1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết quả ứng dụng hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

10 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 821,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu theo đúng hướng dẫn đem lại hiệu quả điều trị, giảm thiểu độc tính và giới hạn sự phát triển của đề kháng kháng sinh. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả và an toàn trong sử dụng vancomycin 2 giai đoạn trước và sau khi có hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TP. HCM).

Trang 1

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG HƯỚNG DẪN THEO DÕI NỒNG ĐỘ VANCOMYCIN TRONG TRỊ LIỆU TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Ngọc Phương Minh 1 , Đặng Nguyễn Đoan Trang 1,2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mở đầu: Việc theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu theo đúng hướng dẫn đem lại hiệu quả điều trị,

giảm thiểu độc tính và giới hạn sự phát triển của đề kháng kháng sinh Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn trong sử dụng vancomycin 2 giai đoạn trước và sau khi có hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TP HCM)

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả theo 2 giai đoạn (trước-sau khi áp dụng hướng dẫn theo dõi

nồng độ vancomycin) trên những trường hợp chỉ định vancomycin truyền tĩnh mạch Bệnh nhân bị loại ra khỏi nghiên cứu nếu thời gian sử dụng thuốc dưới 3 ngày, dưới 18 tuổi, không có chẩn đoán nhiễm khuẩn, có thay đổi

về dược động học (có thai, lọc máu, bị mất dịch ngoại bào như bỏng, nôn nhiều, tiêu chảy nặng, xơ nang, phù hay cổ trướng)

Kết quả: Số lượng bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn mẫu ở 2 giai đoạn trước-sau khi áp dụng hướng dẫn lần

lượt là 200 và 105 So với giai đoạn trước khi có hướng dẫn, ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn có sự gia tăng tỷ lệ theo dõi nồng độ vancomycin 83,8% so với 43,5%, p < 0,001 và giảm thời gian nằm viện 19,0 ± 19,0 so với 28,0 ± 24,0, p = 0,002 Có sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng độ đáy đạt khoảng trị liệu 10-20 µg/mL 70,5% so với 59,8%, p = 0,138 và tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng độ nồng độ đáy đạt mục tiêu theo loại nhiễm khuẩn 55,7% so với 40,2%, p = 0,041 ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn Tỷ lệ phát sinh độc tính trên thận giảm ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn so với giai đoạn trước khi có hướng dẫn (1,9% so với 5,5%, p = 0,231)

Kết luận: Áp dụng hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu làm tăng tỷ lệ bệnh nhân đạt

khoảng trị liệu và nồng độ đáy mục tiêu, làm giảm thời gian nằm viện và độc tính trên thận

Từ khóa: theo dõi nồng độ, khoảng trị liệu, nồng độ mục tiêu, vancomycin

ABSTRACT

IMPACT OF IMPLEMENTING VANCOMYCIN MONITORING PROTOCOL

AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER HO CHI MINH CITY: A DESCRIPTIVE CROSS-SECTIONAL STUDY

Tran Ngoc Phuong Minh, Dang Nguyen Doan Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 6 - 2020: 42 - 51

Introduction: Therapeutic monitoring of vancomycin levels was associated with improving treatment

outcomes and preventing nephrotoxicity and antibiotic resistance The study was designed to evaluate efficacy

and safety of using vancomycin in two phases, before and after the implementation of vancomycin dosing and

monitoring protocol at University Medical Center Hochiminh City (UMC HCMC)

Methods: A descriptive cross-sectional study in two phases (before – after the implementation of

vancomycin dosing and monitoring protocol) was conducted on patients receiving intermittent infusion of vancomycin Exclusion criteria include treatment duration less than 3 days, patients younger than 18 years old, patients with no diagnosis of infection or with unstable pharmacokinetics (pregnancy, hemodialysis, extreme

1 Khoa Dược, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

2 Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

extracellular fluid loss including burns, vomiting or severe diarrhea, cystic fibrosis, edema or ascites) Data was analyzed using SPSS 22.0 software

Results: A total of 200 patients and 105 patients were included into the study in the preimplementation

phase (phase 1) and postimplementation phase (phase 2), respectively The rate of monitoring vancomycin

concentration increased (83.8% vs 43.5%, p < 0.001) and the duration of therapy decreased (19.0 ± 19,0 vs

28.0 ± 24.0, p = 0.002) in phase 2 compared to phase 1 There was an increase in the proportion of patients with at least 1 concentration achieving the therapeutic range (70.5% vs 59.8%, p = 0.138), an increase in the

proportion of patients with at least 1 concentration achieving targeted level and a lower incidence of nephrotoxicity (1.9% vs 5.5%, p = 0.231)

Conclusion: Implementation of the protocol of therapeutic monitoring of vancomycin at UMC HCMC

increases the proportion of patients reaching the therapeutic range and targeted level, reduces the duration of therapy and reduces nephrotoxicity

Keywords: therapeutic drug monitoring, therapeutic range, targeted level, vancomycin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vancomycin được khuyến cáo như lựa chọn

