Đề tài đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn: i Đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, nâng cao năng suất và chất lượn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG HỮU THÀNH
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ BÍ XANH TẠI
HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Nhuần
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Hữu Thành
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hữu Nhuần đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Kỳ Sơn, chính quyền địa phương và nhân dân các xã nơi tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày… tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Hữu Thành
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, biểu đồ, đồ thị vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
2.1 Cơ sở lý luận 6
2.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị 6
2.1.2 Khung phân tích chuỗi giá trị 7
2.1.3 Vai trò ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi giá trị 10
2.1.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị 12
2.1.5 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất bí xanh 16
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị trên thế giới 18
2.2.2 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị ở trong nước 19
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
Trang 5iv
3.1.2 Thu thập số liệu 32
3.1.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.1.4 Phương pháp phân tích số liệu 34
3.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
3.2.1 Nhóm chỉ tiêu của các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh 37
3.2.2 Nhóm chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất 38
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 41
4.1 Thực trạng chung về phát triển bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 41
4.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng bí xanh của huyện Kỳ Sơn 41
4.1.2 Thời vụ trồng bí xanh trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 43
4.1.3 Tình hình chung về sơ chế và bảo quản 44
4.1.4 Tiêu thụ sản phẩm bí xanh 44
4.1.4 Đánh giá chung về tiềm năng phát triển chuỗi giá trị bí xanh của huyện 47
4.2 Phân tích chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn 48
4.2.1 Sơ đồ chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn 48
4.2.2 Đặc điểm và kết quả hoạt động của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị bí xanh 49
4.2.3 Phân tích tài chính chuỗi giá trị sản phẩm bí xanh ở huyện Kỳ Sơn 65
4.2.4 Liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh huyện Kỳ Sơn 69
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh 73
4.3.1 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh 73
4.3.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh 74
4.4 Phân tích SWOT 76
4.5 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn 78
4.5.1 Định hướng phát triển chuỗi giá trị bí xanh 78
4.5.2 Giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị bí xanh 78
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 83
5.1 Kết luận 83
5.2 Kiến nghị 84
Tài liệu tham khảo 86
Phụ lục 89
Trang 7
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Công cụ, mục đích phân tích các mặt khác nhau của chuỗi giá trị 12
Bảng 2.2 Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị bí xanh 13
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2018 27
Bảng 3.2 Quy hoạch sử dụng đất huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 29
Bảng 3.3 Cơ cấu mẫu điều tra 33
Bảng 3.4 Cách tính các chỉ tiêu kinh tế trong chuỗi giá trị 36
Bảng 4.1 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng bí xanh trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 -2018 41
Bảng 4.2 Phân bố diện tích bí xanh trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 -2018 42
Bảng 4.3 Cơ cấu chủng loại rau trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 -2018 43
Bảng 4.4 Diện tích gieo trồng bí xanh theo mùa vụ sản xuất tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 –2018 43
Bảng 4.5 Biến động giá cả bí xanh của huyện Kỳ Sơn năm 2018 46
Bảng 4.6 Thông tin chung của hộ điều tra trồng bí xanh 51
Bảng 4.7 Chi phí, kết quả và hiệu quả trồng bí xanh (tính cho 1 ha) 54
Bảng 4.8 Thuận lợi và cơ hội, khó khăn và thách thức trong trồng bí xanh 57
Bảng 4.9 Thông tin về người thu gom bí xanh 58
Bảng 4.10 Chi phí kết quả hoạt động của tác nhân thu gom 59
Bảng 4.11 Thông tin về người bán buôn bí xanh 61
Bảng 4.12 Chi phí kết quả hoạt động của tác nhân bán buôn 62
Bảng 4.13 Thông tin về người bán lẻ bí xanh 63
Bảng 4.14 Phân tích tài chính của người bán lẻ bí xanh 64
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh 66
Bảng 4.16 Phân chia giá trị trong chuỗi giá trị bí xanh giữa các tác nhân 67
Bảng 4.17 Mức thu nhập bình quân tính trên 1 tấn bí xanh của các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn 68
Bảng 4.18 Phân tích SWOT chuỗi giá trị bí xanh huyện Kỳ Sơn 76
Trang 8vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ bí xanh của huyện Kỳ Sơn 45
Sơ đồ 4.2 Sơ đồ chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn 50
Sơ đồ 4.3 Quan hệ của người sản xuất với các tác nhân chuỗi giá trị bí xanh 52
Sơ đồ 4.4 Sự hình thành giá trị gia tăng và lãi ròng của các tác nhân theo các kênh hàng 65
Sơ đồ 4.5 Mối liên kết dọc về chuỗi bí xanh của huyện Kỳ Sơn 71
Sơ đồ 4.6 Mối liên kết giữa các hộ trồng bí xanh của huyện Kỳ Sơn 72
Sơ đồ 4.7 Mối liên kết giữa các tác nhân thu gom trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 72
Sơ đồ 4.9 Mối liên kết giữa các tác nhân bán lẻ trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 72
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ các căn cứ quyết định giá bán bí xanh 55
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ địa điểm giao hàng của người mua với người nông dân 56
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ hình thức mua bán của người sản xuất với các tác nhân 57
Đồ thị 4.1 Cơ cấu giá trị giữa các tác nhân tham gia tham gia giá trị bí xanh 67
Đồ thị 4.2 Phân phối thu nhập bình quân trong 1 vụ của các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn 68
Trang 9viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Hữu Thành
Tên Luận văn: Nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con người Phát triển sản xuất rau trên địa bàn huyện Kỳ Sơn trong những năm qua có nhiều thay đổi tích cực, diện tích và chủng loại rau được sản xuất liên tục tăng nhanh Theo số liệu của Chi cục thống kê huyện Kỳ Sơn năm 2018, tổng diện tích cây bí xanh đạt 195
ha, chiếm 30,4% cơ cấu diện tích rau của cả huyện và phân bố chủ yếu tại 3 xã Độc Lập, Dân Hạ và Yên Quang Sản xuất bí xanh mang lại thu nhập đáng kế cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện với thu nhập thuần khoảng 4,2 triệu đồng/sào, cao hơn so với nhiều cây trồng ngắn ngày khác của vùng Tuy nhiên, quá trình sản xuất rau nói chung, trồng bí xanh nói riêng của huyện còn nhiều bất cập cần khắc phục Việc mở rộng diện tích để khai thác tối đa tiềm năng về đất đai, lao động của huyện gặp nhiều khó khăn do kỹ thuật chưa đồng đều, giá cả và thị trường tiêu thụ không ổn định Mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất và tiêu thụ còn lỏng lẻo Bên cạnh đó yếu tố biến động về thời tiết và sâu bệnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất bí xanh Những yếu tố trên làm cho hiệu quả kinh tế của cây bí xanh chưa cao và không ổn định
Đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Đề tài có mục tiêu đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi giá trị bí xanh cũng nhưng ngành hàng rau, góp phần mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn trong thời gian tới
Đề tài sử dụng hai nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra 90 hộ sản xuất bí xanh, 10 hộ thu gom, 7 hộ bán buôn, 8 hộ bán lẻ và 5 cán bộ địa phương trong năm 2018 tại 3 xã: xã Động Lập, Yên Quang, Dân Hạ Đây
là những xã có diện tích sản xuất bí xanh lớn, trình độ thâm canh, số hộ sản xuất bí xanh tăng nhanh những năm gần đây Thông tin và dữ liệu thứ cấp thu thập cho giai đoạn 2016 - 2018 Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh; phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; công cụ phân tích SWOT; Phương pháp phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris
Kết quả nghiên cứu cho thấy bí xanh là đối tượng cây trồng có tiềm năng phát
Trang 10Qua nghiên cứu, các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị bí xanh đã được xác định bao gồm: yếu tố thị trường; chủ trương chính sách của nhà nước; điều kiện tự nhiên của huyện và các điều kiện chủ quan như (điều kiện cơ sở
hạ tầng và khoa học công nghệ, trình độ của các tác nhân trong chuỗi ) Đề tài đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn: i) Đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, nâng cao năng suất và chất lượng bí xanh; ii) Cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất phục vụ sản xuất và kinh doanh bí xanh trên địa bàn huyện; iii) xây dựng và mở rộng vùng sản xuất bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP; iv) thành lập các nhóm sở thích, các tổ hợp tác và HTX sản xuất
