1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh đơn bào đường máu leucocytozoon trên gà tại địa bàn huyện mê linh, thành phố hà nội

65 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Bệnh Đơn Bào Đường Máu Leucocytozoon Trên Gà Tại Địa Bàn Huyện Mê Linh, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Đỗ Thị Hồng Thắm
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Đức Tám
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Thú y
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 6,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Thị Hồng Thắm Tên luận văn: “ Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon trên gà được nuôi tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ HỒNG THẮM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH ĐƠN BÀO

ĐƯỜNG MÁU LEUCOCYTOZOON TRÊN GÀ

TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng… năm…

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hồng Thắm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc TS Trần Thị Đức Tám đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Trạm Thú y huyện Mê Linh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn TS Bùi Khánh Linh đã tận tình giải đáp các thắc mắc, làm sáng tỏ những băn khoăn của tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Lời cuối cùng, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xın chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hồng Thắm

Trang 4

3.4.1 Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu Leucocytozoon spp ở gà trên

Trang 5

3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh ký sinh trùng đường máu do

3.5.2 Phương pháp làm tiêu bản máu và xác định sự có mặt của căn nguyên

4.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon spp chung trên đàn gà thuộc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm kiểm tra tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon

Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh Leucocytozoon spp ở gà theo phương

Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon spp trên gà tại địa bàn huyện

Bảng 4.6 Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh

Bảng 4.9 Hiệu lực của phác đồ điều trị bệnh đơn bào do Leucocytozoon spp

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Thị Hồng Thắm

Tên luận văn: “ Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh đơn bào đường máu

Leucocytozoon trên gà được nuôi tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”

Chuyên ngành: Thú y Mã số: 60.64.01.01

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Xác định biến đổi lâm sàng, tổn thương bệnh lý của gà mắc Leucocytozoon Từ

đó cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh và xây dựng các biện pháp khống chế bệnh có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng 720 mẫu máu gà được lấy theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp giữa việc chọn mẫu chùm nhiều tầng và chọn mẫu phân tầng

Các mẫu máu được làm tiêu bản và nhuộm theo phương pháp nhuộm Giemsa,

sau đó đem soi dưới kính hiển vi tìm đơn bào Leucocytozoon để đánh giá tỷ lệ và cường

- Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh ở gà theo mùa vụ, lứa tuổi, phương thức chăn nuôi

- Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, vi thể của gà bệnh

- Hiệu lực của 3 phác đồ điều trị thử nghiệm

Kết luận

Từ các nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh do Leucocytozoon trên gà thuộc địa

bàn huyện Mê Linh là 19.31% Bệnh gặp nhiều ở gà trên 4 tháng tuổi, gà được nuôi theo phương thức thả vườn và vào mùa xuân Cường độ nhiễm nặng tỷ lệ thuận với tỷ lệ nhiễm Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của gà bệnh là thiếu máu, ủ rũ, kém ăn, gầy yếu

và ỉa chảy phân màu xanh lá cây Bệnh tích đại thể quan sát được phần lớn ở tim, gan, lách với biểu hiện sưng, xuất huyết Gà mắc bệnh được chữa khỏi với tỷ lệ cao đến 81.11% với thuốc có thành phần Sulfamonomethoxine Việc vệ sinh tốt, tiêu diệt vật chủ trung gian như muỗi, dĩn là biện pháp hữu hiệu để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Author: Do Thi Hong Tham

Thesis title: “Researching pathological characteristics of blood protozoa infected

diseases Leucocytozoon in chickens raised in Me Linh district, Hanoi”

Major: Veterinary medicine Code: 60.64.01.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Objectives

Basing on the identification of clinical changes, patholigical lesions of

Leucocytozoon infected chickens, providing scientific basis to the diagnosis of the

disease and the formulation of effective controllable measures, which are suitable to practical conditions in Me Linh district, Hanoi

To observe clinical symptoms of the infectious chickens The dead chickens, particularly, are applied the post-mortem for evaluating macroscopic lesions and for taking samples of microscopic specimen

To use three groups of infectious chickens to test the efficacy of three clinical protocols

Main results

(researching time from October 2015 to September 2016)

- The infectious rate and intensity on chickens by seasons, age, farming method

- The clinical symptoms, the macroscopic and microscopic lesions of infectious chickens

- The efficacy of three clinical protocols

Conclusion

Trang 11

The research shows that: the rate of Leucocytozoon infectious chickens within

Me Linh district is 19.31% The disease occurs more frequently in the chickens of over four months of age, chickens of free raising in spring The infectious intensity is in proportional to the infectious rate Primary clinical symptoms of the infectious chickens are: anemia, depression, anorexia, and diarrhea with green excrement The macroscopic lesions are mainly in the heart, liver, spleen with signs of swelling, bleeding The infectious chickens are cured at a high rate, up to 81.11% by using Sulfamonomethoxine-ingredient medicines Good hygiene, the annihilation of intermediate hosts such as mosquitoes are the effective measures to reduce the intectious rate

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Mê Linh là một huyện ngoại thành phía Bắc của thủ đô Hà Nội Với địa thế thuận lợi, huyện đã thu hút được một lượng không nhỏ những dự án đầu tư phát triển công nghiệp như khu công nghiệp Quang Minh, khu đô thị mới Hà Phong, khu đô thị mới Long Việt Cùng với sự phát triển công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp giảm đi đáng kể Tuy nhiên, các nhà máy công nghiệp chỉ giải quyết được nhu cầu việc làm cho bộ phận thanh niên có trình độ trên địa bàn huyện Với những người lao động ở độ tuổi trẻ đã qua, già chưa tới hoặc những lao động không có trình độ, công việc trong phân xưởng của một nhà máy là điều không thể trong khi họ vẫn là những lao động chính của gia đình Đứng trước bài toán kinh tế, nhiều hộ nông dân đã chuyển từ hình thức trồng trọt sang chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi gà Nhưng với việc thiếu kinh nghiệm cùng với tuổi tác hạn chế sự tiếp cận khoa học kỹ thuật khiến nhiều hộ chăn nuôi rơi vào cảnh lao đao do dịch bệnh ở trên gà Trong những năm gần đây, một bệnh thường được người nuôi gà nhắc đến bên cạnh Cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro là bệnh

ký sinh trùng đường máu do Leucocytozoon spp gây ra

Bệnh Ký sinh trùng đường máu ở gà hay còn gọi là bệnh sốt rét gà, xuất hiện trên khắp thế giới, thường xảy ra nhiều ở các nước Châu Á, đặc biệt là các nước trồng lúa nước gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nhiều trang trại chăn nuôi gà đẻ