đầu tay trong điều trị Staphylococcus aureus kháng

methicilin (MRSA) và các vi khuẩn gram dương

đề kháng kháng sinh nhóm beta-lactam khác

Mặc dù hiệu quả của vancomycin đã được chứng

minh qua gần 6 thập kỷ sử dụng, việc tìm được

liều thích hợp vancomycin trong điều trị nhiễm

khuẩn do Staphylococcus aureus vẫn gặp nhiều khó

khăn trên thực hành lâm sàng do nhiều nguyên

nhân: sự leo thang MIC của vancomycin, sự đề

kháng của các chủng MRSA hoặc sự phức tạp do

đặc tính dược động học và dược lực học (PK/PD)

của thuốc Do đó, việc hiểu rõ các đặc tính dược

động học và dược lực học của vancomycin để có

thể thiết lập chế độ điều trị hợp lý rất cần thiết đối

với bác sĩ và dược sĩ trên thực hành lâm sàng(1)

Năm 2011, hướng dẫn về thực hành Dược lâm

sàng của Hội dược sĩ hệ thống y tế Hoa Kỳ, Hội

bệnh nhiễm Hoa Kỳ và Hội dược sĩ bệnh nhiễm

Hoa Kỳ có đề cập đến các khuyến cáo về liều và

việc theo dõi trị liệu khi dùng vancomycin Ngoài

ra, cũng có nhiều hướng dẫn về liều và theo dõi

trị liệu khi dùng vancomycin được đưa ra ở nhiều

quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong những năm

gần đây Việc theo dõi nồng độ thuốc trong trị

liệu (TDM) được khuyến cáo nhằm nâng cao hiệu

quả điều trị và hạn chế các tác dụng phụ không

mong muốn Theo các hướng dẫn này, theo dõi

nồng độ đáy là phương pháp tương đối chính xác

và thực tế nhất để theo dõi và hiệu chỉnh liều vancomycin(2,3) Hiện nay, việc theo dõi nồng độ vancomycin trong máu một cách thường quy đã được đưa vào hướng dẫn thực hành lâm sàng ở nhiều nước và được áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện Tại BV ĐHYD TP HCM, hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin cũng đã được được xây dựng và ban hành Nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng hướng dẫn này, đề tài “Hiệu quả ứng dụng hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành với những mục tiêu sau: (1) Khảo sát việc sử dụng và so sánh hiệu quả kiểm soát nồng độ vancomycin trước và sau khi áp dụng hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu; (2) Khảo sát hiệu quả điều trị với vancomycin và yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị trước và sau khi áp dụng hướng dẫn; (3) Khảo sát và so sánh các biến cố bất lợi (ADE) trên thận trước và sau khi áp dụng hướng dẫn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được chỉ định vancomycin tại BV ĐHYD TP HCM

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân được chỉ định vancomycin truyền tĩnh mạch ngắt quãng trong thời gian

nghiên cứu

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Thời gian sử dụng vancomycin dưới 3 ngày,

bệnh nhân dưới 18 tuổi, bệnh nhân không có

chẩn đoán nhiễm khuẩn, bệnh nhân có thay đổi

về dược động học (phụ nữ có thai, bệnh nhân có

tiến hành lọc máu, bệnh nhân bị mất dịch ngoại

bào như bỏng, nôn nhiều, tiêu chảy nặng, bệnh

nhân bị xơ nang, phù hay cổ trướng)

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, so sánh 2 giai

đoạn trước và sau khi áp dụng hướng dẫn theo

dõi nồng độ vancomycin trong trị liệu

Giai đoạn 1

Trước khi có hướng dẫn, từ 01/01/2017 đến

31/05/2017

Giai đoạn 2

Sau khi có hướng dẫn, từ 01/03/2019 đến

30/04/2019

Thông tin về bệnh nhân, đặc điểm nhiễm

khuẩn, kết quả xét nghiệm, thuốc sử dụng, kết

quả đo nồng độ đáy, hiệu quả điều trị dựa trên hồ

sơ bệnh án, đáp ứng lâm sàng, đáp ứng cận lâm

sàng, thời gian nằm viện, độc tính trên thận được

thu thập từ hồ sơ bệnh án Trong đó, các tiêu chí

đánh giá chính bao gồm:

Đặc điểm nhiễm khuẩn bao gồm: nhiễm

khuẩn phức tạp (nhiễm khuẩn huyết/ sốc nhiễm

khuẩn huyết, viêm phổi, viêm màng não, viêm

nội tâm mạc, viêm tủy xương/viêm xương khớp),

nhiễm khuẩn nhẹ: (nhiễm khuẩn da – mô mềm,

nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm khuẩn tiết niệu)

Nồng độ đáy ở trạng thái cân bằng: được

lấy 30 phút trước khi sử dụng liều tiếp theo

sau khi đạt trạng thái cân bằng, thường bắt

đầu trước liều thứ 4 hoặc thứ 5 trở về sau

Nồng độ đáy mục tiêu theo đặc điểm

nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn phức tạp (15 – 20

mcg/mL), nhiễm khuẩn nhẹ (10 – 15 mcg/mL)

Thực hiện TDM vancomycin đúng khuyến

cáo bao gồm bệnh nhân được chỉnh liều nếu

nồng độ không đạt nồng độ mục tiêu và không

chỉnh liều nếu đã đạt nồng độ mục tiêu

Kết quả điều trị của mẫu nghiên cứu được ghi nhận dựa trên hồ sơ bệnh án bao gồm tỷ lệ thành công (khỏi/ đỡ/ giảm) và thất bại điều trị (không đổi/ nặng/ tử vong)