và kinh doanh bí xanh trên địa bàn huyện; v) xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho từng vùng để khẳng định chất lượng và dần dần xây dựng thương hiệu sản phẩm bí xanh cho huyện Kỳ Sơn; vi) tổ chức và tham gia xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh để quảng bá sản phẩm bí xanh cho huyện Kỳ Sơn
Trang 11x
THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Huu Thanh
Thesis title: The study on value chains of winter melon in Ky Son district, Hoa Binh province Major: Economic Management Code: 8340410
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Fresh vegetable is a vital source of food in people’ s daily lives Vegetable production in Ky Son district, Hoa Binh province has been growing rapidly in both of production area and vegetable varieties According to statistics of Ky Son Statistical Department, the production area of winter melon in the district was 195 ha in 2018 that accounts for 30.4% of total vegetable production area of the whole district and winter melon are mainly grown in 3 communes: Độc Lập, Dân Hạ and Yên Quang Winter melon production has brought significantly incomes for farm households in the
district with average income of approximately 4.2 million VND/sao that is much
higher than other short-term cash crops However, vegetable production in general and winter melon production in particular remain weaknesses to be dealt with Expanding the production area in order to utilize potentials of labor and land resources of the district faces difficulties due to a gap in production knowledge among farmers Linkages between actors along value chains of winter melon are loose In addition, change in weather and crop diseases will also have great influences on winter melon productivity These above factors have led to low and unstable economic efficiency of winter melon production
The study “The study on value chains of winter melon in Ky Son district, Hoa Binh province” was conducted in Ky Son district, Hoa Binh province The study aims to evaluate the situation of and factors affecting value chains of winter melon in Ky Son district in order to propose measures for improving added value of winter melon value chains as well as to develop vegetable production commodity channels for improving efficiency for the value chains of winter melon in Ky Son in coming time
The study used primary data and secondary data Primary data was gathered through the survey with 90 winter melon farm households, 10 collectors, 7 wholesalers, 8 retailers and 5 local leaders in 2018 and covered three communes: Độc Lập, Yên Quang, and Dân Hạ These communes have the highest area of winter melon and farmers with good production knowledge There has been an rapid increase in winter melon production in recent years Secondary data was gathered for the period 2016 - 2018 The study used the mixed methods for analysis: descriptive and comparative statistics, expert consultancy, SWOT analysis and value chain approach of Kaplinsky và Morris
Trang 12xi
The study’s results show that winter melon is a crop with high potentials for development and high economic value that bring good income for local farmers in recent years The study’s results also reveal that net income for winter melon producers
is 2.76 million VND/1 ton which is the highest share among actors in value chains of winter melon However, if net income is computed for each actor in the whole crop season, net income of wholesalers is 4.2 times higher than producers This means that wholesalers in winter melon value chains gained higher profit compared to other actors
in the value chains There are three main marketing channels of winter melon in Ky Son but wholesalers (mainly external wholesalers) buy more than 90% of total production of winter melon produced in the district This also indicate that local production depends much on wholesalers from other districts and regions
Through the study, key factors affecting efficiency of winter melon value chains
in the district: markets, the Government development strategy and policies, local natural conditions of the district and other conditions such as infrastructure, production technologies, capacity of actors in the value chains The study proposes specific measures for improving the efficiency of value chains of winter melon of Ky Son district: i) Investing for the application of advanced production techniques to increase productivity and quality of winter melon; ii) Improving infrastructure for production and marketing of winter melon in the district; iii) Developing and expanding area for winter melon production following VietGAP standard; iv) Establishing interest groups, co-operatives for production and marketing of winter melon in the district; v) Developing branding for each production region to ensure the quality and trade marks for winter melon of Ky Son; vi) organizing and participating trade promotion activities
in and out of the province to introduce winter melon products of Ky Son district
Trang 131
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con người Việc tổ chức sản xuất và cung cấp rau xanh nói chung và rau an toàn nói riêng, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm đang là nhu cầu cấp thiết của thị trường
Kỳ Sơn là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hòa Bình và có nhiều điều kiện phát triển sản xuất rau Tiềm năng đất đai cho phát triển rau nói chung, bí xanh nói riêng trên địa bàn huyện là rất lớn Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020, diện tích đất trồng cây hàng năm có khả năng phát triển rau và bí xanh là trên 1.100 ha, chiếm khoảng 5,5% diện tích đất tự nhiên của huyện với nhiều khu vực đồng bằng, bãi bồi ven sông, suối rất thuận lợi cho phát triển sản xuất bí xanh (Phòng TN&MT huyện Kỳ Sơn, 2018)
Huyện Kỳ Sơn có vị trí địa lý gần các thị trường tiêu thụ rau có nhu cầu rất lớn Huyện cách trung tâm thành phố Hòa Bình cách 10 km về phía Tây Bắc và cách thành phố Hà Nội 80 km về phía Đông Những năm gần đây, giao thông đi lại giữa huyện Kỳ Sơn và các thị trường tiêu thụ rau lớn là thành phố Hòa Bình và Hà Nội ngày càng được cải thiện Ngoài tuyến đường quốc lộ 6 nối giữa Hà Nội và Hòa Bình đang ngày càng được mở rộng thì hiện nay, tuyến đường cao tốc Láng Hòa Lạc kéo dài chạy qua huyện Kỳ Sơn lên thành phố Hòa Bình cũng đang được hoàn thiện nhờ vậy việc vận chuyển hàng hóa nói chung và sản phẩm bí xanh của huyện cũng sẽ được cải thiện đáng kể
Phát triển sản xuất rau trên địa bàn huyện Kỳ Sơn trong những năm qua có nhiều thay đổi tích cực, diện tích và chủng loại rau được sản xuất liên tục tăng nhanh Theo số liệu của chi cục thống kê huyện Kỳ Sơn năm 2018, tổng diện tích sản xuất rau của huyện đạt 641 ha, trong đó có các loại như bí xanh, dưa chuột chế biến
và mướp đắng đã phát triển thành vùng với quy mô lớn mang tính hàng hóa cao Diện tích cây bí xanh năm 2018 ước đạt 195 ha, chiếm 30,4% cơ cấu diện tích rau của cả huyện và phân bố chủ yếu tại 3 xã Độc Lập, Dân Hạ và Yên Quang Sản xuất bí xanh mang lại thu nhập đáng kế cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện với thu nhập thuần khoảng 4,2 triệu đồng/sào, cao hơn so với nhiều cây trồng ngắn ngày khác của vùng (Chi cục thống kê huyện Kỳ Sơn và số liệu khảo sát của đề tài, 2018)
Trang 142
Tuy nhiên, quá trình sản xuất và tiêu thụ rau nói chung và cây bí xanh nói riêng của huyện còn nhiều bất cập cần khắc phục, mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh còn lỏng lẻo, quá trình tổ chức sản xuất và tiêu thụ cây bí xanh diễn ra tự phát và việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào các tác nhân mua buôn là người từ địa phương khác đến Quá trình phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị bí xanh hiện tập trung vào tác nhân là người mua buôn với tỷ lệ lợi nhuận là lớn nhất Chính vì vậy, việc mở rộng diện tích để khai thác tối đa tiềm năng về đất đai, lao động của huyện gặp nhiều khó khăn do kỹ thuật chưa đồng đều, giá cả và thị trường tiêu thụ không ổn định Bên cạnh đó yếu tố biến động về thời tiết và sâu bệnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất bí xanh Những yếu tố trên làm cho hiệu quả kinh tế của cây bí xanh không ổn định và tiềm ẩn nhiều rủi ro khi thị trường biến động mạnh về giá
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình có ý nghĩa rất quan trọng Nó sẽ giúp cho các nhà quản lý kinh tế, các nhà chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh bí xanh theo chuỗi giá trị, những mối quan hệ, các tác nhân trong chuỗi, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi giá trị bí xanh cũng nhưng ngành hàng rau, góp phần mở rộng diện tích và tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu
chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị bí xanh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị bí xanh
- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị sản phẩm bí xanh trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi giá trị bí xanh tại địa phương
Trang 153
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chuỗi giá trị và chuỗi giá nông sản trong đó có bí xanh bao gồm những nội dung gì?