Về lịch sử, bệnh ký sinh trùng đường máu gà được phát hiện năm 1904 tại

Hà Lan Tới thập niên 1960 – 1970 bệnh bùng phát ở các quốc gia có hệ thống chăn nuôi tập trung cao như Hà Lan, Pháp, Thụy Điển làm chết ít nhất 57.000 gia cầm Năm 1986, dịch bắt đầu bùng phát ở các nước Châu Á, Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản,Hàn Quốc làm giảm năng suất trung bình từ 35 - 40% trên đối tượng gà trưởng thành và gà đẻ, theo 3NTV-VTC16 (2014)

Tại Việt Nam, bệnh được phát hiện và mô tả vào năm 1973 ở miền Nam, nhưng sau đó ít thấy nhắc tới, theo Lê Văn Năm (2011) Tuy nhiên trong những năm gần đây bệnh đã xuất hiện trở lại và hiện nay đang rất phổ biến ở các địa phương có chăn nuôi gà thả vườn như Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc Tại một số địa phương này bệnh được quan sát

Trang 13

thấy ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ chết dao động 40-70% (những đàn không được điều trị) gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi

Bệnh ký sinh trùng đường máu không xuất hiện ồ ạt như dịch cúm gia cầm hay một số dịch bệnh khác nhưng mức độ thiệt hại khi gà mắc bệnh không

hề nhỏ Đối với trang trại mắc bệnh, gà chết rải rác mỗi ngày từ vài đến vài chục con kéo dài hàng tháng Gà khỏi bệnh vẫn mang mầm bệnh trong cơ thể hơn 1 năm nữa và trở thành nguồn dịch nguy hiểm nhất

Trước thực trạng đó, nhằm hiểu rõ hơn đặc điểm bệnh lý của bệnh do

Leucocytozoon spp gây ra và có thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện

pháp xử lý, giảm bớt thiệt hại do bệnh gây ra trên đàn gà ở huyện Mê Linh,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh đơn

bào đường máu Leucocytozoon trên gà tại địa bàn huyện Mê Linh”

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Xác định cường độ nhiễm Leucocytozoon spp trên đàn gà đang nuôi tại

huyện Mê Linh

- Xác định các biến đổi lâm sàng trên các nhóm gà bệnh, từ đó cung cấp

thêm cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh

- Xác định các tổn thương bệnh lý vi thể nhằm cung cấp thêm dữ liệu khoa

học về bệnh tích vi thể

1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng

biện pháp phòng trị bệnh Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm

Leucocytozoon spp cho gà, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao

năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển nhằm ổn định đời sống cho người dân

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh Ký sinh trùng đường máu ở gà hay còn gọi là bệnh sốt rét gà, do

Leucocytozoon spp gây nên xuất hiện trên khắp thế giới, thường xảy ra nhiều ở

các nước Châu Á, đặc biệt là các nước trồng lúa nước Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm Bệnh có thể xảy ra ở phạm vi rộng có tính chất vùng, nhưng tỉ lệ lây lan trong đàn chậm tùy thuộc vào ký chủ trung gian truyền bệnh Tỉ lệ nhiễm bệnh từ 15 - 20%, tỉ lệ tử vong rất cao tới 70% đối với gà nhỏ, 5 - 20% đối với gà trưởng thành, gà đẻ, Lã Viết Hiển (2013)

2.1.1 Hiểu biết chung về đơn bào Leucocytozoon spp ký sinh trên gà

2.1.1.1 Phân loại

Vị trí của đơn bào Leucocytozoon gây bệnh trên gà trong hệ thống phân

loại như sau:

Trang 15

Đến nay người ta đã phát hiện ra 67 chủng và 34 đồng chủng

Leucocytozoon, có khả năng gây bệnh cho trên 100 loài gia cầm, thủy cầm và

hoang cầm Có một số thông tin bệnh Leucocytozoon hoàn toàn có thể lây sang

người và gây chết người

2.1.1.2 hình thái

Đơn bào Leucocytozoon spp ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng

của gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 – 20µm, dạng bào tử hình trứng với kích thước

20 - 25µm

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) cho biết: các loài Leucocytozoon spp có nhiều

hình dạng khác nhau trong quá trình phát triển ở ký chủ cũng như ở ký chủ trung gian Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và loài đơn bào

Leucocytozoon

- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuỗn, hình elip nhọn 2 đầu, kích thước 10

- 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (ký chủ trung gian)

- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm

- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45µm

- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích thước

350 - 400 µm

- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích thước

20 - 25 µm

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006); Phạm Sỹ Lăng và cs (2008), hai loài L

caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống nhau, chỉ khác về tính chất gây

bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5

µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng

2.1.1.3 Vòng đời

Theo Lê Văn Năm (2011) Chu trình phát triển sinh học của chúng gồm 2 giai đoạn chính là:

Giai đoạn 1: Giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ trung gian truyền bệnh

Vật chủ trung gian truyền bệnh được các nhà khoa học xác định gồm các con dĩn, mạt gà, muỗi, ruồi đầu đen…chúng là những loại côn trùng hút máu sống trong chuồng, xung quanh chuồng gia cầm hoặc ký sinh ngay trên da của gia cầm và được gọi là vectơ truyền bệnh

Quá trình phát triển của Leucocytozoon ở giai đoạn này xảy ra ngay trong

Trang 16

cơ thể của vectơ truyền bệnh Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony) và giai đoạn này kết thúc trong vòng 3-4 ngày Vì trong máu của

gia cầm bệnh đã có sẵn các giao tử đực và cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon,

nên ngay sau khi hút máu bệnh các tế bào máu chứa mầm bệnh đã bị dịch tiêu hóa của côn trùng làm tan vỏ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày ruột,

ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang (oocyst) Toàn bộ quá trình này chỉ xảy ra trong vòng 12h kể từ thời điểm côn trùng hút máu bệnh lần cuối

Trong mỗi bào tử nang bắt đầu sinh trưởng và phát triển thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của vectơ truyền bệnh Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Côn trùng truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh và đào thải nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khác Như vậy kể từ khi côn trùng hút máu bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh cho gia cầm phải mất 18 ngày Đây là khoảng thời gian cần phải làm sạch côn trùng truyền bệnh mới có khả năng chống tái nhiễm bệnh

Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm

Quá trình hình thành thể phân lập ( Schizogony):

Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của vectơ truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác để thành các thể phân lập trung gian (Merozoit), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế bào máu (Hồng cầu, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân) đại thực bào và tế bào lưới để theo máu di hành khắp nơi trong cơ thể Từ đây chúng phát triển theo 2 hướng:

Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu để sinh

trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra thể phân lập thế hệ 1 (Schizont 1) Các schizont thể hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết ra một chất làm tan hồng cầu , bạch cầu – chất đó gọi là chất kháng hồng cầu (anti-erythrocyte) Dưới tác động cơ học do nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu, bạch cầu và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân dẫn đến thiếu máu, tăng haemobilirubin, máu trở nên loãng và nhớt hơn, khó đông hơn Các thể phân lập thế hệ 1 (Schizont -1) lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào máu mới, chúng lớn lên và lại tự nhân đôi để hình thành thể

Trang 17

phân lập thế hệ 2 (Schizont -2) và tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập (Schizont -3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử ( Gametocyte) Giao

tử đực có kích thước nhỏ gọi là microgametocyte và giao tử cái có kích thước lớn hơn gọi là macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính và bắt đầu giai đoạn phát triển mới sinh sản hữu tính (Gametogony)

Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu và bạch cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành ra hợp tử Hợp tử được bọc bởi cùng một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14.5 x 5.5 µm Sau đó chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến

45 µm.Chỉ có các bào tử trùng này mới có khả năng lây truyền bệnh thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm chưa

bị bệnh

Hướng thứ 2: Sau khi các thoi bào được các tế bào máu di hành khắp các

nơi trong cơ thể, một phần của chúng cư trú tại các cơ quan gan, lách, thận, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, phổi buồng trứng, ống dẫn trứng và não bộ Tại đây chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi ( Schizogony) làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng của ký chủ Để bù lại các tế bào bị phá hủy, cơ thể huy động khả năng phục hồi bằng sự kích thích quá trình tăng sinh, làm cho hầu hết các cơ quan nội tạng của gia cầm đều trở nên phì đại (sưng to), dòn xốp và dễ dập vỡ, đặc biệt dễ nhận thấy ở gan, lách, thận, phổi…Trong quá trình bù đắp sự tăng sinh đó chúng ta quan sát được một hiện

tượng rất phổ biến của bệnh do Leucocytozoon là sự hình thành các hợp bào

(Syncytium) tức là tế bào cực đại chứa nhiều nhân, trong đó có chứa thể phân lập

của 1-2 chủng Leucocytozoon có kích thước lớn lên đến 45µm và người ta gọi

chúng là thể phân lập gan (Hepatic schizont) Các hợp bào đó ngay lập tức bị các đại thực bào của cơ thể gia cầm tấn công và tiêu diệt nhằm loại thải chúng ra khỏi cơ thể Tiếc rằng kết quả lại ngược lại, các hợp bào đã biến đại thực bào chứa thể phân lập gan thành các thể phân lập cực đại được gọi là megaloschizont với kích thước lên đến 400µm làm tắc nghẽn các mao mạch của nhiều cơ quan nội tạng nhất là ở phổi, buồng trứng, ống dẫn trứng, sau đó là gan, lách, thận, ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ và bằng cách này chúng tạo ra các nốt sần trắng hoặc các điểm hoại tử làm cho cấu trúc và chức năng của các cơ quan kể trên bị phá hủy

Trang 18

Để tiếp tục phát triển trong mỗi Megaloschizont hình thành ra 2 thể phân lập trung gian Merozoit, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào cơ quan của ký chủ và chui vào các tế bào máu để ký sinh trong các tế bào máu và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như đã mô tả ở hướng 1- kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô thuộc các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

2.1.2.1 Dịch tễ học

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà

(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà

rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005), (2010) cho rằng: có 4 loài đơn bào giống

Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:

* L caulleryi (Mathis et Leger, 1909)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc khu

vực Bắc Mỹ

Vật chủ trung gian của L caulleryi là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C.arakava, C.circumscriptus, C.Odibilis

* L.sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nước Đông Nam Á : Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam

Vật chủ trung gian của L.sabrazeis: các loài dĩn Culicoides spp Và

Simulium spp

* L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và ngỗng

trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng Balkan và

Việt Nam

Vật chủ trung gian: các loài dĩn Simulium spp

* L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), Cộng hòa liên bang Đức, các nước vùng Balkan