Đáp ứng lâm sàng ở bệnh nhân phân lập vi khuẩn Gram dương được xác định dựa trên sự giảm nhiệt độ của bệnh nhân (xuống dưới 38 oC) hoặc đánh giá của bác sĩ điều trị (đã loại trừ các trường hợp sốt do kháng sinh và nhiễm đồng thời vi khuẩn Gram âm đa kháng) sau khi kết thúc điều trị với vancomycin; đáp ứng cận lâm sàng được đánh giá dựa trên sự giảm bạch cầu, giảm CRP hoặc giảm procalcitonin (so với giá trị khi được chẩn đoán nhiễm khuẩn)

Mức độ nghiêm trọng của độc tính trên thận

được đánh giá theo tiêu chuẩn RIFLE (Bảng 1)

Bảng 1 Phân loại mức độ nghiêm trọng của độ tính

trên thận theo tiêu chí creatinin của RIFLE

R – Nguy cơ Tăng nồng độ creatinin trên 1,5 lần hoặc GFR giảm > 25%

I – Tổn thương Tăng nồng độ creatinin trên 2 lần hoặc GFR giảm > 50%

F – Suy Tăng nồng độ creatinin trên 3 lần hoặc GFR giảm > 75%

L – Mất Suy thận cấp dai dẳng = mất chức năng thận hoàn toàn > 4 tuần

E – Bệnh thận giai đoạn cuối ESRD > 3 tháng

Phân tích số liệu

Các số liệu được phân tích bằng phần mềm

SPSS 22.0 Thống kê mô tả được áp dụng để thống kê đặc điểm bệnh nhân, tình hình bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu sử dụng kháng sinh vancomycin, đặc điểm sử dụng vancomycin, kết quả theo dõi nồng độ vancomycin trong huyết thanh, biến cố bất lợi trên thận trong quá trình

sử dụng, phép kiểm t (nếu phân phối chuẩn) hoặc Wilcoxon Rank Sum (nếu phân phối không chuẩn) được áp dụng để so sánh hai số trung bình, phép kiểm Chi bình phương được áp dụng

để so sánh hai tỷ lệ Các phép kiểm được xem là

có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Trang 4

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Các đặc điểm về tuổi, giới, cân nặng, BMI,

điểm Charlson, chức năng thận, tình trạng bệnh

nhân tại thời điểm sử dụng vancomycin giữa hai

giai đoạn tương tự nhau, được trình bày trong

Bảng 2

Bảng 2 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

(n = 200)

Giai đoạn 2 (n = 105)

p

Tuổi, TB a ± ĐLC b 61,5 ± 15,3 59,8 ± 16,1 0,37

Giới, n (%)

Nam

Nữ

109 (54,5%)

91 (45,5%)

65 (61,9%)

40 (38,1%) 0,22 Cân nặng, TB a ± ĐLC b 58,0 ± 15,8 55,0 ± 15,0 0,37

BMI, TB a ± ĐLC b 22,8 ± 5,6 22,5 ± 5,9 0.13

Điểm Charlson,

TB a ± ĐLC b 1,0 (2) 1,0 (2) 0,62

Chức năng thận

Creatinin máu (mmol/L),

TB a ± ĐLC b

CrCl (mL/phút),

TB a ± ĐLC b

CrCl ≤ 60 mL/phút, n (%)

0,89 ± 0,28 69,3 ± 25,8

78 (39,0%)

0,87 ± 0,28 73,3 ± 26,1

36 (34,3%)

0,43 0,21 0,42

Tình trạng bệnh nhân,

n (%)

Thở máy

Sử dụng thuốc vận mạch

Sốc nhiễm khuẩn

46 (23%)

11 (5,5%)

8 (4,0%)

29 (27,6%)

8 (7,6%)

4 (3,8%)

0,37 0,47 0,60

a TB: trung bình, b ĐLC: độ lệch chuẩn

Đặc điểm vi sinh của mẫu nghiên cứu

Có 169 (84,5%) bệnh nhân trong giai đoạn 1

và 96 (91,4%) bệnh nhân trong giai đoạn 2 được

chỉ định lấy mẫu bệnh phẩm và làm kháng sinh

đồ Đặc điểm vi sinh của mẫu nghiên cứu khi xét

trên toàn bộ mẫu bệnh phẩm được trình bày

trong Bảng 3

Đặc điểm nhiễm khuẩn và các chủng vi

khuẩn phân lập được trong mẫu nghiên cứu

Đặc điểm nhiễm khuẩn và các chủng vi

khuẩn phân lập được trong mẫu nghiên cứu của

2 giai đoạn tương tự nhau, được trình bày trong

Bảng 4

Bảng 3 Đặc điểm vi sinh của mẫu nghiên cứu

Mẫu bệnh phẩm, n (%) (n = 190) * (n = 146) *

Mủ Máu Đàm Nước tiểu Đầu CVC a

Dịch khớp Dịch não tủy Dịch khác

52 (27,4%)

63 (33,2%)

30 (15,8%)

5 (2,6%)

2 (1,1%)

5 (2,6%)

15 (7,9%)

18 (9,5%)

36 (24,7%)

32 (21,9%)

25 (17,1%)

2 (1,4%)

0 (0,0%)