- Thực trạng chuỗi giá trị bí xanh (tác nhân, dòng sản phẩm, dòng thông tin và quan hệ giữa các tác nhân) tại huyện Kỳ Sơn như thế nào ?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị bí xanh tại huyện
Kỳ Sơn?
- Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn trong thời gian tới?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
1.4.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về chuỗi giá trị của bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.4.1.2 Đối tượng khảo sát
- Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình gồm người trồng bí xanh, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng, chính quyền địa phương, tại các xã trồng bí xanh
- Các cơ quan, tổ chức có liên quan đến lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ bí xanh
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ
Sơn trong thời gian tới
1.4.2.2 Về không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Các nội dung
Trang 164
chuyên sâu được thu thập thông qua khảo sát hộ nông dân trồng bí tại 3 xã: Độc Lập, Yên Quang và xã Dân Hạ, các hộ kinh doanh bí xanh, và HTX sản xuất và kinh doanh bí xanh lớn của huyện
1.4.2.3 Về thời gian
- Các nghiên cứu, thông tin, số liệu thứ cấp phục vụ cho đề tài sẽ được thu thập từ năm 2016 - 2018
- Số liệu mới sẽ khảo sát, thu thập trực tiếp năm 2018
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
1.5.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
- Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về chuỗi giá trị, trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học trên thế giới, một số tổ chức quốc tế và một số học giả của Việt Nam, kết hợp đúc rút thực tiễn tác giả đã đề xuất quan niệm về chuỗi giá trị bí xanh
- Từ cơ sở lý luận, tác giả đánh giá các yếu tố ảnh hưởng chính đến chuỗi giá trị bí xanh để vận dụng vào điều kiện Việt Nam và phát triển sản xuất bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.5.2 Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận văn
- Về đánh giá thực tiễn: trên cơ sở nguồn số liệu cập nhật và có chọn lọc, luận văn đã trình bày tổng quan thực trạng chuỗi giá trị bí xanh với những đặc trưng cơ bản về sản xuất và tiêu thụ bí xanh ở huyện Kỳ Sơn Luận văn cũng tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức đối với phát triển chuỗi giá trị bí xanh trong những năm tới của huyện, chỉ rõ nguyên nhân chủ yếu của việc phát triển sản xuất bí xanh của huyện Kỳ Sơn còn gặp khó khăn
- Về phương pháp nghiên cứu: trong luận văn này là tác giả đã trực tiếp điều tra, khảo sát thực tế (bảng câu hỏi) 2 bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên nghiên cứu tổng quan về 2 nhóm cốt yếu để điều tra và phỏng vấn với 120 phiếu ở phạm vi
3 xã thuộc huyện Kỳ Sơn; Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích số liệu, thông tin bao gồm: phương pháp thống kê mô tả; phương pháp phân tổ thống kê; phương pháp thống kê so sánh; phương pháp chuyên gia; công cụ phân tích SWOT và sử dụng phương pháp phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris
Trang 175
(2001); từ đó luận văn đã khái quát được những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị
bí xanh, làm tăng thêm cơ sở khoa học cho các nhận định, là sự đóng góp hữu ích cho các nhà nghiên cứu
- Về đề xuất giải pháp: xuất phát từ các đánh giá về thực trạng chuỗi giá trị bí xanh của huyện Kỳ Sơn, luận văn đã đề xuất những định hướng, các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế của chuỗi giá trị bí xanh tại huyện Kỳ Sơn, từ đó khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế của huyện Các giải pháp này có giá trị tham khảo tốt trong xây dựng, hoạch định và triển khai các chính sách phát triển sản xuất
bí xanh nói chung và của huyện Kỳ Sơn nói riêng
Trang 186
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị
Cụm từ chuỗi giá trị đề cập tới đầy đủ tất cả các hoạt động cần thiết để tạo
ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó từ trạng thái khái niệm, quá trình sản xuất, phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và xử lý sau khi tiêu dùng (Kaplinsky, 1999; Kaplinsky and Morris 2001) Theo đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả các thành phần trong chuỗi hoạt động và phối hợp tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi (M4P, 2008) Khái niệm này có thể giải thích theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng
- Là một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đến người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng v.v Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng Nói cách khác, CGT theo nghĩa hẹp là các hoạt động trong cùng một tổ chức hay một công ty theo khung phân tích của Porter (1985) Khung khái niệm của Micheal Porter xác định chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: một chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực hiện trong phạm vi một công ty để sản xuất
ra một sản lượng nào đó
- Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một tập hợp những hoạt động do nhiều người khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ ) để sản xuất ra một sản phẩm sau
đó bán cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (Kaplinsky 1999; Kaplinsky and Morris 2001) Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không chỉ xem xét các hoạt động trong một doanh nghiệp thực hiện Hơn thế, nó còn xét tới các mối liên kết trước và sau của tác nhân đó, từ khi nguyên liệu thô được sản xuất cho tới khi sản phẩm cuối cùng được tiêu thụ Chuỗi giá trị được sử dụng trong nghiên cứu này được hiểu theo nghĩa rộng
Cần phân biệt giữa hai khái niệm là chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế nhằm phân tích hoạt động tài
Trang 197
chính, kinh tế của chuỗi như doanh thu, chi phí, giá trị gia tăng, lợi nhuận và những đóng góp mà chuỗi mang lại như tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, tổng thu nhập mà chuỗi mang lại Còn chuỗi cung ứng thường được sử dụng trong quản trị kinh doanh để tìm hiểu về quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chuỗi cung ứng tìm hiểu các vấn đề trong chuỗi như: Cấu hình mạng lưới phân phối; Kiểm soát tồn kho; Các hợp đồng cung ứng; Tích hợp chuỗi cung ứng và cộng tác chiến lược Chiến lược sử dụng ngoại lực và thu mua, Thiết kế sản phẩm, Công nghệ thông tin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định và giá trị khách hàng
2.1.2 Khung phân tích chuỗi giá trị
Có nhiều định nghĩa cách tiếp cận khác nhau về CGT nhưng nhìn chung CGT có ba cách tiếp cận chính đó là: Khung phân tích theo phương pháp Filière (phương pháp chuỗi, mạch), khung phân tích của Porter và khung phân tích theo chuỗi giá trị toàn cầu GTZ
2.1.2.1 Khung phân tích theo phương pháp Filière (chuỗi, mạch)
Phương pháp Filière (Raikes P et al., 2000) gồm có nhiều trường phái tư
duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp Phân tích chuỗi, chủ yếu là làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê, dừa…) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng
Do đó, khái niệm chuỗi Filière (Raikes P et al., 2000) được nhận thức chủ
yếu bằng kinh nghiệm thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động Tính hợp lý của chuỗi cũng tương tự như khái niệm rộng về CGT (đã trình bày ở trên) Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua những người tham gia chuỗi (hình 2.1)
Phương pháp chuỗi, mạch (Filière) mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa và phân biệt các khoản
Trang 208
chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP Phương pháp chuỗi cũng đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa như: lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm
so với chiến lược đa dạng hóa (Raikes P et al., 2000)
Hình 2.1 Khung phân tích chuỗi theo phương pháp Filière
Nguồn: Raikes P et al (2000)
2.1.2.2 Khung phân tích của Porter
Cách tiếp cận thứ hai là khung phân tích của Porter về các lợi thế cạnh tranh Michael Porter đã dùng khung phân tích CGT để đánh giá xem một công
ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác (cách tiếp cận CGT theo nghĩa hẹp) Trong đó, ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được ông tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) Hoặc, làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt) Trong bối cảnh này, khái niệm CGT được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm
ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình Đặc biệt, Porter còn lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) ở các hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm cho giá trị sản xuất hàng hoá (dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm và được thể hiện tại hình 2.2 (Michael Porter, 1985)
Nhà cung
ứng đầu
vào
Nhà sản xuất
Nhà chế biến
Nhà chế phân phối
Người tiêu dùng
Trang 219
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm CGT không trùng với ý tưởng
về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng, theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến qui trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét CGT bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần (bên trong và bên ngoài), tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu…) Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm CGT chỉ áp dụng trong kinh doanh Phân tích CGT chủ yếu nhằm hỗ trợ các hoạt động quản
lý, điều hành đưa ra các quyết định mang tính chiến lược (Michael Porter, 1985)
Hình 2.2 Khung phân tích chuỗi giá trị của Porter
Nguồn: Porter (1985)
2.1.2.3 Khung phân tích theo phương pháp tiếp cận toàn cầu GTZ
Khái niệm CGT còn được áp dụng để phân tích vấn đề toàn cầu hóa, theo
đó các nhà nghiên cứu dùng khung phân tích CGT để tìm hiểu cách thức mà các công ty, các quốc gia hội nhập toàn cầu đánh giá về các yếu tố quyết định liên quan đến việc phân phối và thu nhập toàn cầu Phân tích CGT còn giúp làm sáng
tỏ việc các công ty, quốc gia và vùng lãnh thổ được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào
Theo khung phân tích theo phương pháp tiếp cận toàn cầu GTZ thì CGT là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng Hay CGT là một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ yếu của mình để sản xuất, chế biến, và phân phối một sản phẩm cụ thể nào
đó Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch sản xuất và kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất, sơ chế ban đầu
Nhà cung cấp
CGT của công ty
CGT thị trường CGT tiêu dùng
Trang 2210
đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo thứ tự các chức năng và các nhà vận hành, CGT sẽ bao gồm một loạt các khâu trong chuỗi hay còn gọi là các chức năng chuỗi (Eschborn, 2007)
Hình 2.3 Sơ đồ chuỗi giá trị GTZ
Nguồn: Eschborn (2008)
2.1.3 Vai trò ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi giá trị
- Sự cần thiết nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau
Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phấm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và nước ngoài (Kaplinsky và Morris 2001) Những chi tiết này có thể thu thập được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thông tin và số liệu thứ cấp
Thứ hai là phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định
sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phấm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được
Sản xuất Cung cấp đầu
Phân loại, đóng gói
Vận chuyển Phân phối Bán
Thị trường tiêu dùng cụ thể
Các loại nhà vận hành chuỗi và mối quan hệ của họ
Các chức năng căn bản (liên kết chuỗi)
Các trung tâm hậu cần, công nghiệp
Các thương gia
Điểm bán cuối cùng Người bán
lẻ
Trang 2311
hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh của các nước đang phát triển (và đặc biệt là nông nghiệp), với những lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ bị tổn thương trước quá trình toàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris, 2001) Có thể bổ sung phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi để hiểu được các đặc điểm của những người tham gia
Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm Phân tích quá trinh nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi giá trị cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại Các vấn
đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt động nâng cấp
đó diễn ra như thế nào Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cản gia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra Cuối cùng, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị (Kaplinsky và Morris, 2001)
Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sai lệch
về phân phối thu nhập giữa các tác nhân và tăng giá trị gia tăng trong ngành (Kaplinsky và Morris, 2001)
- Sự cần thiết nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh
Phân tích chuỗi giá trị rau cải bắp, lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm rau cải bắp Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi sản phẩm cải bắp
Phân tích chuỗi giá trị cải bắp có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn
Trang 2412
Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cải bắp có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm cải bắp giúp cho người sản xuất thu được giá trị cao hơn Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại
Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cải bắp có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ
và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị
2.1.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị
Để phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi phải có phương pháp tổng hợp Phương pháp đó đòi hỏi sự phối hợp của nhiều công cụ phân tích khác nhau, cụ thể
Bảng 2.1 Công cụ, mục đích phân tích các mặt khác nhau của chuỗi giá trị
1 Lập sơ đồ chuỗi Mô tả các tác nhân và phạm vi hoạt động
2 Phân tích quản trị trong
4 Phân tích chi phí, giá trị
gia tăng và lợi nhuận
Xác định các chi phí đầu vào, phân bổ và thay đổi chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân
5 Phân tích phân phối lợi
nhuận
Đánh giá vấn đề chia sẻ lợi ích, rủi ro giữa các tác nhân để đề xuất tác động phân phối công bằng hơn
Nguồn: M4P (2008)
Tùy vào các yêu cầu và mục đích phân tích ở các chuỗi hàng khác nhau mà một nghiên cứu có thể sử dụng một số công cụ trên Trong đề tài này chúng tôi chỉ sử dụng những công cụ sau để phân tích chuỗi giá trị bí xanh (M4P, 2008): + Sự hoạt động của các tác nhân: Lập sơ đồ chuỗi giá trị và phân tích các tác nhân tham gia chuỗi giá trị bí xanh
+ Phân tích quản trị: hệ thống kênh tiêu thụ trong chuỗi
+ Phân tích các mối liên kết: mối liên kết dọc, liên kết ngang
+ Phân tích chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận
+ Phân tích phân phối lợi nhuận
Trang 2513
Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị bí xanh được thể hiện như sau:
2.1.4.1 Sự hoạt động của các tác nhân trong chuỗi giá trị
Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu (Vũ Duy Khải, 2014)
Hoạt động của các tác nhân trong chuỗi giá trị được tổng hợp và mô tả tại bảng 2.2
Bảng 2.2 Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị bí xanh
Tiêu dùng Ngược lại toàn bộ chuỗi từ người bán lẻ đến các trung gian và