Vật chủ trung gian của L smithi là các loài dĩn Simulium spp

Trang 19

Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) cho biết loài L caullergyi có

đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích thước 15,0 - 15,5 µm Tế bào vật

chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ thể dĩn – ký chủ trung gian, Zygote

có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21 µm, chúng xuyên

qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4 - 14 x 5-14 µm

Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng đến tuyến nước bọt

của dĩn có kích thước 7 - 11 x 1 - 2 µm

Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ và

cường độ nhiễm bệnh càng tăng

Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều và

nặng ở vụ Hè và vụ Xuân

Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu

vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong

những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon của gà

Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút

máu – ký chủ trung gian truyền bệnh

Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật trội, khí hậu ẩm, thấp,

thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan bệnh

Leucocytozoon ở gà

2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon

Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ trung

gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút máu của gà

bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm

bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ và gây bệnh cho gà

Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi, thận, tổ

chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte)

và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển, phá huỷ tế bào hồng cầu và

gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách và gan Đồng thời chúng tiết ra

chất antierythrocyte làm tan hồng cầu

2.1.2.3 Triệu chứng bệnh

Do phạm vi bệnh rất rộng trên nhiều loại gia cầm, thủy cầm và hoang cầm với nhiều biểu hiện phong phú Sau đây là những biểu hiện lâm sàng mang tính

Trang 20

đặc trưng nhất:

- Thời kỳ ủ bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào thể bệnh kéo dài từ 7-11 ngày ở thể quá cấp và cấp tính, nhưng có thể kéo dài đến 19 ngày hoặc dài hơn nữa ở thể dưới cấp và thể mãn tính…

- Bệnh có 4 thể biểu hiện phụ thuộc vào :

+ Độ độc lực và số lượng chủng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể gia cầm thụ cảm

+ Tuổi gia cầm thụ cảm, tuổi càng cao bệnh càng nặng, Năng suất giống càng cao thì gia cầm càng dễ phát bệnh

+ Phương thức chăn nuôi, chăn nuôi tập trung dễ bị bệnh hơn chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi thả vườn dễ bệnh hơn chăn nuôi trong chuồng khép kín kiểm soát được tiểu khí hậu và côn trùng

+ Điều kiện vệ sinh chăn nuôi thú y, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, công tác tiêu độc, khử trùng, côn trùng ruồi muỗi, mạt, dĩn… có tác động lớn đến đặc điểm dịch tễ và biểu hiện lâm sàng

+ Bệnh sẽ nặng thêm nếu độ ẩm không khí chuồng nuôi cao, nhiệt độ giảm thấp, mưa kéo dài dầm dề

Thể quá cấp:

Trong suốt thời gian ủ bệnh gia cầm bị sốt cao nhưng vẫn ăn uống bình thường, nên người chăn nuôi hầu như không để ý hoặc quan sát thấy điều bất thường

Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố stress bất lợi với các triệu chứng điển hình: đột nhiên ho hoặc hắt hơi tái nhợt mào, tích, rồi ộc máu ra miệng, mũi đôi khi ra cả hậu môn rồi chết, có 1 số khác lại lừ đừ buồn ngủ hoặc

bị sốc thần kinh: nhảy xốc lên, rơi xuống nền dãy dụa trong khoảnh khắc rồi cũng lăn ra chết Cả 2 trường hợp nêu trên đều do dập vỡ gan hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh các hợp bào (Megaloschizont) trong các cơ quan

đó Khi mổ khám những gà chết này chúng ta thấy ngay mào tích trắng bệch hoặc loang lổ, chỗ tái nhợt, chỗ tím bầm Gan, lách, thận to phì đại, gan bị dập vỡ

và trong ổ bụng có nhiều máu loãng chưa đông hoặc chậm đông Một số khác não bị phù nề và sung huyết hoặc xuất huyết

Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng cứ tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chuẩn đoán đúng và điều trị kịp thời tỷ lệ chết sẽ rất cao

Thể cấp tính:

Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với khí hậu mưa phùn dầm dề

Trang 21

tạo điều kiện tốt cho sự sinh sôi nảy nở của ruồi, muỗi, dĩn và những côn trùng hút máu khác

Ở miền Bắc nước ta bệnh được Lê Văn Năm quan sát thấy ở gà từ 3 tuần tuổi trở lên Những gà càng lớn tuổi càng dễ mắc bệnh (đến một năm tuổi) + Lúc đầu chỉ thấy một tỷ lệ nhỏ gà có thể biểu hiện sốt cao, mào thâm tái sau vài ngày trở nên trắng bệch, khi cắt tiết gia cầm bệnh để khám xét ta thấy ngay máu rất loãng, chậm và khó đông

+ Gà ốm giảm ăn, ngại đi lại, hoặc đi không vững, gà bị tiêu chảy với màu sắc phân lung tung, lúc xanh lẹt, lúc xanh vàng, lúc vàng nâu, lúc xanh trắng

+ Gia cầm ốm gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, chúng thở khò khè, đôi khi phải ngáp dài để hít khí Nếu độ ẩm của thời tiết và của chuồng nuôi quá cao thì gà ốm càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên gà chết không ồ ạt, mà chết lác đác, lẻ tẻ, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Lúc đấu chúng chỉ chết vào ban đêm, về sau chết vào bất cứ lúc nào trong ngày, tỷ lệ chết lên đến 70% Triệu chứng hen thở sẽ phức tạp hơn nếu gà bệnh bị bội nhiễm CRD, CCRD, CI…

+ Ở gà đẻ trứng: triệu chứng thường thấy là: giảm không những sản lượng

mà trọng lượng riêng của mỗi quả trứng cũng giảm rõ rệt – trứng đẻ ra nhỏ bé hơn bình thường rất nhiều, có cả trứng vỏ mềm dễ vỡ hoặc ngược lại vỏ rất dầy

Khi đưa trứng của những đàn bệnh này vào ấp ta thấy giảm mạnh tỷ lệ phôi, giảm tỷ lệ nở và số gia cầm mới nở bị chết yểu trong 3-5 ngày đầu chiếm tỷ

lệ rất cao

Thể dưới cấp:

Đây là thể bệnh được chuyển sang từ thế cấp tính ở những gà có sức chịu đựng tốt hoặc ở gia cầm trên một năm tuổi Bệnh thường thấy ở gia cầm đang đẻ tốt nhất – tức tỷ lệ đẻ cao nhất Và người ta thường thấy thể dưới cấp xảy ra ở thủy cầm, hoang cẩm hơn là ở gia cầm nuôi trên cạn

Gia cầm bệnh sốt cao, giảm ăn, tiêu chảy loãng phân vàng xanh, xanh lẹt hoặc xanh trắng Các triệu chứng ho hen nổi lên rất rõ và ngày càng nặng khi điều kiện thời tiết và chuồng trại bị ẩm thấp gia cầm bệnh gầy dần rồi chết, chúng chết rải rác và kéo dài, tỷ lệ chết ngày càng tăng qua mỗi ngày là nét đặc trưng của bệnh Tổng số gia cầm chết dao động khoảng 30-40%

Thể mạn tính hay còn gọi là thể mang trùng

Đây là thể bệnh thường gặp ở chim hoang hoặc ở gia cầm sống sót đã khỏi bệnh, hoặc ở những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh và bị nhiễm

Leucocytozoon spp với số lượng ít, độc lực không cao…

Trang 22

Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gia cầm vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời rồi lại ăn uống bình thường, kèm theo là sự rối loạn tạm thời về tiêu hóa và bài tiết, các biểu hiện ủ rũ hoặc động kinh hoặc đi lại không vững đều mang tính chất ngắt quãng, gia cầm bệnh thiếu máu, không lanh lợi…tỷ lệ chết không đáng kể, nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm là nguồn bệnh tiềm tàng và nguy hiểm nhất

2.1.2.4 Bệnh tích

Biến đổi đại thể

Bệnh tích đại thể rất điển hình và được quan sát thấy trong nhiều cơ quan nội tạng

+ Gan sưng to phì đại, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm trắng đây là kết quả của các thể phân lập gan tạo nên các hợp bào làm gan

to, dòn, xốp và làm tắc nghẽn các mao mạch dẫn đến xuất huyết tràn lan thậm chí bục vỡ mao mạch gây vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng

+ Lách : sưng rất to, dòn và dễ vỡ giống như ở gan Trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử

+ Thận : sưng to lồi rõ lên, rìa thận bị xuất huyết, trên bề mặt cũng thấy nhiều điểm trắng, đây là các điểm tăng sinh chứa nhiều hợp bào cực đại (Megaloschizont)

+ Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa, ống dẫn trứng sưng dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết hoặc các nốt sần trắng do tăng sinh chứa nhiều hợp bào cực đại tạo nên

+ Tim: tim to, cơ tim bị dầy lên nhưng lại bị giảm trương lực, nên trở nên mềm nhão, đôi khi ta thấy có nhiều nốt sần trắng trên bề mặt

+ Phổi : Phổi bị xung huyết nặng và có nhiều điểm vàng trắng do hợp bào cực đại gây tắc nghẽn các mao mạch

+ Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ đều viêm tăng sình và dầy lên, đôi khi thấy các điểm hoại tử hoặc ổ loét

+ Não: cũng bị các đại hợp bào gây tắc nghẽn các mao mạch, nên bị phù

nề hoặc và bị xung, tụ xuất huyết, tuy nhiên trong thực tế sản xuất bệnh tích ở não ít được các nhà chuyên môn mổ khám

Tóm lại: Các biến đổi đại thể bệnh do Leucocytozoon spp gây ra là rất

điển hình Tuy nhiên không phải trong 1 gia cầm bệnh ta thấy đầy đủ các biến đổi nêu trên, thông thường ta thấy các biến đổi phổ biến ở gan, lách, thận hoặc

Trang 23

gan, lách và buồng trứng hoặc gan, lách, phổi, thận Vì thế cần phải mổ khám nhiều gia cầm bệnh để có đầy đủ một bức tranh về bệnh

kháng Leucocytozoon spp

Lê Đức Quyết và cs (2009) cho biết: gần đây, các phương pháp huyết thanh học cũng đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh như phương pháp Latex-agglutination, phương pháp khuyếch tán trên thạch

- Chẩn đoán phân biệt

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Những bệnh đơn bào đường máu chỉ làm chết gà ở lứa tuổi 1 – 3 tháng Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả

Theo Lê Văn Năm (2011), cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn bào

Leucocytozoon gây ra với các bệnh sau:

Bệnh Marek: không có các biến đổi ở gan, lách, thận phổi ở gà dưới 45 ngày tuổi và trên 1 năm tuổi Bệnh Marek không có ở thủy cầm và ít gặp ở hoang cầm

Bệnh bạch huyết (Leucosis): Bệnh ít gặp ở gia cầm dưới 6 tháng tuổi Bệnh có rất nhiều thể khác nhau như Leucosis dạng võng mô, Leucosis hồng cầu,

Leucosis tủy xương, Leucosis lympho Mỗi thể bệnh khác nhau chúng lại có

Trang 24

những đặc điểm riêng khác biệt

Bệnh sốt rét gà: Các biểu hiện về dịch tễ và lâm sàng của bệnh sốt rét gà

rất giống với bệnh do Leucocytozoon gây ra Tuy nhiên, khi mổ khám thì bệnh sốt rét gà không có những biểu hiện giống như bệnh Leucocytozoon Gan của gà

bị sốt rét có màu xanh đen hoặc đen, kích thước nhỏ hơn bình thường, túi mật căng chứa đầy mật

* Với gia cầm chết:

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, lách, phổi, thận để tìm

đơn bào Leucocytozoon ký sinh

- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển

- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi

- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để

- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 – 15 mét phải được phát quang Các động vật trung gian truyền dịch bệnh cho đàn gà như chuột, côn trùng, chim tự nhiên phải được tiêu diệt

* Trị bệnh

Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:

Trang 25

- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục

- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 - 75mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 -

2 tuần

- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfonamide với Vitamin B1, Vitamin C

Orlov F M (1975) cho biết: có ý kiến cho rằng, aterbin có tác dụng đến giao tử bào thành thục

Tuy nhiên, Saif Y.M (2003) cho rằng: Hiệu quả điều trị bệnh

Leucocytozoonsis là hạn chế Đối với L Simondi, điều trị không có hiệu quả

Pyrimethamine (1ppm) và Sulfadimethoxine (10ppm) sử dụng đồng thời để

điều trị bệnh cũng không có hiệu quả với L caullergyi

Theo Lê Văn Năm (2011): Các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Salfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng phòng trị tốt bệnh

do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký sinh trùng

đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH LEUCOCYTOZOON

2.2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Trên thế giới, bệnh do đơn bào Leucocytozoon spp trên gia cầm được phát

hiện khá sớm Từ đó tới nay nhiều nhà khoa học đã đã có công trình đi sâu vào nghiên cứu bệnh này

Leucocytozoon lần đầu tiên được Danilewsky phát hiện vào năm 1884

Năm 1898, Ziemann đã định loại tới giống, sau đó Berestneff đã sửa đổi vào năm

1904, cuối cùng Sambon đã sửa vào năm 1908

Ở Liên Xô, Nikitin N K và Artemenko M N (1927) trong khi kiểm tra

máu chim trời ở Ucrain đã tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (trích Orlov

F M, 1975

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) lần đầu tiên đã phát hiện

được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi và tác giả cho rằng Simulium

nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này

Morii T và cs (1984) đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng

Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các thoi

trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không

Trang 26

lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Morii T và cs (1986) đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước bọt của

Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng xuất hiện trong

ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 – 17 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 17 sau gây nhiễm

Nakamura K và cs (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của Leucocytozoon trên

gà đẻ nhận thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sản xuất

trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìm thấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lận cận với các mô có đơn bào ký sinh

Steele E J và cs (2001) cho biết: sự phát triển của Leucocytozoon smithi

có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium và

Haemoproteus trong ký chủ trung gian

Bằng phương pháp sử dụng phản ứng chuỗi polimerasa (PCR) giao thức là

sự kết hợp của 3 chuỗi PCR riêng biệt của các loài Haemoproteus, Plasmodium

và Leucocytozoon, Hellgren O và cs (2004) đã tìm thấy 22 loài ký sinh trùng khác nhau gồm có 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium và 10 loài

Leucocytozoon trong 6 loài chim tước được nghiên cứu

Shane S M (2005) cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức

ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 – 250 ppm đã ngăn chăn được

Leucocytozoonosis ở gà tây tại Hoa Kỳ

Omori S và cs (2008) đã phân tích bộ gen của Leucocytozoon caulleryi Kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của L Caulleryi với chiều dài

5.959 bp

Tully T N và cs (2009) cho rằng: việc sử dụng Chloriquine (250 mg/ 120

ml nước uống cho 1 – 2 tuần) hoặc pyrimethamine có thể điều trị được bệnh do

Leucocytozoon gây ra

Có thể sử dụng kết hợp pyrimethamine (1 ppm) với salfadimethoxin (10

ppm) trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh do L Caulleryi và và sử dụng Clopidol (0,0125 – 0,025%) trong thức ăn để phòng bệnh do L Smithi gây ra

Hoạt động chăn nuôi vịt tại các bán đảo phía Bắc của Michigan – Seney đã

bị ngừng trệ do Leucocytozoon đã làm chết một số lượng lớn vịt, gây thiệt hại

Trang 27

nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi

Mullen G R., Durden L (2009) cho biết: gà đồng cỏ Attwater đang

bị đe dọa tấn công bởi một loài ký sinh trùng đường máu thuộc giống

Leucocytozoon, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng

Omori S và cs (2010) đã sử phương pháp phân tích đếm tế bào dòng

chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn bào trong máu

Phương pháp này có thể xác định được những mẫu máu bị nhiễm ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được

Hill A G và cs (2010) sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra 107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là dương tính với

Leucocytozoon

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, bệnh cũng đã được phát hiện ở nhiều nơi trên cả 3 miền Một

số công trình nghiên cứu đã được các nhà khoa học thực hiện

Theo Hoàng Thạch (2004), các cơ quan nội tạng nếu nhiễm

Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm vừa

và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại, rõ nhất là gan và lách

Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) cho biết: tần suất xuất hiện các nang

Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là 96,22%,

phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%

Lê Đức Quyết và cs (2009) cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon phụ thuộc

vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương

thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu của tác giả về Leucocytozoon ở gà tại một

số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ

Trang 28

(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 – 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới 4 tuần (7,6%)

Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loại đơn bào Leucocytozoon ký

sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của các giao tử gametocyte ký sinh trong máu gà), tác giả cũng đã

xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L caullergyi và L sabrazesi

Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) cho biết: đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó tỷ lệ nhiễm

ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Newlohman và Brown AAA Gà nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

2.3 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Mê Linh là một huyện nằm ở phía Bắc của thủ đô Hà Nội, giáp sân bay quốc tế Nội Bài Phía Bắc của huyện giáp thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc Phía Nam giáp sông Hồng, ngăn cách với huyện Đan Phượng và huyện Đông Anh Phía Tây giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn Diện tích: 14.164 ha Dân số: 187.255 người (năm 2009) Mê Linh có có 18 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 16

xã và 02 thị trấn

Trước đây, Mê Linh được biết đến là một huyện thuần nông nhưng cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện chủ yếu nghiêng về trồng lúa, hoa và rau màu Từ khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp lại nhường chỗ cho các khu công nghiệp, khu đô thị mới, người dân đã dần chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng chăn nuôi Bên cạnh đó, hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới, UBND huyện luôn khuyến khích và hỗ trợ người dân xây dựng trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn Nhờ đó, ngành chăn nuôi của huyện nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có những khởi sắc đáng kể cả

về số lượng và chất lượng, góp phần cải thiện đời sống của người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế chung của toàn huyện Theo số liệu của Chi cục thống

kê và Trạm Thú y huyện, thời điểm tháng 5 năm 2015 tổng số gà nuôi trên địa bàn huyện là 311.900 con, đến tháng 5 năm 2016 là 334.600 con, tăng 22.700 con so với cùng kỳ

Trang 29

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.1.1 Địa điểm thu mẫu

Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi hộ gia đình theo phương thức chăn nuôi và quy mô khác nhau thuộc địa bàn huyện Mê Linh

3.1.2 Địa điểm phân tích mẫu

Phòng bệnh lý và ký sinh trùng – Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung Ương

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: tháng 10/2015 đến tháng 9/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

* Gà nuôi trong các hộ gia đình theo

- Phương thức chăn nuôi khác nhau

- Các lứa tuổi khác nhau

- Thuốc nhuộm giemsa

- Cồn 900 , dầu nhỏ tiêu bản soi kính

- Thuốc dùng thí nghiệm điều trị bệnh: Methocin, amox, Daimenox 800, Trisulmix liquid.v.v

Trang 30

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu Leucocytozoon spp ở gà

trên địa bàn huyện Mê Linh

- Xác định sự có mặt của đơn bào Leucocytozoon spp trong máu gà

- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon spp trên gà theo

phương thức chăn nuôi

- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon spp chung ở gà trên

địa bàn huyện Mê Linh

3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh ký sinh trùng đường máu do

Leucocytozoon spp gây ra ở gà

- Xác định triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh

- Xác định biến đổi đại thể của gà bị bệnh

- Xác định biến đổi vi thể ở một số khí quan của gà bệnh

3.4.3 Nghiên cứu phương pháp phòng và trị bệnh

- Thí nghiệm sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh trên gà do

Leucocytozoon spp gây ra

- Đưa ra một số biện pháp giúp phòng bệnh do đơn bào Leucocytozoon

xã có số lượng đàn gia cầm chăn nuôi lớn nhất huyện Mê Linh gồm Chu Phan, Hoàng Kim và Tráng Việt Tầng mẫu được chọn nghiên cứu được phân theo lứa tuổi, mùa vụ và phương thức chăn nuôi Bố trí thí nghiệm được thực hiện cụ thể theo bảng sau

Trang 31

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm kiểm tra tỷ lệ và cường độ nhiễm

vườn

Nuôi nhốt

Thả vườn

Nuôi nhốt

Thả vườn

Nuôi nhốt

Thả vườn

Nuôi nhốt

Chuẩn bị những phiến kính đã được rửa xà phòng, sau đó ngâm trong cồn

960 trong 3 giờ rồi lau khô bằng khăn mềm không có xơ Dùng kim lấy một giọt máu tươi của gà ở tĩnh mạch cánh, nhỏ giọt máu lên một đầu phiến kính, cách rìa phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh ngắn hơn của phiến kính thứ 2 lên giọt máu, nghiêng 450 so với phiến kính thứ nhất Khi giọt máu đã dàn ra khắp cạnh nhỏ của phiến kính thứ 2 thì kéo phiến kính thứ hai dọc theo chiều dài của phiến kính thứ nhất, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trên phiến kính thứ nhất Sau khi máu trên phiến kính khô tiến hành cố định bằng cồn 900 bằng cách nhỏ cồn lên bề mặt phiến kính và để khô tự nhiên Tiêu bản được đánh số thứ tự bằng bút đánh dấu, đồng thời ghi các thông tin của tiêu bản vào sổ nhật ký bao

gồm: chủ hộ, địa chỉ, ngày lấy mẫu, tuổi gà, phương thức chăn nuôi

* Phương pháp nhuộm giemsa tiêu bản máu

- Xếp các tiêu bản máu đã được cố định bằng cồn 900 lên giá

- Nhỏ dung dịch giemsa phủ kín diện tích máu, để trong thời gian từ

Trang 32

40-50 phút

- Rửa sạch tiêu bản nhẹ nhàng dưới vòi nước cất, chú ý không xối trực tiếp nước vào vị trí máu

- Xếp tiêu bản nghiêng trên giá, để khô tự nhiên

* Phương pháp kiểm tra tìm Leucocytozoon spp trên tiêu bản nhuộm

- Nhỏ 1 giọt dầu lên tiêu bản, kiểm tra tiêu bản dưới kính hiển vi bằng vật kính dầu, độ phóng đại 10 x 100

- Những mẫu máu tìm thấy đơn bào Leucocytozoon được xác định là có

nhiễm, ngược lại là không nhiễm

- Cường độ nhiễm được xác định bằng cách đếm số đơn bào

Leucocytozoon trên vi trường kính hiển vi và phân theo 3 cấp độ: nhẹ, trung bình

và nặng

1 – 2 đơn bào /vi trường: nhiễm nhẹ

3 – 5 đơn bào /vi trường: nhiễm trung bình

> 5 đơn bào / vi trường: nhiễm nặng

3.5.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý lâm sàng

* Phương pháp khám tổng quát bên ngoài

- Quan sát thể trạng chung: trọng lượng, tình trạng tăng trọng, khả năng

vận động

- Quan sát vùng đầu: quan sát mào, yếm (kích thước, màu sắc ), quan sát dịch mũi, dịch mắt, dịch miệng

- Quan sát vùng lông, da: lông khô hay bóng mượt, vùng da không có lông

có bị xuất huyết, muỗi đốt

* Phương pháp mổ khám quan sát biến đổi đại thể các cơ quan, tổ chức bên trong

Mổ khám những gà có triệu chứng của bệnh và khi xét nghiệm máu có đơn

bào Leucocytozoon trong máu theo quy trình mổ khám gia cầm của Cục Thú y

Bước 1: chuẩn bị xác gà Đối với những con gà còn sống dùng dao sắc

- Dùng kéo cắt da ở dưới xương ức, sau đó lột ngược về phía trước và sang

2 bên, bẻ doãng 2 khớp đùi

Ngày đăng: 15/07/2021, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thạch (2004). Bước đầu tìm hiểu tình hình nhiễm Leucocytozoon trên đàn gà nuôi tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 3(11).tr. 60 – 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Hoàng Thạch
Năm: 2004
4. Lâm Thị Thu Hương (2005). Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gà nhiễm Leucocytozoon. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 5 (12). tr. 39 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Lâm Thị Thu Hương
Năm: 2005
5. Lê Đức Quyết, Nguyễn Đức Tân, Lê Hứa Ngọc Lực, Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn Thị Sâm (2009). Điều tra tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon trên gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 5(16). tr. 62 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Lê Đức Quyết, Nguyễn Đức Tân, Lê Hứa Ngọc Lực, Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn Thị Sâm
Năm: 2009
6. Lê Văn Năm (2011). Bệnh do ký sinh trùng Leucocytozoon. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 4(18). tr. 77 – 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2011
18. Hellgren O., J. Waldenstrom and S. Bensch (2004). A new PCR assay for simultaneous studies of Leucocytozoon, Plasmodium and Haemoproteus from avian blood. Journal of Parasitology. Vol 90(4). pp. 797 - 802 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Hellgren O., J. Waldenstrom and S. Bensch
Năm: 2004
19. Hill A.G., L. Howe, B.D. Gartrell and M.R. Alley (2010). Prevalence of Leucocytozoon spp in the endangered yellow-eyed penguin Megadyptes antipodes. Journal of Parasitology. Vol 137 (10). pp. 77 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Hill A.G., L. Howe, B.D. Gartrell and M.R. Alley
Năm: 2010
20. Huchzermeyer F.W. and B. Sutherland (1978). Leucocytozoon smithi in South African Turkeys. Avian Pathology. Vol 7 (4). pp. 645 - 649 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Huchzermeyer F.W. and B. Sutherland
Năm: 1978
22. Kissam J. B., R. Noblet and G. I. Gariss (1975). Large scale aerial treatment of an endemic area with abate granular larvicide to control blackflies (Dipter simuliidae) and suppress Leucocytozoon caulleryi, Leucocytozoon smithi of turkeys. Journal Med. Vol 12 (3). pp. 356 – 362 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon "caulleryi, "Leucocytozoon
Tác giả: Kissam J. B., R. Noblet and G. I. Gariss
Năm: 1975
24. Morii T., K. Nakamura, Y.C Lee, T. Iijima and K. Hoji (1986). Observations on the Taiwanese Strain of Leucocytozoon caulleryi (Haemosporina) in Chickens. Journal of Eukaryotic Microbiology. Vol 33 (2). pp. 231 – 234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Morii T., K. Nakamura, Y.C Lee, T. Iijima and K. Hoji
Năm: 1986
27. Nakamura K., M. Ogiso, T. Shibahara, H. Kasuga and T. Isobe (2001). Pathogenicity of Leucocytozoon caulleryi for Specific Pathogen-Free Laying Hens. Journal of Parasitology. Vol 87 (5). pp. 1202 - 1204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Nakamura K., M. Ogiso, T. Shibahara, H. Kasuga and T. Isobe
Năm: 2001
30. Omori S., Y. Sato, S. Hirakawa, T. Isobe, M. Yukawa and K. Murata (2008). Two extra chromosomal genomes of Leucocytozoon caulleryi; complete nucleotide sequences of the mitochondrial genome and existence of the apicoplast genome. Parasitol Research. Vol 103 (4). pp. 953 - 960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Omori S., Y. Sato, S. Hirakawa, T. Isobe, M. Yukawa and K. Murata
Năm: 2008
33. Steele E. J. and G. P. Noblet (2001). Gametogenesis, Fertilization and Ookinete Differentiation of Leucocytozoon smithi. The Journal of Eukaryotic Microbiology. Vol 48(1). pp. 118 - 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon
Tác giả: Steele E. J. and G. P. Noblet
Năm: 2001
2. Kênh truyền hình VTC16 – 3NTV (2014). Bệnh ký sinh trùng đường máu trên gia cầm, truy cập ngày 02/7/2016 tại Khác
3. Lã Viết Hiển (2013). Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà, Chi cục thú y Nam Định, Truy cập ngày 02/5/2016 tại Khác
7. Nguyễn Hữu Hưng (2011). Khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 4(18). tr. 44 – 48 Khác
8. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Văn Quang (2008). Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học). Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 118 - 119 Khác
9. Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang và Lê Minh (2009). Các bệnh phổ biến gây hại cho gia cầm và biện pháp phòng trị. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
10. Orlov F. M (1975). Bệnh gia cầm (Nguyên Phát dịch). Tập 01. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
11. Phạm Sỹ Lăng (2010). 10 bệnh quan trọng của gia cầm. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
12. Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002). Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w