2 (1,4%)

17 (11,6%)

32 (21,9%)

Chủng vi khuẩn phân lập, n (%) (n = 190) * (n = 146)*

Âm tính Gram dương Gram âm

76 (40,0%)

70 (36,8%)

44 (23,2%)

72 (49,3%)

52 (35,6%)

22 (15,1%)

Chủng vi khuẩn gram dương phân lập, n (%)

(n = 70) * (n = 52) *

Staphylococcus aureus

MSSA b 5 (7,1%) 1 (1,9%)

MRSA c 31 (44,3%) 28 (53,8%) Staphylococci khác MS – CNS d 7 (10,0%) 1 (1,9%)

MR – CNS e 19 (27,1%) 13 (25,0%)

Streptococcus spp 5 (7,1%) 8 (15,4%)

Enterococcus sp 3 (4,3%) 1 (1,9%)

Chủng vi khuẩn gram âm phân

lập, n (%)

(n = 44) * (n = 22) *

Escherichia coli 17 (38,6%) 5 (22,7%)

Klebsiella sp 5 (11,4%) 9 (40,9%)

Proteus sp 2 (4,5%) 0 (0,0%)

Enterobacter sp 1 (2,3%) 4 (18,2%)

Acinetobacter sp 7 (15,9%) 3 (13,6%)

Pseudomonas aeruginosa 5 (11,3%) 1 (4,5%)

Burkholderia cepacia 3 (6,8%) 0 (0,0%)

Stenotrophomonas maltophilia 4 (9,1%) 0 (0,0%)

a CVC: Central venous catheter (ống thông tĩnh mạch trung tâm); * Một bệnh nhân có thể có nhiều hơn 1 mẫu bệnh phẩm;

b MSSA: Methicillin sensitive Staphylococcus aureus (Staphylococcus aureus kháng methicillin),

c MRSA: Methicillin resistant Staphylococcus aureus (Staphylococcus aureus kháng methicillin),

d MS-CNS: Methicillin sensitive coagulase negative Staphylococci (Staphylococci coagulase âm tính nhạy methicillin), e MR-CNS: Methicillin resistant coagulase negative Staphylococci (Staphylococci coagulase âm tính kháng methicillin)

Trang 5

Bảng 4 Đặc điểm nhiễm khuẩn và các chủng vi khuẩn phân lập được trong mẫu nghiên cứu

Nhiễm khuẩn phức tạp Nhiễm khuẩn huyết

Viêm phổi Viêm màng não Viêm nội tâm mạc Viêm tủy xương Tổng

21 (10,5%)

45 (22,5%)

36 (18,0%)

5 (2,5%)

10 (5%)

117 (58,5%)

10 (9,5%)

17 (16,2%)

17 (16,2%)

1 (1,0%)

9 (8,6%)

54 (51,5%)

0,24

Nhiễm khuẩn nhẹ Nhiễm khuẩn da - mô mềm

Nhiễm khuẩn tiết niệu Nhiễm khuẩn ổ bụng Tổng

75 (37,5%)

4 (2,0%)

4 (2,0%)

83 (41,5%)

48 (45,8%)

1 (1,0%)

2 (1,9%)

51 (48,7%) Phân lập vi khuẩn gram dương, n (%) 69 (34,5%) 43 (41,0%) 0,27 Staphylococci kháng methicillin

MRSA, n (%)

MR – CNS, n (%)

49 (24,5%)

29 (14,5%)

20 (10,0%)

34 (32,4%)

21 (20,0%)

13 (12,4%)

0,14

Đặc điểm sử dụng vancomycin

Liều nạp vancomycin

Bảng 5 Tỷ lệ sử dụng liều nạp trong mẫu nghiên

cứu ở 2 giai đoạn

(n = 200)

Giai đoạn 2

Tỷ lệ sử dụng liều nạp,

n (%)

1g

1,25g

1,5g

2g

4 (2,0%)

2 (1,0%)

0 (0,0%)

1 (0,5%)

1 (0,5%)

5 (4,8%)

1 (1,0%)

1 (1,1%)

3 (2,9%)

0 (0,0%)

0,28

Tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng liều nạp trong

2 giai đoạn đều thấp chiếm tỷ lệ 2% ở giai

đoạn 1 và 4,8% ở giai đoạn 2

Liều duy trì vancomycin

Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

dùng chế độ liều ban đầu 1g (94,5% ở giai

đoạn 1 và 96,2 % ở giai đoạn 2) và khoảng cách

liều ban đầu mỗi 12 giờ (89,0% ở giai đoạn 1 và

91,4% ở giai đoạn 2)

Mức độ tuân thủ hướng dẫn TDM vancomycin

Khoảng nồng độ đo được ở bệnh nhân có đo

nồng độ vancomycin trong máu

Có 87 bệnh nhân ở giai đoạn 1 và 88 bệnh

nhân (ở giai đoạn 2) được lấy mẫu để đo nồng

độ vancomycin

Xét trên tổng số lần đo nồng độ đáy

vancomycin, số lần đo có kết quả nằm trong

khoảng nồng độ 10 – 20 mcg/mL của giai đoạn 2

cao hơn giai đoạn 1 (55,4% so với 54,1%) và số

lần đo có kết quả nồng độ > 20 mcg/mL của giai

đoạn 2 thấp hơn giai đoạn 1 (9,8% so với 23,0%)