người trồng bí xanh Bán lẻ Đi theo các loại khách hàng và ngược lại từ người cung ứng
Bán buôn Ngược lại tới người sản xuất và người bán lẻ, và hướng lên tới hệ
thống cửa hàng Thu gom
Từ các Thương lái ngoài tỉnh, người trồng bí xanh tạo sự kết nối trong việc tiêu thụ sản phẩm sao cho hài hòa lợi ích giữa người mua và bán
2.1.4.2 Sự dịch chuyển trong chuỗi giá trị
Cũng giống như ngành hàng, trong quá trình vận hành của một chuỗi giá trị
đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng sau (Vũ Duy Khải, 2014):
- Sự dịch chuyển về mặt thời gian: Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm (Vũ Duy Khải, 2014)
- Sự dịch chuyển về mặt không gian: Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở
Trang 2614
không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của nhà nước (Vũ Duy Khải, 2014)
- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái) của sản phẩm: Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng
có nhiều sản phẩm mới được tạo ra (Vũ Duy Khải, 2014)
Tóm lại, căn cứ vào sự dịch chuyển vật chất ta sẽ xác định được hệ thống kênh phân phối tiêu thụ trong chuỗi giá trị bí xanh, mức độ luân chuyển, phân loại sản phẩm
2.1.4.3 Liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Liên kết trong chuỗi giá trị là quan hệ liên kết kinh tế Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước” Khi phát triển các chuỗi giá trị nông sản đáp ứng thị trường hiện đại thì trong chuỗi hình thành nên 2 loại liên kết, gồm (Đỗ Thị Nâng
và Nguyễn Thị Hồng, 2018)
a Mối liên kết theo chiều dọc
Là liên kết giữa các tác nhân ở các mắt xích liên tiếp khác nhau Liên kết dọc
là quan hệ tất yếu hình thành trong quá trình phát triển các chuỗi giá trị nông sản Liên kết dọc kết hợp các khâu như sản xuất, phân phối, mua bán, hoặc các hoạt động sản xuất kinh doanh khác trong một chuỗi duy nhất Cần thực hiện các liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi vì có thể giúp giảm chi phí chuỗi, những người trong cùng chuỗi có cùng tiếng nói; liên kết dưới hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước, giúp giảm thiểu rủi ro cho những người tham gia liên kết; các thông tin thị trường đều được các tác nhân biết đến để sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường; tạo ra niềm tin phát triển chuỗi cao Kết quả của liên kết dọc hình thành nên một chuỗi giá trị của một sản phẩm cụ thể
và có thể làm giảm đáng kể chi phí trung gian (Phùng Giang Hải, 2015)
Trang 2715
b Mối liên kết theo chiều ngang
Là hình thức liên kết giữa các chủ thể trong cùng một chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh Nói cách khác, liên kết ngang là mối liên kết giữa các chủ thể sản xuất như nhau ở cùng một cấp (cùng trong một nhóm tác nhân) Kết quả của liên kết ngang hình thành nên các tổ chức liên kết như hợp tác xã (HTX), liên minh, hiệp hội cùng đưa ra các quy tắc hoạt động trên cơ sở hướng tới mục tiêu chung là nâng cao giá trị sản phẩm và giảm thiểu rủi ro Việc tham gia liên kết ngang sẽ mang lại những lợi ích như giảm chi phí sản xuất kinh doanh cho từng thành viên trong tổ/nhóm, qua đó giúp tăng lợi ích kinh tế cho các thành viên; tổ/nhóm có thể đảm bảo được số lượng và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người mua; có thể ký hợp đồng đầu ra sản xuất quy mô lớn và từ đó phát triển sản xuất kinh doanh bền vững Có các hình thức liên kết ngang như các tổ/nhóm sản xuất, hợp tác xã, hiệp hội (kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước” (Đỗ Thị Nâng và Nguyễn Thị Hồng, 2018)
2.1.4.4 Phân tích chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận
Chi phí trong chuỗi giá trị bí xanh được xác định bao gồm: Các khoản chi phí vật chất đầu tư trực tiếp tùy thuộc từng tác nhân (giống, phân bón, thuốc BVTV, vận chuyển, máy móc thiết bị, ), và các khoản chi phí dịch vụ, đây chính là mức vốn đầu tư cần thiết trong quá trình sản xuất, kinh doanh Doanh thu của tác nhân đứng trước chính là giá vốn của tác nhân đứng liền sau Để làm
rõ cách xác định chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân trong chuỗi giá trị bí xanh chúng tôi sẽ phân tích chi tiết hơn trong phần hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài (Vũ Duy Khải, 2014)
2.1.4.5 Phân tích phân phối lợi nhuận
Trong sản xuất hàng hóa, lợi nhuận có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là mục tiêu chính của tất cả các tác nhân Trong một chuỗi giá trị có sự tham gia của nhiều tác nhân thì sự phân phối lợi nhuận thường xảy ra tình trạng bất công bằng Đặc biệt đối với chuỗi giá trị nông sản, tác nhân sản xuất thường chịu nhiều rủi ro hơn nhưng nhận được tỷ lệ lợi nhuận thấp nhất và lợi nhuận thu được
ở khâu tiêu thụ là cao nhất Đây chính là nguyên nhân mà rất ít nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất mà chỉ tập trung cho thu mua và thương mại (Vũ Duy Khải, 2014)
Vì vậy phân tích phân phối lợi nhuận để thấy được hiện trạng và tính bất công bằng trong phân phối lợi nhuận để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục
Trang 2816
tình trạng đó Đây là yếu tố quyết định giúp cho chuỗi giá trị tồn tại và phát triển bền vững (Vũ Duy Khải, 2014)
2.1.5 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất bí xanh
Theo Đào Xuân Thảng (2012) cho biết:
- Cây bí xanh có tên khoa học là Benicasa cerifera Savi còn gọi là bí đao, bí phấn, bí trắng Quả dùng làm thực phẩm nấu ăn rất ngon, mát Ngoài ra bí xanh còn là nguyên liệu tốt cho công nghiệp bánh kẹo (làm mứt, nhân bánh ăn rất ngon) Do có lớp vỏ dày cứng nên bí xanh có thể bảo quản lâu, vận chuyển tốt, là loại rau dự trữ giáp vụ và dùng cho những vùng thiêú rau Bí xanh là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao Bí xanh có nhiều loại: Bí đá, bí bộp, bí đao chanh
- Bí xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ là khu vực nắng nhiều, nhiệt độ và độ ẩm cao Nhiệt độ thích hợp cho cây bí xanh sinh trưởng phát triển tốt là 24-28C Mặc
dù vậy hạt bí xanh có thể nảy mầm ở nhiệt độ 13-15C, nhưng tốt nhất là 25-26C
Ở giai đoạn cây con (vườn ươm) yêu cầu nhiệt độ thấp hơn khoảng 20-22C Song
ở giai đoạn ra hoa, kết quả cần nhiệt độ cao hơn: 25-30C Bí xanh yêu cầu ánh sáng ngày ngắn Cây có thể sinh trưởng phát triển tốt ở điều kiện ánh sáng cường
độ mạnh Song để cho quả phát triển bình thường thì lại cần cường độ ánh sáng giảm (vừa phải) Ánh sáng trực xạ cường độ mạnh ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của qua, dễ gây rụng hoa, quả non, quả dễ bị thối rám hoạc màu sắc quả bị thay đổi sang màu xanh nhạt hoạc trắng xanh, không hấp dẫn, giảm chất lượng quả Vì vậy ta phải chăm sóc cho tốt để hệ rễ, thân, lá sinh trưởng phát triển tốt và làm giàn cho bí xanh hạn chế tác dụng xấu hiện tượng trên, nhằm tăng năng suất và khả năng bảo quản quả, nâng cao hiệu quả sản xuất bí xanh Bí xanh chịu hạn khá nhờ hệ rễ khá phát triển Tuy nhiên trong mỗi thời kì sinh trưởng nên tưới tiêu hợp lí, đảm bảo đủ độ ẩm cho cây thì sẽ thu được năng suất cao, chất lượng tốt Thời kì cây con đến lúc ra hoa đầu bí xanh cần độ ẩm đất 65-70%, thời kì đậu quả đến lúc quả to đẫy bí xanh cần nhiều độ ẩm đất hơn: 70-80% Vì lúc này khối lượng thân lá lớn Cũng không được để bí xanh bị úng ngập, nhất là thời kì phát dục ra hoa kết quả sẽ gây vàng lá, rụng hoa, quả, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất
- Bí xanh có thể trồng ở đất thịt vừa, hơi nặng nhưng tốt nhất là đất thịt nhẹ, đất phù sa ven sông, pH thích hợp 6,5-7,5
- Thời vụ gieo trồng : có 2 vụ chính là vụ đông xuân được gieo hạt từ 1/12 - 10/2; vụ thu đông được gieo hạt từ 20/8-15/11
Trang 2917
