mỏm lồi cầu phía ngoài dễ nhận thấy khi co cẳng tay lại Ở khuỷu tay, xương trụ lớn và khớp với xương cánh tay tạo thành một bản lề Mặc dù đầu xương quay ít khi lộ ra bên ngoài, nó vẫn xoay chuyển khi cẳng tay xoay trong khi xương trụ giữ nguyên vị trí.

- Hình 3.6 Xương bàn tay toàn bộ bàn tay gồm 27 xương chia làm 3 khối:

Khối xương cổ tay: gồm 8 xương nhỏ hình hộp, xếp thành 2 hàng

- Hàng trên kể từ ngoài vào gồm có:

+ Xương thuyền: giống hình cáI thuyền

+ Xương nguyệt: hình bán nguyệt

+ Xương tháp: giống hình tháp

+ Xương đậu: nhỏ như hạt đậu

- Hàng dưới kể từ ngoài vào có:

+ Xương thang: giống hình thang

+ Xương thê: giống hình thang nhỏ

+ Xương cả: đẫy nhất trong các xương cổ tay

+ Xương móc: có 1 móc ở mặt lòng bàn tay

Tám xương này tạo thành một khối dẹt, với cạnh trên đều đặn và cong lên để khớp với xương cẳng tay Cạnh dưới của khối xương khớp với các đốt xương của bàn tay, trong khi mặt sau có hình cong lồi và mặt trước lõm giống như lòng máng.

Khối xương đốt bàn tay:

Bàn tay bao gồm 5 xương dài hình lăng trụ tam giác, với đầu trên có diện khớp phẳng gọi là nền khớp, khớp với xương cổ tay và xương đốt bên cạnh Đầu dưới của xương có diện khớp tròn gọi là chỏm, với những lõm ngang gồ ghề, tạo nên đặc điểm riêng biệt của từng xương từ ngoài vào.

- Đốt 1 to và ngắn, đầu trên duy nhất có diện khớp hình yên ngựa khớp với xương thang, bảo đảm cho ngón cái vận động tự do

- Đốt 3 có mỏm trâm phía sau

- Đốt 5 ngắn và mảnh nhất

Xương bàn tay con người có cấu trúc đặc biệt, trong đó đốt 1 của ngón cái tách biệt với các đốt khác, tạo thành một khối cong Đặc điểm này cho phép ngón cái tiếp xúc với bốn ngón còn lại, từ đó nâng cao khả năng sử dụng công cụ lao động một cách hiệu quả.

Khối xương đốt ngón tay

Gồm 14 xương chia 5 ngón, mỗi ngón có 3 đốt, riêng ngón cáI chỉ có 2 đốt, đầu trên các đốt có diện khớp trũng khớp với khớp tròn của chỏm xương đốt bàn tay Đầu dưới các đốt 1 và 2 gọi là chỏm có diện khớp ròng rọc để khớp với diện khớp đôi Đầu dưới của các đốt ngón tay có gờ để đỡ móng tay

Cấu tạo bàn tay người đã trải qua sự biến đổi do lao động, với sự thay đổi quan trọng nhất là xương đốt bàn 1 (ngón cái) phát triển lớn hơn hẳn so với các ngón khác Điều này cho phép ngón cái đối diện với các ngón tay khác, từ đó nâng cao khả năng sử dụng công cụ lao động hiệu quả hơn.

Xương đốt ngón tay gồm 14 đốt, trong đó mỗi ngón tay có 3 đốt, riêng ngón cái có 2 đốt Các đốt tiếp giáp với xương bàn tay phía trên chỉ có một diện khớp trũng, trong khi đầu dưới của đốt trên và đốt giữa có khớp ròng rọc Đặc biệt, các đốt đầu ngón tay được thiết kế với gờ để hỗ trợ móng tay.

Cơ quạ cánh tay là một cơ hình thoi, bắt nguồn từ mỏm quạ của xương bả vai và chạy chéo xuống ngoài, bám vào mặt trong của xương cánh tay Khi tay để xuôi, cơ này không hiện rõ, nhưng khi giơ tay lên cao, nó sẽ nổi bật ở vùng nách.

Tác dụng của cơ quạ cánh tay là giúp nâng tay về phía trước, đưa cánh tay vào thân mình và dang cánh tay

Tư thế động tác của cơ thể người khi vận động

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w