Khi xét trên từng bệnh nhân ở nhóm có TDM vancomycin, tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng

độ đáy nằm trong khoảng 10 – 20 mcg/mL ở giai đoạn 2 là 70,5%, cao hơn giai đoạn 1 (59,8%), sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Hình 1) Tỷ

lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng độ đáy đạt mục tiêu dựa trên vị trí nhiễm khuẩn giai đoạn sau khi có hướng dẫn cao hơn trước khi có hướng dẫn (55,7% so với 40,2%), sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê, p = 0,041 (Hình 2)

Hình 1 Tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng độ đáy

trong khoảng 10 – 20 mcg/mL

Hình 2 Tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 nồng độ đáy

đạt mục tiêu theo loại nhiễm khuẩn

Trang 6

Mức độ tuân thủ điều chỉnh nồng độ đáy, thời

điểm đo nồng độ đáy và chức năng thận theo

khuyến cáo

Ở giai đoạn 2 có tỷ lệ bệnh nhân thực hiện

TDM đúng khuyến cáo là 76,1% cao hơn giai

đoạn 1 là 41,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê, p < 0,0001 (Hình 3)

Tỷ lệ thời điểm lấy đo nồng độ đáy lần đầu

tiên ở 2 giai đoạn được thể hiện ở Hình 4

Trong đó thời điểm lấy mẫu theo khuyến cáo

(trước liều thứ 4, thứ 5) của giai đoạn 2 chiếm

tỷ lệ cao hơn giai đoạn 1 (37,1% so với 25,0%)

Kết quả phân tích cho thấy trong giai đoạn

sau khi có hướng dẫn có mức độ tuân thủ theo

dõi nồng độ đáy hàng tuần (Hình 5) và chức

năng thận hàng tuần (Hình 6) cao hơn giai

đoạn trước khi có hướng dẫn

Hiệu quả điều trị trước và sau khi áp dụng hướng dẫn TDM vancomycin

Kết quả điều trị dựa trên hồ sơ bệnh án

Kết quả điều trị giai đoạn trước khi có hướng dẫn và sau khi có hướng dẫn lần lượt là 81,5% và 86,7%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê, p = 0,251 Phân tích dưới nhóm ở bệnh nhân phân lập được vi khuẩn gram dương hoặc bệnh nhân phân lập chủng Staphylococci đề kháng methicilin ở 2 giai đoạn kết quả điều trị khác biệt

được thể hiện qua Bảng 6

Hình 3 Tỷ lệ bệnh nhân thực hiện TDM

đúng khuyến cáo ở 2 giai đoạn

Hình 4 Sự phân bố thời điểm đo

nồng độ đáy ở 2 giai đoạn

Hình 5 Tỷ lệ tuân thủ theo dõi nồng độ đáy

hàng tuần ở 2 giai đoạn

Hình 6 Tỷ lệ tuân thủ theo dõi chức năng thận

hàng tuần ở 2 giai đoạn

p < 0,0001

Trang 7

Bảng 6 Kết quả điều trị của mẫu nghiên cứu ở 2 giai đoạn

Điều trị thành công

(n, %)

Giai đoạn 1 (n = 200)

Giai đoạn 2 (n =105)

p

Trên bệnh nhân phân

lập được vi khuẩn

gram (+) (n = 112)

59/69 (85,5%)

42/43 (97,7%)

0,049

Trên bệnh nhân phân

lập được vi khuẩn

gram (+) và có TDM

vancomycin (n = 73)

27/35 (77,1%)

38/38 (100%)

0,002

Trên bệnh nhân phân

lập được MRSA

và MR-CNS (n = 83)

40/49 (81,6%)

34/34 (100%)

0,009

Trên bệnh nhân phân

lập được MRSA và

MR-CNS, có TDM

vancomycin (n = 57)

20/27 (74,1%)

30/30 (100%)

0,003

Kết quả điều trị dựa trên đáp ứng lâm sàng

Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng trên ở 2 giai đoạn

thể hiện ở Bảng 7

Bảng 7 Kết quả đáp ứng lâm sàng của mẫu

nghiên cứu ở 2 giai đoạn

Có đáp ứng

lâm sàng (n, %)

Giai đoạn 1 (n = 200)

Giai đoạn 2 (n =105)

p

Trên bệnh nhân phân

lập được vi khuẩn

gram (+) (n = 112)

46/69 (66,7%) 38/43

(88,4%)

0,010

Trên bệnh nhân phân

lập được vi khuẩn

gram (+) và có TDM

vancomycin (n = 73)

20/35 (57,1%) 35/38

(92,1%)

0,001

Trên bệnh nhân phân

lập được MRSA và

MR-CNS (n = 83)

31/49 (63,3%) 29/34

(85,3%)

0,027

Trên bệnh nhân phân

lập được MRSA và

MR-CNS, có TDM

vancomycin (n = 57)

15/27 (55,6%) 27/30

(90,0%)