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị bí xanh
Nghiên cứu một chuỗi giá trị sản phẩm cần trả lời được các câu hỏi: Các tác nhân trong chuỗi hoạt động có hiệu quả hay không? Sự phân phối giá trị gia tăng, lợi ích giữa các tác nhân ra sao? Kết quả hoạt động của tác nhân này ảnh hưởng như thế nào đến các tác nhân còn lại trong chuỗi?…Câu trả lời của các câu hỏi trên phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Trong nghiên cứu này, sẽ đề cập đến hai nhóm yếu tố là các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan (Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2015)
2.1.6.1 Các yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm bí xanh bao gồm:
- Một là các chính sách của Nhà nước và địa phương về phát triển sản phẩm rau theo hướng hàng hóa: Các chính sách là một trong những hoạt động bổ trợ quan trọng cho hoạt động của toàn bộ chuỗi giá trị, đặc biệt là người sản xuất Các chính sách vừa mang tính chỉ đạo, vừa mang tính định hướng và góp phần tạo động lực cho chuỗi phát triển Các chính sách, luật pháp được đề ra tạo điệu kiện thuận lợi cho các tác nhân liên kết với nhau, hoạt động một cách chuyên môn hóa nên hiệu
quả hoạt động sẽ được nâng cao (Michael van den Berg et al., 2013)
- Hai là sự phát triển khoa học công nghệ (Michael van den Berg et al., 2013):
+ Với việc nghiên cứu và chọn tạo được các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và độ đồng đều cao sẽ góp phần nâng cao giá trị của cây bí xanh + Quy trình công nghệ tiên tiến với việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, công cụ lao động hiện đại trong sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản và bao gói sản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển bền vững của chuỗi giá trị sản phẩm bí xanh trong thời kỳ tới
- Ba là các yếu tố rủi ro khác như thời tiết, sâu bệnh, thiên tai,… đều nằm ngoài những dự tính của con người, do vậy việc chủ động phòng tránh, tăng cường công tác dự báo là cách tốt nhất để đối phó với rủi ro (Michael van den
Berg et al., 2013)
2.1.6.2 Các yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới chuỗi giá trị sản phẩm bí xanh bao gồm:
- Một là: trình độ của cán bộ địa phương, HTX: Cán bộ địa phương, HTX
có vai trò quản lý, giám sát, hỗ trợ đối với các hoạt động của các tác nhân trong
Trang 30sự hiểu biết của người trồng Người trồng bí xanh có trình độ, kinh nghiệm canh tác thuần thục, khả năng nhận thức các biến động, xu hướng thị trường
sẽ có cách thức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm sao cho hiệu quả nhất, hạn chế tối
đa các rủi ro, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng được niềm tin vững chắc với các tác nhân khác trong chuỗi, thúc đẩy chuỗi phát triển
(Michael van den Berg et al., 2013)
- Ba là: sự liên kết giữa các tác nhân trong kênh tiêu thụ: Yếu tố này là điều kiện kiên quyết hình thành nên chuỗi giá trị, sự liên kết bền chặt giữa các tác nhân sẽ giúp người sản xuất yên tâm sản xuất, các tác nhân trung gian yên tâm có nguồn hàng để phân phối, tiêu thụ Các tác nhân thực hiện đúng chức năng chuyên môn của mình thì tất yếu sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.Tuy nhiên, trên thực tế sự liên kết giữa người trồng với các trung gian còn lỏng lẻo, liên kết yếu Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự phân phối không hiệu quả giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị mà người chịu thiệt thường là người nông dân (Michael van
den Berg et al., 2013)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị trên thế giới
Các nghiên cứu tiếp cận theo chuỗi giá trị hiện nay khá phổ biến trên thế giới Các nghiên cứu khác nhau thường sử dụng những khung phân tích khác nhau
- Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị thế giới như cho chuỗi giá trị hoa ở Chiang Mai không tiếp cận theo phân tích tài chính và thu nhập theo hướng gia tăng thu nhập cho người nghèo mà chủ yếu tập trung mô tả định tính quá trình di chuyển của sản phẩm, nghiên cứu này áp dụng khung phân tích chuỗi giá trị của Porter mà theo tác giả là không phù hợp để phân tích chuỗi giá trị cho ngành hoa, đặc biệt là với mục đích nâng cấp chuỗi, phát triển ngành và gia tăng thu nhập của người nông dân (Cheamuangphan, 2013)
Trang 3119
- Nghiên cứu về chuỗi giá trị trái cây tươi với mục đích hỗ trợ người nông dân nhỏ tại miền Tây Bengal của Ấn Độ, nghiên cứu này lại không sử dụng phương chuỗi mà phân tích chuỗi giá trị ở góc độ tổng thể, chủ yếu tập trung vào phân tích rào cản gia nhập ngành như thế nào, vai trò và tác động của việc quản trị Việc nâng cấp chuỗi trong nghiên cứu kết hợp với phân tích cụm ngành và nâng cao quản trị (Hans, 2012)
- Nghiên cứu về chuỗi giá rau truyền thống từ Malawi và Mozambique, nghiên cứu này không nghiên cứu tổng thể chuỗi giá trị rau mà tập trung nghiên cứu mối liên kết giữa các tác nhân người sản xuất và người mua rau để phân tích những hạn chế và cơ hội trong chuỗi giá trị rau truyền thống của 2 quốc gia này Từ đó nghiên cứu kiến nghị các chính sách giúp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân
để phát triển sản xuất rau truyền thống và lựa chọn một số đối tượng rau chính
truyền thống cho 2 quốc gia Châu Phi này (Takemore Chagomoka et al., 2014)
- Nghiên cứu về chuỗi giá trị trái cây và rau tại Bosnia và Herzegovina cho thấy: rau và quả tại đây được sản xuất chủ yếu được bán ngay tại nơi sản xuất hoặc chợ địa phương Mối liên kết giữa người sản xuất và người mua buôn, người bán lẻ vẫn còn yếu, chưa có ràng buộc bằng hợp đồng thỏa thuận trước Thông qua nghiên cứu chuỗi giá trị rau, tác giả muốn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chuỗi cung ứng rau quả bằng việc tác động vào từng khâu còn yếu trong
chuỗi để nâng cao hiệu quả của chuỗi hơn (Ivana Plazibat et al., 2016)
2.2.2 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị ở trong nước
Nghiên cứu, thực nghiệm về chuỗi giá trị nông sản ở nước ta đã và đang là yêu cầu cần thiết để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Thực tế trong những năm qua, để phát triển nông nghiệp ở mỗi địa phương trong cả nước đều chú trọng đầu tư cho nông nghiệp theo hướng xây dựng và phát triển theo chuỗi giá trị nông sản Cụ thể một số chương trình nghiên cứu, thực nghiệm như sau:
- Theo Axis Research (2012), Công ty chuyên tư vấn và giúp đỡ các công ty trong và ngoài nước tìm hiểu về thị trường, sản phẩm, hệ thống supply chain, đối thủ cạnh tranh đã cho biết: Để phát triển rau an toàn cho thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Axis Research có thực hiện chương trình nghiên cứu chuỗi giá trị rau trên địa bàn thành phố để từ đó có những tác động tích cực đến từng tác nhân trong chuỗi nhằm hỗ trợ và xây dựng các kênh tiêu thụ rau an toàn ổn định và bền vững Trong dự án có nghiên cứu rất kỹ các kênh phân phối về rau an toàn
Trang 3220
của thành phố và những tác nhân tham gia chuỗi Những điểm mạnh và yếu của từng tác nhân và mối quan hệ giữa các tác nhân để từ đó đề xuất các biện pháp hỗ trợ các thành phần tham gia chuỗi giá trị này được hiệu quả hơn
- Tại thành phố Đà Nẵng:
+ Để xây dựng vùng rau an toàn theo hướng bền vững, thành phố đã đầu tư xây dựng đề án “Phát triển chuỗi giá trị rau an toàn huyện Hòa Vang đến năm 2020” Trong đề án có nghiên cứu kỹ thực tế phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Hòa Vang và phân tích chuỗi giá trị rau an toàn với các kênh tiêu thụ cụ thể, các tác nhân tham gia chuỗi và lượng hóa giá trị gia tăng của từng tác nhận Từ đó đánh giá và đưa ra lộ trình các biện pháp tác động đến chuỗi để nâng cấp và hoàn thiện chuỗi giá trị rau an toàn của huyện Hòa Vang theo lộ trình đến năm 2020 (UBND huyện Hòa Vang, 2012)
+ Theo hội thảo “Chiến lược xây dựng thành phố thực phẩm thông minh cho thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn 2030”, được tổ chức ngày 12-3 - 2019, đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ dự án hỗ trợ không hoàn lại của Quỹ Nghiên cứu Tư vấn Việt - Bỉ (SCF) và tổ chức phi chính phủ Rikolto (Bỉ) khi chọn Đà Nẵng là 1 trong 6 thành phố trên toàn thế giới xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn, thông minh hướng tới người tiêu dùng Mục tiêu của dự án là giúp thành phố Đà Nẵng tạo ra chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn gọn, rõ rệt, tái sử dụng thực phẩm lãng phí, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ thực phẩm bền vững (Phan Chung, 2019)
- Tại thành phố Hà Nội phát triển nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị là chủ trương trong kế hoạch phát triển nông nghiệp sạch, tạo ra nguồn thực phẩm an toàn cung cấp cho thành phố Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến tháng 6/2018 thành phố Hà Nội đã xây dựng và phát triển được 461 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và 194 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn được xác nhận Hàng ngày, các chuỗi này cung cấp một số lượng đáng kể thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn cho người tiêu dùng địa phương và một phần cung cấp cho thị trường Hà Nội Riêng TP Hà Nội duy trì và phát triển 80 chuỗi liên kết ATTP
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, trong đó có 36 chuỗi có nguồn gốc động vật
và 44 chuỗi có nguồn gốc thực vật Đồng thời, thí điểm cấp 11 giấy xác nhận cho
11 cơ sở của 15 chuỗi rau, thịt với 23 điểm kinh doanh thực phẩm an toàn (Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, 2018)
Trang 3321
- Dự án của các tổ chức quốc tế hỗ trợ phát triển nông nghiệp tại Việt Nam trong những năm qua cũng rất quan tâm đến việc phát triển chuỗi giá trị rau Cụ thể:
+ Trong Diễn đàn ISG (Chương trình hỗ trợ quốc tế) thường niên về an toàn thực phẩm, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Nguyễn Thị Xuân Thu cho biết, trong thời gian qua, đã có nhiều dự án phát triển chuỗi sản xuất nông sản an toàn từ trang trại đến bàn ăn được triển khai nhưng thành quả không bền vững vì chi phí vận hành quản lý và giá thành sản xuất cao Cụ thể, Việt Nam đã phát triển được một số chuỗi quản lý rau an toàn qua một số dự án của Đan Mạch, Canada, Nhật Bản, nhưng khi kết thúc dự án thì rất khó duy trì
do thiếu kinh phí Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của quốc tế trong vấn đề xây dựng các chuỗi nông sản an toàn bền vững, trong đó có rau an toàn (Phạm Thanh, 2013)
+ Công ty Metro Cash & Cary Việt Nam vừa tổng kết Dự án “Xây dựng Chuỗi giá trị Rau An toàn tại miền Bắc Việt Nam” Sau 3 năm thực hiện, dự án
đã góp phần liên kết các hộ nông dân nhỏ trồng rau an toàn với kênh phân phối hiện đại, nâng cao giá trị nông sản và cung cấp rau an toàn cho người tiêu dùng các tỉnh miền Bắc Công ty Metro phối hợp với Công ty Fresh Studio được sự hỗ trợ của Đại sứ quán Hà Lan đã tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Xây dựng chuỗi giá trị rau an toàn tại miền Bắc Việt Nam” Dự án này có tổng giá trị cam kết đầu
tư lên tới gần 1 triệu euro được thực hiện từ tháng 10-2010 đến tháng 5-2013 Dự
án đã kết hợp chặt chẽ với các đối tác như các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp, các viện nghiên cứu, và các cơ quan của Nhà nước tập huấn cho nông dân các kiến thức nông nghiệp và kỹ thuật canh tác Các kỹ sư nông nghiệp và công ty cũng đưa ra khối lượng cung ứng mục tiêu hàng năm cho nông dân và nhà cung cấp để đưa vào kế hoạch trồng trọt Tham gia dự án gồm gần 120 nông dân chia thành 6 nhóm, sản xuất trên 30 chủng loại sản phẩm và cung cấp ra thị trường khoảng 20 tấn rau/ngày (Như Loan, 2013)
+ Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Úc - ACIAR đã có thời gian nghiên cứu và đầu tư phát triển nông nghiệp ở Việt Nam từ nhiều năm nay Nghiên cứu
và đầu tư cho nông nghiệp theo chuỗi giá trị được trung tâm ưu tiên nghiên cứu
và phát triển Dự án do ACIAR hỗ trợ tại Mộc Châu và Vân Hồ từ năm 2009 đến năm 2017 tập trung vào phát triển chuỗi giá trị rau an toàn bền vững cho các nông hộ quy mô nhỏ và kết quả: Ngày càng nhiều nông dân quan tâm đến việc
Trang 34- Theo Khổng Mạnh Tiến (2019), sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi bền vững giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân Hình thức này đảm bảo cho các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm với nhau, điều tiết cung cầu thị trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm
Trên đây là một số kết quả nghiên cứu và thực nghiệm về chuỗi giá trị rau trong nước Để thấy được tầm quan trọng của chuỗi giá trị, nhà nước đã ban hành nghị định 98/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Từ Nghị định này, các địa phương đã có cơ sở để đầu tư phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc thù có lợi thế cạnh tranh theo chuỗi giá trị, đây là điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Trang 3523
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Kỳ Sơn là huyện miền núi, cửa ngõ của Thành phố Hoà Bình, nằm ở
vị trí 22o07' - 26o00' vĩ bắc, 105o48' - 106o25' kinh đông Gồm có 09 xã và 01 thị trấn (UBND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, 2018)
+ Phía Đông giáp huyện Lương Sơn
+ Phía Tây và Tây Nam giáp Thành phố Hoà Bình và ven Sông Đà
+ Phía Đông Nam giáp huyện Kim Bôi
+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất của thành phố Hà Nội
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy của tỉnh Phú Thọ
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Kỳ Sơn nằm ở vùng núi thấp của tỉnh Hoà Bình có độ cao từ 200 –
600 m so với mực nước biển Tuy nhiên, do cấu tạo địa chất nên tính chất địa hình có sự khác nhau, có thể chia địa bàn huyện Kỳ Sơn làm 2 vùng (UBND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, 2018):
- Vùng ngoài: địa hình có độ cao trung bình từ 200 – 300 m, vùng này không có núi cao, hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nghĩa là thấp dần theo hướng hạ lưu sông Đà Ngoài địa hình núi, đồi thấp có chân vàn, vàn trũng và bãi nằm xen kẽ nhau Vùng này gồm các xã: Hợp Thành, Hợp Thịnh, Thị trấn Kỳ Sơn, Dân Hạ, Mông Hoá, Dân Hoà, Phúc Tiến, Yên Quang và Phú Minh (UBND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, 2018)
- Vùng trong: địa hình có độ cao tuyệt đối trên 300 m, hướng địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Tuy địa hình vùng trong có độ cao tuyệt đối cao hơn vùng ngoài, song địa hình có cấu trúc thoai thoải, độ đốc từ 10 – 150 hình thành nhiều đồi bát úp nối tiếp Vùng này gồm xã Độc Lập, một phần của xã Mông Hóa và xã Dân Hòa Địa hình bao gồm các dải núi đá vôi xen lấn đồi đất,
bị chia cắt nhiều bởi các suối nhỏ, đi lại khó khăn (UBND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, 2018)
Trang 36100 Nhiệt độ không khí bình quân 21100 240C, cao nhất 400C (vào các tháng 5,
6, 7), thấp nhất 200C (vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau)
Độ ẩm không khí trung bình 85%, cao nhất 90% vào các tháng 7 - 8 - 9, thấp nhất 50% vào các tháng 1 - 2
- Gió: mùa hè có gió đông nam là chủ yếu, mùa đông có gió đông bắc xuất hiện thành từng đợt, mỗi đợt kéo dài 3 - 5 ngày, gây rét, rét đậm và rét hại ảnh hưởng tới cây trồng và vật nuôi
Nhìn chung, vùng dự án có điều kiện khá thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, tuy nhiên do địa hình chia cắt và lượng mưa khá lớn, không tập trung, một số hiện tượng lốc, mưa đá đã ảnh hưởng ít nhiều đến cây trồng, vật nuôi và đời sống sinh hoạt của người dân
3.1.1.4 Thủy văn
Theo UBND huyện Kỳ Sơn (2018), Kỳ Sơn có sông Đà chảy qua với lưu lượng nước lớn cho phép sử dụng vào việc tưới tiêu (đặc biệt các xã ven sông như thị trấn Kỳ Sơn, xã Dân Hạ, xã Hợp Thành, xã Hợp Thịnh, xã Phú Minh) Ngoài sông Đà, Kỳ Sơn có khoảng 20 con suối lớn nhỏ với lưu lượng nước hàng ngàn m3/giờ Tuy nhiên do phân bố lượng mưa không đều và địa hình dốc, cho nên có khoảng 30% số suối vào mùa khô không có nước gây nên việc thiếu nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
Với nguồn nước ngầm hiện nay chưa có số liệu điều tra chính xác, tuy nhiên căn cứ vào số liệu đáng tin cậy đánh giá về nguồn nước Tây Bắc Việt Nam thì có thể khẳng định Kỳ Sơn có nguồn nước ngầm, mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng thành phần địa chất
Qua điều tra giếng nước trong các thôn, xóm ở các xã khác nhau trên địa bàn huyện cho thấy các giếng đều có nước ở độ sâu từ 8 – 20 m, có thể khẳng
Trang 3725
định tiềm năng nguồn nước ở Kỳ Sơn tương đối dồi dào đáp ứng được yêu cầu phát triển của nông lâm ngư nghiệp, công nghệ chế biến phục vụ người dân Mặt khác hàng năm vào thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 9 lượng mưa ở Tây Bắc nhiều và hồ sông Đà xả lũ, nước sông Đà lên cao gây lũ lụt ở hạ lưu bãi sông
Đà diện tích ước tính khoảng trên dưới 500 ha
3.1.1.5 Thổ nhưỡng
Theo bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh Hòa Bình tỷ lệ 1/50.000 của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (2005) Kết quả cho thấy, trên địa bàn huyện Kỳ Sơn có các loại đất chính sau:
- Nhóm đất đỏ vàng (F) có tổng diện tích 16.668,91 ha, chiếm 81,3% cơ cấu diện tích đất của huyện Cụ thể từng loại đất như sau:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj): 1.694,29 ha
+ Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk): 3.116,11 ha
+ Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs): 5.081,55 ha
+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): 5.7333,66 ha
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): 1.043,3 ha
- Nhóm đất phù sa (P) có tổng diện tích 2.350,07 ha, chiếm 11,5% cơ cấu diện tích đất của huyện Cụ thể từng loại đất như sau:
+ Đất phù sa ngòi suối (Py): 133,7 ha
+ Đất phù sa được bồi trung tính ít chua (Pbe): 353,31 ha
Trang 3826
Đây là vấn đề đặt ra cho công tác trồng rừng phòng hộ cần có biện pháp cải tạo đất bằng trồng các loại cây họ đậu nhằm hạn chế sự thoái hóa đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
3.1.1.6 Tài nguyên nước
Theo Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn (2018) cho biết, nguồn nước mặt đang được sử dụng của huyện chủ yếu lấy từ sông Đà, các hồ chứa nước, hệ thống suối Nước mưa được lưu giữ trong các ao hồ để rồi cung cấp nước tưới cho đồng ruộng Nước sinh hoạt của nhân dân được lấy từ nước mưa, giếng khơi, giếng khoan, hệ thống cấp nước tập trung; nguồn nước ngầm: Căn cứ thực tế sử dụng nguồn nước giếng khoan trên địa bàn cho thấy, lượng nước ngầm tuy không lớn nhưng có chất lượng tốt, mực nước ngầm có độ sâu từ 3 đến 18 m Đây là nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt của nhân dân
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Nguồn lực về đất đai cho sản xuất nông nghiệp của huyện
a Hiện trạng nguồn lực đất đai sản xuất nông nghiệp của huyện
Theo Phòng tài nguyên và môi trường huyện Kỳ Sơn (2018), tình hình sử dụng đất của huyện giai đoạn 2016 – 2018 như bảng 3.1
- Về diện tích đất nông nghiệp: Tính đến năm 2018, toàn huyện có 16.682
ha, chiếm 81,4% diện tích đất tự nhiên của huyện Trong 3 năm (2016 -2018), diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm, giảm 812 ha, tương đương tốc độ giảm 4,6% Nguyên nhân của việc giảm là do đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp (dùng cho đất ở, đất xây dựng các công trình như đường giao thông, trụ sở )
- Về diện tích đất phi nông nghiệp (đất ở, đất phát triển hạ tầng ) trong 3 năm (2016 – 2018) có xu hướng tăng nhanh, tính đến năm 2018 diện tích đất phi nông nghiệp là 3.753 ha, chiếm 18,3% diện tích đất tự nhiên của huyện, tăng 824
ha, tương đương tăng 28,1% so với năm 2016 Đây là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế của huyện khi mà nhu cầu đất ở, đất xây dựng hạ tầng (giao thông, nhà làm việc, khu công nghiệp ) ngày càng cao, làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm dần
Trang 39Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình (2018)
b Định hướng quy hoạch sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp của huyện đến năm 2020
Theo Quyết định số 305/QĐ-UBND tỉnh Hòa Bình ngày 25/12/2013 về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, chi tiết tại bảng 3.2 ta có được quy hoạch diện tích đất nông nghiệp như sau:
Quỹ đât cho phát triển nông nghiệp giảm 2.774 ha, giảm 16,6% diện tích so với năm 2018 Như vậy, quỹ đất nông nghiệp hiện tại sẽ tiếp tục bị giảm mạnh trong thời gian tới để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp (đất xây dựng cơ sở
hạ tầng, nhà ở, khu công nghiệp ) để phục vụ phát triển kinh tế của huyện, đây
là những khó khăn, thách thức đối với nông nghiệp của huyện trong kế hoạch phát triển thời gian tới
Trang 4028
c Tình hình sở hữu đất đai sản xuất nông nghiệp của huyện
Theo Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Kỳ Sơn năm (2018), đánh giá tình hình sở hữu đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện cho thấy:
- Với đối tượng đất trồng sản xuất nông nghiệp: mức độ sở hữu đất trồng cây hàng năm của các hộ rất manh mún, bình quân mỗi hộ sở hữu khoảng >10 mảnh ruộng khác nhau Tùy theo từng hộ với số khẩu khác nhau mà các hộ sở hữu đất từ 1 đến 46 mảnh ruộng, với quy mô mỗi mảnh từ 20 m2 đến 2.020 m2.; công ty TNHH An Nhiên Food hiện đang sở hữu và đầu tư trồng rau với quy mô diện tích là 20 ha tại xã Hợp Thành (Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Kỳ Sơn năm, 2018)
- Với đối tượng đất lâm nghiệp, tùy theo từng địa phương và đối tượng sử dụng mà mức độ sử dụng đất có khác nhau: với đối tượng là các hộ dân trên địa bàn huyện, mức độ sở hữu đất lâm nghiệp dao động từ 0,2 ha đến 20 ha, trong đó
có 2 xã Dân Hạ và Độc Lập diện tích đất rừng lớn nên có một số hộ có sở hữu đất lâm nghiệp cũng lớn hơn so với các địa phương khác; với Công ty TNHH 1 thành viên Lâm Nghiệp Hòa Bình hiện đang quản lý và sử dụng 2.207,77 ha đất rừng của cả huyện, chiếm 15,18% đất rừng của cả huyện
3.1.2.2 Nguồn lực về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
a Hệ thống dịch vụ nông, lâm nghiệp
- Hệ thống bảo vệ thực vật: có 1 trạm bảo vệ thực vật và 11 cửa hàng bán thuốc BVTV (Phòng nông nghiệp và PTNT huyện Kỳ Sơn, 2018)
- Hệ thống khuyến nông: có 1 trạm khuyến nông, khuyến lâm huyện và hệ thống khuyến nông, khuyến lâm viên cơ sở 10 cán bộ khuyến nông cấp xã (Phòng nông nghiệp và PTNT huyện Kỳ Sơn, 2018)
b Hệ thống công trình thủy lợi:
Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ tưới và tiêu của huyện đáp ứng cho 1.168 ha diện tích đất trồng cây hàng năm, chiếm 59,7% cơ cấu diện tích cây hàng năm của huyện Cụ thể: trạm bơm có 4 trạm bơm tưới và tiêu kết hợp, đảm bảo tưới cho khoảng 450 ha; có 14 hồ chứa vừa và nhỏ với diện tích tưới thường xuyên là 475 ha; có 72 bai, đập kiên cố phân bố rải rác tại các xã, đảm bảo tưới cho 686 ha đất sản xuất nông nghiệp; hệ thống kênh mương là 97,6 km, trong đó kênh mương đã được kiên cố hóa chiếm 67,2% số kênh mương hiện có (Phòng nông nghiệp và PTNT huyện Kỳ Sơn, 2018)