1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Lịch sử âm nhạc thế giới - Trường Cao đẳng Lào Cai

113 162 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bài 1. Âm nhạc Châu âu thời kỳ nguyên thủy, cổ đại, trung cổ (0)
    • 1. Âm nhạc thời kỳ nguyên thủy (12)
    • 2. Âm nhạc thời kỳ cổ đại (13)
    • 3. Âm nhạc thời kỳ trung cổ (14)
      • 3.1 Âm nhạc dân gian, âm nhạc nhà thờ (14)
        • 3.1.1 Âm nhạc dân gian (14)
        • 3.1.2 Âm nhạc nhà thờ (14)
      • 3.2. Các trung tâm âm nhạc thời Trung cổ (15)
        • 3.2.1. Âm nhạc Trung Hoa (15)
        • 3.2.2. Âm nhạc Ả Rập (15)
        • 3.2.3. Âm nhạc Slaves (15)
        • 3.2.4. Âm nhạc tây âu (15)
  • CHƯƠNG II. ÂM NHẠC CHÂU ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG (17)
    • Bài 1: Âm nhạc thời kỳ Phục hưng (0)
      • 1. Khái quát Âm nhạc Phục hưng (17)
      • 2. Các trung tâm Âm nhạc nổi bật (17)
  • CHƯƠNG III: ÂM NHẠC CHÂU ÂU THẾ KỶ XVII - XVIII (20)
    • Bài 1: Nhà soạn nhạc G. F. Henden (20)
      • 1. Thân thế sự nghiệp (20)
      • 2. Ngôn ngữ Âm nhạc (21)
      • 3. Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu (21)
    • Bài 2: Nhà soạn nhạc Giohan Xebaxchien Bắc (22)
      • 1. Tiểu sử (22)
      • 2. Ngôn ngữ và thủ pháp âm nhạc (22)
      • 3. Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu (23)
  • CHƯƠNG IV: TRƯỜNG PHÁI ÂM NHẠC CỔ ĐIỂN VIÊN (25)
    • Bài 1: Khái quát trường phái Âm nhạc Cổ điển Viên (25)
      • 1. Sự hình thành và phát triển (25)
      • 2. Những thành tựu cơ bản (25)
    • Bài 2: Nhà soạn nhạc Christophe Wilibald Gluck (25)
      • 1. Cược đời và sự nghiệp (26)
      • 2. cuộc cải cách nhạc kịch của gluck (27)
    • Bài 3: Nhà soạn nhạc Josepn Haydn (30)
    • Bài 4: Nhà soạn nhạc W. A. Mozart (33)
      • 2. Ngôn ngữ âm nhạc (33)
    • Bài 5: Nhà soạn nhạc Ludwig Van Beethoven (36)
      • 1.1 Những năm tuổi thơ ở quê hương (36)
      • 1.2 Thời sớm ở Viên (1792-1802) (36)
      • 1.3 Giai đoạn thành thục (1803- 1812) (36)
      • 1.4 Những năm cuối đời (1816 -1827) (36)
      • 3.1 Các tác phẩm Sonate cho Piano (37)
      • 3.2 Các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng (37)
  • CHƯƠNG IV. CHỦ NGHĨA ÂM NHẠC LÃNG MẠN (39)
    • Bài 1: Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn (39)
    • Bài 2: Nhà soạn nhạc F. Schubert (41)
      • 3. Thể loại và các tác phẩm tiêu biểu (41)
    • Bài 3: Nhà soạn nhạc C. M. Vêbe (Carl Marie Weber) (44)
      • 2. Sự nghiệp sáng tác (44)
    • Bài 4: Nhà soạn nhạc Phêlit Menđenxon Batođi (46)
    • Bài 5: Nhà soạn nhạc Robert Schuman (49)
    • Bài 6: Nhà soạn nhạc Giochino Rossini (51)
      • 2. Thể loại và các tác phẩm tiêu biểu (51)
    • Bài 7: Nhà soạn nhạc Hector Berlioz (53)
    • Bài 8: Nhà soạn nhạc Federic Chopin (54)
    • Bài 9: Nhà soạn nhạc Mikhail Glinka (56)
    • Bài 10: Nhà soạn nhạc Frank Liszt (58)
    • Bài 12: Nhà soạn nhạc Johanhs Bramhs (59)
    • Bài 13: Nhà soạn nhạc Josph Verdi (61)
    • Bài 14: Nhà soạn nhạc George Bizet (63)
      • 1. cuộc đời và sự nghiệp (63)
    • Bài 15: Nhà soạn nhạc Bedrich Smetana (69)
    • Bài 16: Nhà soạn nhạc Antonin Dvorak (1841- 1904) (75)
    • Bài 17: Nhà soạn nhạc Edvard Grieg (80)
      • 3.1. Sáng tác piano; (83)
      • 3.2 sonate; (83)
      • 3.3. concerto piano và dàn nhạc - amoll op.16 (83)
    • Bài 19: Các nhạc sĩ nhóm khỏe của Nga (85)
      • 1. M.a.balakirev (1836-1910) (86)
      • 2. césar cui (1835-1918) (87)
      • 3. a.p.borodine (1833-1887) (87)
        • 3.1. cuộc đời và sự nghiệp (87)
        • 3.2. tác phẩm (88)
      • 4. M. p. moussorgski (1839-1881) (89)
        • 4.1. Cuộc đời và sự nghiệp (90)
        • 4.2. tác phẩm (91)
        • 4.3. Sáng tác khí nhạc (93)
      • 5. N.A.Rimsky-Korsakov (1844-1908) (94)
        • 5.1. Cuộc đời và sự nghiệp (94)
        • 5.2. Tác phẩm (95)
    • Bài 20: V. Piotr illitch Tchaikovski (1840-1893) (97)
      • 2. Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu (98)
        • 2.1. giao hưởng (98)
        • 2.2. Nhạc kịch (99)
        • 2.3. Nhạc vũ kịch (ballet) (100)
        • 2.4. Sáng tác cho các thể loại khác (100)
  • CHƯƠNG V: ÂM NHẠC THẾ KỶ XX (102)
    • Bài 1. Nhà soạn nhạc Claude debussy (102)
      • 2. Hoạt động về Âm nhạc (103)

Nội dung

(NB) Giáo trình Lịch sử âm nhạc thế giới nhằm giới thiệu khái quát về tình hình tiến triển của nền văn hoá âm nhạc qua các thời đại lịch sử; những thành tựu nổi bật theo trình tự thời gian lịch sử, để nêu lên nội dung tư tưởng của từng trào lưu âm nhạc do tác động qua lại của các chuyển biến xã hội; để khẳng định phong cách cũng như thủ pháp của các trào lưu thông qua các tác giả, tác phẩm

Âm nhạc Châu âu thời kỳ nguyên thủy, cổ đại, trung cổ

Âm nhạc thời kỳ nguyên thủy

Thời nguyên thủy được xem là giai đoạn khởi đầu của âm nhạc, phản ánh âm nhạc sơ khai và nguồn gốc của từng cộng đồng Âm nhạc nguyên thủy mang tính tự biên, tự diễn, chưa phát triển thành âm nhạc chuyên nghiệp.

Nghệ thuật nguyên thủy xuất hiện từ thời kỳ đồ đá cũ và đồ đá mới, phản ánh đời sống của các bộ tộc không giai cấp Các cuộc khai quật khảo cổ đã phát hiện ra di tích của nhạc cụ cổ xưa và hình vẽ trên vách đá, mô tả cảnh săn bắn, kịch câm và nghi lễ tín ngưỡng Những hình ảnh này gợi ý rằng âm nhạc đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng Ngoài ra, các nhạc cụ thô sơ như còi và sáo được làm từ xương và vật liệu tự nhiên cũng đã được tìm thấy, minh chứng cho sự phát triển của nghệ thuật âm nhạc trong thời kỳ này.

Hoạt động nghệ thuật nguyên thủy mang tính tập thể, không phân biệt giữa người sáng tác, biểu diễn và thính giả Những bài ca cổ nhất thể hiện tình cảm chung của xã hội bộ tộc và được biểu diễn đồng ca Qua thời gian, hình thức biểu diễn phát triển thành đồng ca và đơn ca, với cấu trúc đơn giản nhưng đa dạng qua biến khúc và thay đổi âm sắc, cường độ Các bài ca còn tích hợp nhiều yếu tố thể loại như lao động, phong tục, ngợi ca, trữ tình và anh hùng.

Một trong những thành tựu nổi bật của văn hóa âm nhạc trong chế độ không giai cấp là sự phát triển của các hình thức âm nhạc đa bè Nhiều bộ tộc đã sáng tạo ra những dạng âm nhạc nhiều bè khác nhau, đặc biệt là thông qua việc phỏng mẫu.

Người nguyên thủy đã sử dụng nhạc cụ như một phương tiện quan trọng để làm phong phú thêm âm thanh và nhấn mạnh nhịp điệu Mặc dù những nhạc cụ này còn thô sơ, nhưng chúng lại đa dạng về chủng loại.

Sáo được làm từ xương động vật hoặc thân cây

Nhạc cụ gõ là những vật thể phát ra âm thanh từ các chất liệu rắn, được tạo ra bằng cách gõ vào nhau, dậm xuống đất, hoặc lắc các vật thể rỗng chứa hạt khô, cứng Chúng thường được sử dụng để đệm cho các hoạt động hát và múa.

Nhạc cụ dây, được phát triển từ chiếc cung dùng để săn bắn, đã trải qua nhiều quá trình thay đổi để hoàn thiện Qua các thời đại, nhạc cụ này được gọi là harpe (hác-pơ).

Nền âm nhạc nguyên thủy có những đặc trưng nổi bật, được kế thừa và phát triển qua các thời đại Đồng thời, nhiều hoạt động âm nhạc này vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn trong một số cộng đồng người ở các khu vực khác nhau trên thế giới.

Kết quả và chứng cứ từ các ngành khoa học cùng với quan sát về sinh hoạt âm nhạc của một số cộng đồng nhỏ cho thấy rằng nhận xét về văn hóa âm nhạc thời nguyên thủy có tính khoa học và logic.

Âm nhạc thời kỳ cổ đại

Thời cổ đại với chế độ chiếm hữu nô lệ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên, sự phân chia đẳng cấp trong xã hội dẫn đến mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, tạo ra nhiều cuộc đấu tranh giữa nô lệ và chủ nô Những xung đột này được phản ánh rõ nét trong nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc.

Nghệ thuật âm nhạc trong chế độ chiếm hữu nô lệ được chia thành hai loại: âm nhạc của đại đa số nhân dân và âm nhạc của tầng lớp quý tộc, vua chúa Trong thời cổ đại, âm nhạc dân gian phát triển song song với sự xuất hiện của âm nhạc chuyên nghiệp Âm nhạc chuyên nghiệp bình dân được thể hiện qua các ca sĩ, nhạc công đi hát rong để kiếm sống Đồng thời, tầng lớp quý tộc và vua chúa có nhu cầu về âm nhạc, dẫn đến việc tuyển chọn nghệ sĩ vào các dinh thự để phục vụ cho các nghi thức và thú vui của họ, hình thành nên âm nhạc chuyên nghiệp quý tộc, cung đình Tất cả những dòng nhạc này đều thuộc về thể loại âm nhạc thế tục.

Trong thời cổ đại, âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong các lễ nghi tín ngưỡng tôn giáo diễn ra tại các đền đài và nhà thờ, mặc dù số lượng không nhiều, nhưng đây chính là dòng nhạc tôn giáo đặc sắc.

Âm nhạc thời cổ đại khác với thời nguyên thủy ở chỗ không còn gắn liền với các mục đích thực dụng Thay vào đó, âm nhạc đã khẳng định vai trò quan trọng trong cuộc sống, được các nhà triết học sử dụng như một công cụ giáo dục.

Âm nhạc thời cổ đại đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong sáng tác, biểu diễn, và chế tác nhạc cụ, đồng thời phát triển giáo dục và đào tạo âm nhạc Các môn khoa học về mỹ học và lý thuyết âm nhạc cũng đã xuất hiện, cùng với sự hình thành cách ghi nhạc tại một số quốc gia Thời kỳ này chứng kiến sự phong phú của âm nhạc với nhiều chủ đề và thể loại mới, tạo nên một di sản văn hóa đa dạng.

Sáng tác dân gian là một kho tàng phong phú, đóng vai trò nền tảng cho nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quý tộc, cung đình, bao gồm 14 đền đài, cung đình và các hoạt động ngoài xã hội.

Những trung tâm Âm nhạc lớn Ở Châu Phi có nền văn minh Ai Cập; Châu Á có nền văn minh Lưỡng Hà, Syrie

Nền văn minh thế giới bao gồm các nền văn minh cổ đại như Xi-ri, Palestrine, Ấn Độ, Trung Hoa, Văn Lang, Âu Lạc, cùng với nền văn minh Hy Lạp và La Mã ở Châu Âu Ngoài ra, Trung và Nam Mỹ cũng có những nền văn minh đặc sắc như Andes và nền văn minh Maya của người da đỏ.

Nền âm nhạc của Ai Cập, Lưỡng Hà, Palestrina, Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp và La Mã rất phong phú và đa dạng, với những kiểu điệu thức và quy luật tiết tấu độc đáo Những đóng góp của các quốc gia này không chỉ tạo ra giai điệu và nhịp điệu hoàn chỉnh mà còn thúc đẩy sự phát triển của nhạc cụ và khoa học nghiên cứu âm nhạc.

Những giá trị nghệ thuật được sáng tạo từ những nền văn minh đầu tiên có ý nghĩa lịch sử rất lớn cho toàn nhân loại.

Âm nhạc thời kỳ trung cổ

Thời Trung cổ kéo dài gần một nghìn năm, đánh dấu sự chuyển mình của âm nhạc châu Âu với nhiều hiện tượng mới Lịch sử âm nhạc trong giai đoạn này phản ánh cuộc đấu tranh giữa nhạc dân gian, nhạc bình dân và nhạc nhà thờ, cũng như nhạc quý tộc, tạo nên một bức tranh đa dạng và phong phú về văn hóa âm nhạc.

3.1 Âm nhạc dân gian, âm nhạc nhà thờ

3.1.1 Âm nhạc dân gian Âm nhạc dân gian tồn tại và phát triển trong quần chúng nhân dân, nó không chỉ đem đến niềm vui mà còn cả sự thông cảm, chia sẻ những nỗi buồn khổ, mà người dân đang chịu đựng, mặt khác vạch trần sự tàn ác của giai cấp thống trị Vì vậy, chính quyền phong kiến và nhà thờ đã truy đuổi và bóp chết họ bằng những luật lệ cực kỳ dã man, hà khắc Nhưng sáng tác dân gian không hề bị tiêu diệt, mà luôn là ngọn nguồn vô tận, tràn đầy sinh lực

Lúc đầu, âm nhạc dân gian có vị trí lớn trong các nhà thờ thiên chúa giáo

Ca sĩ hát rong sử dụng nhiều loại nhạc cụ dân gian phong phú từ các vùng đất họ đã đi qua, bao gồm nhạc cụ dây không có vĩ, nhạc cụ dây có vĩ, nhạc cụ hơi và nhạc cụ gõ.

3.1.2 Âm nhạc nhà thờ Âm nhạc nhà thờ ở thời kỳ đầu của thời Trung cổ đã dùng các giai điệu của nhạc thế tục để phổ lời theo nội dung của họ Âm nhạc là một phương tiện mạnh mẽ để tuyên truyền tôn giáo, thu hút giáo dân, tạo ảnh hưởng to lớn trong quần chúng

Từ thế kỷ IV đến VII, Rôma đã hoàn thiện việc tuyển chọn và sáng tác để hệ thống hóa các lối hát của nhà thờ, trong đó nổi bật là Đồng ca Grigorie, một thể loại hát một bè dành cho đồng ca và đơn ca, dựa trên nội dung của kinh thánh.

Phúc âm và tôn giáo, chỉ biểu diễn trong nhà thờ

Messa là một loại hát nghi lễ phát triển từ đồng ca Grigorie, bao gồm năm phần với giai điệu được hát trên những lời ca không thay đổi Âm nhạc thế tục đã ảnh hưởng đến nhà thờ, dẫn đến sự hình thành một số thể loại khác như Sequentia, Tropi và Dramma liturgia.

3.2 Các trung tâm âm nhạc thời Trung cổ

3.2.1 Âm nhạc Trung Hoa Đến thế kỷ XII - XIII, sân khấu cổ Trung Hoa được hoàn thiện, giống như Opera hoặc ca kịch Đó là thể loại tổng hợp phức tạp, gồm có nhảy múa, động tác kịch câm, đối thoại, hát với phần đệm của nhạc cụ Chủ đề của các vở được xây dựng từ truyền thuyết dân gian, các nhân vật anh hùng trong lịch sử đấu tranh với kẻ thù của nhân dân Tư tưởng chính của các ca kịch này là cuộc đấu tranh giữa cái thiện, ác

Nền mỹ học và lý thuyết âm nhạc Ả Rập đã phát triển vượt bậc trên cơ sở học thuyết cổ về âm nhạc, góp phần hình thành lý thuyết âm nhạc thời Trung cổ ở Tây Âu Người Ả Rập sử dụng đa dạng nhạc cụ như trống, nhạc cụ xóc, sáo, gaida, harpe, sixtre và lyth, và là một trong những nền văn hóa đầu tiên phát triển nhạc cụ dây dùng vĩ kéo (rabab) Âm nhạc Ả Rập chủ yếu mang tính một bè, giai điệu liên kết chặt chẽ với thơ ca, thể hiện nhiều cảm xúc trữ tình phong phú và có tiết tấu tự do Vai trò của âm nhạc Ả Rập trong thời kỳ này rất quan trọng, tạo ra luồng gió mới cho nghệ thuật trữ tình thế tục của các ca sĩ - hiệp sĩ (troubadour).

Người Slaves không chỉ nổi bật với nền nghệ thuật dân ca và dân vũ mà còn sở hữu nhiều loại nhạc cụ đa dạng Nghệ thuật nhạc đàn của họ phát triển mạnh mẽ, với các dàn nhạc bao gồm nhiều tổ hợp nhạc cụ phong phú, tương tự như truyền thống của người Tiệp.

Âm nhạc Slaves thời Trung cổ nổi bật với sự chú trọng vào nghiên cứu và giáo dục âm nhạc, thể hiện qua sự phát triển của khoa đào tạo nghệ thuật tự do tại Đại học tổng hợp Praha, bao gồm cả thực hành và lý thuyết.

Nền âm nhạc Tây Âu thời Trung cổ đã có những bước tiến quan trọng trong lý thuyết âm nhạc, đặc biệt là trong việc hoàn thiện hệ thống ghi nhạc, đọc nhạc và các điệu thức.

Lối ghi nhạc và đọc nhạc:

Lối ghi nhạc và đọc nhạc luôn là thách thức lớn trong âm nhạc Từ thế kỷ IX, nhạc được ghi bằng ký hiệu "nơm" (neuma), nhưng đến thế kỷ XI, Guido d'Arezzo đã có những cải tiến quan trọng trong hệ thống ghi nhạc.

Vào năm 1050, một cải tiến trong hệ thống ghi nhạc đã được thực hiện tại Ý, khi một nhà soạn nhạc sử dụng vần đầu tiên của sáu câu thơ trong bài Hymne để gọi tên các âm thanh: ut, rê, mi, fa, sol, la Ông đã áp dụng bốn đường kẻ ngang với màu sắc khác nhau để biểu thị các âm, trong đó âm đô (ut) được đánh dấu bằng màu vàng và âm fa bằng màu đỏ, giúp tạo ra độ chính xác cao trong việc xác định cao độ âm thanh Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI, vạch nhịp mới xuất hiện trong hệ thống ghi nhạc này Âm nhạc Tây Âu thời Trung cổ được phân loại thành tám điệu thức nguyên thể diatonic, bao gồm bốn điệu thức gốc và bốn điệu thức biến thể, mang tên theo các điệu thức cổ đại.

Học thuyết về quãng đã được phát triển trong thời đại này, đánh dấu sự hình thành các quan điểm mới và mở ra con đường cho nghệ thuật cũng như tư duy lý luận của thế kỷ XVI.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Xinh: Lịch sử âm nhạc thế giới – Tập I (Nhạc viện hà nội – Hà nội 1983)

ÂM NHẠC CHÂU ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG

ÂM NHẠC CHÂU ÂU THẾ KỶ XVII - XVIII

Nhà soạn nhạc G F Henden

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc G F Henden

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Năm 1685, Handel sinh ra ở Halle, Đức, cùng năm với Johann Sebastian Bach Từ khi còn nhỏ, Handel đã bộc lộ tài năng âm nhạc; ở tuổi 7, ông đã trở thành một nhạc công điêu luyện và bắt đầu sáng tác nhạc khi mới 9 tuổi.

Bố Hendel muốn ông học luật nhưng mẹ ông lại đồng ý cho ông học nhạc, nhờ đó, Handel được phép học đàn và sáng tác

Năm 1702, Handel bắt đầu học luật tại Đại học Halle theo ý cha, nhưng sau khi cha ông qua đời, ông quyết định theo đuổi âm nhạc và trở thành người đàn phong cầm cho Đại Giáo đường Kháng Cách ở Halle Năm 1704, ông chuyển đến Hamburg, nơi ông đảm nhận vai trò chơi violon và hapsichord cho dàn nhạc của nhà hát opera Hai vở opera đầu tiên của ông, Almira và Nero, được hoàn thành vào năm 1705, tiếp theo là hai vở opera khác, Daphne và Florindo, vào năm 1708.

Năm 1706, Handel đến Ý và do lệnh cấm nhạc opera của giáo hoàng, ông đã chuyển sang sáng tác nhạc thánh Trong thời gian này, tác phẩm nổi tiếng Dixit Dominus được ra đời vào năm 1707 Handel cũng đã viết nhiều bản cantata mang âm hưởng opera.

Năm 1710, Handel đến Luân Đôn và sống tại đây cho đến năm 1712, nhận khoản tiền trợ cấp 200 bảng Anh mỗi năm từ Nữ hoàng Anne Trong thời gian này, một trong những người bảo trợ quan trọng của ông là Richard Boyle, Bá tước Burlington, người đầu tiên yêu thích âm nhạc của Handel Handel đã trải qua những ngày hạnh phúc ở Luân Đôn và sáng tác nhiều tuyệt phẩm âm nhạc cho bá tước.

Năm 1723, Handel chuyển đến ngôi nhà mới tại số 25 Đường Brook, Luân Đôn, và sống tại đây cho đến khi qua đời vào năm 1759 Tại ngôi nhà này, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng như Messiah, Zadok the Priest, và Music for the Royal Fireworks Hiện nay, ngôi nhà đã trở thành Bảo tàng Nhà Handel, mở cửa cho công chúng trong các dịp trình diễn nhạc Baroque.

Năm 1726, Handel cho ra mắt vở opera Scipio, năm sau ông trở thành thần dân nước Anh Handel nhận làm giám đốc Nhạc viện Hoàng gia từ năm 1720-1728

Tháng 4 năm 1737, tay phải của Handel bị liệt nên ông phải tạm dừng các cuộc trình diễn Sau khi sức khỏe được phục hồi, Handel tập trung soạn các bản oratoria (nhạc Kinh Thánh) thay vì viết nhạc opera

Handel, một nhà soạn nhạc nổi tiếng, chưa bao giờ kết hôn và luôn giữ kín thông tin về cuộc sống riêng tư của mình Khác với nhiều đồng nghiệp, ông đã để lại một tài sản đáng kể trị giá 20.000 sau khi qua đời.

21 bảng Anh, một số tiền khổng lồ vào thời điểm đó, chủ yếu được di chúc cho một cô cháu gái đang sống ở Đức, cùng với các món quà dành cho người thân, người giúp việc, bạn bè và các tổ chức từ thiện.

Handel incorporated lesser-known instruments into his compositions, such as the viola d’amore and violetta marina in "Orlando," the lute in "Ode for St Cecilia’s Day," and three types of trombones in "Saul." He also utilized clarinet or cornet in "Tamerlano," theorbo, French horn in "Water Music," lyrichord, double bassoon, viola da gamba, bell chimes, positive organ, and harp in "Giulio Cesare" and "Alexander’s Feast."

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Handel là một nhà soạn nhạc vĩ đại với 42 vở opera, 29 oratorio, hơn 120 cantatas, trio và duet, cùng nhiều aria, nhạc thính phòng, và một khối lượng lớn nhạc tôn giáo Tác phẩm nổi bật nhất của ông, Messiah, với bài hợp xướng “Hallelujah”, đã trở thành một trong những bài hợp xướng yêu thích nhất trong mùa Giáng sinh Ngoài ra, các tác phẩm như Opus 3 và 6 Concerti Grossi, “The Cuckoo and the Nightingale”, cùng với 16 tổ khúc keyboard, đặc biệt là The Harmonious Blacksmith, cũng được công chúng yêu mến.

Sau khi Handel qua đời, các vở opera Ý của ông đã bị lãng quên, ngoại trừ một số aria nổi tiếng như "Ombra mai fu" trong tác phẩm Serse Danh tiếng của ông trong thế kỷ 19 và giữa thế kỷ 20, đặc biệt ở các quốc gia nói tiếng Anh, chủ yếu được duy trì nhờ vào các oratorio tiếng Anh, thường được biểu diễn trong các dịp lễ lớn bởi các ca đoàn gồm những ca sĩ nghiệp dư.

Trong những năm gần đây, các bản cantata và oratorio thế tục đã được hồi sinh, với Handel là một trong những nghệ sĩ tiêu biểu Ông đã chọn các câu chuyện thần thoại làm chủ đề cho những tác phẩm oratorio của mình, mang đến sự phong phú và đa dạng cho thể loại âm nhạc này.

Handel là một trong những tên tuổi lớn được các nghệ sĩ sáng tác kính trọng, với Bach từng bày tỏ rằng ông mong ước được gặp Handel trước khi qua đời và muốn trở thành ông nếu không phải là chính mình Mozart cũng đã có những nhận xét tích cực về tài năng của Handel.

Handel là một nhạc sĩ vĩ đại, hiểu rõ sức mạnh của âm nhạc hơn bất kỳ ai Khi ông đã lựa chọn một tác phẩm, nó sẽ tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ như sấm sét Beethoven từng ca ngợi Handel là "thầy của tất cả chúng ta" và là "nhà sáng tác vĩ đại nhất từng sống." Sự ngưỡng mộ của Beethoven dành cho ông thể hiện rõ ràng qua việc ông sẵn sàng cúi đầu trước phần mộ của Handel.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Xinh: Lịch sử âm nhạc thế giới – Tập I (Nhạc viện hà nội – Hà nội 1983)

Nhà soạn nhạc Giohan Xebaxchien Bắc

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc: Giohan Xebaxchien Bắc

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

J S Bắc sinh ngày 31-3-1685 là một nhà soạn nhạc vĩ đại nghệ sĩ biểu diễn Organ lỗi lạc người Đức, sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc Nếu tính từ cụ tổ của Bắc cho tới cháu nội của Bắc thì có tới bảy đời với 200 năm cung cấp các nhạc sĩ cho các thành phố ở Đức và nhiều nước Tây âu Bắc mồ côi cha mẹ từ nhỏ và suốt đời ông gắn liền với nước Đức, vì vậy ông đã ghi chép được những suy tư của người Đức bằng những tác phẩm âm nhạc

Khi mới 15 tuổi, ông đã được nuôi dưỡng để tham gia vào một dàn hợp xướng tại Luynebuoc Ông thường xuyên đi bộ khoảng 60km đến Hăm buốc để thưởng thức các buổi biểu diễn của những nhạc sĩ đàn Organ nổi tiếng, và đã đi tới 100km đến Xele để tìm hiểu các tác phẩm của Luli do dàn nhạc địa phương trình diễn.

Khi 18 tuổi, ông bắt đầu nhận lương từ việc chơi đàn Violino trong dàn nhạc của một công tước ở Vâyma Tuy nhiên, chỉ sau vài tháng, ông chuyển đến Acnơtát để làm nhạc sĩ đàn Organ, rồi tiếp tục di chuyển đến Muyngauden Tại đây, ông đã kết hôn với Maria Bacbara, cô em họ ba đời của mình, đánh dấu sự kết thúc thời thanh niên vật lộn với việc học hỏi và kiếm sống của ông.

Vào tuổi 23, vì lý do gia đình, ông Bắc trở lại thành phố Vây ma để làm việc với đàn Organ và các nhạc cụ khác trong cung đình Trong giai đoạn này, ông không chỉ sáng tác nhạc giáo hội mà còn cả nhạc thế tục, đặc biệt là các tác phẩm cho đàn Organ như tập nhạc Organ, 2 tocata và phuga d-moll, C-dur Tuy nhiên, do phản kháng lại sự bất công của nhà chức trách, ông đã phải nghỉ việc và gia đình ông buộc phải chuyển về một tỉnh lẻ, nơi có không khí âm nhạc yên bình.

Trong suốt một phần tư cuộc đời, Bắc gắn bó với Laixich, nơi ông đạt đỉnh cao sự nghiệp khi đây trở thành trung tâm âm nhạc quan trọng của Đức Tuy nhiên, ông cũng chứng kiến nhiều khía cạnh tiêu cực của xã hội và thể hiện sự phản kháng Gia đình ông buộc phải rời Laixich và sống trong cảnh nghèo đói với nhiều con cái Tài năng của ông hiếm khi được công nhận, và ông qua đời vào ngày 28-06-1750, thi hài của ông rơi vào quên lãng.

Tài liệu cho rằng di sản của Bắc được chôn cất tại nhà thờ thánh Phoma ở Laixich, nơi ông đã gắn bó lâu dài Cuộc đời của ông chỉ được nhắc đến trong hai bài báo và có bảy tác phẩm được khắc in.

2 Ngôn ngữ và thủ pháp âm nhạc Âm nhạc của Bắc khó đồng cảm với người cùng thời, phải đợi đến đầu thế kỷ XIX khi chủ nghĩa âm nhạc lãng mạn ra đời và khi thân phận của con người là trung tâm miêu

Âm nhạc của Bắc đã được hồi sinh, mang âm hưởng đặc trưng của đàn Organ mà ông thành thạo Dù viết cho giọng hát hay bất kỳ loại đàn nào, tác phẩm của ông vẫn thể hiện sự độc đáo và phong cách riêng.

Mỗi thời đại đều tạo ra những vinh quang mới, và trong khi Henden là biểu tượng của thời đại mình, Bắc lại vĩnh cửu với mọi thời đại Ngày nay, Bắc được nhắc đến trong mọi lĩnh vực âm nhạc, là tác giả của tác phẩm đầu tiên trong chương trình thi cử từ lớp nhạc trẻ em đến các kỳ thi quốc tế cho những nhạc sĩ biểu diễn tài ba toàn cầu Ông được coi là sư tổ của các trường phái âm nhạc, bao gồm cả giọng điệu và phi giọng điệu, ấn tượng và hiện thực.

Nhạc hát hợp xướng là một khía cạnh quan trọng của âm hưởng nhạc Bắc, bên cạnh âm hưởng Organ Trong dàn hợp xướng này, các bè đóng vai trò ngang nhau, tạo ra sự phức điệu và đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Bắc.

Hình thức âm nhạc; Dài lớn

Giai điệu là một loại âm nhạc bắt đầu bằng một chủ đề mang tính cá nhân rõ rệt, nổi bật và cần sự chuyển động liên tục Chủ đề này giống như phần lĩnh xướng, sau đó hòa quyện vào dàn hợp xướng.

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Không có một lĩnh vực âm nhạc nào mà Bắc lại không có cống hiến, và bất cứ ở đâu ông cũng vĩ đại như nhau

Cantat; ông viết khoảng 200 bản, 24 cantat thế tục trong những cantat này ông đã thể hiện đầy đủ kỹ thuật, kết hợp nhạc hát với nhạc đàn

Motê (6 bản); là loại nhạc hát thuần tuý có quy mô đồ sộ, viết cho dàn hợp xướng lớn có âm hưởng hùng vĩ

Bên cạnh cantat, Mote Bắc còn viết 3 Orato, 4 paxion, 1 Macniphicat, khoảng 10

Mexa lướn nhỏ khác nhau nhưng nổi bật hơn cả là Mexa h-moll

Phức điệu là một trong những đặc trưng nổi bật của âm nhạc Bắc, với việc hoàn thiện đến mức tối đa, điển hình là phuga Đồng thời, nhạc Bắc cũng nâng cao một số loại nhạc chủ điệu lên đỉnh cao, thể hiện sự phong phú và đa dạng trong âm nhạc truyền thống.

Preluyt là một khúc nhạc ngắn, thể hiện một khía cạnh của tình cảm và thường được sử dụng để mở đầu cho các tác phẩm lớn hơn như phuga Tuy nhiên, Bắc đã sáng tác nhiều preluyt độc lập, chẳng hạn như trong tập “Những preluyt nhỏ” Một số bản preluyt còn phá vỡ quy luật âm hình để mang lại nội dung kịch tính, như “Preluyt c-moll trong Bình quân tập I”, và có những tác phẩm phát triển gần như Uvectuya.

Toccata là một tác phẩm âm nhạc phóng tác tự do với nhịp độ nhanh, tập trung vào kỹ thuật và luyện ngón Nhạc sĩ Bắc đã hoàn thiện thể loại này qua các bản nhạc cho Organ, đồng thời sử dụng nó như một Prelude cho những tác phẩm lớn hơn, chẳng hạn như trong "Toccata và Phuga, d-moll".

Phantadi là một thể loại nhạc phóng tác tự do, mang tính chất phát triển độc đáo và khác biệt so với các loại nhạc khác Hai tác phẩm tiêu biểu của thể loại này là “Phantadi và Phuga, g-moll” dành cho Organ và “Phantadi âm hoá và Phuga, d-moll” cho Clavoxanh.

TRƯỜNG PHÁI ÂM NHẠC CỔ ĐIỂN VIÊN

Khái quát trường phái Âm nhạc Cổ điển Viên

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

1 Sự hình thành và phát triển

Thế kỷ XVIII, hay còn gọi là thế kỷ ánh sáng, đánh dấu sự suy thoái của chế độ phong kiến và sự xuất hiện của nhiều tư tưởng tiến bộ, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp Thời kỳ này chứng kiến nhiều cuộc cách mạng tư sản, nổi bật nhất là cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789.

Nối tiếp thành tựu của phong cách âm nhạc Barocque

Hình thành tại Viên, Áo - một quốc gia phát triển và hùng mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân từ nhiều tầng lớp khác nhau.

Người mở đầu là Nhạc sỹ Gluck, người sáng lập là nhạc sỹ haydn, đỉnh cao là Mozart, Beethoven

2 Những thành tựu cơ bản Đạt được thành thành tựu rực rỡ Đặt nền móng cho nhiều vấn đề cơ bản của âm nhạc (hình thức, thể loại, thủ pháp )

Nội dung tư tưởng: Phản ánh không khí sinh hoạt của nhân dân

Hầu hết có tính lạc quan, tin vào chân lý, phê phán xã hội, ca ngượi chính nghĩa, tình yêu chung thủy

Hòa âm: chủ yếu sử dụng hòa âm chủ điệu

Giai điệu giữ vai trò quan trọng trong TP

Hình thức: liên khúc Sonate, giao hưởng được hoàn thiện

Nhạc kịch 2 lần được cải cách

TP thường có tính cân phương vuông vắn, hài hòa cân đối

Chủ đề âm nhạc gần gũi có tính khái quát cao Nhiều thể loại khác xuất hiện

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, chủ nghĩa Âm nhạc Cổ điển Viên.

Nhà soạn nhạc Christophe Wilibald Gluck

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Christophe Wilibald Gluck

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

C.w.gluck là một nhà cải cách nhạc kịch lớn nhất trong lịch sử của nghệ thuật nhạc kịch ông đã hoàn thiện "cuộc cách mạng" trong nhạc kịch, giải phóng nhạc kịch khỏi thế lực thẩm mỹ cung đình và làm cho nghệ thuật nhạc kịch thể hiện được các quan điểm của

Cuộc cải cách nhạc kịch của Gluck trong "thế kỷ ánh sáng" thể hiện rõ tính hiện thực và những tư tưởng sâu sắc của nhóm "bách khoa" Các tác phẩm nhạc kịch của Gluck được xem là những mẫu mực tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực ánh sáng.

Gluck là một nhạc sĩ người Áo, nổi bật trong trường phái cổ điển Vienna, và có mối liên hệ sâu sắc với nền văn hóa Tiệp, nơi ông đã trải qua thời thơ ấu và thanh niên Tại Paris, ông được biết đến như một nhà soạn nhạc kịch vĩ đại, người đã thực hiện cuộc cải cách quan trọng trong nghệ thuật âm nhạc.

1 Cược đời và sự nghiệp

Những năm tháng ở Tiệp Khắc và Ý, Gluck cùng với Vienne đã trải qua giai đoạn hình thành những cải cách âm nhạc đầu tiên Ông sinh ra ở vùng giáp ranh Tiệp Khắc, thuộc nước Đức, và lớn lên trong vẻ đẹp của rừng núi Bohemia Năm 1726, Gluck chuyển đến một thành phố của Tiệp Khắc để theo đuổi học vấn âm nhạc, đồng thời tham gia hát trong hợp xướng nhà thờ.

Năm 1732, Gluck đến Praha để nâng cao trình độ âm nhạc và học hỏi từ một nhà phức điệu nổi tiếng của Tiệp Đến 22 tuổi, ông đã được công nhận là nhạc sĩ, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa phong phú của thủ đô Tiệp Với tài năng chơi đàn organ và khả năng giảng dạy âm nhạc, cùng với sự am hiểu về hòa thanh và đối vị, ông được mệnh danh là "Bach của Tiệp".

Sau một năm sống tại Vienna, Gluck đã chuyển đến Ý để nghiên cứu và học hỏi từ những nhạc sĩ opera nổi tiếng, mặc dù ông đã có kiến thức về opera Ý trong thời gian ở Vienna.

Trong bốn năm sống tại Milan, dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc G.B Sammartini, Gluck đã hoàn thiện nghệ thuật và kỹ thuật sáng tác, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạc kịch Những vở nhạc kịch đầu tiên của ông, viết dựa trên kịch bản của Metastasio, đã giúp Gluck trở thành một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng tại Milan và nhiều thành phố khác ở Ý Tuy nhiên, các tác phẩm trong giai đoạn này vẫn mang đậm phong cách truyền thống của thời kỳ Sérva.

Năm 1746, gluck sang anh và vẫn tiếp tục viết nhạc kịch truyền thống với những vở nổi tiếng như artamena và sự thất bại của những người khổng lồ

Sau năm 1754, Gluck đã thực hiện chuyến thăm đến các thành phố như Dresden, Praha, Napoli, Hamburg và Copenhagen, nơi ông không chỉ chỉ huy mà còn sáng tác và dàn dựng hơn 50 vở nhạc kịch mới của mình.

Sau chuyến du lịch nhiều nước, Gluck trở về Vienna và tiếp tục sáng tác nhạc kịch theo phong cách série, đồng thời khám phá các xu hướng sáng tạo mới như nhạc kịch hài hước và vũ kịch Pháp Việc sáng tác thể loại nhạc kịch mới đã giúp ông giải phóng khỏi những công thức truyền thống và tìm đến phương pháp hiện thực Vũ kịch đóng vai trò quan trọng trong con đường cải cách nhạc kịch của Gluck, với những tác phẩm nổi tiếng như Don Juan, Hoàng Tử Trung Hoa và Alexandre.

Thời kỳ cải cách được thể hiện qua ba vở đầu tiên là orféo và euridice dựng năm

Ba vở opera nổi bật của Gluck, gồm "Alceste" (1767) và "Paride ed Elena" (1770), đã được trình diễn tại Vienna Những tác phẩm này không chỉ thể hiện tài năng vượt trội của ông mà còn phản ánh quan điểm thẩm mỹ độc đáo của Gluck trong thời kỳ cải cách opera.

Con đường cải cách nhạc kịch của Gluck tiếp tục diễn ra tại Paris, nơi xã hội Pháp tiến bộ đã công nhận và đánh giá cao những đóng góp của ông cho sự đổi mới trong lĩnh vực này.

Những vở nhạc kịch cải cách của Gluck tại Paris thể hiện sự sáng tạo mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tinh thần cách mạng trong xã hội Ông nhấn mạnh tính chân thật trong nghệ thuật biểu diễn và kịch bản, đồng thời điều chỉnh các tác phẩm như "Orféo" và "Alceste" để phù hợp với sân khấu Paris, chuyển đổi từ giọng castrato sang tenor và bổ sung thêm các màn múa Tại Paris, Gluck đã sáng tác những nhạc kịch cải cách cuối cùng của mình, tiêu biểu là "Armide".

Vào năm 1777, Gluck cho ra mắt vở "Iphigénie en Tauride" và vào năm 1779, ông tiếp tục với các tác phẩm như "Tiếng Vọng" và "Cây Thùy Tiên", tuy nhiên những vở diễn này không thành công như mong đợi Ở giai đoạn cuối đời, Gluck trở lại Vienna và tập trung vào việc sáng tác ca khúc Ông đã tạo ra một trường phái nhạc kịch mới, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nhạc sĩ đương thời và các nhạc sĩ ở nhiều quốc gia trong thế kỷ 19, với gần 100 tác phẩm nhạc kịch được sáng tác.

2 cuộc cải cách nhạc kịch của gluck

Gluck đóng vai trò quan trọng trong lịch sử nhạc kịch, với những quan điểm thẩm mỹ và cải cách của ông đã khởi xướng một kỷ nguyên mới cho nghệ thuật này.

Nguyên tắc thẩm mỹ và cải cách nhạc kịch của Gluck tập trung vào sự đơn giản và tính chân thật Ông đã loại bỏ những yếu tố cản trở việc thực hiện các nguyên tắc này Sự kết hợp giữa âm nhạc và kịch là nền tảng trong cải cách của ông, trong đó âm nhạc và ngôn ngữ văn học phải hòa quyện với nhau Âm nhạc không chỉ đơn thuần là phần phụ trợ mà còn phải hỗ trợ cho kịch, phù hợp với tình tiết và giúp miêu tả sâu sắc các khía cạnh nội tâm của nhân vật.

Nhà soạn nhạc Josepn Haydn

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc: J Haydn

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Nhà soạn nhạc J Haydn, sinh năm 1732 trong một gia đình nghèo ở miền nam Áo, được coi là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất lịch sử Ông là cha đẻ của thể loại giao hưởng và tứ tấu, với nhiều tác phẩm nổi bật trong các thể loại như giao hưởng, nhạc thính phòng, nhạc kịch và thanh xướng kịch J Haydn không chỉ sáng tác mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện những thể loại âm nhạc này.

Ngay khi còn ít tuổi Haydn đã tỏ ra là một cậu bé có năng khiếu đặc biệt và âm nhạc

Ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng cách tham gia vào đội hợp xướng và học Violino, đàn phím tại một nhà thờ ở thành phố Hainobua trong khoảng ba năm Sau đó, ông chuyển đến Viên và tiếp tục làm diễn viên hợp xướng tại nhà thờ trong suốt khoảng 10 năm.

Năm 13 tuổi đã trở thành diễn viên đơn ca và không lâu sau khi vỡ giọng, ông đã trở thành thất nghiệp Nhạc sĩ phải thuê nhà, đi dạy thêm để lấy tiền kiếm sống, lúc này ông đã tự học Clavoxanh, violino, lý luận âm nhạc và nghiên cứu các tác phẩm nổi tiếng

Năm 19 tuổi, ông sáng tác vở nhạc kịch đầu tiên mang tên “Con quỷ thọt mới” Đến 23 tuổi, ông tham gia một nhóm nhạc sĩ dưới sự bảo trợ của một ông hoàng nghệ thuật Khi 27 tuổi, ông phụ trách dàn nhạc hơn 10 người của một ông hoàng khác, nơi ông sáng tác nhiều bản hòa tấu vui vẻ và cho ra đời bản giao hưởng đầu tiên Ở tuổi 29, ông hợp tác với một bá tước người Hunggari và dẫn dắt dàn nhạc 14 người.

Cuộc đời nhạc sĩ Haydn kéo dài khoảng 30 năm đầy đau khổ và vất vả Trong hồi ký, ông tự hỏi liệu mình là nhạc sĩ hay chỉ là người đầy tớ Những suy tư này đã được ông gửi gắm qua các tác phẩm giao hưởng nổi bật như "Vĩnh biệt" và "Tang lễ".

Năm 59 tuổi Haydn đoạn tuyệt với cảnh làm thuê và vững bước trên con đường của một nhà soạn nhạc Năm 1791 theo lời mời Salomong chủ một gánh hát ông đã sang Luân đôn, ở đây ông đã sáng tác hàng loạt những tác phẩm có gía trị, đặc biệt là 6 bản giao hưởng

Năm 1792, nhạc sĩ Haydn rời Luân Đôn trở về Viên, dừng chân tại Bôn và gặp Beethoven, người đã quyết định học hỏi từ ông Năm 1794, theo lời mời của nhiều người hâm mộ, Haydn trở lại Anh lần thứ hai và được Đại học Ocphoc trao tặng học vị tiến sĩ Âm nhạc Tại đây, ông sáng tác nhiều tác phẩm nổi bật, trong đó có hai vở thanh xướng kịch “Đấng sáng tạo muôn loài” và “Bốn mùa”, những tác phẩm cuối đời đưa ông tới đỉnh cao vinh quang Dù nhà vua Anh mong muốn ông ở lại, nhưng vì nhớ quê hương, Haydn đã quyết định trở về Viên.

31 ông đã từ trần ngày 31/5/1809 trong một căn nhà nhỏ ở ngoại thành Viên, khi mà quân đội Áo đang bại trần trước quân đội Napoleong

Cuộc đời và âm nhạc của Haydn phản ánh xã hội Áo nửa sau thế kỷ XVIII, thể hiện niềm tin yêu lạc quan và nghị lực Tác phẩm của ông mang đến một tâm hồn lành mạnh, vui vẻ và hồn nhiên, với hình tượng âm nhạc giản dị, duyên dáng, có sức cảm hoá mạnh mẽ.

Giai điệu: Tươi sáng nhuần nhuyễn dân ca, dân vũ Đức, Áo, Hung, Tiệp, Anh…

Hoà âm trong âm nhạc của Haydn thể hiện qua việc sử dụng những hợp âm hài hoà, được sắp xếp theo hình thức cân đối và mang tính nhân dân, phổ cập.

Hình thức: Cân phương vuông vắn

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Nhạc sĩ sáng tác 104 bản giao hưởng, nổi bật nhất là 12 bản cuối đời được gọi là "giao hưởng Luân Đôn" Ông sáng tạo trong việc sử dụng liên khúc sonata, không chỉ với chương Menuet mà còn với các chương biến tấu và rondo Sự tương phản về tốc độ và tính chất âm nhạc được ông áp dụng để nhấn mạnh nội dung âm nhạc, trong đó dân ca và dân vũ là linh hồn của các tác phẩm Giao hưởng của Haydn có thể chia thành 4 giai đoạn khác nhau.

Gđ1: Gồm những tác phẩm vết trước năm 1772 nhìn chung mang tính chất giải trí

Gđ2: Những tác phẩm viết sau năm 72, lúc ông đang là nhạc sĩ hầu cận, âm nhạc có tính đau thương, suy nghĩ, lo lắng

Gđ3: Những tác phẩm viết vào những năm 80 của thế kỷ, khi nhạc sĩ đã thoát khỏi những cơn khủng hoảng

Giai đoạn cuối cùng của Gđ4 bao gồm những bản giao hưởng nổi bật của nhạc sĩ, đặc biệt là giao hưởng No 103 mang tên “Trống Rung”, thể hiện sự xuất sắc trong sáng tác của ông.

Nhạc thính phòng: Ngoài 104 bản giao hưởng, các thể loại khác cũng là một di sản quan trọng của Haydn

Tác giả đã sáng tác 83 bản tứ tấu, nổi bật nhất là bản số 63 mang tên “chim sơn ca” Nhìn chung, các tác phẩm tứ tấu của ông thể hiện phong cách nhạc sống động, với tính chất vui vẻ, sáng sủa và lạc quan.

Tam tấu và 92 bản nhạc của Haydn đóng góp giá trị cao cho di sản âm nhạc của ông Ông cũng viết 52 bản sonate cho đàn piano, bao gồm nhiều biến tấu và rondo, trong đó nổi bật nhất là bản Sonate D-dur.

Nhạc sĩ đã sáng tác 24 vở nhạc kịch và 14 lễ ca (messa), cùng với nhiều hợp xướng Đặc biệt, vào cuối đời, ông cho ra mắt hai tác phẩm thanh xướng kịch nổi bật là “Đấng sáng tạo muôn loài”.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới tập II, chủ nghĩa Âm nhạc Cổ điển Viên

Nhà soạn nhạc W A Mozart

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc: W A Mozart

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Mozart, sinh ngày 27-1-1756, lớn lên trong một gia đình có truyền thống âm nhạc Cha ông, Lêôpôn Moda, là một nhà sư phạm âm nhạc và nghệ sĩ biểu diễn violino, trong khi mẹ ông là người phụ nữ đôn hậu, hết lòng vì con cái Trong số bảy anh chị em, chỉ còn lại Mozart và người chị Maria Ana, người sau này cũng trở thành một nhà sư phạm nổi tiếng.

Mozart là một nhà soạn nhạc và nghệ sĩ biểu diễn piano thiên tài người Áo, thuộc trường phái âm nhạc Cổ điển Viên, với sự xuất hiện của ông đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho thể loại opera và giao hưởng Khác với nhiều nhạc sĩ chỉ thành công ở một vài thể loại, Mozart sáng tác ở hầu hết các thể loại âm nhạc và đạt đến đỉnh cao trong mỗi thể loại Với số lượng tác phẩm đồ sộ, ông được mệnh danh là vua của tất cả các thể loại âm nhạc.

Tác phẩm âm nhạc của Môda thể hiện sự sinh động của cuộc sống và niềm lạc quan vào chân lý cái thiện chiến thắng cái ác, đồng thời đề cao lòng nhân đạo và tình yêu chung thủy Ông đã vạch trần bộ mặt của bọn quan lại phong kiến, thể hiện tính hiện thực cao trong tác phẩm Bên cạnh sự vui tươi, tác phẩm còn chứa đựng những khúc nhạc bi thương, phản ánh tâm trạng lo âu của người nhạc sĩ hầu cận mất tự do.

2 Ngôn ngữ âm nhạc Âm nhạc của Moda chứa đựng những nội dung sâu sắc mang tính nhân dân song nó cũng rất gần gũi với tầng lớp quý tộc, nhân vật trong tác phẩm có tính cách đa dạng và phong phú

Giai điệu trong tác phẩm của ông tươi sáng và giản dị, giàu hình tượng, mang âm hưởng của âm nhạc dân gian Đức và Áo, cùng với những bài hát du dương tinh tế và sâu sắc Tác phẩm thường có những nét giai điệu cromatic và hoa mỹ, được xác định rõ ràng theo điệu trưởng thứ Ông khéo léo kết hợp các làn điệu thơ ca dân gian Đức, Áo với chất liệu âm nhạc dân gian từ các nước châu Âu, đặc biệt là Ý, tạo nên những nét nổi bật trong sáng tác của mình.

Moda đã sáng tạo ra ngôn ngữ âm nhạc độc đáo thông qua việc vận dụng công năng T-S-D Sự kết hợp liên tiếp giữa các hợp âm chính và phụ, cùng với những thủ pháp chuyển điệu mạnh mẽ và âm hình tiết tấu phong phú, đã tạo nên một bản hòa âm sống động và cuốn hút.

Moda đã kế thừa kinh nghiệm từ J.S Bach và hòa quyện vào phong cách chủ điệu của chủ nghĩa cổ điển Viennese Điểm mới trong âm nhạc phức điệu của ông là những chủ đề phong phú, mang tính hình tượng cao, thể hiện cá tính mạnh mẽ, sức sống dồi dào và gần gũi với công chúng.

Moda đã xuất sắc kế thừa phong cách phối khí cổ điển của Haydn, đồng thời đóng góp quan trọng trong việc đưa kèn clarinet vào dàn nhạc giao hưởng, làm phong phú thêm bộ gỗ.

Cuộc đời ngắn ngủi của Moda đã để lại cho nhân loại một kho tàng âm nhạc phong phú, bao gồm nhiều thể loại và trình độ khác nhau Ông sáng tác từ những tiểu phẩm cho đàn phím và nhạc thính phòng đến các bản Cantat, Concerto, giao hưởng và nhạc kịch Trong tất cả các thể loại, ông đều có những tác phẩm xuất sắc, nhưng thành công nổi bật nhất của ông nằm ở lĩnh vực nhạc kịch và giao hưởng.

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Moda là người đầu tiên đưa Trompet vào nhạc kịch

Nhạc kịch của Moda nổi bật với sự phát triển liên tục của nội dung nhân vật, mỗi nhân vật đều có hình tượng rõ ràng và được cấu trúc theo số mục Các bản Aria trong nhạc kịch này thường chịu ảnh hưởng từ tính trữ tình và kịch tính của thể loại giao hưởng, dẫn đến nhiều bản được viết theo hình thức Sonate mà không có phần phát triển.

Moda sáng tác hơn 20 vở nhạc kịch ở 4 thể loại

Nhạc kịch nghiêm chỉnh: tiêu biểu như vở Idomenay, Lòng nhân từ của típ

Nhạc kịch hài hước; Tiêu biểu như vở Đám cưới Phicaro

Nhạc kịch Đức-Áo; Tiêu biểu như vở Cuộc đột nhập vào hoàng cung, cây sáo thần

Bi hài kịch là một thể loại nghệ thuật độc đáo do Moda sáng tạo, kết hợp giữa nhạc kịch nghiêm chỉnh và nhạc kịch hài hước Một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này là vở Đông gioăng.

Giao hưởng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực khí nhạc của Moda, nổi bật với việc sử dụng thành công liên khúc sonate trong các tác phẩm giao hưởng của ông.

Moda sáng tác 41 bản giao hưởng, chủ yếu mang tính chất giải trí với bộ dây đóng vai trò chủ chốt Ba bản giao hưởng thành công nhất của ông là No39 – Es/dur, No40 – g/moll và No41 – C/dur, trong đó bản No40 được biết đến nhiều nhất Tác phẩm này nổi bật với tính chất trữ tình và kịch tính mạnh mẽ, thể hiện những tình cảm bi thương sâu sắc, được gọi là "Bi thương trữ tình" Nhiều nhạc sĩ đã phối khí và chuyển thể bản giao hưởng này cho nhiều loại nhạc cụ khác nhau.

Ngoài nhạc kịch và giao hưởng, Moda còn đóng góp lớn cho nhạc thính phòng, đặc biệt là các tiểu phẩm cho nhạc cụ độc tấu Điển hình là 19 bản Sonate cho Piano, những tác phẩm này phản ánh sự sáng tạo nghệ thuật và quan niệm sống của Moda.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới tập II, chủ nghĩa Âm nhạc Cổ điển Viên

Nhà soạn nhạc Ludwig Van Beethoven

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Ludwig Van Beethoven

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

1.1 Những năm tuổi thơ ở quê hương

Sinh 16/12/1770 tại Born - Đức Ông sớm bộc lộ năng khiếu và học nhạc từ nhỏ

1787: ông tìm đến Mozart để học nhưng không thành vì ngay lúc đó phải về tang mẹ

1789: ông bỏ học ngành triết và tập trung học sáng tác

Giai đoạn này đánh dấu sự hình thành thế giới quan và tư duy thẩm mỹ, đồng thời là thời điểm quan trọng trong việc trau dồi kiến thức sáng tác Mặc dù ông đã có một số tác phẩm, nhưng chưa thực sự khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực này.

1792: ông đến hoạt động âm nhạc tại Viên

Sáng tác của ông chịu ảnh hưởng từ Haydn và Mozart, nhưng nhiều tác phẩm đã thể hiện rõ tài năng và phong cách riêng biệt của ông, đặc biệt là Sonate No 8 và No 14.

1796: ông có triệu chứng bị điếc và không may mắn trong tình yêu nên dẫn tới khủng hoảng suy sụp

Vượt qua khủng hoảng ông hăng say sáng tác Đây là thời kỳ ông có số lượng TP dồi dào

Các tác phẩm của ông nổi bật với tính kịch cao, thể hiện rõ ràng qua các đặc điểm sáng tác độc đáo Chủ đề anh hùng, cách mạng và chiến thắng xuyên suốt các tác phẩm đã khẳng định tên tuổi của ông trong lòng độc giả.

Thủ pháp đa dạng, ưa sử dụng âm hình chủ đạo Thường có phần coda kéo dài Hầu hết TP có quy mô đồ sộ

TP nổi bật: Symphony No3, No5, No6, Sonate No21, No23

1803: ông bị điếc hoàn toàn

Là thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông

TP có quy mô đồ sộ, nội dung giàu tính triết lý, ngôn ngữ âm nhạc hiện đại

TP thể hiện sự lạc quan, tin tưởng vào chân lý, chiến thắng, tương lai tươi đẹp

Xuyên suốt các sáng tác là tư tưởng nha hùng - đấu tranh- chiến thắng

Quy mô tác phẩm: Đồ sộ nhưng hài hòa, tính kịch cao nhưng tự nhiên

Có nhiều sáng tạo riêng như: Tạo ra sự không ngừng nghỉ giữa các chương

(attaca), ưa dùng bộ đồng

Tách bè Cello và công tơ bat thành 2 bè độc lập, đặc biệt sử dụng hợp xướng trong

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Sonate cho Piano và Violon: 10

Sonate cho Cello và Piano: 5

3.1 Các tác phẩm Sonate cho Piano

Chứa đựng quy mô và ý nghĩa như một tác phẩm giao hưởng, bài viết tập trung vào đề tài anh hùng, cách mạng và chiến thắng, mở ra một hướng mới cho chủ nghĩa lãng mạn trong thời kỳ hiện đại.