0,006

Kết quả điều trị dựa trên đáp ứng cận lâm sàng

Bảng 8 Kết quả đáp ứng cận lâm sàng ở 2 giai đoạn

trên bệnh nhân phân lập vi khuẩn gram dương

Có đáp ứng giảm bạch cầu

28/41 (68,3%) 29/32 (90,6%) 0,025

Có đáp ứng giảm CRP

15/26 (57,7%) 14/20 (70,0%) 0,391

Có đáp ứng giảm procalcitonin

15/21 (71,4%) 11/14 (78,6%) 0,712

Thời gian nằm viện

Trên nhóm bệnh nhân có thực hiện TDM vancomycin, thời gian nằm viện giai đoạn sau khi

có hướng dẫn thấp hơn giai đoạn trước khi có hướng dẫn (19,0 ± 19,0 ngày so với 28,0 ± 24,0 ngày), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p = 0,002

Các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị

Phân tích hồi quy logistic được tiến hành trên nhóm bệnh nhân phân lập được vi khuẩn gram dương và TDM vancomycin (n = 73) Kết quả phân tích cho thấy sự điều chỉnh nồng độ đáy vancomycin theo khuyến cáo có liên quan đến tăng đáp ứng lâm sàng ở nhóm bệnh nhân này (p < 0,05)

Độc tính trên thận

Tỷ lệ phát sinh độc tính trên thận ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn thấp hơn giai đoạn trước khi có hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin (giai đoạn 1), sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê (p = 0,231) Tuy nhiên không có trường hợp tổn thương thận hoặc suy thận phát sinh trong giai đoạn sau khi có hướng dẫn

Bảng 9 Độc tính trên thận của 2 giai đoạn

Độc tính trên thận

Tỷ lệ phát sinh độc tính trên thận, %

Mức độ độc tính trên thận

R (Tăng nồng độ creatinin trên 1,5 lần)

I (Tăng nồng độ creatinin trên 2 lần)

F (Tăng nồng độ creatinin trên 3 lần)

L (Suy thận cấp dai dẳng = mất chức năng thận

hoàn toàn > 4 tuần)

E (ESRD > 3 tháng)

11 (5,5%)

5 (2,5%)

3 (1,5%)

3 (1,5%)

0

0

2 (1,9%)

2 (1,9%)

0

0

0

0

0,23

ESRD: bệnh thận giai đoạn cuối

Trang 8

BÀN LUẬN

Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân ở hai giai

đoạn có và không có hướng dẫn TDM

vancomycin tương tự nhau, lần lượt là 61,5 ±

15,3 và 59,8 ± 16,1 (p = 0,365) và tỷ lệ nam cao

hơn nữ ở cả 2 giai đoạn Đặc điểm về tuổi và giới

trên bệnh nhân nhiễm MRSA đã được đề cập

đến trong nghiên cứu của tác giả Pik San Sit và

cộng sự là bệnh nhân là nam giới và độ tuổi > 50

tuổi có liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy

cơ nhiễm MRSA (p < 0,0001)(4)

Theo khuyến cáo hướng dẫn thực hành lâm

sàng của Hiệp hội bệnh nhiễm khuẩn Hoa Kỳ

trong điều trị MRSA ở người lớn, liều ban đầu

vancomycin của bệnh nhân được tính dựa trên

cân nặng thực tế và khoảng cách liều tính dựa

trên độ thanh thải creatinin (điều chỉnh theo cân

nặng nếu cần)(5) Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh

nhân béo phì (BMI > 25) ở 2 giai đoạn lần lượt là

27,9% ở giai đoạn 1 và 19,8% ở giai đoạn 2 Tuy

nhiên tỷ lệ bệnh nhân béo phì được hiệu chỉnh

liều vancomycin chỉ chiếm 67,5% ở giai đoạn 1 và

70,0% ở giai đoạn 2 (p = 0,844) trong số bệnh nhân

cần điều chỉnh liều Tỷ lệ ClCr < 60 mL/phút

của 2 giai đoạn lần lượt là 39% và 34,3% phù

hợp với tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi của mẫu nghiên

cứu (tỷ lệ bệnh nhân ≥ 70 tuổi của 2 giai đoạn lần

lượt là 31,5% và 23,8%) Trong mẫu nghiên cứu

tỷ lệ bệnh nhân có chức năng thận suy giảm

(ClCr < 60 mL/ phút) chiếm hơn 1/3 số bệnh

nhân ở cả 2 giai đoạn, tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân

được hiệu chỉnh khoảng cách liều theo chức

năng thận chỉ chiếm 13,4% ở giai đoạn 1 và

24,0% ở giai đoạn 2 (p = 0,222) trong số bệnh

nhân cần hiệu chỉnh khoảng cách liều

Đặc điểm sử dụng vancomycin ở bệnh nhân

có đo nồng độ vancomycin trong máu

Liều nạp 25-30 mg/kg lúc ban đầu có thể

được sử dụng để nhanh chóng đạt nồng độ đích

ở bệnh nhân nghiêm trọng hoặc nhiễm khuẩn

phức tạp(6) Kết quả cho thấy tần suất sử dụng

liều nạp trong mẫu nghiên cứu ở 2 giai đoạn khá

thấp ( 2% ở giai đoạn 1 và 4,8% ở giai đoạn 2) so với tỷ lệ nhiễm khuẩn phức tạp ở 2 giai đoạn (lần lượt là 58,5% và 51,4%) Tuy nhiên, theo tác giả Momattin(7) thì sử dụng liều nạp vancomycin không được nhấn mạnh trong các hướng dẫn ở nhiều bệnh viện mà nhân tố chính đảm bảo sử dụng hiệu quả vancomycin là duy trì nồng độ đáy vancomycin trong huyết thanh trong khoảng trị liệu (10 – 20 mcg/mL)

Liều và khoảng cách liều ban đầu: ở cả 2 giai đoạn liều ban đầu sử dụng chủ yếu là 1g mỗi 12 giờ (> 90,0%) Tuy nhiên khi sử dụng mức liều này, tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu ngay liều đầu tiên ở 2 giai đoạn khá thấp (lần lượt là 25,3% ở giai đoạn 1 và 22,7% ở giai đoạn 2) Theo tác giả Hall và cộng sự(8),việc cố định liều 1g mỗi 12 giờ cho phần lớn các bệnh nhân trong thực hành lâm sàng là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu liều, đặc biệt là ở bệnh nhân béo phì Tương tự, những bệnh nhân lớn tuổi có nhiều khả năng nhận quá nhiều vancomycin theo nghiên cứu của Rodman(9) Một số hướng dẫn dùng thuốc(3,5,6) ủng hộ việc tính toán liều lượng dựa trên cả trọng lượng và độ thanh thải creatinin tính toán tương đồng với hướng dẫn của Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ áp dụng liều cố định 1g mỗi 12 giờ còn cao dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu ngay liều đầu tiên còn thấp ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn Trong tương lai, cần áp dụng thêm các biện pháp nhằm tối ưu hóa liều sử dụng ban đầu cho từng cá thể bệnh nhân

Mức độ tuân thủ TDM vancomycin theo khuyến cáo

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân có thực hiện theo dõi nồng độ vancomycin ở giai đoạn 1 là 43,5% và 83,8% ở giai đoạn 2 Đặc biệt, trên các bệnh nhân nhiễm khuẩn phức tạp có 56,4% bệnh nhân ở giai đoạn 1 được chỉ định TDM vancomycin so với giai đoạn 2 toàn bộ 100% bệnh nhân nhiễm khuẩn phức tạp có TDM vancomycin Trên các bệnh nhân suy giảm chức năng thận (ClCr < 60 mL/phút), có 57,7% bệnh

Trang 9

nhân giai đoạn 1 được chỉ định TDM

vancomycin so với giai đoạn 2 là 83,3% Theo

khuyến cáo của Matsumoto(6), việc TDM nên

được thực hiện khi bắt đầu điều trị vancomycin

ở bệnh nhân có nhiễm khuẩn phức tạp, chức

năng thận không ổn định (suy giảm hay cải

thiện) với độ mạnh và chất lượng bằng chứng

C1- III Như vậy, so với trước khi có hướng dẫn

thì giai đoạn sau khi có hướng dẫn thì tỷ lệ tuân

thủ theo dõi nồng độ vancomycin ở bệnh nhân

nhiễm khuẩn phức tạp và bệnh nhân có chức

năng thận suy giảm cao hơn giai đoạn trước khi

có hướng dẫn

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân

có ít nhất 1 nồng độ đáy đạt khoảng trị liệu

(10 – 20 mcg/mL) là 70,5% giai đoạn sau khi có

hướng dẫn so với 59,8% ở giai đoạn trước khi có

hướng dẫn Kết quả này tương đồng với kết quả

trong nghiên cứu trước đây của tác giả

Momattin ở giai đoạn sau khi có can thiệp của

dược sĩ so với trước khi có can thiệp của dược sĩ

(79,7% so với 50,5%)(7)

Việc thực hiện đúng khuyến cáo TDM

vancomycin (tăng hoặc giảm liều, thay đổi

khoảng cách liều để đưa nồng độ đáy

vancomycin nằm trong khoảng trị liệu mục tiêu

theo khuyến cáo nhằm tăng cường hiệu quả điều

trị, giảm độc tính trên thận và giảm sự đề kháng

kháng sinh(2,5) Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ

tuân thủ TDM đã tăng từ 41,4% ở giai đoạn 1 lên

76,1% ở giai đoạn 2 Kết quả này tương đồng với

kết quả nghiên cứu của tác giả Xu G và cộng sự

với 87,0% thực hiện TDM vancomycin đúng ở

nhóm có can thiệp của dược sĩ so với 69,6% ở

nhóm không có can thiệp của dược sĩ(10)

Việc thực hiện theo dõi nồng độ đáy

vancomycin ít nhất hàng tuần theo khuyến cáo

đã được báo cáo là giúp đảm bảo kịp thời phát

hiện và điều chỉnh liều vancomycin để đưa về

nồng độ đáy mục tiêu(8) Trong nghiên cứu này,

tỷ lệ tuân thủ theo dõi nồng độ đáy hàng tuần

tăng từ 64,4% ở giai đoạn trước khi có hướng

dẫn lên 81,8% ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn

Kết quả này tương đồng với kết quả trong

nghiên cứu của tác giả Smith(11) tăng từ 71% ở giai đoạn trước khi có hướng dẫn của dược sĩ lên 81% sau khi có hướng dẫn của dược sĩ

Việc tuân thủ theo dõi chức năng thận (SCr) hàng tuần giúp phát hiện kịp thời biến cố bất lợi trên thận do thuốc gây ra(6) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hiện theo dõi chức năng thận hàng tuần tăng từ 83,0% ở giai đoạn trước khi có hướng dẫn lên 94,3% ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Smith (tăng 76,0% lên 95,0%)(11) Việc lấy mẫu đo nồng độ đáy trước khi đạt trạng thái ổn định (trước liều thứ 3) sẽ không chính xác hoặc lấy mẫu đo nồng độ đáy quá trễ (sau liều thứ 5) sẽ làm chậm điều chỉnh liều đạt hiệu quả điều trị hoặc gây độc tính trên thận Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân được lấy mẫu nồng độ đáy ở trạng thái ổn định (trước liều thứ 4 hoặc thứ 5) tăng từ 25,0% ở giai đoạn trước khi có hướng dẫn lên 37,1% ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn Kết quả này tương đồng với kết quả của nghiên cứu trước đó là tăng tỷ lệ bệnh nhân lấy mẫu đo nồng độ đáy khi đạt trạng thái ổn định (vào ngày thứ 3) từ 37,3% lên 51,0% ở nhóm có can thiệp của dược sĩ(10)

Hiệu quả điều trị

Kết quả phân tích cho thấy có sự khác biệt về thời gian điều trị giữa 2 giai đoạn ở nhóm bệnh nhân có thực hiện TDM vancomycin Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả Marquis, Momattin(7,12) Kết quả nghiên cứu trên cho thấy giai đoạn sau khi có hướng dẫn có

sự kiểm soát tốt hơn về thời gian theo dõi nồng

độ đáy đầu tiên, tỷ lệ bệnh nhân có điều chỉnh liều theo hướng dẫn tăng, tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu tăng là những yếu tố thúc đẩy đáp ứng điều trị với kháng sinh do đó có thể làm giảm thời gian điều trị của bệnh nhân

Độc tính trên thận

Tỷ lệ phát sinh độc tính trên thận ở giai đoạn sau khi có hướng dẫn TDM vancomycin thấp hơn giai đoạn trước khi có hướng dẫn TDM vancomycin (2,3% so với 6,9%) nhưng sự khác

Trang 10

biệt không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ độc tính

trên thận trong nghiên cứu này tương đồng với

kết quả của các nghiên cứu của các tác giả

Marquis, Smith, Xu(10,11) nhưng ở các nghiên cứu

này tỷ lệ giảm phát sinh độc tính trên thận có ý

nghĩa thống kê

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng

hướng dẫn theo dõi nồng độ vancomycin trong

trị liệu tại bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

làm tăng tỷ lệ bệnh nhân đạt khoảng trị liệu và

nồng độ đáy mục tiêu, tăng hiệu quả điều trị,

giảm thời gian nằm viện và độc tính trên thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alvarez R, Cortés LEL, Molina J, et al (2016) Optimizing the

clinical use of vancomycin Antimicrob Agents Chemother,

60(5):2601-2609

2 Rybak M, Lomaestro B, Rotschafer JC, et al (2009)

Therapeutic monitoring of vancomycin in adults patients: A

consensus review of the American society of health-system

pharmacists, the infectious diseases society of America and

the society of infectious diseases pharmacists Am J

Health-Syst Pharm, 66(1):82-98

3 Cardile AP, Tan C, Lustik MB, et al (2015) Optimization of

time to initial vancomycin target trough improves clinical

outcomes SpringerPlus, 4:364

4 Sit PS, Teh CSJ, Idris N, et al (2017) Prevalence of

methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) infection and the

molecular characteristics of MRSA bacteraemia over a

two-year period in a tertiary teaching hospital in Malaysia BMC

Infectious Diseases, 17:274

5 Liu C, Bayer A, Cosgrove SE, et al (2011) Clinical practice guidelines by the infectious diseases society of america for the

treatment of methicillin-resistant Staphylococcus aureus infections in adults and children Clin Infect Dis, 52(3):e18-55

6 Matsumoto K, Takesue Y, Ohmagari N, et al (2013) Practice guidelines for therapeutic drug monitoring of vancomycin: a

consensus J Infect Chemother, 19(3):365-380

7 Momattin H, Zogheib M, Homoud A, et al (2015) Safety and outcome of pharmacy-led vancomycin dosing and

monitoring Chemotherapy, 61(1):3-7

8 Hall AB, Montero J, Cobian J, Regan T (2015) The effects of

an electronic order set on vancomycin dosing in the ED Am J

Emerg Med, 33(1):92-94

appropriateness of initial vancomycin dosing J Fam Pract,

38(5):473-477

10 Xu G, Chen E, Mao E, Che Z, et al (2018) Research of optimal dosing regimens and therapeutic drug monitoring for vancomycin by clinical pharmacists: analysis of 7-year data

Zhonghua Wei Zhong Bing Ji Jiu Yi Xue, 30(7):640 645

11 Smith AP, Millares-Sipin CA, James M, Cohen H (2016) Impact of a pharmacist-initiated vancomycin monitoring

program Consult Pharm, 31(9):505-510

12 Marquis KA, DeGrado JR, Labonville S, et al (2015) Evaluation of a pharmacist-directed vancomycin dosing and monitoring pilot program at a tertiary academic medical

center Ann Pharmacother, 49(9):1009-1014

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/09/2020 Ngày bài báo được đăng: 10/12/2020

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm