1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

8 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tuân thủ dùng thuốc (TTDT) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và kiểm soát bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, giúp bệnh nhân đạt được kết quả lâm sàng tích cực và ngăn ngừa các biến chứng mạn tính của bệnh. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên TTDT của bệnh nhân ĐTĐ type 2.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ TRÊN TUÂN THỦ DÙNG THUỐC CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

ùi nh hư * , Nguyễn Thắng ** , Trần Thị Thanh Tâm * , Nguyễn ương hảo *

TÓM TẮT

ở đầ : Việc tuân thủ dùng thuốc (TTDT) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và kiểm soát bệnh

đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, giúp bệnh nhân ( N) đạt được kết quả lâm sàng tích cực và ngăn ngừa các biến chứng mạn tính của bệnh Sự can thiệp của nhân viên y tế, đặc biệt là dược sĩ đã được chứng minh là giúp cải thiện TTDT của BN Tuy nhiên, dữ liệu này ở Việt Nam còn hạn chế

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên TTDT của N ĐTĐ type 2

hương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kế là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

Bệnh nhân ĐTĐ type 2 đến khám tại phòng khám ngoại trú Nội tiết - Thận, bệnh viện Nhân Dân Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh (từ 01/11/2018 đến 30/07/2019) được chọn ngẫu nhiên vào nhóm đối chứng hoặc nhóm can thiệp Đặc điểm N và thông tin điều trị được thu thập từ sổ khám bệnh Niềm tin vào thuốc được đo lường bằng bộ câu hỏi Beliefs about Medicines Questionnaire Specific (BMQ-S) Sự TTDT được đo lường bằng bộ câu hỏi Morisky Medication Adherence Scale - 8 items (MMAS-8) Nhóm can thiệp được dược sĩ tư vấn về tầm quan trọng của việc tuân thủ dùng thuốc và cung cấp thông tin hướng dẫn việc dùng thuốc Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, BN được kiểm tra lại kết quả TTDT bằng bộ câu hỏi MMAS-8 Hồi quy logistic được sử dụng để đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên việc tuân thủ dùng thuốc của BN

Kết quả: Có 143 BN tham gia nghiên cứu (tuổi trung bình 64,09±8,5) Điểm trung bình niềm tin vào thuốc

mục Chuyên biệt - Cần thiết và mục Chuyên biệt - Quan tâm lần lượt là 23,84±2,47 và 17,38±4,58 Trước can thiệp, chỉ có 65/143 (45,5 ) N TTDT, điểm MMAS-8 trung bình của mẫu nghiên cứu là 6,95±1,20 Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, các bệnh nhân nhận được can thiệp của dược sĩ đã TTDT cao hơn so với các bệnh nhân không được can thiệp (OR = 3,074; 95% CI: 1,317 - 7,178)

Kết luận: Biện pháp can thiệp của dược sĩ thông qua tư vấn và cung cấp thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc

đã cải thiện sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Từ khóa: tuân thủ dùng thuốc, đái tháo đường, MMAS-8

ABSTRACT

IMPACT OF PHARMACIST'S INTERVENTION ON MEDICATION ADHERENCE

IN PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL

Bui Anh Thu, Nguyen Thang, Tran Thi Thanh Tam, Nguyen Huong Thao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 2 - 2020: 114 - 121

Background: Medication adherence plays an important role in management and control of diabetes This

may help patients archive positive clinical outcomes and prevent the chronic complications of diabetes The intervention of health care providers, especially pharmacist can help improve patient adherence to medications However, such data in Vietnam is limited

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Cần Thơ

Trang 2

Objectives: The aim of this study is to evaluate the impact of pharmacist's intervention on medication

adherence in patients with type 2 diabetes

Methods: This was a randomized controlled trial Patients with type 2 diabetes mellitus treated at outpatient

clinic of Gia Dinh People’s hospital, Ho Chi Minh City (from 01/11/2018 to 30/07/2019) were randomized to either control or intervention group Data on patients’ sociodemographic characteristics and indicated medications was obtained from outpatients’ medical records Data on beliefs about medicines were collected using validated questionnaires Beliefs about Medicines - Specific (BMQ-S) Data on medication adherence was collected using validated questionnaires Morisky Medication Adherence Scale - 8 items (MMAS-8) The intervention group was consulted by a pharmacist about the importance of medication adherence and provided instructions on how to take medications sufficiently Patients’ medication adherence was reassessed at 1 month after intervention using MMAS-8 Logistic regression model was used to determine factors associated with medication adherence

Results: There were 143 patients included in the study (mean age was 64.09±8.5) The average scores of

Beliefs about Medicines Questionnaire Specific-Necessity and Specific-Concern were 23.84±2.47 and 17.38±4.58, respectively Before intervention, only 65/143 (45.5%) of patients adhered to indicated medications, the average MMAS-8 score was 6.95±1.20 The pharmacist's intervention has improved the patients’ medication adherence at

1 month after the intervention, patients in the intervention group had a higher proportion in medication adherence in comparison with patients in the control group (OR = 3.074; 95% CI: 1.317 – 7.178)

Conclusions: Pharmacist's intervention including consultation and provision of medication information has

improved medication adherence among patients with type 2 diabetes

Key words: medication adherence, diabetes, MMAS-8

ĐẶT VẤN ĐỀ

ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong cao thứ ba

tại Việt Nam (sau xơ vữa động mạch và ung

thư), chỉ tính riêng trong năm 2017 cả nước có

gần 29.000 người trưởng thành tử vong do các

nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ(1) Hiện nay, các

bệnh nhân sau khi có chẩn đoán ĐTĐ thường

được điều trị ngoại trú bằng cách kết hợp giữa

việc dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và luyện tập

Có nhiều bằng chứng cho thấy sự tuân thủ dùng

thuốc làm tăng hiệu quả kiểm soát đường huyết,

giảm biến cố nhập viện và giảm chi phí chăm sóc

y tế(2) Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ của N ĐTĐ type

2 chưa cao như ở Indonesia (20,9%), Singapore

(42,9%)(3,4) Trên thế giới đã có các nghiên cứu

cho thấy việc can thiệp của nhân viên y tế giúp

tăng tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân lên

khoảng 20 - 35%(5,6) Với xu hướng của việc chăm

sóc sức khỏe hiện nay, hoạt động của nhân viên

y tế (mà trong đó dược sĩ đóng một vai trò quan

trọng) có thể giúp cải thiện việc TTDT của BN từ

đó giúp tối ưu hóa hiệu quả lâm sàng của các

thuốc điều trị Nhằm tìm hiểu vai trò của dược sĩ

trong việc cải thiện tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân ĐTĐ type 2, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn ch n bệnh

Các N đến khám tại khoa Nội tiết - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ 01/11/2018 đến 01/02/2019,

có chẩn đoán ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú với ít nhất một thuốc ĐTĐ đường uống từ ít nhất 6 tháng trước được lựa chọn vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Các BN có ít nhất một trong các tiêu chí sau: phụ nữ có thai, không đồng ý tham gia nghiên cứu, không sử dụng điện thoại, đã hoặc đang tham gia nghiên cứu có can thiệp tuân thủ điều trị trong vòng 1 năm trở lại đây (tính đến thời điểm mời bệnh nhân tham gia nghiên cứu)

Trang 3

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là thử nghiệm lâm sàng

có can thiệp chủ động, chia nhóm ngẫu nhiên, có

đối chứng, người đo kết quả không được biết

thông tin về can thiệp của BN nhằm đảm bảo sự

khách quan của nghiên cứu Nghiên cứu tiến

hành trên cơ sở tự nguyện của đối tượng nghiên

cứu và đã được thông qua bởi Hội đồng đạo đức

trong nghiên cứu y sinh học của bệnh viện Nhân

Dân Gia Định TP Hồ Chí Minh

Cỡ mẫu: Theo kết quả nghiên cứu của Trần

Thị Quỳnh Anh tại bệnh viện Nhân dân Gia

Định, tỷ lệ TTDT của N ĐTĐ type 2 là 46,1%(7)

Giả sử tỷ lệ tuân thủ ở các BN trong nghiên cứu

của chúng tôi cũng tương tự đạt kết quả trên, ta

có p1 = 46,1% Các nghiên cứu về hiệu quả của tư

vấn bởi dược sĩ trên tuân thủ dùng thuốc ở bệnh

nhân đái tháo đường type 2 trên thế giới cho

thấy tỷ lệ TTDT cải thiện từ 20 - 35%(5,6); và chúng

tôi mong muốn sau can thiệp có thể đạt tỷ lệ

tuân thủ ở nhóm can thiệp tăng thêm 30%, vậy

p2 = 76,1% Thế vào công thức bên dưới ta có n =

53 Như vậy cần ít nhất 53 bệnh nhân cho mỗi

nhóm nghiên cứu

Zα/2= 1,96 với α = 0,05; độ tin cậy 95%

Zβ = 0,842 với β = 0,1; power = 0,9

Để tránh trường hợp mất mẫu trong quá

trình theo dõi bệnh nhân chúng tôi chọn mẫu

tăng thêm 20% Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu là 128

bệnh nhân cho cả hai nhóm

Phương pháp tiến hành

Các N được chọn vào nghiên cứu sẽ được

phân thành 4 nhóm tương ứng với giới và tuổi:

nhóm nữ < 65 tuổi, nhóm nữ ≥ 65 tuổi, nhóm

nam < 65 tuổi, nhóm nam ≥ 65 tuổi mỗi nhóm,

http://www.randomization.com để chọn ngẫu

nhiên BN vào nhóm chứng hoặc nhóm can thiệp

(với tỷ lệ 1:1) Các BN nhóm can thiệp ngoài

nhận được sự tư vấn thường quy của bác sĩ/điều

dưỡng thì còn nhận được sự tư vấn của dược sĩ Các BN nhóm chứng chỉ có tư vấn thường quy của bác sĩ/điều dưỡng Dược sĩ đánh giá kiến thức cơ bản về bệnh, đặc điểm, thói quen sử dụng thuốc của bệnh nhân, đưa ra lời khuyên và giải đáp các thắc mắc, khó khăn mà bệnh nhân gặp phải (nếu có) như: nhận biết thuốc nào là thuốc điều trị ĐTĐ và thời gian dùng thuốc, khó nhớ dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ Dược sĩ tư vấn về TTDT và cung cấp công cụ hỗ trợ cho BN là tài liệu thông tin về thuốc gồm: các lưu ý quan trọng và tác dụng không mong muốn

có thể gặp của các thuốc điều trị đái tháo đường Tài liệu thông tin về thuốc được in sẵn gồm các mục chính trong cuộc tư vấn nhằm giúp BN có thể xem lại ở nhà trong truờng hợp không nhớ hết các nội dung chính khi tư vấn

Thu thập số li u

Các thông tin về đặc điểm BN bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh (tính từ lúc phát hiện bệnh đến thời điểm khảo sát) được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp

BN tại bệnh viện Các thông tin về bệnh mạn tính mắc kèm và các thuốc ĐTĐ N đang sử dụng được ghi nhận từ sổ khám bệnh/đơn thuốc Niềm tin vào thuốc của N được đo lường bằng bộ câu hỏi Beliefs about Medicines Questionnaire Specific (BMQ-S), gồm 10 câu hỏi chia làm 2 mục: Chuyên biệt - Cần thiết (niềm tin vào sự cần thiết của các thuốc trong việc điều trị bệnh) và Chuyên biệt - Quan tâm (mối quan tâm

về các tác dụng có hại của thuốc) Với mỗi câu hỏi, BN trả lời theo 5 mức độ: Rất không đồng ý, không đồng ý, không chắc chắn, đồng ý và rất đồng ý Niềm tin vào thuốc điều trị ĐTĐ của N được đánh giá qua tổng điểm trung bình của từng mục trong bộ câu hỏi MQ phần chuyên biệt(8) Sự TTDT của N được khảo sát bằng thang đo TTDT của Morisky - phiên bản 8 câu hỏi (Morisky Medication Adherence Scale - 8 items, MMAS-8) Kết quả phỏng vấn MMAS-8 của N được chia làm 2 mức độ: có TTDT (MMAS-8 = 8), không TTDT (MMAS-8 < 8) Cả

Trang 4

hai bộ câu hỏi đều đã được thẩm định trong điều

kiện nghiên cứu ở VN(9)

Tiêu chí nghiên cứu

Tiêu chí nghiên cứu là tỷ lệ BN tuân thủ

dùng thuốc tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp

Xử lý số li u

Phần mềm SPSS 20 và xcel 2010 được sử

dụng để phân tích số liệu Thống kê mô tả được

sử dụng để xác định tần số, tỷ lệ % và trung bình

± độ lệch chuẩn Việc so sánh 2 tỷ lệ được thực

hiện bằng phép kiểm Chi bình phương (hoặc

Fisher exact test), so sánh 2 trung bình bằng

phép kiểm t-test hoặc Mann-Whitney, so sánh 2

giá trị trung bình trong cùng 1 nhóm bệnh nhân

ở thời điểm ban đầu và 1 tháng sau can thiệp

bằng phép kiểm Wilcoxon signed-rank test Hồi

quy logistic được sử dụng để đánh giá hiệu quả

can thiệp của dược sĩ trên việc tuân thủ dùng

thuốc của BN Giá trị p 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Có 147 N được chọn vào nghiên cứu và được chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm: can thiệp (73 N) và đối chứng (74 BN) Trong quá trình nghiên cứu, ở nhóm can thiệp có 1 BN bị loại khỏi nghiên cứu do mất dấu (chiếm tỷ lệ 0,7%), ở nhóm đối chứng có 3 BN bị loại khỏi nghiên cứu

do mất dấu (chiếm tỷ lệ 2,1%) Như vậy, còn lại

143 N được đưa vào phân tích tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp

Đặc điểm nền của các b nh nhân tham gia nghiên cứu

Các thông tin về đặc điểm chung của BN

được trình bày trong Bảng 1

Bảng 1 Đặc điểm nền của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu

n (%)

Nhóm can thiệp (N = 72)

n (%)

Nhóm chứng (N = 71)

Nhóm tuổi: < 65

65

73 (51,0)

70 (49,0)

37 (51,4)

35 (48,6)

36 (50,7)

Gi i tính: Nam

Nữ

45 (31,5)

98 (68,5)

22 (33,6)

50 (69,4)

23 (32,4)

ì độ học vấn

Trung họ ơ ở

hoặc thấ ơ

Trung học phổ thông

hoặ ơ

82 (57,3)

61 (42,7)

44 (61,1)

28 (38,9)

38 (53,5)

33 (46,5)

0,079

Bệnh mắc kèm

0 - 1 bệnh

2 bệnh

3 bệnh

10 (7,0)

57 (39,9)

76 (53,1)

5 (7,0)

33 (45,8)

34 (47,2)

5 (7,0)

24 (33,8)

42 (59,2)

0,982

Thời gian mắc bệ Đ Đ

< 5 ă

5 - 10 ă

> 10 ă

41 (28,7)

58 (40,6)

44 (30,8)

21 (29,2)

31 (43,1)

20 (27,8)

20 (28,2)

27 (38,0)

24 (33,8)

0,583

Số liều thuốc/ngày

1

2

3

31 (21,7)

86 (60,1)

26 (18,2)

17 (23,6)

41 (56,9)

14 (19,5)

14 (19,7)

45 (63,4)

12 (16,9)

0,732

Sử dụng insulin: Không

107 (74,8)

36 (25,2)

51 (70,8)

21 (29,2)

56 (78,9)

Niềm tin vào thuốc

Chuyên biệt - Cần thiết

Chuyên biệt - Quan tâm

23,84±2,47 17,38±4,58

23,85±2,50 17,46±4,58

23,83±2,45 17,31±4,62

0,656 0,966

Trang 5

Hi u qu can thi p của dược ĩ t n vi c tuân

thủ dùng thuốc

Tỷ lệ BN tuân thủ dùng thuốc trước can

thiệp là 45,5% Điểm MMAS-8 trung bình của

mẫu nghiên cứu là 6,95±1,20

Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của mẫu nghiên cứu tăng lên 55,2%

Điểm MMAS-8 trung bình sau 1 tháng tăng

lên 7,19±1,13 (Bảng 2)

Bảng 2 So sánh sự TTDT giữa 2 nhóm tại thời điểm trước và và 1 tháng sau can thiệp

N = 72, n (%)

Nhóm chứng

N = 71, n (%) p 0

Nhóm can thiệp

N = 72, n (%)

Nhóm chứng

N = 71, n (%) p 1

Tuân thủ

Không tuân thủ

33 (45,8)

39 (54,2)

32 (45,1)

45 (62,5)

27 (37,5)

34 (47,9)

MMAS-8

Khi phân tích trong từng nhóm, chúng tôi

nhận thấy, chỉ ở nhóm can thiệp có sự tăng điểm

MMAS-8 trung bình có ý nghĩa thống kê tại thời

điểm 1 tháng sau can thiệp so với thời điểm ban

đầu Không có sự thay đổi về điểm tuân thủ

dùng thuốc ở nhóm chứng (Bảng 3)

Bảng 3 So sánh MMAS-8 ban đầu và 1 tháng sau

can thiệp trong từng nhóm

Đ ểm MMAS-8

trung bình

Nhóm can thiệp (N = 72)

Nhóm chứng (N = 71)

Kết quả phân tích ở trên chưa thể hiện rõ tác

động của can thiệp đến sự TTDT của BN tại thời

điểm 1 tháng sau can thiệp Vì thế, hồi quy

logistics đa biến được sử dụng để đánh giá hiệu

quả can thiệp của dược sĩ trên việc tuân thủ

dùng thuốc của BN, với các biến độc lập bao

gồm: sự can thiệp của dược sĩ (có hoặc không),

giới tính (nam hoặc nữ), nhóm tuổi (dưới 65 tuổi

hoặc 65 tuổi trở lên), trình độ học vấn (dưới

trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông trở

lên), thời gian mắc bệnh (dưới 5 năm, từ 5 đến 10

năm hoặc trên 10 năm), bệnh kèm theo (mắc 2

bệnh trở xuống hoặc mắc trên 2 bệnh), số liều

thuốc điều trị ĐTĐ/ngày (1 liều, 2 liều hoặc 3 liều

trở lên), sử dụng insulin (có hoặc không), niềm

tin vào thuốc (mục Chuyên biệt - Cần thiết và

mục Chuyên biệt - Quan tâm) (Bảng 4)

Bảng 4 Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến về

mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát với sự tuân thủ dùng thuốc sau 1 tháng

Sự can thiệp củ d ĩ

Không

1 3,074 1,317 - 7,178 0,009

Gi i tính

Nữ Nam

1

Nhóm tuổi

< 65 tuổi

65 ổi

1

ì độ học vấn Trung họ ơ ở hoặc thấ ơ Trung học phổ thông hoặ ơ

1 12,779 4,932 - 33,107 < 0,001

Thời gian mắc bệnh

< 5 ă

5 - 10 ă

> 10 ă

1 0,657 0,609

0,234 - 1,840 0,161 - 2,299

0,424 0,464

Bệnh kèm theo

≤ 2 bệnh >2 bệnh

1 1,122 0,491 - 2,564 0,784

Số liều thuốc/ngày

1

2

3

0,916 2,428

0,330 - 2,541 0,617 - 9,551

0,866 0,204

Sử dụng insulin Không

1 0,679 0,263 - 1,751 0,423

Niềm tin vào thuốc Chuyên biệt - Cần thiết Chuyên biệt - Quan tâm

1,011 1,015

0,858 - 1,192 0,929 - 1,110

0,895 0,736

Trang 6

BÀN LUẬN

Đặc điểm nền của các b nh nhân tham gia

nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, BN nam chiếm 31,5%

và nữ chiếm 68,5% Kết quả này tương tự như

nghiên cứu của Nguyễn Khánh Ly (2014) với tỷ

lệ nữ là 69,2%(10),sự tương đồng này có thể là do

cả 2 nghiên cứu đều được thực hiện tại TP Hồ

Chí Minh Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu

là 64,09±8,53 tuổi, trong đó số BN trên 65 tuổi

chiếm đến 49,0% mẫu nghiên cứu Điều này phù

hợp với đặc điểm về độ tuổi có nguy cơ mắc

ĐTĐ type 2 (từ 45 tuổi trở lên)(11) Số lượng BN có

nhiều bệnh mắc kèm (từ 2 bệnh trở lên) chiếm tỷ

lệ cao (93%) Điều này có thể được giải thích là

do mẫu nghiên cứu đa phần là người lớn tuổi

Độ tuổi cao kèm theo nhiều bệnh là do lão hóa

và cũng có thể do thời gian mắc bệnh ĐTĐ type

2 của BN trong mẫu chiếm tỷ lệ cao Thời gian

mắc bệnh ĐTĐ từ 5 đến 10 năm chiểm tỷ lệ cao

nhất trên tổng số BN (40,6%), tương đồng với kết

quả nghiên cứu của Butt (2016) có thời gian mắc

bệnh ĐTĐ từ 5 đến 10 năm là 37,3%(12) Tỷ lệ BN

được chỉ định sử dụng insulin chiếm 25,2% Kết

quả này tương đồng với nghiên cứu của Hứa

Thành Nhân (2014) (28,3%)(13) hay của Sweileh

(2014) (32,6%)(14) Mặc dù có nhiều liệu pháp điều

trị ĐTĐ, insulin vẫn là liệu pháp hiệu quả nhất

không chỉ đối với ĐTĐ type 1, mà còn đối với

ĐTĐ type 2 Đa số BN trong nghiên cứu này

được chỉ định dùng thuốc 2 liều/ngày (60,1%)

Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của

Dương Chí Hồng (2019) là 2,0 (2,0 - 3,0)(15),

nghiên cứu của Waari (2018) (51,4%)(16) Trình độ

học vấn chiếm tỷ lệ cao là từ trung học cơ sở trở

xuống (56,6%) Kết quả này tương đồng với kết

quả nghiên cứu của Ahmed (2017) với 72,1% BN

có trình độ từ trung học phổ thông trở

xuống(17)(Bảng 1)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm trung

bình niềm tin vào thuốc mục Chuyên biệt - Cần

thiết đạt khá cao (23,84±2,47) cho thấy BN xem

việc dùng thuốc rất quan trọng Nghiên cứu của

Farmer tiến hành trên N ĐTĐ type 2 chỉ ra rằng các BN tin rằng thuốc thật sự cần thiết thường có tuân thủ tốt hơn những N tin là họ không hoặc hưởng lợi rất ít từ những thuốc đang sử dụng(18) Điều này gợi ý các giải pháp hướng đến cải thiện niềm tin vào thuốc của N có thể giúp nâng cao TTDT Điểm trung bình mục Chuyên biệt - Quan tâm là 17,38±4,58, cho thấy N tương đối quan tâm về phản ứng có hại cũng như nguy cơ của các thuốc điều trị ĐTĐ mà N đang dùng(19)

Hi u qu can thi p của dược ĩ t n vi c tuân thủ sử dụng thuốc

Điểm MMAS-8 trung bình của BN trong mẫu nghiên cứu là 6,95±1,20 Điểm này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Jamous (2011) (6,8±1,3)(20), nhưng cao hơn kết quả nghiên cứu của Shareef (2016) 5,16±0,93 ở nhóm can thiệp và 5,56±1,38 ở nhóm đối chứng(6)

Tại thời điểm trước can thiệp, có 65/143 BN (45,5%) có tổng điểm MMAS-8 đạt 8 điểm, kết quả này cho thấy tỷ lệ TTDT ở N ĐTĐ chưa cao Trong khi, một số nghiên cứu trước đây cho thấy

tỷ lệ N TTDT khá cao như nghiên cứu của Lê Thị Nhật Lệ (2017) sử dụng thang đo MCQ (Medication Compliance Questionaire) có tỷ lệ

BN TTDT 70,8%(21), nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Đào (2014) tại Bệnh viện Thống Nhất dựa trên thang điểm 100 (BN tự đánh giá về mức độ tuân thủ) cho thấy đa số BN có TTDT ở mức độ khá chiếm tỷ lệ 67,7% và mức độ tốt chiếm tỷ lệ 25,9%(22) Sự khác biệt này có thể là do các nghiên cứu sử dụng những thang đo khác nhau

Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ TTDT tăng lên (từ 45,5% tăng lên 55,2%, p = 0,079) Điều này chứng tỏ N đã

có sự cải thiện về TTDT, mặc dù tỷ lệ cải thiện không nhiều (9,7%) Tỷ lệ TTDT ở nhóm can thiệp tăng từ 45,8% lên 62,5%, ở nhóm chứng từ 45,1% lên 47,9% Điểm MMAS-8 trung bình tăng lên ở mẫu nghiên cứu (từ 6,95±1,2 tăng lên 7,19±1,13) Các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới

đã chứng minh can thiệp của nhân viên y tế có tác động tích cực lên TTDT, ví dụ: nghiên cứu

Trang 7

của Jarab (2012) tại Jordan có tỷ lệ tuân thủ của

nhóm can thiệp (71,4%) cao hơn nhóm đối chứng

(35,4%)(23), nghiên cứu của Butt (2016) tại

Malaysia có tỷ lệ tuân thủ của nhóm can thiệp

(69,3%) cao hơn nhóm đối chứng (49,5%)(12),

nghiên cứu của Shareef (2016) tại Ấn Độ có điểm

MMAS-8 trung bình ở nhóm can thiệp tăng từ

5,16 lên 7,2 (p < 0,001)(6) Khi phân tích trong cùng

1 nhóm, chúng tôi ghi nhận điểm MMAS-8 trung

bình tăng lên có ý nghĩa, từ 6,90±1,24 lên

7,35±1,05 (p < 0,001), ở nhóm can thiệp, nhưng

không tăng ở nhóm đối chứng, điểm MMAS-8

trung bình tại thời điểm tham gia nghiên cứu là

7,00±1,17, sau 1 tháng can thiệp là 7,03±1,18 (p =

0,157) Kết quả trên cho thấy, biện pháp can

thiệp đã có tác động đến TTDT của BN

Ngoài sự can thiệp của dược sĩ, nhiều yếu tố

khác cũng có thể tác động đến sự TTDT của

BN(24) Vì thế, chúng tôi tiến hành phân tích hồi

quy logistic đa biến để đánh giá mối liên quan

giữa các yếu tố khảo sát (gồm sự can thiệp của

dược sĩ, giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn,

thời gian mắc bệnh, bệnh kèm theo, số liều thuốc

điều trị ĐTĐ/ngày, sử dụng insulin, niềm tin vào

thuốc) với sự TTDT của BN tại thời điểm 1 tháng

sau can thiệp Kết quả hồi quy cho thấy BN nhận

được sự can thiệp của dược sĩ có TTDT cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với BN không nhận được

sự can thiệp của dược sĩ (OR = 3,074; 95% C :

1,317 - 7,178) Cũng từ kết quả hồi quy đa biến,

chúng tôi chưa ghi nhận được mối liên quan

giữa các yếu tố như tuổi, giới, thời gian mắc

bệnh ĐTĐ, bệnh kèm theo, số liều thuốc/ngày,

sử dụng insulin, niềm tin vào thuốc (mục chuyên

biệt - cần thiết, chuyên biệt - quan tâm) với

TTDT Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu

của Sweileh (2014), không có khác biệt có ý nghĩa

giữa BN tuân thủ và BN không tuân thủ ở các

yếu tố tuổi, thời gian mắc bệnh, giới tính(14)

Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận những BN có

trình độ học vấn từ trung học phổ thông hoặc

cao hơn có TTDT tốt hơn những N có trình độ

học vấn thấp hơn (OR = 12,779; 95% C : 4,932 -

33,107) Kết quả này tương đồng với kết quả

nghiên cứu của Ahmed (2017) với tỷ lệ BN có trình độ trung học phổ thông hoặc cao hơn TTDT tốt chiếm 72,1% Điều này có thể là do ở những N có trình độ học vấn cao sẽ tiếp cận nhiều kiến thức về bệnh ĐTĐ và hiểu được tầm quan trọng của thuốc, nên việc TTDT được thực hiện tốt hơn(17) Kết quả trên gợi ý sự tư vấn của nhân viên y tế trên BN có trình độ học vấn thấp

có thể giúp tăng TTDT, từ đó có thể giúp cải thiện hiệu quả điều trị

KẾT LUẬN

Biện pháp can thiệp của dược sĩ thông qua tư vấn và cung cấp thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc đã cải thiện sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Lời c ơn: Đề tài nhận được kinh phí tài trợ

từ Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế - Cục Y Tế Dự Phòng (2015) Điều tra quốc gia: Yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (STEPS) Quyết định số 346/QĐ-BYT ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y

Tế URL:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/the-thao-y- te/Quyet-dinh-346-QD-BYT-phong-chong-benh-khong-lay-nhiem-2015-2020-308064.aspx (access on 5/10/2019)

2 Hong JS, Kang HC (2011) Relationship between oral antihyperglycemic medication adherence and hospitalization, mortality, and healthcare costs in adult ambulatory care

patients with type 2 diabetes in South Korea Medical Care,

49(4):378-384

3 Alfian SD, Sukandar H, Lestari K, et al (2016) Medication adherence contributes to an improved quality of life in type 2

diabetes mellitus patients: a cross-sectional study Diabetes Therapy, 7(4):755-764

4 Lee CS, Tan JH, Sankari U, et al (2017) Assessing oral medication adherence among patients with type 2 diabetes mellitus treated with polytherapy in a developed Asian

community: a cross-sectional study BMJ Open, 7(9):16-17

5 Mohammed MM, Mohd AH, Phung H, Jing S, et al (2016) Improving adherence to medication in adults with diabetes in

the United Arab Emirates BMC Public Health, 16:857

6 Shareef J, Fernandes J, Samaga L, et al (2016) Evaluating the effect of pharmacist's delivered counseling on medication adherence and glycemic control in patients with diabetes

mellitus Journal of Diabetes & Metabolism, 7(3):1-4

7 Trần Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Viết Ngọc, Nguyễn Hương Thảo (2019) Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và rào cản tinh thần trong việc sử dụng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định Y Học Thành Phố Hồ Chí inh, 23(2):203-207

8 Horne R, Weinman J, Hankins M (2000) The beliefs about medicines questionnaire: the development and evaluation of a new method for assessing the cognitive representation of

Trang 8

medication Psychology and Health, 14(1):1-24

9 Nguyen T, Nguyen TH, Pham ST, et al (2015) Translation and

cross-cultural adaptation of the brief illness perception

questionnaire, the beliefs about medicines questionnaire and

the morisky medication adherence scale into Vietnamese

Pharmacoepidemiology and Drug Safety, 24:159-160

10 Nguyễn Khánh Ly, Nguyễn Thị ích Đào (2014) Khảo sát tỉ lệ

bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát đa yếu tố nguy cơ tim mạch

ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh

viện tuyến quận Y Học Thành Phố Hồ Chí inh, 18(4):44-52

11 American Diabetes Association (2018) Standards of medical

care in diabetes-2018 Diabetes Care , 41(1):850-858

12 Butt M, Mhd Ali A, Bakry MM, et al (2016) Impact of a

pharmacist led diabetes mellitus intervention on HbA1c,

medication adherence and quality of life: A randomised

controlled study Saudi Pharmaceutical Journal, 24:40-48

13 Hứa Thành Nhân, Nguyễn Thy Khuê (2014) tỉ lệ đạt mục tiêu

HbA1c và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo

đường típ 2 tại một phòng khám chuyên khoa nội tiết Y Học

Thành Phố Hồ Chí inh, 18(1):418-422

14 Sweileh WM, Zyoud SH, Abu Nab'a RJ, et al (2014) Influence

of patients' disease knowledge and beliefs about medicines on

medication adherence: findings from a cross-sectional survey

among patients with type 2 diabetes mellitus in Palestine BMC

Public Health, 14:94

15 Dương Chí Hồng, Quách Diệu Ái, Nguyễn Thị Mai Hoàng

(2019) Khảo sát mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc và

hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại phòng

khám nội tiết - bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí

Minh Y Học Thành Phố Hồ Chí inh, 23(2):221-226

16 Waari G, Mutai J, Gikunju J (2018) Medication adherence and

factors associated with poor adherence among type 2 diabetes

mellitus patients on follow-up at Kenyatta National Hospital,

Kenya Pan Afr Med J, 29:82

17 Ahmed NO, Abugalambo S, Almethen GH (2017) Adherence

to oral hypoglycemic medication among patients with diabetes

in Saudi Arabia Int J Health Sci (Qassim), 11(3):45-49

18 Farmer A, Kinmonth AL, Sutton S (2006) Measuring beliefs

about taking hypoglycaemic medication among people with

type 2 diabetes Diabetic Medicine, 23(3):265-270

19 AlHewiti A (2014) Adherence to long-term therapies and

beliefs about medications International Journal of Family Medicine, 20(3):15-20

20 Jamous RM, Sweileh WM, Abu-Taha AS, et al (2011) Adherence and satisfaction with oral hypoglycemic medications: a pilot

study in Palestine Int J Clin Pharm, 33(6):942-948

21 Lê Thị Nhật Lệ (2018) Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan

ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh

viện Nguyễn Tri Phương năm 2017 Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 22(1):88-93

22 Nguyễn Thị Anh Đào, Tạ Thị Hòa, Nguyễn Thị ảo Châu, cs (2014) Khảo sát về sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo

đường tại khoa nội tiết ệnh viện Thống Nhất Y Học Thành Phố Hồ Chí inh, 18(3):81-84

23 Jarab AS, Alqudah SG, Mukattash TL, et al (2012) Randomized Controlled Trial of Clinical Pharmacy Management of Patients

with Type 2 Diabetes in an Outpatient Diabetes Clinic in Jordan J Manag Care Pharm, 18(7):516-526

24 Haynes RB, Ackloo E, Sahota N, et al (2008) Interventions for enhancing medication adherence, Cochrane Database Syst Rev, doi: 10.1002/14651858.CD000011.pub3.

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w