Sử dụng nhiều hình thức lạ, áp dụng những thể loại hết sức độc đáo Những TP cuối đời có tính triết lý sâu sắc

Các TP nổi bật: No8 C dur- Bi hùng No14 cis moll- ánh trăng No 21: Rạng đông No 23 Apaxionata

3.2 Các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng

Số lượng TP: 9 giao hưởng, 11 khúc mở màn, 40 vũ khúc, 5 concerto cho piano, 1 concerto cho violon

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới tập II, chủ nghĩa Âm nhạc Cổ điển Viên

CHỦ NGHĨA ÂM NHẠC LÃNG MẠN

Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về sự hình thành và những đặc điểm của chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

1 Sự hình thành và phát triển

Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm (1789) thành công, ngay sau đó giai cấp đại tư sản quay lưng lại phản bội cách mạng và giành lấy chính quyền

Giai cấp thống trị áp đặt chế độ hà khắc, tiêu diệt trí thức tiến bộ, đồng thời khôi phục tư tưởng phong kiến và vị thế của nhà thờ.

Các quốc gia đều dấy lên các cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dân tộc

Tinh thần cách mạng và chủ nghĩa dân tộc được đề cao, đặc biệt có sự khai sáng của chủ nghĩa khoa học không tưởng

Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn đã ra đời, với những nhà soạn nhạc tiêu biểu như F Schubert, F Chopin, Vê be và Mendenxon, tạo nên một kho tàng Âm nhạc vô cùng quý báu cho nhân loại.

2 Những thành tựu cơ bản

Sáng tác của chủ nghĩa âm nhạc lãng mạn

Nội dung: chủ đề tình yêu xuyên suốt các sáng tác Bên cạnh đó là tính dân tộc, hiện thực cũng được đề cập đến rất nhiều

Tính chất ÂN gần với thơ ca, hội họa

Ca xướng hóa thể loại khí nhạc

PC sáng tác nhấn mạnh nguyên tắc đơn chủ đề và tính tiêu đề, với đại diện tiêu biểu là nhạc sỹ Frank Schubert, người đã để lại những tác phẩm mẫu mực của chủ nghĩa ÂN lãng mạn.

Thể loại ca khúc được đưa lên đỉnh cao

Nhiều thể loại âm nhạc mới được sáng tạo như; Giao hưởng thơ một chương, Ballad…

Phong cách chỉ huy dàn nhạc được cải cách

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đầu thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc F Schubert

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc F Schubert

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

F Schuber là một nhà soạn nhạc người Áo, người mở đầu cho trường phái Âm nhạc Lãng mạn Tây âu Ông thành công ở mọi lĩnh vực sáng tác như; nhạc thính phòng, giao hưởng, thanh nhạc… song thành công hơn cả trong nghệ thuật của Schubert là lĩnh vực viết cho thanh nhạc Ông là người đã có công đưa thể loại ca khúc, vốn là một thể loại hạng thứ lên đỉnh cao để sánh ngang với các thể loại Âm nhạc chuyên nghiệp khác

2 Ngôn ngữ Âm nhạc Âm nhạc của Schubert chứa đựng những chủ đề thơ mộng, tình cảm đau khổ và những ước mơ hoài bão của những người nông dân bình dị Tác phẩm của ông không chỉ thể hiện những vấn đề chung của xã hội mà còn đi sâu vào thể hiện cái tôi của người nghệ sĩ Bên cạnh những hy vọng đẹp đẽ, tác phẩm của ông còn vang lên cả những hình tượng đen tối bi thảm Ông đã thể hiện thế giới quan dân chủ nhân đạo và những bất công trong chế độ phản động đương thời một cách rõ nét và sâu sắc

Giai điệu trong tác phẩm của Sube rất sâu sắc, mang tính ca xướng và du dương, thể hiện sự uyển chuyển và chất ngâm vịnh Âm điệu gần gũi với nguồn gốc Âm nhạc dân gian, tạo nên sự chân thật, giản dị và dễ hiểu cho người nghe.

Hòa thanh đề cao sự tương phản giữa màu sắc và điệu tính, sử dụng nhiều phương pháp chuyển điệu đột ngột Ngoài ra, việc sử dụng biến âm và vai trò công năng phụ cũng được nhấn mạnh, tạo nên sự phong phú trong âm nhạc.

Phối khí; Chú trọng đến khả năng diễn tả của bộ gỗ

Cấu trúc tác phẩm hiện nay thể hiện sự đổi mới và tự do hơn, với việc sử dụng nhiều âm hình chủ đạo Nguyên tắc đơn chủ đề và tính tiêu đề được đề cao, trong khi hình thức thường đơn giản với cấu trúc gồm hai hoặc ba phần.

3 Thể loại và các tác phẩm tiêu biểu

Sube đã để lại cho nhân loại một kho tàng Âm nhạc vô cùng đồ sộ với khoảng

Sube đã sáng tác 1500 tác phẩm thuộc nhiều thể loại và trình độ khác nhau, nhưng đặc điểm Lãng mạn trong nghệ thuật của ông được thể hiện rõ nét và hoàn thiện nhất qua các tác phẩm viết cho thanh nhạc.

Sube có khoảng 100 tác phẩm lớn như Metxa As-dur, Es-dur, Đại hợp xướng

"Khúc hát chiến thắng của Miriam" là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông, nổi bật với phần nhạc cho vở "Dodamuda" Ông sáng tác khoảng 600 ca khúc, chủ yếu là các tác phẩm thanh nhạc, với nhiều chủ đề đa dạng.

Trữ tình thơ mộng; có tác phẩm “nàng meludia xinh đẹp”, Ba lát chúa rừng

Tự chuyện; Kẻ lưu lạc, chốn nương tựa, người cô độc…

Triết lý chữ tình; Thần chết và cô gái, những danh giới của loài người…

Nghệ thuật: Gửi đến Âm nhạc… và nhiều ca khúc về chủ đề thiên nhiên

Sube đã sáng tác hai tập liên ca khúc nổi bật, bao gồm "Cô thợ xay xinh đẹp" và "Con đường mùa đông" Tập "Cô thợ xay xinh đẹp" gồm 20 bài hát, chủ đề chính xoay quanh tình yêu, với bài hát cao trào là "Người yêu của tôi D-dur".

Tập "Con đường mùa đông" gồm 24 bài viết với chủ đề triết lý sâu sắc, thể hiện những tình cảm bi thương và kịch tính Tập này có thể được chia thành hai giai đoạn, bắt đầu từ số đầu tiên.

Sube đã nâng tầm nghệ thuật với những bài ca phong tục của Đức và Áo, tạo ra một thể loại mới mang ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc từ số 1 đến 12 và từ số 13 đến 24.

Ca khúc của Sube mang hình thức đơn giản nhưng lại phong phú về giai điệu, thể hiện sự liên kết chặt chẽ với nguồn gốc âm nhạc dân gian và những tiết tấu đặc trưng của các điệu nhảy.

Nhiều ca khúc của Sube được phổ từ thơ của các nhà thơ như Hai nơ, Hê ghen, Gớt, Muyly, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào thơ, mà ông nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của hình tượng để nâng cao tính nghệ thuật của lời ca Các tác phẩm của ông luôn độc lập và đạt trình độ cao Đặc biệt, bè Piano trong ca khúc của Sube không chỉ là bè đệm mà còn có tầm quan trọng ngang với lời ca, nhiều ca khúc có thể tách bè đệm Piano ra thành tác phẩm độc lập cho Piano độc tấu.

Sube đã sáng tác 9 bản giao hưởng và một số Uvectuya, trong đó 7 bản giao hưởng đầu chịu ảnh hưởng của trường phái Âm nhạc cổ điển Viên Bản giao hưởng số 8 – hmoll (bỏ dở) đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử cho nền giao hưởng thế giới, khởi đầu cho sự hình thành nền giao hưởng lãng mạn trữ tình và kịch tính, mẫu mực về nội dung và cấu trúc Ông đã ca khúc hóa các bản giao hưởng, thể hiện qua các chủ đề mang đậm chất hát, trong đó chủ đề 1 và 2 không có nhiều sự tương phản Bản giao hưởng này được xây dựng trên những cảm xúc trữ tình, phản ánh chân dung con người thời bấy giờ với tư tưởng dằn vặt, nỗi đau khổ và những ước mơ không tưởng về một thế giới tươi đẹp.

Bản giao hưởng này gồm hai chương

Chương I; được viết ở hình thức Sonata Allegro với ba chủ đề

Chương II; Viết ở hình thức Sonata không có phần phát triển, hai chủ đề không có sự tương phản về tính chất

Ngoài hai lĩnh vực chính, Sube còn sáng tác nhiều thể loại khác như sonata, hòa tấu thính phòng, tứ tấu dây, Fantadi và thánh ca Đặc biệt, những bản hòa tấu thính phòng có mối liên hệ mật thiết với các ca khúc của ông.

Trong cuộc đời ngắn ngủi chưa đầy 32 năm, nhà soạn nhạc này đã để lại cho nhân loại một di sản âm nhạc phong phú, với nhiều thể loại khác nhau Nhiều tác phẩm của ông đã trở thành mẫu mực, mặc dù chính ông chưa từng có cơ hội nghe chúng.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc C M Vêbe (Carl Marie Weber)

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc C M Vêbe

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Vào những năm đầu thế kỷ XIX, xã hội Đức còn lạc hậu và trì trệ, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của nhạc kịch Đức Bên cạnh đó, nhạc kịch Đức cũng chịu ảnh hưởng lâu dài từ nhạc kịch Ý và Pháp, tạo ra một trở ngại lớn cho việc hình thành phong cách nhạc kịch dân tộc Đức.

Trong bối cảnh nền nhạc kịch Đức đang gặp khó khăn, nhà soạn nhạc "Vê be" đã xuất hiện và quyết định giải quyết những vấn đề lịch sử của nhạc kịch dân tộc lãng mạn Đức.

Vê be là một nhạc sĩ đa tài, bao gồm vai trò nhà soạn nhạc, chỉ huy, nghệ sĩ biểu diễn Piano và nhà hoạt động xã hội Ông đã sáng lập sự nghiệp sân khấu tại Đức và cũng là một nhà văn Những hoạt động của Vê be thể hiện rõ nét tình cảm yêu nước và tinh thần dân chủ của nhân dân Đức.

Vê be, sinh ngày 18 tháng 11 năm 1786 trong một gia đình âm nhạc, đã bắt đầu hành trình nghệ thuật của mình từ khi còn nhỏ, đi khắp nước Đức cùng gia đình và đắm chìm trong thế giới nhạc kịch Những trải nghiệm này đã tích lũy và định hình cho sự nghiệp sân khấu sau này của ông Bên cạnh tài năng âm nhạc, Vê be còn thể hiện khả năng nghệ thuật trong hội họa, từ đó ông đã đưa những yếu tố mới từ hội họa vào nhạc kịch, làm phong phú thêm cho tác phẩm của mình.

Do hoàn cảnh gia đình, Vê be không có cơ hội học hành hệ thống về văn hóa và âm nhạc Đến năm 17 tuổi, tư duy sáng tác của Vê be mới bắt đầu hình thành, nhờ vào sự ảnh hưởng từ nhà lý luận âm nhạc Phông le, người đã có tác động lớn đến nghệ thuật của Vê be.

Vê be đã đóng góp hơn 90 bài đơn ca và một số hợp ca mang âm hưởng nhạc dân gian Ngoài những ca khúc nổi bật, các tác phẩm sân khấu đầu tiên của Vê be cũng đã ra mắt vào năm nay.

12 tuổi như “Sức mạnh của tình yêu và tội lỗi”, “Cô gái câm trong rừng” ngoài ra còn có một số điệu Van

Vào năm 1804, Vê be đã khởi đầu sự nghiệp tổ chức lại sân khấu âm nhạc Đức với tư cách là một nhà chỉ huy và công dân yêu nước Ông đã thực hiện nhiều sự kiện âm nhạc, đổi mới chương trình biểu diễn, sửa đổi phần phối âm và phối dàn nhạc, nhằm nâng cao nghệ thuật biểu diễn và khẳng định giá trị dân tộc trong âm nhạc Đức.

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Vê be là người sáng tạo nền nhạc kịch dân tộc Đức, nổi bật với tác phẩm "Mũi tên thần" Với vở nhạc kịch này, ông được công nhận là nhà soạn nhạc dân tộc Đức Tác phẩm mang đậm phong cách chính thống, thể hiện tính dân tộc và lãng mạn, xoay quanh chủ đề truyền thuyết trong cuộc đời của người đi săn.

45 nổi tiếng trong văn học dân gian Đức, Tiệp, theo truyện ngắn của nhà văn lãng mạn

Nhạc kịch “Apen” phản ánh chân thực đời sống nhân dân, tạo sự gần gũi và kết nối với khán giả Tác phẩm không chỉ giải trí mà còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy tinh thần yêu nước trong cộng đồng.

Vở nhạc kịch hoàn thành vào đầu năm 1820 và lần đầu tiên được biểu diễn tại Berlin vào cuối năm, đã trở thành một cuộc biểu tình yêu nước, thu hút khán giả với cảm xúc hân hoan vì tính dân tộc của nó Vở diễn đã giúp thoát khỏi sự thống trị lâu dài của nhạc kịch Ý và Pháp, đồng thời âm nhạc của nó được lan tỏa rộng rãi trong quần chúng Với "Mũi tên thần", Vê be đã mở ra một con đường mới cho sự phát triển của nhạc kịch.

Vê be không chỉ nổi bật trong lĩnh vực nhạc kịch mà còn sáng tác nhiều tác phẩm cho nhạc đàn, bao gồm Sonata cho Piano và Côngxecto Với những thành tựu đáng kể trong sự nghiệp sáng tác, Vê be xứng đáng được công nhận là một nhà soạn nhạc lãng mạn xuất sắc.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Phêlit Menđenxon Batođi

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Phêlit Menđenxon Batođi

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Mendenxon, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1809 tại Hămbuốc, Đức, lớn lên trong một gia đình chủ ngân hàng giàu có với nền tảng học vấn cao và đam mê nghệ thuật Ngay từ nhỏ, ông đã có cơ hội giao lưu với nhiều nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học, triết học và văn học nghệ thuật như Hêgen, Hainơ, Gớt và Vêbe.

Mendenxon là một nhà soạn nhạc, chỉ huy và nghệ sĩ Piano nổi tiếng, được công nhận là một trong những nhân vật quan trọng trong âm nhạc nửa đầu thế kỷ XIX Ông không chỉ có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực sáng tác mà còn làm phong phú thêm nền âm nhạc Lãng mạn và mang lại sự đổi mới cho âm nhạc Đức.

Chủ đề và hình tượng âm nhạc của Mendelssohn phản ánh sâu sắc nền văn hóa đương thời ở Đức Nghệ thuật của ông nổi bật với sự ấm áp và dễ tiếp cận, trong khi giai điệu đẹp và ca xướng thể hiện mối liên hệ chặt chẽ với âm nhạc dân gian Ngôn ngữ hòa âm và dàn nhạc của Mendelssohn được chăm chút tỉ mỉ, đặc biệt chú trọng đến sự pha trộn màu sắc trong âm thanh.

Hoạt động xã hội của Menddenxxon

Từ năm 1829 đến 1832, ông đã thăm nhiều quốc gia như Thụy Sĩ, Áo, Ý, Pháp và Anh, và trở về Đức vào năm 1833 Ông rất ngạc nhiên khi nhận thấy rằng các tác phẩm của các nhà cổ điển vẫn chưa được chú ý rộng rãi Điều này đã thúc đẩy ông thực hiện các cuộc tuyên truyền âm nhạc cho các nhạc sĩ, trong đó nổi bật là việc ông là người đầu tiên giới thiệu nhạc Bắc thông qua tác phẩm “Matêpaxion” nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhạc sĩ Bắc.

Năm 1838, bản giao hưởng C-dur của Schubert được phát hiện và biểu diễn lần đầu tiên, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của ông Dưới sự lãnh đạo của Schubert, nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ nổi tiếng như Haydn, Mozart, Henden và Laxo đã được giới thiệu đến công chúng Đặc biệt, ông còn có công cải cách phong cách chỉ huy dàn nhạc, góp phần nâng cao nghệ thuật biểu diễn.

Từ năm 1833 đến 1835, ông giữ vai trò lãnh đạo âm nhạc tại Đuyxem, nơi ông bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc Đồng thời, ông cũng thực hiện các buổi biểu diễn và nghiên cứu các tác phẩm của các nhà soạn nhạc cổ điển.

Vào năm 1835, Menđenxon tích cực tham gia vào các hoạt động âm nhạc và giáo dục tại Lai xích Đến năm 1843, ông đã thành lập nhạc viện Laixich, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp hoạt động xã hội của mình Ông đã thiết kế chương trình đào tạo tại nhạc viện nhằm phát triển những tài năng âm nhạc chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho nền âm nhạc Đức.

3 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu

Menđenxon sáng tác đa dạng thể loại âm nhạc, chịu ảnh hưởng từ các nhạc sĩ cổ điển trong giai đoạn đầu Từ những năm 30, ông đạt được sự hoàn thiện cả trong sáng tác lẫn phong cách âm nhạc.

Những thể loại hoàn thiện nhất mang đặc điểm lãng mạn của ông là; Uvectuya, giao hưởng, Concerto và tuyển tập “bài ca không lời” cho piano

Giao hưởng của ông chủ yếu được sáng tác để kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng, như Bản giao hưởng số 2 “Cải cách” để đánh dấu 300 năm ngày cải cách tôn giáo ở Đức Ông đã sáng tác tổng cộng năm bản giao hưởng, trong đó hai bản nổi bật nhất là số 3 “Ý đại lợi” và số 4 “Xcotlen”.

Uvectuya là người tiên phong trong việc tách các khúc nhạc thành những tác phẩm độc lập, nổi bật với các tác phẩm như “Động phi gan”, “Biển lặng và những chuyến bơi kỳ thú”, “Nàng Meludia xinh đẹp” và đặc biệt là “Giấc mộng đêm hè” Tác phẩm này không chỉ thể hiện phong cách riêng của ông mà còn là điển hình của trường phái âm nhạc lãng mạn, với chủ đề tinh tế, huyền ảo và vẻ đẹp của thiên nhiên.

Nhạc sĩ chỉ sáng tác một bản Concerto cho Violino và dàn nhạc giọng e-moll, nhưng tác phẩm này lại nổi bật như một kiệt tác của thời kỳ âm nhạc lãng mạn, được đánh giá là bản Concerto xuất sắc nhất thế kỷ XIX.

Chương I; Viết ở hình thức Sonate Allegro chỉ có một lần trình bày với sự hiện diện của cây đàn Violino

Chương II; Mang tính chất chữ tình như một khúc hát du dương huyền ảo

Chương III; Mang đặc tính “Xkecro” với sắc thái ảo tưởng

Với bản Concerto này nó đã làm thay đổi tư tưởng của nhiều nhà sáng tác và cả người nghe

Piano là nhạc cụ thể hiện rõ phong cách của Menđenxon, đặc biệt qua tác phẩm “Bài ca không lời.” Ông đã biến những bản nhạc thành những bài thơ âm nhạc gần gũi với các tác phẩm thanh nhạc, từ đó tạo ra tính giai điệu trữ tình độc đáo cho các tác phẩm của mình.

Tập này bao gồm 48 tác phẩm, mỗi tác phẩm đều thể hiện một hình tượng rõ ràng như "Đi săn" (số 2), "Pacaron chèo thuyền" (số 12) và "Hành khúc tang lễ" (số 27) Tất cả những tác phẩm này là những mẫu mực hoàn thiện nhất của tính trữ tình Menđenxon.

Ngoài ra ông còn viết khoảng 80 ca khúc, 60 tác phẩm hợp ca thanh nhạc

Menđenxon qua đời ngày 4-11-1847 khi chưa đầy 39 tuổi đời, nhưng ông đã đạt được những vinh quang của một người sáng tạo

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Robert Schuman

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Robert Schuman

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Suman là một nhạc sĩ và nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng người Đức, xuất thân từ một gia đình trung lưu khá giả Ông không chỉ là một nhà soạn nhạc tài ba mà còn là một tư tưởng gia với quan điểm chính trị tiến bộ, tích cực tuyên truyền về vai trò đạo đức trong xã hội.

Suman là một nhân vật mâu thuẫn, luôn khao khát đóng góp cho xã hội nhưng lại cảm thấy thiếu chỗ đứng Âm nhạc của ông phản ánh những cảm xúc phức tạp và thay đổi, khiến ông trở thành một nhà cách tân nổi bật trong lịch sử âm nhạc Lãng mạn.

Hình thức: Rất tự do

Nội dung: mỗi tác phẩm đều có tính cách riêng, khi thì hài hước đau khổ lúc thì trữ tình nổi loạn

Giai điệu: Thường có những quãng nhảy xa và hay có giai điệu ẩn

Hòa âm: Hay sử dụng phương pháp chuyển điệu đột ngột mà không cần chuẩn bị

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Sáng tác cho đàn phím;

Suman đã thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ nhất qua các tác phẩm sáng tác cho đàn phím, với những tác phẩm mang tính chân dung cá tính độc đáo Nhiều tác phẩm trong số đó phát triển thành những câu chuyện âm nhạc, khiến ông được gọi là nhà viết truyện ngắn bằng âm nhạc.

Tác phẩm nổi bật trong thể loại này là Carnaval Op9, được sáng tác dựa trên việc biến tấu một chủ đề Suman đã gọi tác phẩm này là “Các cảnh trên bốn nốt nhạc” A E C H.

Ca khúc này đánh dấu vị trí quan trọng thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Suman, người kế thừa và phát triển ca khúc từ Sube với sự tinh tế và sắc sảo hơn Trong lĩnh vực này, Suman chủ yếu phổ thơ của các nhà thơ nổi tiếng như Sile, Haino và Gớt Tác phẩm tiêu biểu của ông là tập liên khúc “Mối tình của nhà thơ,” bao gồm 16 bài thơ được chọn lọc từ tập thơ trữ tình của Haino.

Trong tập bài hát này, có nhiều tác phẩm tiêu biểu như "Trong ánh hào quang của ngày tháng năm ấm áp", "Trong giấc mơ tôi khóc nức nở", và "Bài ca độc địa" Đặc biệt, bài số 7 "Tôi không giận" nổi bật nhất, thể hiện rõ nét phong cách âm nhạc của Suman.

Ngoài hai lĩnh vực trên Suman còn viết nhiều tác phẩm ở các thể loại khác nhau như; Concerto, sonata, giao hưởng…

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Giochino Rossini

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Giochino Rossini

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Gioacchino Rossini, sinh ngày 29 tháng 2 năm 1792 tại Pesaro, Ý, lớn lên trong một gia đình nghệ thuật với cả cha và mẹ đều là nhạc sĩ Cha ông là một nghệ sĩ kèn cor, trong khi mẹ, con gái của một chủ lò bánh mì, từng là một ca sĩ với giọng hát tuyệt vời Trước khi theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, Rossini đã bắt đầu cuộc sống lao động của mình với công việc phụ việc cho một người thợ rèn.

Ngay từ khi còn nhỏ, Rossini đã di chuyển cùng gia đình đến Bologna, một trong những trung tâm âm nhạc hàng đầu của Italia Tại đây, ông bắt đầu học âm nhạc một cách có hệ thống và nhanh chóng thu hút sự chú ý của công chúng với vai trò ca sĩ và nghệ sĩ biểu diễn đàn Clavecin.

Năm 14 tuổi, G Rossini đã được bầu chọn làm thành viên của Viện hàn lâm Bologna và cũng chính năm này cậu được vào học tại Trường âm nhạc Nhưng ấn tượng mạnh nhất đến với cậu lại xuất hiện sau khi ông tự nghiên cứu tác phẩm của Haydn và Mozart

Trong suốt thời gian này, nhạc sĩ trẻ tuổi Rossini tập trung chủ yếu vào nghệ thuật biểu diễn thanh nhạc, với kỹ thuật viết cho thanh nhạc là điểm nổi bật trong sự nghiệp của cậu.

Năm 1810, Rossini ra mắt vở opera đầu tiên mang tên “Vecxen cưới vợ”, đánh dấu sự khởi đầu cho một loạt các tác phẩm opera thành công rực rỡ của ông.

Đến tuổi 30, ông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng toàn cầu, với âm nhạc của mình được biết đến không chỉ ở Italia mà còn lan tỏa đến Áo, Đức, Pháp, Nga, và Anh.

Rossini là một phần không thể thiếu của văn hoá âm nhạc phương Tây những năm 20 –

Năm 1855, Rossini chuyển đến Paris, nơi ông đã qua đời vào ngày 13 tháng 11 năm 1868 Đến năm 1887, tro cốt của ông được đưa về Tổ quốc và an táng tại Điện Panteon Santa – Kroch ở Florensia, bên cạnh những vĩ nhân như Michelangelo và Galileo.

2 Thể loại và các tác phẩm tiêu biểu

Trong hành trình sáng tạo, Rossini không chỉ giữ gìn mà còn cách tân mạnh mẽ truyền thống sân khấu âm nhạc Ông kiên định theo đuổi hai xu hướng sáng tạo chủ đạo của sân khấu âm nhạc Italia: hài hước-sinh hoạt và anh hùng ca.

Ông đã khẳng định một khuynh hướng mới tiến bộ trong mỹ học opera Italia mà không phá vỡ những gì đã được xác định, đó chính là nghệ thuật bel canto tuyệt vời.

Những đặc điểm này đã được kết hợp hoàn mỹ cùng sự biểu hiện kinh điển trong “Người thợ cạo thành Xê vin” nổi tiếng (1816)

Mười năm cuối đời (1857 – 1868) Rossini dành sức lực cho âm nhạc piano và soạn các tiểu phẩm hài hước

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Hector Berlioz

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Hector Berlioz

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Beclio (1803-1869) là một nhạc sĩ, nhà chỉ huy và phê bình âm nhạc nổi bật người Pháp, được công nhận là nhạc trưởng đầu tiên của Pháp có ảnh hưởng lớn đến toàn châu Âu Ông cũng đóng góp vào việc phát triển nghệ thuật chỉ huy, tạo nền tảng vững chắc cho các thế hệ sau.

Thời niên thiếu, ông sống ở quê hương và đến năm 18 tuổi, ông theo học ngành Y tại Paris theo yêu cầu của bố mẹ, nhưng thực sự không có hứng thú với ngành này Âm nhạc mới là đam mê thực sự của ông Cuối cùng, ông quyết định theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, dẫn đến mâu thuẫn với gia đình và cuộc sống trở nên khó khăn do thiếu hỗ trợ tài chính.

Beclio sống độc thân trong lĩnh vực âm nhạc và sân khấu, trải qua 10 năm học tập dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ nổi tiếng Liôxuio Sau đó, ông đã trở thành người sáng lập trường phái giao hưởng Pháp, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của mình.

Giai điệu: Rất độc đáo được xây dựng trên nền tảng ca xướng, giai điệu và tiết tấu có cơ sở dân tộc, mang tính ngâm ngợi kiểu Pháp

Hình thức: Khác với cổ điển, có thể là 3, 4, 5 chương

Mở rộng thành phần dàn nhạc của cổ điển, làm phong phú cho bộ hơi và bộ gõ

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Beclio là một nhạc sĩ đa tài, nổi bật với sự đổi mới trong lĩnh vực viết giao hưởng Ông là người đầu tiên sáng tác giao hưởng có tiêu đề, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho thể loại này và mang đến những giải pháp độc đáo cho nguyên tắc tiêu đề.

Bản giao hưởng "Tưởng tượng" là tác phẩm tiêu biểu của thể loại này, phản ánh cuộc đời riêng của nhạc sĩ, đặc biệt là tình yêu đơn phương với kịch sĩ Xmít-xon Tác phẩm được cấu thành từ 5 chương, mỗi chương mang một sắc thái cảm xúc riêng biệt.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Federic Chopin

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Federic Chopin

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Chopin (1810-1849) là một nhà soạn nhạc vĩ đại và nghệ sĩ biểu diễn Piano thiên tài, được biết đến như "nhà thơ của cây đàn Piano" Ông là người sáng tạo ra trường phái âm nhạc dân tộc Ba Lan và đã viết một số lượng tác phẩm phong phú ở nhiều thể loại và trình độ khác nhau.

Chopin là một nhạc sĩ nổi bật với sự đổi mới trong hình thức và thể loại âm nhạc Ông đã khéo léo lồng ghép những tư tưởng đấu tranh và khát vọng giải phóng dân tộc vào tác phẩm của mình, điều mà trước đây chỉ được thể hiện trong các vở nhạc kịch.

Chủ đề âm nhạc của Chopin đã thể hiện nỗi xúc động của thời đại, tình cảm yêu nước

Giai điệu: Sử dụng nhiều trang sức, Cronaticque và không ổn định giọng

Hình thức: Là người đầu tiên viết Prelute, Skerzo, Valse, thành tác phẩm độc lập

Sử dụng Polone, Mazurka, thành những tác phẩm độc lập cho Piano mang tính chất bác học

Hòa thanh: Rất phức tạp, chuyển giọng đột ngột, đôi khi không ổn định giọng

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Cả cuộc đời của Chopin gắn liền với cây đàn Piano, nơi ông sáng tác 58 bản Mazurka, thể loại âm nhạc được công nhận là đặc trưng của Ba Lan từ thế kỷ XIX Mazurka được viết ở nhịp 3, nhưng trọng âm thường rơi vào phách thứ 2 hoặc thứ 3, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong từng nhịp điệu.

16 Polonedo thể hiện tình cảm bất tử của tổ quốc

24 Prelute được sắp xếp theo vòng hòa âm giống như tổ khúc

Chopin là nhạc sĩ đầu tiên sáng tác Ballad cho nhạc cụ độc tấu, với hình thức chỉ có một chương mang tính chất anh hùng sử thi Bản Ballad g-moll của ông là một ví dụ tiêu biểu cho thể loại này.

3 bản Sonata, tiêu biểu là bản sonata b - moll

Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm đa dạng khác như 17 Valse, 19 Nocturne, 27 Etude, và 2 bản Concerto cho Piano kết hợp với dàn nhạc, cùng một số tác phẩm khác dành cho Piano.

Chopin sống và sáng tác với tình yêu nước sâu sắc, luôn đau đáu về tự do của tổ quốc Ông qua đời vào ngày 17-10-1849, mang theo nhiều trăn trở về quê hương chưa được thực hiện Lời di nguyện cuối cùng của ông là trái tim được trở về đất nước Ba Lan yêu quý.

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Mikhail Glinka

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Mikhail Glinka

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Glinka (1804-1857) là nhà soạn nhạc Nga đầu tiên có tầm ảnh hưởng toàn cầu, không chỉ hoàn thiện một giai đoạn âm nhạc mà còn mở ra hướng đi mới cho sự phát triển của âm nhạc Nga.

2 Ngôn ngữ Âm nhạc Âm nhạc của Glinka không chỉ mang đậm bản sắc dân tộc mà ông còn biết kế thừa những thành tựu tốt đẹp của nền nghệ thuật thế giới Phản ánh toàn bộ đời sống của nhân dân và vai trò của họ trong lịch sử

Giai điệu: điển hình hóa tính ca xướng, có tính mềm mại, sử dụng rộng rãi giai điệu dân ca

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Glinka sáng tác nhiều tác phẩm ở các thể loại khác nhau nhưng thành công hơn cả là thể loại nhạc kịch và giao hưởng

Nhạc kịch đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông, khẳng định sự phát triển của thể loại này tại Nga Tác phẩm nhạc kịch của ông thể hiện tinh thần anh hùng, tình yêu quê hương và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

Hai tác phẩm tiêu biểu "Ivanxuxanhin" và "Ruxlan và Lutmila" đã góp phần hình thành hai dòng nhạc kịch cổ điển Nga: nhạc kịch sử thi và nhạc kịch thần thoại sử thi Glinka đã áp dụng nguyên tắc giao hưởng trong nhạc kịch, tạo nên sự hòa quyện giữa âm nhạc và kịch bản.

“Ivanxuxanhin” giao hưởng Nga bắt đầu đi vào con đường phát triển

Glinka được xem là người sáng lập nền giao hưởng trong truyền thống sinh hoạt và cảnh trí của Nga Mặc dù ông không sáng tác nhiều giao hưởng, nhưng các tác phẩm của ông đã đặt nền móng cho sự phát triển của giao hưởng cổ điển tại quốc gia này.

Tác phẩm tiêu biểu: Phăngtadi “Kamarinxkaia” được viết theo cấu trúc biến tấu trên hai chủ đề dân gian

Bên cạnh những thể loại trên, Glinka còn viết nhiều tác phẩm ở các thể loại khác như Rômance, ca khúc, nhạc thính phòng, nhiều tiểu phẩm cho Piano

Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Nhung: Lịch sử âm nhạc thế giới – Phần II, Chủ nghĩa Âm nhạc Lãng mạn nửa đâù thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Frank Liszt

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Frank Liszt

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Sinh ngày 22/10/1810 tại Extecgadi, Hungari Ông là nhà sư phạm, chỉ huy, nghệ sỹ Piano tài ba và là nhà soạn nhạc lỗi lạc

Ông bắt đầu sự nghiệp biểu diễn âm nhạc từ khi mới 9 tuổi và học nhạc dưới sự hướng dẫn của người thầy từng là học trò của Beethoven Trong suốt cuộc đời, ông đã có cơ hội gặp gỡ nhiều nhân vật văn hóa và nghệ sĩ nổi tiếng như Beethoven, Victor Hugo, Chopin và Paganini Ông được coi là đại diện tiêu biểu của "Trường phái Vâyma" và qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1886.

Bài viết thể hiện cuộc đấu tranh đầy niềm say mê, những suy tư sâu sắc, cùng với hy vọng và hoài nghi, xen lẫn nỗi thất vọng Tác phẩm khắc họa rõ nét sự đối lập giữa tư tưởng tiến bộ và thực tế phức tạp, tạo nên một bức tranh sinh động về những cảm xúc và suy nghĩ của con người trong bối cảnh hiện tại.

Giai điệu giàu tính ngâm vịnh, giao hưởng hóa TP cho Piano, đề cao âm nhạc có tiêu đề

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Giao hưởng: Ông là người đầu tiên sáng tạo ra thể loại giao hưởng thơ một chương, với tác phẩm tiêu biểu là “Những khúc dạo đầu”

Rapsodi Hungari: 19 bản, tiêu biểu như số 2,6,12,14

TP cho piano: 3 tập “Những năm chu du”

Các tp chuyển thể cho đàn Piano: GH No 5,6,7 của Beethoven, GH Ảo tưởng, Haron ở Ý của Berlio,

Tài liệu tham khảo: Trương Nguyệt Ánh: Trích giảng Âm nhạc Châu âu – Nửa cuối thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Johanhs Bramhs

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Johanhs Bramhs

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Sinh ngày 7/5/1833 tại Hamburg Trong gia đình bình dân, cha ông là Nhạc công

Năm 1853, ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các nhạc sỹ nổi tiếng như Schumann và Liszt, điều này ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác của ông Ông cũng tham gia vào diễn đàn của trường phái "Lepzich" Năm 1862, ông di cư và định cư tại Viên, và ông qua đời vào ngày 3 tháng 4 năm 1897.

2 Ngôn ngữ Âm nhạc Ông là nhạc sỹ thuộc trường phái cổ điển của TK XIX, thuộc trường phái

Lepzich, đối lập với Vâyma, là một nhạc sĩ nổi bật với âm nhạc thể hiện tính mẫu mực của âm nhạc cổ điển Vien Tác phẩm của ông khám phá thế giới quan xa vời, phản ánh tư tưởng tiến bộ của thời đại.

Giai điệu: Khai thác âm nhạc dân gian Áo, Đức, Hungari, Tiệp

TP giao hưởng: đậm chất sử thi, tương phản rõ nét hình tượng chữ tình và kịch tính

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu Ông thành công chủ yếu ở thể loại khí nhạc

Các sáng tác cho Piano và thính phòng

Các sáng tác nổi bật cho Piano; Rapsodi Bungari: No5, Intermezzo OP 117, Nhiều capricio

Sáng tác thính phòng: có 24 TP lớn trong đó có 16 TP cho Piano, ngoài ra có các tp thuộc thể loại tứ tấu, tam tấu

Sáng tác cho dàn nhạc giao hưởng bao gồm 2 tác phẩm Serenard (Bi kịch và Ngày hội), 2 Uvecture, cùng với các biến tấu trên chủ đề Haynd Ngoài ra, còn có 2 tác phẩm cho Piano, 1 cho Violin và 1 cho Cello.

No1 c moll (anh hùng, đồ sộ), No2 D dur (vũ khúc, dan gian), No3 F dur (trữ tình kịch tính), No4 e moll (bi kịch)

Sáng tác cho thanh nhạc;

Bài viết tổng hợp 300 ca khúc, bao gồm 200 bài đơn ca với phần đệm piano, 20 bài song ca, 60 bài tứ ca và các bài đồng ca không có phần đệm Ngoài ra, còn có nhiều tuyển tập dân ca và dân ca cải biên.

01 Rekiem Đức OP 45 ( theo thể loại Cantat)

Tài liệu tham khảo: Trương Nguyệt Ánh: Trích giảng Âm nhạc Châu âu – Nửa cuối thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc Josph Verdi

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Josph Verdi

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1813 tại Ý trong một gia đình bình dân, ông không có điều kiện học âm nhạc bài bản Tuy nhiên, nhờ sự quyên góp của người dân, ông đã theo học tại Milan Trong bối cảnh đất nước Ý đầy biến động với sự xâm lược của quân Áo - Phổ và sự thống trị của thánh đường Vatican, ông đã thể hiện tư tưởng và nguyện vọng của nhân dân qua các tác phẩm của mình Ông qua đời vào ngày 27 tháng 1 năm 1901.

Nội dung: phản ánh hiện thực XH đương thời, đề cao tình yêu chung thủy, sự thanh cao phẩm chất của người nghèo

Giai điệu bóng bẩy của âm nhạc dân gian Ý được khai thác một cách tinh tế, phản ánh rõ nét phong trào giải phóng dân tộc Nhạc sĩ cổ điển vĩ đại này được coi là "Ca sĩ cách mạng" của Ý, với âm nhạc thể hiện hiện thực sâu sắc Ông đã đưa nhạc kịch Ý bắt nhịp với hơi thở của thời đại, nâng tầm nghệ thuật lên một đỉnh cao mới.

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu Ông thành công chủ yếu ở thể loại nhạc kịch

Sự nghiệp sáng tác của ông chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1; Thời niên thiếu và những năm 40: các sáng tác còn mang chất lãng mạn Các TP nổi bật:

Giai đoạn 2: Đỉnh cao thứ nhất của chủ nghĩa hiện thực Các TP mang tính hiện thực sâu sắc Các TP nổi bật: Rigoletto, T’rubadua, T’raviatta

Giai đoạn 3 đánh dấu đỉnh cao thứ hai của chủ nghĩa hiện thực vào những năm 50 - 60 và những năm cuối đời của tác giả Những tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này bao gồm "Buổi chiều Xixtin", "Vũ hội giả trang", "Động các-lốt" và "Sức mạnh số phận".

Tài liệu tham khảo: Trương Nguyệt Ánh: Trích giảng Âm nhạc Châu âu – Nửa cuối thế kỷ XIX

Nhà soạn nhạc George Bizet

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc George Bizet

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

Nghệ thuật nhạc kịch pháp đạt tới một trong những đỉnh cao nhất trong sự phát triển của mình ở thế kỷ xix với vở carmen của bizet

Bizet là một trong những nhạc sĩ thiên tài của Pháp, với các tác phẩm thể hiện truyền thống văn hóa tốt đẹp và quan điểm tiến bộ Ông được xem là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực trong âm nhạc Pháp thế kỷ XIX.

Mặc dù Bizet không sáng tác nhiều nhạc kịch, nhưng các tác phẩm của ông mang đến những nội dung sâu sắc và nghiêm túc, có ý nghĩa lịch sử quan trọng trong sự phát triển của nghệ thuật nhạc kịch Pháp Tác phẩm của Bizet thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức, với đề tài gần gũi từ cuộc sống thường nhật, được truyền tải bằng ngôn ngữ âm nhạc mới mẻ, táo bạo và chân thực, phản ánh ý chí vươn lên của con người.

Sáng tác của Bizet chủ yếu gắn liền với sân khấu, phản ánh truyền thống âm nhạc dân tộc Pháp Mặc dù ông cũng viết một số tác phẩm khí nhạc, nhưng chúng không để lại ấn tượng mạnh mẽ như những tác phẩm nhạc kịch của ông.

1 cuộc đời và sự nghiệp

Georges Bizet, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1838 tại Paris trong một gia đình âm nhạc, đã chịu ảnh hưởng lớn từ cha mẹ là những người có tài năng âm nhạc Ông bắt đầu học piano từ mẹ và vào nhạc viện Paris khi mới 10 tuổi, nơi ông học trong 9 năm về piano và sáng tác dưới sự hướng dẫn của các giáo sư nổi tiếng như Zimmermann, Marmontel, Benoist và Halévy, đặc biệt là Gounod Trong thời gian học, Bizet đã sáng tác nhiều tác phẩm như giao hưởng C dur, cantate, và nhạc kịch hài hước "Ngôi nhà của bác sĩ", mặc dù khả năng piano của ông lúc đó nổi bật hơn Ông cũng quen biết nghệ sĩ violon Pablo Sarasate, người đã giới thiệu cho Bizet nhiều điệu dân ca độc đáo của Tây Ban Nha, để lại ấn tượng sâu sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Tác phẩm tốt nghiệp nhạc viện của bizet, bản cantate clovic và clotida viết năm

1857 đã nhân được giải thưởng rome cùng lúc với tác phẩm này là operette bác sĩ mirak, mà bizet đã chia giải thưởng với lecocq trong concour offenbach

Bizet là một nhạc sĩ đa tài với khả năng đọc tổng phổ dàn nhạc trên đàn piano một cách nhẹ nhàng, nhờ vào trí nhớ âm nhạc tuyệt vời Ông không chỉ nổi bật với tài năng âm nhạc xuất chúng mà còn thể hiện sự quan tâm và hiểu biết sâu rộng về triết học, văn học, nghệ thuật tạo hình và sân khấu.

Với giải thưởng Rome, Bizet đã tới Ý để học tập và nghiên cứu âm nhạc, nơi ông bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của các tượng đài cổ đại và các bảo tàng Tại đây, ông đã gần gũi với E Guiraud, một nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc người Pháp, tạo nên mối liên kết nghệ thuật sâu sắc giữa họ Trong thời gian này, Bizet làm việc rất căng thẳng, nghiên cứu văn học và lịch sử nghệ thuật, và nhiều ý tưởng cho các tác phẩm như hài nhạc kịch "Don Prokopio" và giao hưởng "Vasco de Gama" đã xuất hiện.

Vào năm 1860, Bizet trở về quê hương trong bối cảnh cuộc đấu tranh đang bắt đầu Mặc dù cuộc sống của ông gặp nhiều khó khăn, ông vẫn không ngừng lao động Để kiếm sống và tiếp tục sáng tạo, Bizet đã dạy piano, đệm đàn và sáng tác nhạc giải trí.

Năm 1863, vở nhạc kịch "Những Người Mò Ngọc Trai" được công diễn, đánh dấu nỗ lực của Bizet trong việc khắc phục tính quy tắc và hiệu quả trang trí của nhạc kịch lớn Ông đã thể hiện những tình cảm mãnh liệt và tình yêu qua âm nhạc với giai điệu rõ ràng Tuy nhiên, chất lượng của vở nhạc kịch này còn yếu, dẫn đến việc nó nhanh chóng không còn xuất hiện trên sân khấu.

Năm 1867, Bizet hoàn thành nhạc kịch "Cô gái đẹp thành Perth", lấy cảm hứng từ thời Trung cổ và hình tượng quần chúng nhân dân Các cảnh nhân dân cùng với yếu tố kịch đã phát triển những đặc điểm tâm lý trong tác phẩm Năm 1868, ông hoàn thành bản giao hưởng "Fantaisie giao hưởng hồi tưởng về Rome" và cũng sáng tác nhiều tác phẩm cho piano, cải biên nhạc hát cho piano dưới tiêu đề "Nghệ sĩ piano - ca sĩ", đặt ra vấn đề quan trọng về tính ca xướng trong nhạc đàn.

Sáng tác trong những năm 70 của bizet đã thể hiện sự già dặn và điêu luyện trong nghệ thuật của mình

Năm 1873, Bizet sáng tác ouverture "Tổ Quốc" với tình yêu nước mãnh liệt, cùng với vở nhạc kịch dở dang "Don Rodrigo", trong đó nhân vật chính là người giải phóng nhân dân Thẩm mỹ của ông thể hiện sự đối lập giữa hạnh phúc và bi kịch, với mục tiêu nghệ thuật là phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống Trong bối cảnh văn hóa dân tộc phát triển, Bizet đã đưa nhạc kịch Pháp đến gần hơn với văn học Tác phẩm cuối cùng của ông, nhạc kịch "Carmen", thể hiện rõ nét chủ nghĩa hiện thực, trong khi vở nhạc kịch "Djamiled" năm 1871 cũng phản ánh số phận con người và những cảm xúc trữ tình.

Năm 1872, Bizet sáng tác nhạc cho vở kịch "L'Arlésienne" của A Dode, miêu tả cuộc sống của người nông dân miền Nam Pháp với những bi kịch trong tình yêu và thế giới nội tâm phong phú của nhân vật chính Vở kịch thể hiện chủ đề lớn về cuộc sống quần chúng, được Bizet lý giải một cách lạc quan, bất chấp nỗi đau khổ và số phận bi thảm của con người Âm nhạc của ông không chỉ phản ánh sự phức tạp của cảm xúc mà còn tạo ra những cảnh quan rộng lớn, đầy sức mạnh và niềm vui trong cuộc sống.

Âm nhạc trong vở kịch "L'Arlésienne" của Bizet thể hiện những thành tựu hiện thực của tác giả và đã được sắp xếp lại thành hai tổ khúc, trong đó tổ khúc thứ hai do Guiraud hoàn thành sau khi Bizet qua đời Tác phẩm này sau đó được công chúng đánh giá cao, đặc biệt là trong bối cảnh có xu hướng dân chủ Ngoài ra, Bizet cũng đã sáng tác 12 tiểu phẩm cho piano 4 tay về thế giới trẻ thơ, một số được chuyển thể cho dàn nhạc trong tổ khúc "Trò Chơi Trẻ Em" Thành công từ "L'Arlésienne" đã tạo động lực cho Bizet trong việc sáng tác "Carmen" với quan điểm rõ ràng về thẩm mỹ và nhạc kịch.

TP Carmen mang tính hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực số phận con người và khát vọng tự do Mặc dù có yếu tố bi kịch, tác phẩm vẫn toát lên tinh thần lạc quan Ông đã thực hiện nhiều đổi mới trong thể loại nhạc kịch, tạo nên những trải nghiệm mới mẻ cho khán giả.

Dùng thủ pháp cấu trấu theo số mục

Sử dụng Âm nhạc để dẫn dắt câu truyện và kết nối các tiết mục: các khúc mở màn

TP, các màn, nối các tiết mục các khúc aria, hát nói để liên kết các mục

Dùng nhạc để báo trước tình huống kịch, sử dụng phong phú nhuần nhuyễn thể hành khúc và các khúc Valse

Hợp xướng trẻ em và cảnh đông người giữu vai trò quan trọng trong thủ pháp sáng tác

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Sáng tác cho Piano và dàn nhạc; 12 tiểu phẩm 4 tay cho trẻ em

Giao hưởng Cantat: Vaxco Der Gama

Nhạc kịch "Carmen" của Bizet được viết từ năm 1873 và hoàn thành năm 1874, dựa trên truyện ngắn cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée Hai nhân vật chính, Hoze và Carmen, đã có sự chuyển biến rõ nét khi chuyển sang kịch bản nhạc kịch; Hoze trở thành người lương thiện nhưng nhu nhược, trong khi Carmen là cô gái sôi nổi, yêu tự do và có ý chí độc lập Hình ảnh Carmen không chỉ thể hiện cuộc sống cá nhân mà còn phản ánh tính nhân dân, với sự khắc họa rõ nét của nhân vật Escamilo và Micaela, tạo nên sự tương phản với Carmen Điểm độc đáo của nhạc kịch này còn nằm ở sự xuất hiện của các tầng lớp xã hội thấp như công nhân, lính và người bán hàng, những nhân vật chưa từng được khai thác trong nhạc kịch của tư sản thành thị.

Nhạc kịch "Carmen" của Bizet khai thác sâu sắc bi kịch của hai nhân vật chính, Carmen và Hoze, thể hiện sự sục sôi và đa dạng của cuộc sống thực tế Bizet khéo léo phát triển kịch bản qua những cảnh sống động, từ đội vệ binh đến hình ảnh người bán hàng và không khí quán rượu, tạo nên bức tranh chân thực về nhịp sống Mặc dù nhạc kịch đề cập đến những khía cạnh bi thảm của đời sống con người, nhưng Bizet không giới hạn nội dung trong nỗi bi kịch tối tăm Thay vào đó, tác phẩm vẫn vang lên những tư tưởng nhân văn và âm thanh lạc quan, mang lại hy vọng cho người nghe.

Nhà soạn nhạc Bedrich Smetana

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Bedrich Smetana

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc

B.smétana là nhà soạn nhạc, chỉ huy, nghệ sĩ piano, nhà hoạt động xã hội về âm nhạc với tinh thần yêu nước nhiệt tình ông đã cống hiến tất cả sức lực của mình cho tổ quốc và nhân dân âm nhạc của ông thấm đượm từ chủ nghĩa yêu nước tha thiết và biểu hiện chủ nghĩa lạc quan, niềm tin vững chắc vào tương lai smétana đã khái quát và phát triển truyền thống đạt tới tính chuyên nghiệp của âm nhạc tiệp khắc ở trình độ của nền âm nhạc kinh điển tây âu ông đã khẳng định đặc điểm dân chủ, dân tộc, đa dạng của âm nhạc tiệp khắc trong âm nhạc giao hưởng, nhạc kịch, thính phòng, piano và hợp xướng ông đã sáng tạo nghệ thuật biểu hiện những khuynh hướng có ý nghĩa nhất của nhân dân tiệp khắc - yêu tự do, dân chủ

1 cuộc đời và sự nghiệp

B.smétana sinh ngày 02 tháng 03 năm 1824 ở litomysl trong tầng lớp tiến bộ, được giáo dục trong tinh thần yêu tự do, dân chủ smétana nghiên cứu lịch sử dân tộc và đời sống của nhân dân gia đình smétana quan tâm tới các sự kiện cách mạng không chỉ của tổ quốc mà cả các đất nước láng giềng các sự kiện ấy giữ vai trò quan trọng cho sự hình thành ý thức người công dân ở nhạc sĩ

Ngay từ nhỏ, âm nhạc dân gian ở nông thôn đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn Smétana, ảnh hưởng đến suốt sự nghiệp sáng tạo của ông Gia đình ông thường tổ chức hòa nhạc, và từ năm 4 tuổi, ông đã bắt đầu học violon và tham gia biểu diễn bản tứ tấu của Haydn Đến 6 tuổi, Smétana đã biểu diễn piano trước công chúng và sáng tác những tác phẩm đầu tay đơn giản Ông nổi bật như một nghệ sĩ piano, với những sáng tác đầu tay là các điệu nhảy polka, khúc galop và điệu nhảy phong tục khác Smétana rất đam mê văn hóa âm nhạc quê hương, tự nghiên cứu các hoạt động của các nhà thức tỉnh và những nhạc kịch đầu tiên của Tiệp Khắc, đồng thời cũng học hỏi từ các tác phẩm cổ điển thế giới.

Trong những năm 1840, Bedřich Smetana đã dành toàn bộ thời gian cho âm nhạc, học hỏi từ nhạc sĩ nổi tiếng người Tiệp Khắc, Josef Prokofiev, tại Praha Đến 24 tuổi, ông đã đạt đỉnh cao trong nghệ thuật biểu diễn piano và sáng tác, sau đó biểu diễn tại nhiều nơi ở Tiệp Khắc, được công nhận là một nghệ sĩ piano tài năng.

Từ năm 1848, khi các sự kiện cách mạng diễn ra, cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở Praha Với tinh thần yêu nước và cách mạng, Smétana đã sáng tác nhiều tác phẩm, nổi bật là hợp xướng "Khúc ca tự do" Ông cũng tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, và nhờ sự hỗ trợ của Liszt, đã mở trường âm nhạc tại Tiệp Khắc, đồng thời tổ chức và chỉ huy nhiều buổi hòa nhạc.

Tại Praha, nhạc cổ điển phát triển mạnh mẽ nhờ sự đóng góp của hội khuyến nhạc, trong đó có Smétana, người đã đặt nền móng cho sự nghiệp hòa nhạc tại Tiệp Khắc Ông không chỉ tổ chức mà còn lãnh đạo nhiều hợp xướng nổi tiếng, góp phần lan tỏa văn hóa âm nhạc trong cộng đồng.

Trong thời kỳ này, Smetana sáng tác nhiều tác phẩm nổi bật như liên khúc polka, hành khúc sinh viên, và khúc ouverture hân hoan, thể hiện sự kết nối với quê hương Tiệp Khắc Dưới ảnh hưởng của Liszt, ông đã viết ba bản thơ giao hưởng đầu tiên, trong đó có các tác phẩm Richard III, Mặt trận Wallenstein và Hakon Jarl Sau những biến cố khủng bố và bắt bớ tại Thụy Điển, nỗi đau mất mát vợ và con gái đã được thể hiện sâu sắc trong bản Trio bi thảm g-moll.

Vào những năm 60, Smetana trở về tổ quốc và trở thành người lãnh đạo phong trào âm nhạc của nhân dân Tiệp, được công nhận là nhà soạn nhạc dân tộc Năm 1862, ông chỉ huy tại nhà hát mới khai trương và viết những vở nhạc kịch đầu tiên Năm 1863, Smetana hoàn thành vở nhạc kịch "Những người Brandebourg ở Tiệp", ca ngợi tinh thần yêu nước và phản ánh cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở thế kỷ XIII Ông tiếp tục sáng tác các vở hài nhạc kịch như "Bán vợ chưa cưới", "Dalibor" (1887), và "Libuse" (1870-1872), cùng với một số vở comique như "Hai quả phụ", "Cái hôn", và "Bí mật" Vào những năm 80, ông cho ra mắt vở nhạc kịch cuối cùng mang tên "Bức tường quỷ" (1882).

Những tác phẩm lớn của Smetana được sáng tác trong giai đoạn ông phải đối mặt với tình trạng sức khỏe yếu kém do bị điếc nặng, bắt đầu từ năm 1874 Tác phẩm "Tứ tấu trong cuộc đời tôi" viết năm 1876 thể hiện nỗi đau khổ của con người, nhưng chương IV - chương kết lại mang đến một không khí sáng sủa với điệu nhảy dân gian folka vang lên.

Liên khúc giao hưởng "Thơ Tổ Quốc Tôi", bắt đầu từ năm 1874, thể hiện tình yêu sâu sắc của nhạc sĩ - nhà yêu nước đối với quê hương Đến năm 1879, ông hoàn thành tác phẩm gồm sáu bản, mỗi bản mang một tiêu đề riêng, trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và là một trong những thành tựu quan trọng nhất của thể loại giao hưởng có tiêu đề trên thế giới.

Trong khoảng thời gian này, Smétana sáng tác vũ khúc Tiệp cho đàn piano với 14 bản, được đánh giá cao và thể hiện rõ nét âm nhạc dân tộc Tiệp Tiếp theo, ông cho ra đời bản tứ tấu số 2 và tổ khúc giao hưởng Carnaval Tiệp.

Smétana còn là tác giả của những tác phẩm cho thanh nhạc: hợp xướng, ballade thanh nhạc, liên ca khúc…

Smétana là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại của thế kỷ 19, nổi bật với sự lạc quan và sức sống mãnh liệt Ông đã đóng góp quan trọng vào nền âm nhạc Tiệp Khắc, định hình con đường hiện thực và dân tộc cho nghệ thuật âm nhạc.

2 Ngôn ngữ Âm nhạc Đề tài: anh hùng, dân tộc

Nội dung: Tình yêu tổ quốc, thể hiện tính hiện thực, tính nhân dân

Chất liệu ÂN: Khai thác chất liệu âm nhạc dân gian, ngôn ngữ Tiệp

71 Ông là nhạc sỹ cổ điển đầu tiên của Tiệp

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Tác phẩm của Smetana phong phú với nhiều thể loại, nhưng nhạc kịch và giao hưởng là hai lĩnh vực nổi bật, đạt tới đỉnh cao không chỉ trong âm nhạc Tiệp Khắc mà còn được công nhận trên toàn thế giới.

Smétana đã kế thừa và phát triển truyền thống âm nhạc của Tiệp, đồng thời ghi dấu ấn trong thể loại nhạc kịch với tính dân tộc, dân chủ và hiện thực Nhạc kịch của ông phản ánh những sự kiện và vấn đề xã hội của thời đại, với nhân vật là những con người bình dị và anh hùng lịch sử gần gũi với quần chúng Tác phẩm của Smétana được chia thành hai dòng chính: anh hùng lịch sử và hài hước Thể loại hài hước trong nhạc kịch của ông không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những thông điệp xã hội sâu sắc, lên án sự ích kỷ và tham lam của giới quý tộc Điều này thể hiện qua việc sử dụng các tiết mục tập thể và những nhân vật gắn bó với cuộc sống quần chúng, cùng với yếu tố hát nói phản ánh đặc điểm ngôn ngữ cổ xưa của dân tộc.

Nhạc kịch "Bán vợ chưa cưới", hoàn thành năm 1866, là một tác phẩm hài nhạc kịch dựa trên kịch bản của nhà văn Tiệp Karensabina, đánh dấu giai đoạn cổ điển trong sự phát triển của nhạc kịch Tiệp Tác phẩm này đã trở nên phổ biến và chiếm vị trí quan trọng trong nền nhạc kịch thế giới Với thể loại hài hước, "Bán vợ chưa cưới" thể hiện truyền thống phong tục và nhạc kịch dân tộc, khắc họa tính dân gian qua âm điệu giản dị, tươi mát và ngôn ngữ âm nhạc dân gian Tính hiện thực được thể hiện qua các cảnh quần chúng, tạo nên những bức tranh sinh động của làng quê Tiệp Trong các màn diễn, Smétana đã khéo léo đưa vào những điệu múa đặc trưng như polka, furiant và skotchna.

Nhà soạn nhạc Antonin Dvorak (1841- 1904)

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Antonio Dvorak

Kỹ năng: Nắm được ngôn ngữ âm nhạc và phong cách sáng tác của soạn nhạc Antonio Dvorak

A.dvorak cùng với smétana là những người đặt nền móng cho nền âm nhạc kinh điển của tiệp khắc đối với lịch sử âm nhạc tiệp khắc, ông được đánh giá là người tiếp nhận trực tiếp những truyền thống của smétana sáng tác của ông gồm đủ các thể loại khác nhau nhưng trội bật nhất và có ý nghĩa nhất đó là đã dựng nên nền giao hưởng của tiệp tới trình độ kinh điển của tây âu dvorak đã giành tất cả sức lực của mình cho sự phát triển của nền âm nhạc tiệp đậm bản sắc dân tộc ông còn là thầy dạy của nhiều thế hệ nhạc công, nhà soạn nhạc trẻ tuổi của tiệp và đã bảo vệ những nguyên tắc dân chủ, nhân dân trong nghệ thuật

Sáng tác của Dvořák thể hiện tình yêu quê hương mãnh liệt và gắn liền với phong trào giải phóng của nhân dân Tiệp Khắc trong thế kỷ 19 Các tác phẩm của ông, từ nhạc kịch, giao hưởng đến nhạc thính phòng và thanh nhạc, đều mang đậm chất giai điệu và sự tươi mới, dựa trên nền tảng dân ca và dân vũ phong phú Âm nhạc của Dvořák khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời của đất nước, hình ảnh quá khứ anh hùng và sự phong phú tâm hồn con người, thể hiện chủ nghĩa lạc quan và tính nhân văn sâu sắc.

1 cuộc đời và sự nghiệp

A.dvorak sinh ngày 08 tháng 09 năm 1841 tại làng negalozeves bên bờ sông vltava gần thủ đô praha ông lớn lên ở nông thôn và đã tìm thấy sự phong phú kỳ lạ của những bài ca, điệu nhảy dân gian từ nhỏ, dvorak đã có năng khiếu âm nhạc, lúc đầu học violon rồi đến viola và organ ông đã hiểu thấu đáo truyền thống dân tộc và nền văn hóa âm nhạc tiệp những thể nghiệm sáng tác đầu tay là những khúc nhạc đàn nhỏ dựa trên những bài ca và điệu nhảy dân gian

Năm 1857, Antonín Dvořák theo học tại trường dạy đàn organ ở Praha, nơi ông xuất sắc trong lý thuyết và nghệ thuật chơi đàn organ, piano và viola Sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập dàn nhạc nhà hát lâm thời với vai trò chơi viola Vào đầu những năm 60, Dvořák kết thân với Bedřich Smetana và tham gia biểu diễn các tác phẩm nhạc kịch và giao hưởng của ông, coi đó là nguồn cảm hứng sáng tạo Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng nghệ thuật, Dvořák phải trải qua con đường sáng tạo gian nan Ông không hài lòng với nhiều tác phẩm đầu tay và đã hủy bỏ phần lớn chúng, chỉ giữ lại hai bản giao hưởng xuất bản năm 1865 cùng một số tác phẩm khác như ouvertune cho dàn nhạc và messa Trong thời gian này, ông cũng viết liên khúc Kiparisi, nhưng đã chỉnh sửa khi xuất bản.

76 lại song, những sáng tác thời kỳ đầu đã chứng tỏ quá trình căng thẳng trong sự tìm tòi sáng tác của dvorak

Nững năm 70, dvorak đã thể nghiệm vào lĩnh vực sáng tác nhạc kịch với vở nhạc kịch đầu tiên alfred nhưng cũng không làm ông hài lòng

Trong những năm 70, các sáng tác của Dvořák thể hiện sự phát triển mạnh mẽ và mối quan hệ gắn bó với nhân dân, đặc biệt qua bản cantata đồ sộ cho hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng, mang thông điệp yêu nước Trong ba vở nhạc kịch "Ông vua và người thợ mỏ", "Người ngang bướng" và "Người nông dân khôn ngoan", ông tiếp tục phát triển phong tục dân gian trong nhạc kịch Tiệp Dvořák cũng đổi mới truyền thống dân tộc trong nhạc kịch anh hùng yêu nước "Vanda" Bên cạnh nhạc kịch, các tác phẩm như trio clavichord, tứ tấu dây và concerto piano trong giai đoạn này thể hiện sự sáng tạo không ngừng của ông, được phản ánh rõ nét trong oratorio "Stabat Mater" và tứ tấu rê thứ tặng Brahms, hoàn thành năm 1877.

Cuối những năm 70, Antonín Dvořák đã nổi tiếng như một nhà soạn nhạc thiên tài, đặc biệt với tác phẩm Vũ khúc Slaves (1878) và liên khúc thứ hai hoàn thành năm 1886 Tác phẩm này khái quát những tính chất dân tộc đặc trưng của nền văn hóa dân gian người Slaves Năm 1879, Dvořák tiếp tục thể hiện những đặc điểm này trong tổ khúc Tiệp, cùng với hàng loạt tác phẩm giao hưởng và nhạc đàn khác, nổi bật là tứ tấu Esdus (1879) và Dumka, phản ánh các cảnh phong tục dân gian.

Những sáng tác giao hưởng của Dvořák trong thập niên 80 đã góp phần quan trọng vào sự phát triển nghệ thuật giao hưởng Tiệp, đồng thời nâng cao vị thế của ông trong nền âm nhạc Tây Âu Mặc dù Dvořák sáng tác tổng cộng 9 bản giao hưởng, nhưng chỉ có 5 bản được công bố, trong đó bản giao hưởng số 9 thực chất là bản số 5.

Giao hưởng của Dvořák thể hiện sự phong phú trong hình tượng nhân vật quá khứ, bức tranh thiên nhiên và cuộc sống đấu tranh anh hùng Tác phẩm của ông chứa đựng nhiều cảm xúc đa dạng, phản ánh khát vọng tự do của nhân dân Tiệp.

Vào những năm 90 của thế kỷ 19, nhạc sĩ Dvořák đã biểu diễn tại nhiều quốc gia như Moscow, Peterbourg, London, Berlin, Budapest và New York với vai trò là nhạc trưởng Năm 1890, ông bắt đầu giảng dạy sáng tác tại Nhạc viện Praha và sau đó có gần 3 năm làm việc tại New York, nơi ông đảm nhận vị trí chỉ huy dàn nhạc và giám đốc Nhạc viện từ năm 1892 đến 1895.

Trong những năm tiếp theo, nhạc sĩ Dvořák đã đạt được những thành tựu kinh điển trong các thể loại âm nhạc, với những tác phẩm nổi bật như oratorio "Sainte Ludmila", "Messa" và "Réquiem" Đỉnh cao sáng tác của ông diễn ra vào những năm 90 với giao hưởng số, thể hiện sự phát triển vượt bậc trong nghệ thuật âm nhạc của ông.

Bài viết đề cập đến 5 tác phẩm âm nhạc nổi bật, bao gồm "Concerto cho violoncelle", nhạc kịch "Rusalka", và các ouverture như "Giữa thiên nhiên", "Carnaval", "Othello" Ngoài ra, còn có những tác phẩm thơ giao hưởng, tứ tấu dây, và sonate cho violon và piano Bên cạnh đó, hai nhạc kịch "Con quỷ" và "Catherine" (1988) được viết dựa trên truyền thuyết dân gian Tiệp, cùng với "Armida" lấy cảm hứng từ bài thơ của nhà thơ thời Phục hưng Tasso.

Dvorak mất năm 1904 khi nhạc kịch armida được tiếp nhận ở nhà hát dân tộc ở praha

Các tác phẩm của Antonín Dvořák đã thể hiện tính độc đáo và ý nghĩa toàn cầu của âm nhạc Tiệp Khắc, với nhiều chủ đề về tổ quốc, thiên nhiên và quá khứ của người Slavs Dvořák là một trong những nhà soạn nhạc hiếm hoi có khả năng sáng tác và nắm vững đa dạng thể loại, để lại một di sản phong phú bao gồm 10 vở nhạc kịch, nhiều cantata và oratorio, 9 giao hưởng, 3 concerto cho nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc, cùng nhiều tác phẩm khác như ouverture, rhapsody, và các vũ khúc, trong đó có 2 liên khúc vũ khúc Slavs.

Giai điệu của Dvořák mang vẻ đẹp phóng khoáng và thể hiện nhiều cảm xúc khác nhau Ông sử dụng hòa âm chi tiết để hỗ trợ cho giai điệu và hình tượng, đồng thời ưa chuộng lối bè tông Các tác phẩm của Dvořák tràn đầy tính trữ tình, thể hiện sâu sắc cảm xúc nội tâm của con người.

Dvorak ít khi sử dụng tiêu đề cho tác phẩm của mình, nhưng âm nhạc của ông lại thể hiện rõ ràng các hiện tượng và hình tượng mang tính hiện thực cao Mặc dù một số tác phẩm có tiêu đề, nhưng cách tiếp cận của ông khác biệt so với quan điểm của Liszt và Wagner.

Dvorak tiếp nối di sản của Smetana bằng cách sử dụng âm điệu và tiết tấu đặc trưng của các làn điệu dân ca và dân vũ của Tiệp Khắc và người Slav Khác với Smetana, ông ít tham gia vào các hoạt động xã hội, mà tập trung vào sáng tác và chỉ huy, đồng thời còn là một nhà sư phạm Tất cả tâm huyết và tư duy của ông đều dành cho quê hương Tiệp Khắc thân yêu.

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Nhà soạn nhạc Edvard Grieg

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Edvard Grieg

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc Nauy và nhà soạn nhạc Edvard Grieg

E.grieg không chỉ là nhà soạn nhạc mà còn là nghệ sĩ piano có tài, nhà chỉ huy và nhà hoạt động xã hội lớn của nauy grieg được coi là người đứng đầu trường phái âm nhạc nauy nửa cuối thế kỷ xix, có ảnh hưởng lớn tới các nhạc sĩ vùng scandinaves và thế giới

Âm nhạc của Grieg thể hiện một cách thơ mộng những truyền thống dân chủ của cuộc sống Na Uy, khẳng định đặc điểm lãng mạn và cá tính độc đáo của nền văn hóa nơi đây Những ước mơ lãng mạn của ông được xây dựng trên nền tảng nhân văn và hiện thực, phản ánh những ấn tượng, suy tư và tâm trạng liên quan đến cuộc sống dân tộc Nghệ thuật của Grieg không chứa đựng những xung đột lớn mà thay vào đó, miêu tả tinh thần mạnh mẽ của nhân dân Na Uy, vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống Ông hòa quyện tính chất lãng mạn với sự khắc nghiệt của cuộc sống phương Bắc, cùng với sự độc đáo thơ mộng của truyền thống và sự phong phú của ảo tưởng dân gian.

Grieg đã thể hiện tình cảm và suy nghĩ của mình qua ngôn ngữ âm nhạc giản dị, dễ hiểu Ông nghiên cứu nền văn hóa dân gian Na Uy và tính chất đặc trưng của nó, từ đó áp dụng vào hệ thống biểu hiện âm nhạc mới Tác phẩm của ông tập trung vào những đặc điểm độc đáo nhất của dân tộc và đất nước Bắc Âu.

1 cuộc đời và sự nghiệp

E.grieg sinh ngày 15 tháng 06 năm 1843 tại bergen- trung tâm của nền văn hóa dân tộc và có nhiều nhà hoạt động nổi tiếng như ibsen, ole bull… lãnh đạo các hoạt động sáng tạo ở đây tuy nhiên grieg lại tiếp nhận nền học vấn âm nhạc ở nhạc viện leipzig Ông sinh ra trong một gia đình gốc là người scotland nhưng sống nhiều đời ở nauy bố là lãnh sự anh ở thành phố bergen, mẹ là nghệ sĩ piano có tài và là thầy dạy đàn đầu tiên cho grieg người đầu tiên quan tâm đến tài năng của ông là ole bull trong những thể nghiệm sáng tác thời trẻ cho grieg, ông đã nhìn thấy nhạc sĩ tương lai của nauy từ năm 1858 đến 1862, grieg đã học tại nhạc viện leipzig mặc dầu những tháng năm học tại đây không thể đáp ứng với mong muốn sáng tạo của ông cho nền âm nhạc nauy nhưng lại có vai trò rất quan trọng đối với nhạc sĩ grieg đã có dịp tiếp xúc với các thành tựu to lớn của nền văn hóa âm nhạc tây âu như trong nghệ thuật của schumann và chopin, weber và schubert cũng như của mozart và beethoven… đã tạo nên những ảnh hưởng mạnh mẽ trong sự hình thành sáng tạo của nhạc sĩ thời kỳ ở leipzig, ông đã viết hàng loạt các khúc romance và các khúc nhạc cho đàn clavir tiếp theo, grieg còn tiếp tục học tập với nhà soạn nhạc nielsgade ở thủ đô copenhagen (đan mạch) và cảm thấy thoải mái hơn khi học ở nhạc viện leipzig nhưng có lẽ, sự dẫn dắt để grieg trở thành nhà soạn nhạc của nauy

Năm 1881 đánh dấu sự kết nối giữa Edvard Grieg và nhà soạn nhạc người Na Uy Rikard Nordraak, một thiên tài âm nhạc và người yêu nước, người đã khuyến khích Grieg đóng góp cho nền âm nhạc dân tộc Na Uy Cùng năm đó, họ đã thành lập hội Evterpa với mục tiêu quảng bá tác phẩm của các nhà soạn nhạc trẻ Na Uy Tình bạn giữa Grieg và Ole Bull cũng rất quan trọng, vì trong những năm sống xa quê hương, Grieg đã tìm thấy sự phong phú trong sáng tác dân gian và vẻ đẹp tự nhiên của Na Uy.

Vào năm 1866, Grieg sống tại Oslo, nơi diễn ra nhiều hoạt động trí thức và âm nhạc sôi nổi Ông cùng vợ, một ca sĩ, đã tham gia các buổi biểu diễn âm nhạc thính phòng Grieg trở thành người đứng đầu hội khuyến nhạc và chỉ huy nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng như Haydn, Mozart, Beethoven, Schumann, Mendelssohn, cũng như các tác phẩm của các nhà soạn nhạc Scandinavia và Na Uy.

Trong thời kỳ sáng tác nổi bật, Grieg đã cho ra đời nhiều tiểu phẩm cho đàn piano, bao gồm sonate piano op.7, sonate violin op.8 và ouverture giao hưởng mùa thu hoàn thành tại Rome Năm 1867, hai tác phẩm nổi tiếng của Grieg được công bố, đó là tập đầu những khúc trữ tình op.12 và sonate violin thứ hai op.13.

Những tác phẩm của Grieg, đặc biệt là khúc trữ tình và sonate violon thứ hai, thể hiện sự đơn giản độc đáo và tài năng điêu luyện của ông trong thể loại nhạc thính phòng Đồng thời, âm nhạc của ông mang đậm tính chất dân tộc, phản ánh âm hưởng và tiết tấu đặc sắc của nền âm nhạc dân gian Na Uy Trong thời gian sống ở Rome, dưới sự khuyến khích của Liszt, Grieg đã sáng tác concerto piano a-moll op.16 vào năm 1868, đánh dấu đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo của ông và được thế giới công nhận.

Ông đã nhận trợ cấp suốt đời từ chính phủ Na Uy để tập trung vào sáng tác và biểu diễn âm nhạc Năm 1874, Grieg trở về Bergen, quê hương của mình, và giai đoạn này đánh dấu sự điêu luyện trong sáng tạo của ông, đặc biệt là với nhạc cho vở kịch "Peer Gynt" của Ibsen, hoàn thành vào năm 1876 và được công chúng đón nhận nồng nhiệt Ngoài tác phẩm nổi tiếng này, Grieg còn sáng tác nhiều tác phẩm khác như "Những bài ca op.18" và "Liên khúc thanh nhạc op.25" dựa trên thơ của Ibsen, cùng với nhiều tác phẩm cho đàn clavichord Từ năm 1875 đến 1886, ông đã sáng tác "Ballade op.24" cho piano, tứ tấu dây op.27, sonate thứ ba cho violon op.45, và nhiều khúc nhạc trữ tình khác Vào những năm 90, Grieg tiếp tục viết những khúc nhạc trữ tình và điệu nhảy giao hưởng cho dàn nhạc lớn trên mô-típ Na Uy op.64.

Trong giai đoạn cuối đời, Edvard Grieg thường xuyên biểu diễn tại nhiều thành phố lớn như Đức, Paris, Vienna, London và Praha, đồng thời có mặt ở Bayreuth để thưởng thức tác phẩm "Parsifal" của Wagner Trong những chuyến đi này, ông đã gặp gỡ nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Brahms và Tchaikovsky Công việc sáng tạo của Grieg trở nên căng thẳng khi ông vừa sáng tác vừa viết báo phê bình âm nhạc, trong đó ông đã viết về Schumann, Wagner, Mozart, bảo vệ Brahms và giới thiệu về Debussy cùng Fauré Những đóng góp này của Grieg đã hỗ trợ cuộc đấu tranh của các nhạc sĩ tiến bộ cho chủ nghĩa hiện thực và tính dân tộc trong âm nhạc, khiến ông được đánh giá cao trong nghệ thuật thế kỷ XIX.

Cũng như Chopin, Grieg là một nhà yêu nước sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương qua tác phẩm của mình Ông thường lồng ghép những nét văn hóa dân tộc đặc trưng, như các làn điệu dân ca và vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước vào âm nhạc.

Chủ đề âm nhạc; hình ảnh tổ quốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt

Giai điệu; Trữ tình mềm mại, sử dụng nhiều âm láy, âm tựa, âm muộn, tiết tấu đặc biệt

Hòa thanh; yêu thích sử dụng các điệu thức dân gian (Ly điêng)

Hình thức; cân phương vuông vắn, gần với cổ điển

Phối khí; chủ yếu sử dụng bè dây, đặc biệt chú trọng đến đàn Harp

3 Thể loại sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu

Sáng tác của Grieg rất phong phú, bao gồm khoảng 150 tác phẩm cho piano, 125 bài hát và romance, cùng với các thể loại nhạc thính phòng, sonate, ballade, concerto piano, và âm nhạc cho kịch Peer Gynt Ông là một nhà trữ tình, nhưng nhiều tác phẩm của ông cũng mang âm hưởng trữ tình- sử thi, thể hiện sự kịch tính và anh hùng Grieg phản ánh vẻ đẹp sử thi của quê hương, sự lãng mạn trong huyền thoại dân gian, cùng với tính trữ tình và ấm áp trong tâm lý dân tộc Toàn bộ sáng tác của ông gắn liền với tổ quốc, thể hiện tính hiện thực trong nghệ thuật của mình.

Âm nhạc của Grieg phản ánh sâu sắc những đặc trưng của nền văn hóa dân gian Na Uy, nhấn mạnh sự tự do chính trị của nông dân, từ đó tạo ra những tác phẩm nghệ thuật trong sáng và giàu cảm xúc Mối liên hệ mật thiết với thiên nhiên đã mang lại cho nghệ thuật một vẻ đẹp thơ mộng và những ước mơ mãnh liệt Nhạc dân gian Na Uy bao gồm nhiều thể loại như anh hùng ca, hát ru, trào phúng và trữ tình, với những bài hát thường mang tính chất nhảy múa và tự do ngẫu hứng, đặc trưng trong sáng tác của Grieg Giai điệu thường thể hiện sự tương phản giữa nhịp điệu sinh động và cảm xúc trữ tình, sử dụng nhiều yếu tố trang sức và âm điệu điển hình của các điệu múa dân gian Na Uy.

Nhịp cuối cùng thể hiện rõ sự tương quan giữa tiết tấu và âm điệu, một đặc trưng nổi bật trong các tác phẩm của Grieg Sự chuyển động này thường được tìm thấy trong các sáng tác của ông, đặc biệt là trong chủ đề chính của concerto piano, nơi mà kết cấu tương tự như ví dụ 248 được áp dụng.

Trong tác phẩm của Grieg, âm hình tiết tấu hành khúc được kết hợp hài hòa với âm hình tiết tấu nhảy múa, điển hình là trong khúc nhạc ngày cưới ở Troldhaugen.

Các nhạc sĩ nhóm khỏe của Nga

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về các nhạc sĩ nhóm khỏe của Nga

Kỹ năng: Học sinh hiểu biết sâu hơn về lịch sử Âm nhạc Nga, cũng như phong cách sáng tác của các nhạc sĩ nhóm khỏe của Nga

Nhóm Khỏe, hùng mạnh, hay còn gọi là nhóm Balakirev, là một trường phái âm nhạc Nga nổi bật vào nửa cuối thế kỷ 19, bao gồm năm nhà soạn nhạc tài ba: Balakirev, César Cui, Moussorgski, Borodine và Rimski-Korsakov.

Những nghệ sĩ từ khắp nơi ở Nga đã tập hợp lại dưới sự dẫn dắt của Balakirev tại Saint Petersburg, nhờ tình yêu âm nhạc Họ nỗ lực tự học hỏi và sáng tạo, từ đó hình thành một trường phái âm nhạc nổi tiếng không chỉ tại Nga mà còn trên toàn thế giới, đặc biệt là ảnh hưởng đến nền âm nhạc Pháp và trường phái ấn tượng.

Xã hội Nga nửa cuối thế kỷ XIX trải qua nhiều biến động lớn, với chế độ chính trị phản động của Nga Hoàng và sự tồn tại của chế độ nông nô, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra gánh nặng cho người dân Cuộc chiến tranh Crimea (1853-1856) làm gia tăng sự bất mãn trong các tầng lớp nhân dân Năm 1861, Nga Hoàng Alexandre II, lo sợ về một cuộc cách mạng, đã ký sắc lệnh giải phóng nông nô, nhưng tình cảnh của người nông dân vẫn không cải thiện Cuộc đấu tranh giải phóng diễn ra sôi nổi và phong phú, được phản ánh sâu sắc trong văn học và nghệ thuật Những nhà triết học nổi tiếng như Bélinsky, Tchernichevsky, Dobrolubov đã có những công trình có ý nghĩa lớn Nghệ thuật hội họa phát triển với trường phái nhóm triển lãm lưu động, trong khi văn học nổi bật với những nhà văn tiến bộ xung quanh tờ báo Người cùng thời, và lĩnh vực âm nhạc có nhóm 5 người - nhóm luôn nâng cao ngọn cờ âm nhạc dân tộc từ Glinka.

Nhóm 5 người- nhóm hùng mạnh được tập hợp trên một cơ sở cùng chí hướng, đấu tranh cho những quan điểm tiến bộ và những nguyên tắc nghệ thuật dân tộc, dân chủ họ chịu những ảnh hưởng của quan điểm thẩm mỹ của các nhà cách mạng dân túy, đề cao tính hiện thực và tính nhân dân trong sáng tạo khẩu hiệu quán triệt quan điểm đường lối nghệ thuật của nhóm hùng mạnh là nội dung cuộc sống trong tác phẩm của họ, xuyên suốt là chủ đề nhân dân và chủ đề tổ quốc, với nhân vật trung tâm là người nông dân lao động vì vậy, họ đã dựa trên chất liệu âm nhạc dân gian nông thôn làm nền tảng để hình thành các chủ đề âm nhạc của mình

Nhóm nhạc hùng mạnh đã tiếp nối và phát triển quan điểm về nhạc kịch và giao hưởng từ Glinka, cùng với các nhạc sĩ Nga đương thời, họ đã đưa nghệ thuật nhạc kịch và giao hưởng của Nga lên đỉnh cao thế giới.

Các nhạc sĩ trong nhóm hùng mạnh không chỉ sáng tác mà còn tích cực tham gia vào lĩnh vực phê bình âm nhạc Họ hợp tác với những nhà lý luận âm nhạc nổi tiếng như Serov và Stassov để tuyên truyền và phát triển các quan điểm âm nhạc.

Vào giữa thế kỷ 19, hai nhạc viện quan trọng được thành lập tại Pétersbourg và Moskva, do Rubinstein Antoine và Rubinstein Nicolas lãnh đạo, góp phần vào sự phát triển tư tưởng tiến bộ và dân chủ trong âm nhạc Đồng thời, nhờ sáng kiến của Balakirev và Lomakin, các trường nhạc không thu học phí ra đời, đào tạo nhiều nhạc sĩ, nhạc công, cũng như các danh ca và diễn viên hợp xướng Những cơ sở này không chỉ nâng cao trình độ nghệ thuật mà còn thúc đẩy giáo dục âm nhạc phổ cập trong cộng đồng.

Sự khác biệt giữa Rubinstein, người thiên về âm nhạc chuyên nghiệp phương Tây, và Stassov, Sérovi, Balakirev, những người chú trọng âm nhạc dân gian, đã được các nhạc sĩ thế hệ sau khắc phục Nhóm nhạc sĩ mạnh mẽ này đã vượt qua những hạn chế về kiến thức âm nhạc chuyên nghiệp, đóng góp lớn vào sự cách tân của nền âm nhạc Nga vào cuối thế kỷ XIX.

M.a.balakirev sinh ngày 2 tháng 1 năm 1836 ở hạ novogorov từ nhỏ, balakirev đã được học đàn piano với nghệ sĩ piano với nghệ sĩ nên lại trở về quê hương học với nhạc trưởng nhà hát địa phương được sự bảo trợ của oulibichev , ông đã có điều kiện học tập thiên về âm nhạc và sau trở thành nhạc trưởng của dàn nhạc oulibichev từ năm 1853 đến

Năm 1855, Balakirev tiếp tục học tại Đại học Kazan nhưng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc với vai trò nghệ sĩ piano, nhạc trưởng và nhà sáng tác Cuối năm đó, ông đã đến Saint Petersburg để gặp Glinka, người đã đánh giá cao những quan niệm tiến bộ của ông Tài năng âm nhạc của Balakirev được giới nghệ thuật Saint Petersburg công nhận, ngang tầm với Rubinstein Ông còn kết thân với Stusov, và tình bạn giữa họ trở nên thân thiết suốt cuộc đời Năm 1856, Balakirev thành lập nhóm khỏe tại Saint Petersburg, nơi ông hướng dẫn các nhạc sĩ sáng tác bằng cách trình diễn tác phẩm của mình để toàn nhóm có thể trao đổi và nhận xét.

Balakirev dành thời gian sưu tầm dân ca và vào mùa hè năm 1860, ông đã thu thập được 40 bài hát trong chuyến đi dọc sông Volga Ông cũng ba lần tới Kavkaz, nơi những ấn tượng về miền Nam đã được ghi lại trong tác phẩm "Fantaisie Piano Islamey" và giao hưởng "Thamar".

Vào những năm 60, Balakirev tích cực tham gia các hoạt động xã hội liên quan đến âm nhạc, tổ chức trường nhạc miễn phí và chỉ huy các buổi hòa nhạc Năm 1866, ông đến Praha để dựng tác phẩm "Rousslan và Ludmila" của Glinka Tuy nhiên, vào đầu những năm 70, những mâu thuẫn với các nhạc sĩ trong nhóm cùng với nỗi buồn cá nhân đã dẫn đến khủng hoảng tinh thần, khiến ông gần như xa rời âm nhạc Đến cuối những năm 70 và đầu 80, Balakirev trở lại với âm nhạc, đảm nhận vai trò chỉ huy dàn nhạc và giám đốc trường nhạc mà không nhận thù lao Năm 1883, ông được bổ nhiệm làm nhạc trưởng hợp xướng hoàng gia và từ năm 1894, tiếp tục sáng tác những tác phẩm còn dang dở.

Cho tới cuối đời, balakirev vẫn giữ trọn tình cảm của mình với glinka, ông đã tổ chức biểu diễn, dựng tượng và xây dựng nhà kỷ niệm glinka

Balakirev mất ngày 16 tháng 10 năm 1910 và để lại cho đời những tác phẩm ở các thể loại

Uverture trên chủ đề ba bài dân ca nga (1858); ouverture trên chủ đề hành khúc tây ban nha (1857), vua lear (1859) 1.000 năm (1862)

Thơ giao hưởng: ở nước tiệp (1867), thamar (1882)

Sáng tác cho piano gồm nhiều tiểu phẩm và những cải biên dân ca bản fantasie islamey là một trong những tác phẩm nổi tiếng viết về phương đông

Nhiều romance và tuyển tập dân ca nga

César cui tuy không nổi bật về khả năng sáng tác nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực phê bình âm nhạc vào những năm 60 Ông tích cực đấu tranh cho một nền âm nhạc mang tính hiện thực và là tiếng nói đại diện cho các quan điểm tiến bộ trong cộng đồng nghệ sĩ.

César Cui, sinh ngày 18 tháng 1 năm 1835 tại thành phố Vilno trong một gia đình cựu sĩ quan Pháp, đã được đào tạo tại trường kỹ thuật quân sự theo truyền thống gia đình và trở thành giáo sư Ông không chỉ là một nhà lý luận quân sự tài năng mà còn đam mê âm nhạc, với thành tích sáng tác 10 vở nhạc kịch, 250 bản romance và ca khúc hợp xướng, cùng nhiều tiểu phẩm cho piano và hòa tấu thính phòng.

3.1 cuộc đời và sự nghiệp

A.p.borodine được đánh giá như một người sáng lập dòng giao hưởng sử thi, anh hùng nga; là một nhạc sĩ thiên tài trong nhóm hùng mạnh

Sinh ngày 31-10-1833 tại thành phố Saint-Pétersbourg, Borodine lớn lên trong sự chăm sóc của mẹ và bố dượng là bác sĩ quân đội sau khi cha ông mất sớm Mẹ ông là một người phụ nữ hiểu biết, yêu thích âm nhạc và đã tạo điều kiện cho ông phát triển toàn diện, học nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Đức và Ý Từ nhỏ, Borodine đã đam mê âm nhạc, được mẹ cho học piano và flute Ở tuổi 9, ông đã sáng tác tác phẩm đầu tay "Ploka" cho piano, và đến 13 tuổi, ông viết concerto cho flute.

V Piotr illitch Tchaikovski (1840-1893)

Kiến thức: Cung cấp cho học sinh kiến thức về nhà soạn nhạc Tchaikovsky

Học sinh cần nắm vững lịch sử và phong cách sáng tác của nhạc sĩ Tchaikovsky để có thể thể hiện tốt hơn các tác phẩm của ông.

P.i.tchaikovski là một trong những nhạc sĩ vĩ đại của thế giới ông thành công trong tất cả các thể loại âm nhạc, sáng tác với một bút pháp điêu luyện, tinh tế là một người nhạy cảm, ông chỉ viết về những gì mà bản thân cảm nhận được, những gì mà chính ông đã trải qua vì vậy, không chỉ giới âm nhạc chuyên nghiệp mà hầu như các tầng lớp trong xã hội đều yêu quý âm nhạc của tchaikovski ngoài sáng tác, tchaikovski còn là nhà sư phạm, lý luận phê bình và chỉ huy tchaikovski bằng tác phẩm đã biểu hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc dân tộc nga và kế thừa sáng tạo nền âm nhạc kinh điển thế giới âm nhạc của ông đã phản ánh sâu sắc thực tế xã hội nga cuối thế kỷ xix, thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, tính triết lý sâu sắc, tâm lý tinh tế; ngôn ngữ âm nhạc phong phú về giai điệu, hòa âm, phối khí; cấu trúc chặt chẽ, khiến cho tác phẩm được phổ biến rộng rãi không chỉ ở nga mà toàn thế giới

1 cuộc đời và sự nghiệp

P.i.tchaikovski sinh ngày 25 tháng 4 năm 1840 ở votkinsk trong gia đình kỹ sư, bố là giám đốc nhà máy luyện kim, mẹ là phụ nữ có trình độ văn hóa, yêu âm nhạc, có giọng hát hay ngay từ nhỏ, tchaikovski rất yêu âm nhạc, bố biết thổi flúte và yêu sân khấu tchaikovski thường được bố mẹ cho nghe nhạc và người vú nuôi luôn hát cho nghe những điệu hát ru từ 10 tuổi, gia đình cho học trung cấp luật ở pétersbourg (1850-1859) nhưng âm nhạc vẫn cuốn hút tchaikovski theo lời khuyên của rubinstein, tchaikovski đã thi vào nhạc viện pétersbourg học trong ba năm 1862-865 tốt nghiệp nhạc viện đạt huy chương bạc với các tác phẩm ouverture c dur, f dur, tứ tấu dây b dur, sonate piano cis moll, cantate "đến niềm vui" (thơ của schiller) năm 1865, ông được mời làm giáo sư của nhạc viện moscou thời kỳ này, tchaikovski quen biết với các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng- nhà văn léon tolstóski, nhà viết kịch ostrovski, nhà phê bình âm nhạc odoevski, nhà thơ plesev… trong khoảng từ 1865-1877, tchaikovski đã hoàn thành 3 bản giao hưởng ; concerto piano số 1 ; biến tấu trên chủ đề rococo cho violoncelle; 3 tứ tấu và trio piano ;

4 vở nhạc kịch ; vũ kịch hồ thiên nga ; 3 ouverture : roméo và juliette , bão tố , francesca da rimini ; liên khúc bốn mùa và nhiều romance

Tình hình xã hội Nga hiện nay đang rất căng thẳng, khiến trí thức và nghệ sĩ cảm thấy bế tắc Cuộc sống cá nhân không suôn sẻ đã khiến Tchaikovsky rơi vào trạng thái khủng hoảng tinh thần trong một thời gian dài.

Từ cuối năm 1877 đến 1885, Tchaikovsky sống chủ yếu ở nước ngoài, bao gồm Ý và Thụy Sĩ, và vào mùa hè thường trở về Ukraine thăm người chị Trong giai đoạn này, nhờ sự hỗ trợ tài chính từ triệu phú Nadejda von Meck, ông có thể hoàn toàn tập trung vào việc sáng tác âm nhạc.

During this period, notable compositions include Symphony No 1, Capriccio Italien, Serenade for Strings, the 1812 Overture, Moscow Cantata, a trio dedicated to N Rubinstein, a violin concerto with orchestra, Piano Concerto No 2, and the operas The Maid of Orléans and Mazeppa.

Vào giữa những năm 80, Tchaikovsky hoạt động như một nhà chỉ huy dàn nhạc giao hưởng, biểu diễn tại nhiều quốc gia châu Âu Ông không chỉ dàn dựng và chỉ huy các tác phẩm của chính mình mà còn thực hiện các tác phẩm của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng thế giới như Brahms, Grieg, Saint-Saëns và Massenet tại các thành phố lớn của Nga, Đức, Tiệp, Pháp, Anh và Mỹ.

Vào những năm 90, Tchaikovsky đạt đỉnh cao vinh quang với các tác phẩm opera được biểu diễn rộng rãi tại Nga và nhiều quốc gia khác Năm 1893, ông được trường đại học tổng hợp Cambridge trao tặng học vị tiến sĩ Thời kỳ từ 1885 đến 1893 là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Tchaikovsky, với ba opera, trong đó có "Con đầm Pique", hai vở ballet nổi tiếng "Người đẹp ngủ trong rừng" và "Kẹp hạt dẻ", cùng ba bản giao hưởng: số 5, số 6 và "Manfred", cùng nhiều tác phẩm khác.

Những tác phẩm vào những năm cuối đời của tác giả đã phản ánh chân thực giai đoạn khó khăn nhất trong đời sống chính trị và xã hội Nga vào cuối thế kỷ 19, khi mà các nhân vật trong tác phẩm buộc phải chấp nhận hy sinh Các tác phẩm tiêu biểu như "Con đầm Pique", "Giao hưởng số 5" và "Giao hưởng số 6" thể hiện rõ sự đau khổ và bi kịch của con người trong thời kỳ này.

Ngày 16 tháng 10 năm 1893, tchaikovski chỉ huy lần đầu bản giao hưởng số 6 của mình và sau 9 ngày ông đã qua đời vào ngày 25 tháng 10 năm 1893

2 Thể loại sáng tác và tác phẩm tiêu biểu Ít ai trong số các nhà soạn nhạc lại đạt sự thành công và vinh quang như tchaikovski ở tất cả các lĩnh vực sáng tạo- giao hưởng, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc thính phòng

Tchaikovsky sáng tác khoảng 30 tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng, bao gồm 7 bản giao hưởng (trong đó có bản giao hưởng mang tiêu đề Manfred), nhiều ouverture có tiêu đề và ouverture fantaisie, 2 giao hưởng thơ, 2 tổ khúc giao hưởng, 3 concerto cho piano, 1 concerto cho violon, biến tấu trên chủ đề Rococo cho violoncelle, và tác phẩm Capriccio Italien.

Tchaikovsky đã sáng tác giao hưởng suốt cuộc đời, bắt đầu từ thời sinh viên tại nhạc viện Petersbourg cho đến những năm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tạo của ông.

Giao hưởng của Tchaikovsky được chia thành hai giai đoạn rõ rệt: giai đoạn đầu bao gồm ba bản giao hưởng đầu và giao hưởng số 4, cùng với các ouverture có tiêu đề như Giông Tố, Rómeo và Juliette, Bão Táp, và Francesca da Rimini, được sáng tác trước năm 1877 Giai đoạn thứ hai nổi bật với những tác phẩm mang tính bi kịch sâu sắc, đặc biệt là giao hưởng số 5 và số 6.

Bản giao hưởng số 1 của Tchaikovsky, hoàn thành vào năm 1866, mang tên "Những giấc mơ mùa đông" Tác phẩm này phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên Nga và hình ảnh mùa đông, chủ đề đã được nhiều nghệ sĩ Nga khai thác trong các tác phẩm của họ Tchaikovsky cũng không ngoại lệ khi đề cập đến những chủ đề này trong sáng tác của mình.

99 khác bản giao hưởng số 1 tràn đầy chất trữ tình nhưng còn cả những suy tư về cuộc sống

Bản giao hưởng số 2 của Tchaikovsky, được sáng tác vào năm 1872 và chỉnh sửa năm 1879, thể hiện niềm vui và sắc thái âm nhạc dân gian Ukraine, khi ông sống tại một ngôi làng ở Ukraine Tác phẩm này còn được gọi là giao hưởng nước Nga nhỏ hoặc giao hưởng với chim sếu, lấy cảm hứng từ một bài dân ca nổi tiếng.

ÂM NHẠC THẾ KỶ XX

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm