1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần hóa học hoa Thanh long (Hylocereus undatus) thu tại Bình Thuận

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh long là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam. Trong trồng trọt, nụ hoa thanh long được tỉa bớt và sau khi nở vài ngày, phần bao hoa sẽ được loại bỏ để cây tập trung nuôi trái. Bài viết trình bày nghiên cứu thành phần hóa học của hoa Thanh long để làm tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC HOA THANH LONG

(HYLOCEREUS UNDATUS) THU TẠI BÌNH THUẬN

Lý Kiều Hương * , Trần Thị Vân Anh *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thanh long là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam Trong trồng trọt, nụ hoa

thanh long được tỉa bớt và sau khi nở vài ngày, phần bao hoa sẽ được loại bỏ để cây tập trung nuôi trái Hoa Thanh long là nguyên liệu tiềm năng c thể tận dụng làm thực phẩm, mỹ phẩm và nhất là làm thuốc

Mục tiêu: Nghiên cứu thành phần hóa học của hoa Thanh long để làm tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng Đối tượng nghiên cứu: Phần bao hoa Thanh long (giống ruột trắng) sau khi thụ phấn 3 ngày Hoa thu hái

tại tỉnh Bình Thuận

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp chiết ngấm kiệt thu cao toàn phần, phân tách các phân

đoạn bằng phân bố lỏng - lỏng Phân lập các chất tinh khiết bằng các phương pháp sắc kí cột cổ điển, sắc kí rây phân tử, phương pháp tinh chế, kết tinh trong dung môi thích hợp Cấu trúc chất phân lập được xác định bằng phổ MS và NMR

Kết quả: Từ 5 kg bột hoa Thanh long được chiết ngấm kiệt với cồn 96% thu được 500 ml dịch chiết đậm đặc

và 53,87 g tủa (Hylo T) Tiến hành lắc phân bố lỏng-lỏng lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần thu được 73,80 g cao ether dầu hỏa (Hylo A); 10,28 g cao DCM (Hylo B); 3,26 g cao ethyl acetat (Hylo C); 12,42 g cao n-butanol (Hylo D) và 50,60 g cao E (Hylo E) Phân tách cao Hylo T thu được 3 sterol (chalinasterol, daucosterol và ergost 4,24(28)-dien-3-one) và hợp chất acid p-hydroxybenzoic, từ cao Hylo C thu được 1 hợp chất

là benzyl -D-glucopyranoside

Kết luận: Thành phần kém phân cực trong hoa Thanh long chủ yếu là các hợp chất sterol, các chất phân lập

lần đầu tiên xác định c trong hoa Thanh Long Đây sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu về dược lý hướng đến việc tận dụng nguồn nguyên liệu hoa Thanh long

Từ khóa: Thanh long, sterol, chalinasterol, daucosterol, ergost 4,24(28)-dien-3-one)

ABSTRACT

CHEMICAL CONSTITUENTS FROM THE FLOWER OF HYLOCEREUS UNDATUS

IN BINHTHUAN PROVINCE

Ly Kieu Huong, Tran Thi Van Anh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 2 - 2020: 47 - 53

Background: Hylocereus undatus is one of an important fruit plants in Vietnam In cultivation, the flower

buds and the sack of flowers after blooming and pollination were removed to keep the nutrition for the growth of the fruits The flower of H undatus is the potential material in foods, cosmetics and medicine

Objective: The aim of the present study was to determine the chemical constituents from the flowers of H

undatus, as the first step, to prepare for further studies

Materials: The flowers of dragon fruit (white pulp type) after 3-days pollination were collected in Binh

Thuan province

*Khoa Dược, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Methods: Phytochemical constituents of H undatus were analyzed by modified Ciuley method Plant

material was percolated with 96% ethanol and then the extract was separated by liquid – liquid distribution The isolation of pure compounds was carried out by vacuum liquid chromatography, Sephadex chromatography and the recrystallization was in suitable solvents The structures of isolated compounds were identified by MS, NMR spectroscopy methods

Results: 5 kg of flowers was percolated with 96% ethanol to obtain 500 ml of concentrated extract and 53.87

g of the precipitate (Hylo T) The ethanol residue was suspended in water and successively extracted with petroleum ether, dichloromethane, ethyl acetate and n-butanol to yield 73.80 g of petroleum ether extract (Hylo A); 10.28 g of DCM extract (Hylo B); 3.26 g of ethyl acetate extract (Hylo C); 12.42 g of n-butanol extract (Hylo D) and 50.60 g of the residual (Hylo E), The precipitate (Hylo T) was separated by column chromatography to obtain

3 sterols (chalinasterol, daucosterol and ergost 4,24(28)dien-3-one ) and p-hydroxybenzoic acid The Hylo-C was separated by Sephadex chromatography to yield benzyl -D-glucopyranoside

Conclusion: The non-polar constituents of H undatus flowers are mainly sterol This is the first time

chalinasterol, daucosterol and ergost-4,24(28)-dien-3-one), p-hydroxybenzoic acid and benzyl -D-glucopyranoside were reported in H undatus The results are the first steps for further pharmacological studies of

H undatus flowers

Keywords: dragon fruit flower, sterol, chalinasterol, daucosterol, ergost-4,24(28)-dien-3-one

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thanh long là loại cây ăn trái có dinh dưỡng

cao, thích hợp với khí hậu nóng, ẩm Ở Việt

Nam, Thanh long được trồng khá phổ biến, tập

trung ở các tỉnh Bình Thuận, Long An và một số

địa phương khác Sản phẩm từ Thanh long

không chỉ là trái mà các bộ phận khác đặc biệt là

hoa có thể sử dụng như thực phẩm và thuốc

chữa bệnh Trong y học dân gian, hoa Thanh

long được dùng trị viêm phế quản, viêm hạch

bạch huyết thể lao, lao phổi, say rượu(1) Một số

nghiên cứu cho thấy hoa có tác dụng chống oxy

hóa(2) và ức chế enzym tyrosinase(3), có nhiều

tiềm năng trong lĩnh vực y dược học và m

phẩm Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu tận

dụng phần nguyên liệu hoa Thanh long vẫn

chưa được chú ý Với lý do trên, nghiên cứu

được thực hiện nhằm tìm hiểu về thành phần

hóa học của hoa Thanh long tạo tiền đề cho

những nghiên cứu về tác dụng sinh học hướng

đến các ứng dụng đối với hoa Thanh long

NGUYÊN LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Hoa Thanh long (giống cho quả vỏ đỏ ruột

trắng) thu hái tại tỉnh Bình Thuận vào 12/2017

Phần nghiên cứu là hoa được tách ra khỏi bầu noãn sau khi thụ phấn 3 ngày gồm các bộ phận: đài hoa, tràng hoa, nhị hoa

Hóa chất

Ethanol 96%, ether dầu hỏa, ethyl acetat,

chloroform, n-butanol của Sci-Tech Co Ltd

(Trung Quốc), dicloromethan, methanol hãng Scharlau (Tây Ban Nha) Silica gel, Sephadex LH-20

Phân tích sơ bột thành phần hóa học

Áp dụng phương pháp Ciuley cải tiến: Bột hoa Thanh long được chiết xuất lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: ether ethylic, ethanol và nước Các nhóm hợp chất trong từng dịch chiết được xác định bằng các phản ứng hóa học đặc trưng

Chiết xuất – Tách phân đoạn

5 kg dược liệu được làm ẩm với cồn 96% trong 30 phút, nạp vào bình ngấm kiệt, cho cồn 96% vào bình chiết, mức dung môi cao hơn bề mặt dược liệu 15 cm Ngâm trong 24 giờ sau đó rút dịch chiết cho đến khi lượng cắn còn ít hơn 0,1% Gộp dịch chiết, cô dưới áp suất giảm thu được cao cồn 96% và phần tủa Cao cồn 96% sau khi được cô bay hơi hết dung môi được hòa vào nước, lắc phân bố lỏng – lỏng với lần lượt

Trang 3

các dung môi dichloromethan, ethyl acetat,

n-butanol để phân tách các chất theo độ phân

cực khác nhau

Phương pháp sắc kí

Sắc kí lớp mỏng

Thực hiện trên bản mỏng Silica gel 60 F254

(Merck) Sau khi khai triển bằng hệ dung môi

thích hợp, phát hiện dưới đèn U 254 nm, U 365

nm, thuốc thử vanilin-sulfuric, thuốc thử FeCl3

Sắc kí cột

Chất hấp phụ là Silica gel hạt vừa kích

thước 40-63 µm, hoạt hóa ở 110oC trong 2 giờ

Tiến hành nạp mẫu khô, khai triển bằng hệ

dung môi phù hợp

Sắc kí cột rây phân tử Sephadex

Chất hấp phụ là 50 g Sephadex LH-20

trương nở trong MeOH Tiến hành nạp mẫu

ướt, khai triển bằng MeOH

Phương pháp kiểm tra độ tinh khiết và xác

định cấu trúc hóa học các chất

Kiểm tra tinh khiết

Chất được chấm kiểm tra trên 3 hệ dung

môi khác nhau, chất được xác định tinh khiết

khi chỉ cho hiển thị 1 vết trên sắc kí đồ khi

phát hiện dưới đèn U hoặc các thuốc thử

Xác định cấu trúc hóa học các chất

Kết hợp phương pháp đo phổ MS và phổ

cộng hưởng từ NMR

KẾT QUẢ

ơ bộ thành phần hóa thực vật

Kết quả phân tích thành phần hóa thực vật

cho thấy nguyên liệu hoa Thanh long có các

thành phần hợp chất triterpenoid, flavonoid,

coumarin, antraglycosid, tanin, saponin, chất

khử, hợp chất polyuronic

Chiết xuất và phân tách phân đoạn

5 kg bột hoa thanh long được chiết ngấm

kiệt với cồn 96% (tỷ lệ 1:15) Dịch chiết cồn

được cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm,

xuất hiện kết tủa, tiến hành lọc tủa thu được

53,87 g tủa (Hylo T) và 500 ml dịch chiết đậm đặc (tương đương 160 g cao khô)

500 ml dịch chiết đậm đặc được chiết phân

bố lỏng - lỏng lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: ether dầu hỏa,

dicloromethan, ethyl acetat, n-butanol Dịch

chiết các phân đoạn được cô thu hồi dung môi với áp suất giảm thu được 73,80 g cao petro ether (Hylo A); 10,28 g cao DCM (Hylo B); 3,26 g

cao ethyl acetat (Hylo C); 12,42 g cao n-butanol

(Hylo D); 50,60 g cao H2O (Hylo E)

Phân lập các chất từ tủa Hylo T và cao Hylo C

Tủa Hylo T được phân tách bằng sắc kí cột

nhanh với dung môi n-hexan-EtOAc (tỉ lệ EtOAc

tăng 10 % →100 %) thu được 18 phân đoạn (Hylo T.1-T.18) Phân đoạn T.11 và T.18 khi thu hồi dung môi xuất hiện kết tủa Tủa được tiến hành lọc rửa và kiểm tra tinh khiết trên sắc kí lớp mỏng với 3 hệ dung môi thu được 2 chất tinh

khiết là H-1 (13,5 g) và H-2 (4,1 g) Phân đoạn

Hylo T.6 được phân tách tiếp qua cột cổ điển với

hệ dung môi DCM-EtOAc (tỉ lệ EtOAc 0% - 20%) thu được 10 phân đoạn (T.6.1-T.6.10) Phân đoạn T.6.5 được tinh chế qua sắc kí rây phân tử với hệ

dung môi DCM-Me H (8 2) thu được chất H-3

(11,0 mg) Phân đoạn T.16 sau khi tinh chế qua

cột rây phân tử thu được chất H-4 (5,8 mg)

Cao Hylo-C được tinh chế qua sắc kí rây phân tử thu được 6 phân đoạn (C.1-C.6) Phân đoạn C.2 tiếp tục phân tách bằng sắc kí cột cổ

điển thu được chất H-5 (49,0 mg)

Xác định cấu trúc các chất phân lập

Chất H-1

Bột vô định hình màu trắng, ít tan trong MeOH, tan trong DCM, CHCl3 Trên SKLM, không hiện vết dưới UV 254 nm và UV 365 nm, hiện màu tím với thuốc thử vanilin-sulfuric Phổ ESI-MS (ion dương) [M+H]+ 399,0 Phổ

1H-NMR và 13C-NMR trình bày ở Bảng 1

Chất H-2

Bột vô định hình màu trắng, ít tan trong

Trang 4

CHCl3, DCM Trên SKLM, không hiện vết

dưới UV 254 nm và UV 365 nm, lên màu tím

với thuốc thử vanilin-sulfuric Phổ ESI-MS

(ion dương) [M+Na]+ 599,0 Phổ 1H-NMR

và 13C-NMR trình bày ở Bảng 1

Chất H-3

Bột vô định hình màu trắng, ít tan trong

MeOH, tan trong DCM, CHCl3 Phổ ESI-MS

(ion dương) [M+H]+ 397,4 Phổ 1H-NMR và

13C-NMR trình bày ở Bảng 1

Chất H-4

Tinh thể hình kim, tan trong MeOH, ít tan trong CHCl3 Trên SKLM, hiện vết dưới

UV 254 nm, không lên màu với thuốc thử vanilin-sulfuric Phổ ESI-MS (ion âm) [M-H]- 137,39

1H-NMR (CDCl3– 500 MHz) δH 7,89 (2H, d,

J = 9,0 Hz, H-2/6), 6,83 (2H, d, J = 9,0 Hz, H-3/5);

13C-NMR (CDCl3– 125 MHz) δC 170,2 (-COOH), 163,3 (C-4), 122,9 (C-1), 133,0 (C-2/6), 116,0 (C-3/5)

Bảng 1 Dữ liệu phổ chất H-1, H-2 và H-3

13

C ppm 1H, mult, (J =Hz) 13C ppm 1H, mult (J = Hz) 13C ppm 1H, mult, (J =Hz)

Trang 5

Chất H-5

Bột vô định hình, dễ tan MeOH, kém tan

trong CHCl3 Trên SKLM, hiện vết dưới UV 254

nm và không hiện vết dưới UV 365 nm, hiện

màu nâu với thuốc thử vanilin-sulfuric Phổ

ESI-MS (ion âm)[M-H]- 269,27 1H-NMR (MeOD–

500 MHz) δH 7,44 (1H, d, J =7,5 Hz; H3/7), 7,34

(1H, t, J =7,5 Hz, H4/6), 7,30 (1H, d, J =7,5 Hz;

H-5), 4,94 (1H, d, J =7,5 Hz, H-1), 4,68 (1H, d, J = 11,5

Hz, H-1), 4,37 (1H, d, J = 7,5 Hz, H-1’), 3,92 (1H,

dd, J = 12,0; 2,2 Hz; H-6’) 3,72 (1H, dd, J = 12,0; 5,5

Hz; H-6’); 3,36 (1H, m, H-3’), 3,33 (1H, m, H-4’),

3,28 (1H, m, H-5’), 3,27 (1H, m, H-2’)

13C-NMR (MeOD– 125 MHz) δC 139,1 (C-2),

129,3 4/6), 129,2 3/7), 128,7 5), 103,3

(C-1’), 78,1 (C-3’), 78,0 (C-5’), 75,1 (C-2’), 71,8 (C-1),

71,7 (C-4’), 62,8 (C-6’)

BÀN LUẬN

Cấu trúc chất H-1

Khối phổ S -MS của H-1 cho đỉnh [M+H]+

399,0 tương ứng với phân tử khối của H-1 là 398

Phổ cộng hưởng từ 13C NMR cho thấy H-1 có 28

carbon ứng với công thức công thức phân tử là

C28H46 với độ bất bão hòa (Ω) là 6

Phổ cộng hưởng từ 13C-NMR, 1H-NMR và

DEPT cho thấy H-1 có các đặc điểm cấu trúc

như sau :

4 carbon bậc Trong đó có 2 carbon ( C )

của nối đôi (δC 140,8 và 105,9)

8 carbon bậc Trong đó một carbon (–CH=)

của nối đôi (δC 121,7), một carbon gắn với oxi (δC

71,8) các carbon còn lại là các nhóm ( CH–)

không mang nhóm chức xuất hiện ở vùng

trường cao

11 carbon bậc Trong đó có 1 carbon mang

nối đôi δC 105,9 có 2 proton là δH 4,71 s và δH 4,66 s

5 carbon bậc Cả 5 nhóm methyl đều xuất

hiện ở vùng trường cao (δC 11-19 ppm), 3

nhóm methyl có tín hiệu doublet δH 0,95

(3H, d, J = 6,6 Hz), δH 1,03 (3H, d, J = 2,5 Hz),

δH 1,02 (3H, d, J = 2,5 Hz)

ới các đặc điểm cấu trúc như trên, có thể dự

đoán chất H-1 có cấu trúc khung steroid với

mạch nhánh và có 2 nối đôi Vị trí C-3 trên

khung sterol có gắn nhóm -OH do proton δH 3,52

có tương tác COSY với proton của C-2 và C-4 ị trí của nối đôi được xác định là ở C-5 – C-6 bởi các tương tác quan sát được trong phổ C SY của

hệ H-6 – H-7 – H-8 (trong đó H-6 (δH 5,35 ppm) là

proton sp2 của nối đôi) và tương tác của proton

của nhóm methyl ở C-10 (δC 19,4 ppm; δH 1,00

ppm ) với carbon mang nối đôi C-5 (δC 140,8 ppm)

trong phổ HMBC Đây cũng là vị trí thường gặp nối đôi trong các steroid Như vậy, dây nhánh

của H-1 sẽ có 9 carbon và có thêm một nối đôi Vị

trí nối đôi này được xác định gắn trên C-24 do

tương tác HMBC của 2 proton nối đôi là δH 4,71

và 4,66 ppm với C-23 (δC 31,0) và C-25 (δC 33,8)

đồng thời proton của nhóm methyl δH 1,03 ppm của C-26 và C-27 tương tác với C-24 ( δC 156,9)

Cấu trúc của H-1 dựa trên các dữ liệu phân

tích trên phổ NMR và so sánh với các tài liệu tham khảo(4) được xác định là ergost

24(28)-en-3-ol (chalinaster24(28)-en-3-ol), một ster24(28)-en-3-ol được xác định trong

hải mien (Hình 1)

Cấu trúc chất H-2 Khối phổ S -MS của H-2 cho đỉnh [M+Na]+

599,0 tương ứng với phân tử khối của H-2 là 598

Phổ cộng hưởng từ 13C NMR cho thấy H-2 có 35

carbon ứng với công thức công thức phân tử là

C35H60O6 với độ bất bão hòa (Ω) là 6

Phổ cộng hưởng từ 13C NMR và DEPT cho

thấy H-2 có có 35 carbon các đặc điểm cấu trúc

như sau :

3 carbon bậc Trong đó có 1 carbon ( C )

của nối đôi (δC 140,5 ppm)

14 carbon bậc Trong đó có 7 carbon mang oxy, một carbon (–CH ) của nối đôi

C 122,3 ppm), các carbon còn lại là các nhóm

( CH–) không mang nhóm chức xuất hiện ở vùng trường cao

12 carbon bậc Trong đó có 1 carbon

carbinol (δC 62,3 ppm, δH 3,84; 3,75 ppm) đặc trưng

của nhóm –CH2 H cuối mạch đường

Trang 6

6 carbon bậc Cả 6 nhóm methyl đều xuất

hiện ở vùng trường cao (δC 11-19 ppm)

ới các đặc điểm cấu trúc như trên, có thể dự

đoán chất H-2 có cấu trúc của một glycosid với 1

đường hexose gắn vào phần genin có 29 carbon

với 1 dây nối đôi và 4 vòng ới số vòng là 4, số

nhóm methyl là 6 và số nhóm methylen là 12, có

thể định hướng cấu trúc của phần genin là một

steroid 29 carbon với 17 carbon trên 4 vòng, 2

nhóm methyl góc và một dây nhánh dài với 10

carbon (với 4 nhóm methyl còn lại) ị trí của nối

đôi được xác định là ở C-5 – C-6 tương tự như

H-1 Như vậy, dây nhánh của H-2 sẽ không có nối

đôi và cấu trúc chung của phần genin sẽ tương

ứng với sitosterol, một chất thường gặp trong

thực vật

Phần đường của H-2 được xác định là

β-D-glucopyranose bởi các dữ liệu phổ thu được, có

so sánh với các tài liệu đã công bố(5) ị trí của

đường gắn vào phần genin là ở C-3 như trong đa

số các steroid

Cấu trúc chất H-3

Khối phổ S -MS của H-3 cho đỉnh [M+H]+

397,4 tương ứng với phân tử khối của H-3 là 396

Phổ cộng hưởng từ 13C NMR cho thấy H-3 có 28

carbon ứng với công thức công thức phân tử là

C28H44 với độ bất bão hòa Ω =7

Phổ cộng hưởng từ 13C-NMR và HSQC cho

thấy H-3 có các đặc điểm cấu trúc như sau :

5 carbon bậc Trong đó có 2 carbon ( C )

của nối đôi (δC 171,7 và 156,8), đồng thời có tín

hiệu của carbon nhóm ceton (>C=O) δC 199,6 ppm

7 carbon bậc Trong đó một carbon (–

CH ) của nối đôi (δC 123,7), các carbon còn lại là

các nhóm ( CH–) không mang nhóm chức xuất

hiện ở vùng trường cao

10 carbon bậc Trong đó có 1 carbon mang

nối đôi δC 106,2 ppm

5 carbon bậc Cả 5 nhóm methyl đều

xuất hiện ở vùng trường cao (δC 11-19 ppm),

3 nhóm methyl có tín hiệu doublet δH 0,94

(3H, d, J = 6,5 Hz), δH 1,03 (3H, d, J = 2,5 Hz),

δH 1,02 (3H, d, J = 2,5 Hz)

ới các đặc điểm cấu trúc như trên, chất H-3

dự đoán có cấu trúc khung steroid có 2 nối đôi với mạch nhánh Vị trí C-3 trên khung sterol không gắn nhóm -OH mà là nhóm keton do có

tương tác HMBC của H-1 δH 2,03 với δC 119,6 Vị

trí nối đôi trên khung sterol của H-3 không ở vị

trí C5-C6 mà được xác định ở vị trí C4-C5 do có

tương tác HMBC của proton nối đôi là δH 5,71

với C-2 (δC 32,9) , C-6 (δ C 34,0), C-10 (δ C 38,6)

Như vậy cấu trúc của H-3 có 2 nối đôi liên hợp, điều này giải thích cho hiện tượng vết H-3 có tắt

quang dưới U 254 nm Như vậy, dây nhánh

của H-3 sẽ có 9 carbon và có thêm một nối đôi

Các giá trị phổ NMR phân tích ở mạch nhánh cho thấy có sự trùng hợp với mạch nhánh của

chất H-1, vị trí nối đôi còn lại được xác định gắn

trên C-24 do tương tác HMBC của 2 proton nối

đôi là δH 4,72 và 4,66 ppm với C-23 (δC 31,0) và

C-25 (δC 33,8) đồng thời proton của nhóm methyl

δH 1,03 ppm của C-26 và C-27 tương tác với C-24 (δC 156,8)

Cấu trúc của H-3 dựa trên các dữ liệu phân

tích trên phổ NMR và so sánh với các tài liệu tham khảo(6) được xác định là ergost-4,24(28)dien-3-one, một sterol cũng phân tách từ sinh vật biển

Cấu trúc chất H-4 Khối phổ ESI-MS của H-4 cho đỉnh [M-H]-

137,39, tương ứng với phân tử khối là 138 Phổ 1H-NMR của H-4 có 2 tín hiệu δH 7,89

(2H; d; J = 9,0 Hz) và δH 6,83 (2H; d; J = 9,0 Hz)

của proton gắn với 2 carbon đối xứng trong vòng thơm Phổ 13C-NMR có tín hiệu δC 170,2 của nhóm

chức acid, 1 tín hiệu δC 163,3 của carbon olefin gắn

với –OH, 2 tín hiệu δC 133,0 và 116,0 có cường độ cao đặc trưng cho 2 carbon đối xứng trong vòng

thơm Phân tích dữ liệu phổ NMR, xác định H-4

là acid p-hydroxybenzoic

Cấu trúc chất H-5 Khối phổ S -MS của H-5 cho đỉnh [M+H]

-269,2 tương ứng với phân tử khối của H-5 là

270 Phổ cộng hưởng từ 13C NMR cho thấy H-5

Trang 7

có 13 carbon ứng với công thức công thức

phân tử là C13H18O6 với độ bất bão hòa Ω = 5

Phổ 13C-NMR (MeOD – 125 MHz) của H-5 cho 11

tín hiệu C bao gồm: 6 tín hiệu δC vùng 60 - 105 của

đường glucose, 1 tín hiệu δC 103,3 của carbon

CH2 gắn với -O-; 4 tín hiệu δC của vòng thơm

nhưng có hai tín hiệu 129,1 và 129,2 có cường

độ cao bất thường đặc trưng cho 2 carbon đối

xứng trong vòng thơm

Phổ 1H-NMR của H-5 cho thấy 2 tín hiệu

δH 7,34 (H, d, J = 8,5 Hz) và δH 7,44 (H, d, J = 9,0 Hz)

của H gắn với 2 C đối xứng trong vòng thơm Dựa trên một số tương tác HMBC quan trọng, cho thấy phần đường glucose liên kết với vòng thơm thông qua dây nối methylen CH2

có δC 71,75 Qua biện giải dữ liệu phổ NMR và

so sánh với dữ liệu phổ NMR của tài liệu tham khảo(7) xác định được hợp chất H-5 là

benzyl β-D-glucopyranoside.

Hình 1 Cấu trúc các hợp chất phân lập từ hoa Thanh Long

KẾT LUẬN

Từ cao cồn 96% hoa Thanh long đã phân lập và

xác định được cấu trúc của 5 hợp chất là

chalinasterol, daucosterol,

ergost-4,24(28)-dien-3-one, acid p-hydroxybenzoic và benzyl

-D-glucopyranoside Đây là lần đầu tiên các hợp chất

này được báo cáo có trong hoa Thanh long Kết quả

của nghiên cứu sẽ là tiền đề cho các thử nghiệm

dược lý nhằm tìm hiểu công dụng của hoa Thanh

long để từ đó hướng đến việc ứng dụng hoa Thanh

long trong dược phẩm và m phẩm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Viện Dược liệu (2004) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt

Nam, V2, pp.826-827 Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội

2 Xican L, Yaoxiang G, Weijuan H, et al (2013) Antioxidant

activity and mechanism in flower of Hylocereus undatus (Haw.)

Britt Et Rose Acta biologica cracoviensia, 55(1):80-85

3 Qiu L, Chen Q (2004) Studies on the extraction of tyrosinase

inhibitor from red-purple pitaya flower Journal of Xiamen University, 43:438-479

4 Kavita R, Andrew P, Peter K (2017) Crellasterones a and b: a-norsterol derivatives from the new caledonian sponge crella

incrustans Marine Drugs,15(6):177

5 Soumia M, Hamada H, Catherine L, et al (2012) Chemical

constituents of Centaurea omphalotricha Coss & Durieu ex Batt & Trab Records of Natural Product, 6(3):292-295

6 Guella G, Mancini Ines, Pietra Francesco (1988) Isolation of ergosta-4, 24 (28)-dien-3-one from both astrophorida

demosponges and subantarctic hexactinellides Comparative Biochemistry and Physiology Part B: Comparative Biochemistry,

90(1):113-115

7 Yuko Y, Karin K, Falk L, et al (2008) Furan endwise peeling of celluloses: mechanistic studies and application perspectives of a

novel reaction European Journal of Organic Chemistry, (3):475-484

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w