TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Trương Nhật Anh Tên luận văn: Nghiên cứu giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại cụm làng nghề khai thác và chế biến đá xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 17 tháng11 năm 2017
Tác giả luận văn
Trương Nhật Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới thầy T.S Nguyễn Thế Bình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn sinh thái nông nghiệp, Khoa môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, chuyên viên Chi cục Bảo vệ môi trường, Đoàn mỏ Địa chất Thanh Hóa thuộc Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, phòng TN&MT huyện Yên Định, UBND xã Yên Lâm, huyện Yên Định, các cơ sở sản xuất tại cụm làng nghề đá Yên Lâm, người dân xã Yên Lâm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 17 tháng11 năm 2017
Tác giả luận văn
Trương Nhật Anh
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình và sơ đồ ix
Trích yếu luận văn x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thuyết khoa học 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Yêu cầu nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Khái niệm, thuật ngữ về làng nghề 4
2.2 Phân loại, vai trò của làng nghề 5
2.2.1 Phân loại làng nghề 5
2.2.2 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Việt Nam 7
2.3 Tình hình phát triển làng nghề 9
2.3.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới 9
2.3.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam 10
2.4 Tổng quan về làng nghề khai thác đá 12
2.5 Thực trạng ô nhiễm và công tác quản lý môi trường của làng nghề trên thế giới và Việt Nam 13
2.5.1 Thực trạng ô nhiễm trên thế giới và Việt Nam 13
2.5.2 Công tác quản lý môi trường làng nghề trên thế giới và Việt Nam 17
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
Trang 53.3.1 Điều tra, đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội xã Yên Lâm 29
3.3.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh tại cụm làng nghề đá Yên Lâm 29
3.2.3 Đánh giá thực trạng ô nhiễm tại cụm làng nghề đá Yên Lâm 29
3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của làng nghề đến khu vực dân cư lân cận 29
3.3.5 Công tác quản lý môi trường tại cụm làng nghề đá Yên Lâm 29
3.3.6 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại cụm làng nghề 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: thu thập số liệu tại các phòng ban ở địa phương 29
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 30
3.4.3 Phương pháp kế thừa mẫu 31
3.4.4 Phương pháp phân tích các thông số môi trường 33
3.4.5 Phương pháp so sánh 34
3.4.6 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 34
3.4.7 Phương pháp chuyên gia 35
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36
4.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Yên Lâm 36
4.1.1 Vị trí địa lý 36
4.1.2 Điều kiện tự nhiên 37
4.1.3 Điều kiện kinh tế-xã hội 42
4.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh tại cụm làng nghề đá xã Yên Lâm 45
4.2.1 Tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất trong cụm làng nghề 45
4.2.2 Quy mô sản xuất 47
4.2.3 Quy trình sản xuất và các dụng cụ máy móc phục vụ sản xuất tại làng nghề 50
4.3 Đánh giá thực trạng môi trường tại cụm làng nghề đá Yên Lâm 56
4.3.1 Thực trạng môi trường không khí và tiếng ồn 56
4.3.2 Thực trạng môi trường nước 59
4.3.3 Thực trạng môi trường đất 64
4.4 Đánh giá ảnh hưởng của làng nghề đến sức khỏe công nhân làm việc và khu vực dân cư lân cận 66
4.4.1 Đánh giá sức khỏe công nhân làm việc tại làng nghề 66
Trang 64.4.2 Đánh giá của người dân về chất lượng môi trường tại làng nghề 68
4.4.3 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng khu vực dân cư lân cận 70
4.5 Thực trạng công tác quản lý môi trường tại cụm làng nghề đá xã Yên Lâm 72
4.5.1 Đối với công tác QLMT của cơ quan quản lý Nhà nước 72
4.5.2 Đối với công tác QLMT của các cơ sở khai thác đá tại cụm làng nghề 75
4.6 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại cụm làng nghề khai thác đá xã Yên Lâm 77
4.6.1 Các giải pháp về quản lý môi trường 77
4.6.2 Thực trạng các giải pháp kỹ thuật tại làng nghề 80
4.6.3 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật tại cụm làng nghề 83
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 98
5.1 Kết luận 98
5.2 Kiến nghị 99
Tài liệu tham khảo 100
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CBCNV Cán bộ công nhân viên
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Vị trí lấy mẫu 32
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu khí hậu của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2016 39
Bảng 4.2 Thông tin chung về cụm công nghiệp, làng nghề đang hoạt động trên địa bàn huyện Yên Định 46
Bảng 4.3 Tổng hợp các đơn vị, lao động sản xuất tại làng nghề 46
Bảng 4.4 Thu nhập từ nghề công nhân làm đá chiếm vị trí như thế nào trong thu nhập kinh tế gia đình tại địa phương 47
Bảng 4.5 Nhu cầu sử dụng điện thực tế hàng ngày tại doanh nghiệp 49
Bảng 4.6 Cơ cấu sản phẩm làng nghề đá Yên Lâm 49
Bảng 4.7 Tổng hợp thiết bị cơ bản khai thác, chế biến đá tại làng nghề 55
Bảng 4.8 Kết quả phân tích chất lượng không khí tại khu vực nghiên cứu ( tháng 10/2016) 57
Bảng 4.9 Kết quả phân tích chất lượng không khí tại khu vực nghiên cứu ( tháng 4/2016) 58
Bảng 4.10 Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu ( tháng 10/2016) 59
Bảng 4.11 Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu ( tháng 4/2016) 61
Bảng 4.12 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu (tháng 10/2016) 62
Bảng 4.13 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu ( tháng 4/2017) 63
Bảng 4.14 Kết quả phân tích chất lượng đất tại khu vực nghiên cứu ( tháng 10/2016) 64
Bảng 4.15 Kết quả phân tích chất lượng đất tại khu vực nghiên cứu ( tháng 4/2016) 65
Bảng 4.15 Thống kê các bệnh thường gặp của công nhân khu mỏ 66
Bảng 4.16 Đánh giá lượng bụi phát thải từ khu vực làng nghề theo ý kiến hộ dân 68
Bảng 4.17 Đánh giá tiếng ồn phát thải từ khu vực làng nghề theo ý kiến hộ dân 68
Trang 9Bảng 4.18 Đánh giá nguồn gây tiếng ồn từ khu vực làng nghề theo ý kiến hộ dân 69 Bảng 4.19 Đánh giá nguồn nước ngầm của các hộ dân xung quanh khu vực làng
nghề 69 Bảng 4.20 Thống kê điều tra các bệnh thường gặp của người dân xung quanh 70 Bảng 4.21 Các giải pháp sản xuất sạch hơn cho cụm làng nghề đá Yên Lâm 83
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 7
Hình 3.2 Hình ảnh cụm làng nghề khai thác đá Yên Lâm 28
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ vị trí xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 36
Hình 4.1 Khái quát hệ thống quy trình sản xuất chung tại làng nghề 50
Hình 4.2 Quy trình công nghệ sản xuất đá ốp lát 51
Hình 4.3 Sơ đồ công nghệ trạm nghiền sàng chế biến đá 53
Hình 4.4 Sơ đồ hệ thống tổ chức QLMT làng nghề đá xã Yên Lâm 72
Hình 4.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý BVMT cấp xã 77
Hình 4.6 Máy cắt đá trước và sau khi lắp thêm hệ thống hút bụi 84
Hình 4.7 Sơ đồ hệ thống phun ẩm hàm nghiền 85
Hình 4.8 Khung bao che hệ thống nghiền sáng 87
Hình 4.9 Xe tưới đường chuyên dụng 88
Hình 4.10 Sơ đồ phân dòng xử lý nước thải 88
Hình 4.11 Sơ đồ hệ thống thu gom xử lý và cấp nước cho quá trình xẻ đá 89
Hình 4.12 Cấu tạo bể tách dầu mỡ 90
Hình:4.13 Cấu tạo bể tự hoại 3 ngăn 92
Hình 4.14 Sơ đồ hệ thống thoát nước mưa 94
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trương Nhật Anh
Tên luận văn: Nghiên cứu giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại cụm làng nghề khai thác và chế biến đá xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Ngành: Khoa học môi trường Mã Số: 8 44 03 01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng ô nhiễm và công tác quản lý môi trường tại cụm làng nghề đá Yên Lâm và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường hướng tới sự phát triển bền vững
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu tại các phòng ban ở địa phương
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp kế thừa mẫu
- Phương pháp phân tích các thông số môi trường
Môi trường cụm làng nghề đá Yên Lâm đã bị ô nhiễm:
- Ô nhiễm không khí: bụi và độ ồn
- Chất thải rắn từ hoạt động sản xuất chủ yếu là bột đá chưa được thu gom gây ô nhiễm môi trường
Tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân lân cận bệnh chủ yếu là bệnh ngoài da, bệnh hô hấp
Công tác quản lý môi trường ở cụm làng nghề Yên Lâm còn nhiều hạn chế
Trang 12Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cụm làng nghề đá Yên Lâm trong
đó có các giải pháp về quản lý ( đối với cơ quan quản lý Nhà nước, đối với các cơ sở sản xuất tại cụm làng nghề)
Giải pháp về kỹ thuật, các giải pháp giảm thiểu bụi và tiếng ồn, sử dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn thay đổi công nghệ sản xuất, máy móc các giải pháp về chất thải trong đó có sử dụng bột đá thải làm gạch không nung, các giải pháp về nước thải trong đó có hệ thống xử lý nước bột đá thải, hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Truong Nhat Anh
Thesis title: Research on solutions to minimize environmental pollution in the clusters
of stone exploitation and processing villages of Yen Lam commune, Yen Dinh district, Thanh Hoa province
Major: Environmental science Code: 8 44 03 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
The topic is to study the pollution situation and environmental management in Yen Lam stone village clusters and propose management solutions to minimize environmental pollution towards sustainable development
Research Methods
Secondary data collection method: data collection at local departments
- Primary data collection method: questionnaire survey method
- Method of inheriting the sample
- Methods of analysis of environmental parameters
- Comparative method
- Methods of data synthesis and processing
- Professional solution
Main results and conclusions
Yen Lam stone handicraft village exploits and manufactures construction stone and facing stone Production activities of the village have polluted the environment
The environment of Yen Lam clusters has been polluted:
- Air pollution: dust and noise
- Solid waste from production activities is mainly uncollected stone powder which pollutes the environment
The environmental pollution seriously affects the health of neighboring diseases mainly skin diseases, respiratory disease
Environmental management in Yen Lam village clusters is still limited
Measures to minimize environmental pollution in Yen Lam stone village include management solutions (for State management agencies and production units in craft village clusters)
Trang 14Technical solutions, dust and noise reduction solutions, use of cleaner production methods, change of production technology, machinery waste solutions in which the use of The waste rock powder to make the bricks are not baked, the solutions for waste water including waste water treatment system stone waste, domestic waste water treatment system
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta Phát triển làng nghề là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế,
ổn định tình hình chính trị, xã hội Việc khôi phục và phát triển các nghề, làng nghề đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, huy động và khai thác tiềm năng về lao động, nguồn vốn trong nhân dân để phát triển sản xuất - kinh doanh, tạo ra nhiều việc làm, xoá đói - giảm nghèo, tác động đến việc phân công lại lao động xã hội, nâng cao thu nhập
và đời sống người dân
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 31/12/2014 số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096 làng nghề Số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 làng nghề, riêng tỉnh Thanh Hóa có 243 làng nghề, trong đó có 127 làng nghề truyền thống, làng nghề mới là 116 làng nghề Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề hiện nay là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể Song, đối với không
ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng
Cụm làng nghề khai thác và chế biến đá tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa được hình thành từ năm 2007 Trong những năm gần đây
do nhu cầu khai thác đá để phục vụ trong hoạt động xây dựng, số lượng các doanh nghiệp, hộ gia đình cá nhân đăng ký kinh doanh tại làng nghề đã tăng lên, đến nay tổng số các cơ sở hoạt động sản xuất tại làng nghề là 72 cơ sở Chính vì vậy mà vấn đề ô nhiễm môi trường tại khu vực này ngày càng trầm trọng, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa hoàn thiện các hệ thống xử lý chất thải, xử lý bột đá
Trang 16sau chế biến, dẫn đến bột đá chảy tràn lan gây ô nhiễm môi trường , ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt, sản xuất của công nhân và người dân quanh khu vực, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm, bên cạnh đó là ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn từ tiếng máy cưa, máy cắt, khoan, cần cẩu, xe cộ,… hoạt động tại làng nghề Các giải pháp đã áp dụng cho cụm làng nghề đá Yên Lâm chưa giúp cải thiện được tình hình do lượng thải ngày càng lớn
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại cụm làng nghề khai thác và chế biến đá xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa” là hết sức cần thiết nhằm phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường làng nghề một cách bền vững
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Tình hình môi trường tại làng nghề khai thác và sản xuất đá trong những năm gần đây có đang bị ô nhiễm trầm trọng
Khu vực dân cư xung quanh gần cụm làng nghề đá chịu những tác động trực tiếp từ hoạt động khai thác và sản xuất đá ảnh hưởng tới môi trường
và sức khỏe
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Điều tra, Đánh giá thực trạng môi trường không khí, nước, tiếng ồn do hoạt động khai thác và sản xuất chế biến đá tại cụm làng nghề đá Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
-Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện môi trường của cụm làng nghề đá Yên Lâm, hướng tới sự phát triển bền vững
1.4 YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá được thực trạng sản xuất kinh doanh của cụm làng nghề
- Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của cụm làng nghề đến môi trường không khí, nước, tiếng ồn
- Đánh giá ảnh hưởng của làng nghề đến khu vực dân cư lân cận
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý môi trường tại cụm làng nghề
đá xã Yên Lâm
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý nhằm cải thiện môi trường cụm công nghiệp làng nghề; các đề xuất có tính thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu
Trang 171.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Không gian: xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
-Thời gian: Tháng 5/2016 – Tháng 5/ 2017
1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học
về thực trạng sản xuất, ô nhiễm và công tác quản lý môi trường, đánh giá ảnh hưởng tới dân cư khu vực lân cận tại cụm làng nghề đá Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Các kết quả nghiên cứu sẽ là một trong những cơ sở cho địa phương tiếp tục đưa ra các chính sách về quản lý tài nguyên môi trường, giải pháp môi trường cho làng nghề để hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ VỀ LÀNG NGHỀ
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn
để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: Các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện
Có thể hiểu Làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng (Đặng Kim Chi, 2007)
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng
và do người trong làng tham gia
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau: (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
Trang 19- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước
2.2 PHÂN LOẠI, VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ
2.2.1 Phân loại làng nghề
Tùy theo mục đích nghiên cứu ta có thể phân loại làng nghề theo một số kiểu dạng khác nhau Có hai cách phân loại làng nghề được biết đến rộng rãi nhất
a Phân loại làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Cách phân loại này cho thấy đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho các vùng văn hóa lãnh thổ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
* Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm đặc điểm đặc thù riêng biệt, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề- cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng họ
Cụ thể theo Nghị định 66/NĐ-CP của chính phủ tiêu chí công nhận nghề truyền thống gồm:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc
- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của nghề
Các làng nghề truyền thống không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước, nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với thế hệ đi trước và thế hệ trẻ sau Bởi vậy, chúng ta gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam (Bộ TN&MT, 2008)
Trang 20- Việc học tập kinh nghiệm các làng nghề lân cân, của vài hộ nhạy bén đối với thị trường và có điều kiện đầu tư cho sản xuất
- Tự hình thành do nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có
Để nhận biết được làng nghề và làng nghề mới năm 1954 tạp được lấy làm gốc Các làng nghề hình thành sau thời điểm này được coi là các làng nghề mới Làng nghề mới là làng có nghề mới phát triển trong khoảng thời gian từ năm 1954 trở lại đây nhưng chiếm ưu thế so với nghề nông: làng cây cảnh, làng nghề cá cảnh
Các làng nghề mới chiếm phần lớn trong tổng số làng nghề ở nước ta Chủ yếu các làng nghề mới được hình thành do nhu cầu mới của thị trường, do sự lan tỏa từ các làng nghề khác lân cận hay hình thành từ việc tổ chức các quan hệ gia công cho các xí nghiệp lớn, cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu
Bên cạnh các làng nghề truyền thống, làng nghề mới thì có cả làng nghề khác “ Khác” ở đây chính là nhưng làng nghề truyền thống sản xuất những làng nghề thủ công đậm đà bản sắc dân tộc nhưng sau này làng nghề đã chuyển đổi sản xuất những sản phẩm và công nghệ truyền thống, với kiểu làng nghề này thì điển hình nhất là làng nghề Đồng Kỵ, trước đây làng nghề sản xuất pháo sau khi Nhà nước cấm sản xuất, đốt pháo, làng nghề đã chuyển sang nghề mới làng nghề
đã gây được tiếng vang và trở thành làng nghề có thương hiệu lớn (Đặng Kim Chi, 2007)
b Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm
Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu chí khác nhau có thể phân loại theo một số dạng sau:
-Theo ngành nghề sản xuất, loại hình sản xuất
-Theo quy mô sản xuất, quy trình công nghê
-Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
-Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu
Khi quan tâm tới vấn đề môi trường làng nghề, tiếp cận cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp nhất Thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất, nguồn và dạng chất thải khác nhau vì vậy
Trang 21có những tác động khác nhau đối với môi trường Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2008 – Môi trường làng nghề Việt Nam, chia thành 6 nhóm ngành chính:
+Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ + Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da
+Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá
Hình 2.1 Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008)
A: vật liệu xây dựng và khai thác đá D: công nghệ thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ
2.2.2 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta, làng nghề được coi là một bộ phận hợp thành trong
cơ cấu kinh tế nông thôn Sự phát triển của làng nghề có tác động nhiều mặt đến
sự phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn Vai trò của nó được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Trang 222.2.2.1 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn
Làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông thôn Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống là chiến lược hàng đầu của các làng nghề, tuy còn thấp so với nhiều ngành công nghiệp lớn nhưng có những đóng góp quan trọng đối với đời sống của hộ gia đình và lao động ở các làng nghề Nhờ làng nghề mà nhiều hộ gia đình và lao động ở làng nghề có việc làm và thu nhập để ổn định đời sống
Làng nghề cũng góp phần thay đổi cơ cấu thu nhập ở nông thôn Nhiều
hộ gia đình ở làng nghề sống và có thu nhập chính từ sản xuất phi nông nghiệp Làng nghề còn thay đổi cơ cấu sản xuất hàng hóa của địa phương theo hướng tăng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổng kết: “ Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn của nhiều địa phương đã tăng lên
rõ rệt đạt trên 20%/năm
Như vậy làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở nông thôn Làng nghề làm thay đổi cơ cấu sản xuất, lao động, việc làm, giá trị sản xuất và thu nhập của dân cư theo hướng tăng dần tỷ trọng sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chuyển bớt lao động từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn
2.2.2.2 Tạo việc làm cho người lao động, giảm thiểu thời gian nông nhàn và xóa đói giảm nghèo
Làng nghề đóng góp tích cực về tạo việc làm ở nhiều địa phương Vì đặc điểm chủ yếu của làng nghề là sản xuất thủ công và sử dụng nhiều sức lao động
Số lượng lao động của các cơ sở sản xuất rất đa dạng, tùy theo quy mô của cơ sở sản xuất và ngành nghề của làng nghề
Các làng nghề còn góp phần cải thiện đời sống của dân cư ở làng nghề, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông thôn và xây dựng nông thôn mới Kinh nghiệm cho thấy mức sống của dân cư ở làng nghề thường cao hơn dân cư ở làng thuần nông Nhiều hộ gia đình ở làng nghề có nhà cửa khang trang, mua sắm các vật dụng gia đình đầy đủ và tiện nghi hơn các hộ gia đình ở các làng thuần nông
Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có nghề phi nông nghiệp phát triển là 3,7%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên cả nước là 10,4% Hệ thống cơ sở hạ
Trang 23tầng gồm đường xá, điện, nước và cầu cống ở các làng nghề được đầu tư kiên cố
và hiện đại hơn so với làng thuần nông
2.2.2.3 Bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương và phát triển du lịch
Lịch sử phát triển làng nghề luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam Làng nghề không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa mà còn là môi trường phát triển văn hóa, kinh tế và xã hội, đồng thời là chiếc nôi của công nghệ truyền thống Những nét văn hóa này từ lâu không thể thiếu và làm phong phú văn hóa của Việt Nam
Làng nghề gắn với các giá trị văn hóa và lịch sử của các địa phương nên
có thể phát triển du lịch làng nghề để thu hút khách du lịch Du khách muốn đến làng nghề tham quan phong cảnh, nếp sống sinh hoạt và công nghệ sản xuất truyền thống của làng nghề Nhiều du khách cũng muốn đến làng nghề quan sát những thao tác khéo léo của các nghệ nhân và được tận tay làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Du khách còn muốn đến làng nghề mua sắm sản phẩm làng nghề làm quà lưu niệm Kết quả khảo sát khách du lịch quốc tế cho thấy 49% khách đã đến thăm làng nghề và 67% khách mua quà lưu niệm ở Việt Nam
Làng nghề có quan hệ với ngành du lịch ở nhiều mặt và có triển vọng
du lịch rất lớn Làng nghề làm đa dạng sản phẩm và tăng nguồn thu của ngành
du lịch Vì vậy phát triển làng nghề có ý nghĩa tích cực để bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống Mặt khác, nếu được quan tâm đầu tư, làng nghề còn góp phần phát triển du lịch của nhiều địa phương của Việt Nam
2.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
2.3.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới
Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International – Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan
Trang 242001 Nhiều làng nghề bị mai một được khôi phục, có 200 nghề mới được tạo dựng Phong trào cũng hấp dẫn nhiều nước học tập như Thượng Hải (Trung Quốc), Đông Java (Indonesia), Los Angeles (Mỹ) Chính phủ cho thành lập hệ thống bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng để hỗ trợ các làng nghề truyền thống vay vốn không cần tài sản thế chấp Các doanh nghiệp của làng nghề có thể vay vốn
để sản xuất kinh doanh hay mua sắm thiết bị mới trong kỳ hạn 3 đến 5 năm với lãi suất trung bình là 9,3%/năm
*Trung Quốc:
Năm 1978, Trung Quốc cũng bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông thôn Do đó, nghề thủ công và làng nghề thủ công truyền thống được quan tâm phát triển thông qua các xí nghiệp hương trấn Xí nghiệp hương trấn là tên gọi của các xí nghiệp công nghiệp, thương nghiệp và xây dựng hoạt động ở nông thôn Xí nghiệp hương trấn thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” thu hút hơn
100 triệu lao động nông nghiệp chuyển sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ tại các xưởng sản xuất ở ngay làng xã với nhiều hình thức như: cá thể,
tư nhân, hợp tác xã Năm 1996 có khoảng 130.000 trong số 23,6 triệu xí nghiệp nông thôn tham gia xuất khẩu Trong đó, riêng mặt hàng thảm đã chiếm 75% số lượng thảm ở thị trường Nhật
2.3.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam
Một số tài liệu nghiên cứu liên quan đến phát triển làng nghề Việt Nam phải kể đến như “ Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” ( Bùi Văn Vượng
1998 ) Tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, chạm khắc đá, dệt, thêu ren, tranh dân gian, dệt
Trang 25chiếu, quạt giấy, mây che đan, ngọc trai, làm trống.Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch
sử, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam
“Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” (Dương Bá Phượng, 2001) đã đề cập những vấn đề chung về làng nghề, vai trò tác động và những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề Đồng thời,
đi sâu phân tích thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề về lao động, vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ của sản phẩm và môi trường trong các làng nghề Các quan điểm và phương hướng bảo tồn, phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐH nông thôn mang tính khả thi cao và sát thực với thực tế
“ Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam” ( Trương Minh Hằng, 2012) gồm có 6 tập với nghiên cứu chuyên sâu về quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống như: nghề chế tác đá; nghề chế tác kim loại; nghề chế tác gỗ; nghề đan lát; nghề sơn; nghề gốm; nghề dệt, thêu; nghề làm giấy, làm đồ mã; nghề làm tranh dân gian; các nghề khác
Ngoài ra, còn có một số công trình như:
“Xu hướng phát triển làng nghề ở khu vực đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Thị Ngân (2009) đã chỉ ra vai trò của các làng nghề và bốn xu hướng:
Xu hướng kết hợp yếu tố truyền thống với hiện đại, xu hướng phát triển gắn cụm công nghiệp nông thôn, xu hướng khôi phục nghề truyền thống gắn với phát triển nghề mới và đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh
“Một số giải pháp phát triển bền vững làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước” của Lê Đức Viên, Võ Thị Phương Ly (2010) đã nêu sơ lược quá trình hình thành của làng nghề; vài nét về thực trạng trong đó có phân tích kết quả sản xuất kinh doanh, lao động và thu nhập, nguồn nguyên liệu, sản phẩm, thị trường tiêu thụ, những chính sách hỗ trợ của nhà nước và phân tích hạn chế và nguyên nhân; cuối cùng khuyến nghị một số giải pháp phát triển mang tính đột phá
Theo số liệu của Bộ NN&PTNT tình đến 31/12/2016 cả nước có 1864/5411 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận Làng nghề hiện nay được phân bố không đồng đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc, có đến 60% các làng nghềtập trung khu vực phía Bắc như: Hà Nội, Bắc
Trang 26Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định… Miền trung chiếm khoảng 23,6% tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và miền Nam chiếm khoảng 16,4%, tập trung chủ yếu ở các thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Nai, Bình Dương
2.4 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ KHAI THÁC ĐÁ
Thời kỳ đồ đá đã lùi xa vào quá khứ nhường chỗ cho thời kỳ đồ điện tử, thế nhưng ngày nay trong mỗi gia đình người dân đất Việt vẫn còn không ít những vật dụng bằng đá tồn tại song hành cùng thời gian Từ xa xưa, nghề khai thác và chế tác các sản phẩm dân dụng, mỹ nghệ từ đá đã phát triển khá mạnh, ban đầu cũng chỉ sản xuất những mặt hàng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày như chày, cối đá, bia mộ, Nhưng càng về sau nghề này càng phát triển, kỹ nghệ chế tác càng điêu luyện tinh xảo hơn mới phát triển sang chế tác mỹ nghệ, điêu khắc, tạc tượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Sản phẩm của làng đá hiện nay hết sức đa dạng phong phú về đề tài, chủng loại kích cỡ, từ những vật dụng hàng ngày như cốc, chén, ấm trà bằng đá…đến các tượng lân, rồng, sấu đá,… cho các chùa, rồi đến những tượng nhân
sư, thần Vệ Nữ, danh nhân đất Việt, danh nhân thế giới, Phật Di Lặc, Phật bà Quan Âm, Sư tử, Hổ, Báo, Đại bàng Có tượng chỉ bằng ngón tay, có tượng to bằng người thật hết sức tinh xảo sinh động Sản phẩm của các làng đá không chỉ
có đá xây dựng ốp lát, xây tường, móng kè… và những vật dụng đơn giản mà còn có đá mỹ nghệ với những sản phẩm tinh xảo như: voi đá, ngựa đá, tòa sen, tượng phật, chân cột đình, bia văn tự, đỉnh lư hương, tháp nhang sân chùa, nhịp cầu bằng đá,… được lưu dấu ấn ở các công trình văn hoá, lịch sử như chùa Báo
Ân, điện Lam Kinh, thành nhà Hồ, Kinh thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc
Tử Giám, chùa Diên Hựu, nhà thờ đá Phát Diệm,… mà còn xâm nhập vào nhiều thị trường lớn như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, Đài Loan (Trung Quốc), Châu Âu nên chất lượng, mẫu mã, độ tinh xảo ngày càng được nâng cao hơn rất nhiều và được nhân dân các nước ưa chuộng, tin dùng
Ngoài những làng nghề chế tác đá nổi tiếng từ thời xa xưa như làng nghề Ninh Vân (Hoa Lư, Ninh Bình), làng nghề Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng), làng nghề Đông Sơn (Thanh Hoá),…hiện nay với sự phát triển của kinh
tế thị trường và chủ trương phát triển làng nghề của nhà nước, với sự kế thừa những tinh hoa của các làng nghề truyền thống kết hợp với công nghệ hiện đại,
Trang 27các làng nghề chế tác đá mới cũng đã xuất hiện trên khắp mọi miền của đất nước như: làng đá Long Châu (Chương Mỹ, Hà Nội), Đại Lộc (Quảng Nam), Suối Giàng (Văn Chấn, Yên Bái), Hải Lựu (Sông Lô, Vĩnh Phúc),…cũng như nhiều công ty đá mỹ nghệ khác: công ty TNHH đá mỹ nghệ Thái Bình, Công ty TNHH xây dựng Đồng Tiến (thị xã Quảng Trị), Công ty TNHH Thái Thùy Linh (Chương Mỹ, Hà Nội),…
Nghề đá phát triển, thu nhập bình quân của người dân làm nghề tạc đá ngày càng ổn định và khấm khá hơn
Tuy nhiên, để trở thành một làng nghề có quy mô lớn, phát triển theo hướng bền vững và đủ sức vươn ra thị trường trong và ngoài nước, nghề đá cần
có sự hỗ trợ nhiều mặt từ chính quyền địa phương và các ngành chức năng ở tỉnh
và huyện Trong đó, các giải pháp về quy hoạch, thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, cải tiến mẫu mã, công nghệ, môi trường, an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp,…là những yếu tố cần xem xét và thực thi một cách đồng bộ với những bước đi thích hợp Được như vậy, nghề khai thác và sản xuất các sản phẩm từ đá sẽ góp phần đắc lực vào công tác giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn ở địa phương (Tổng cục môi trường, 2012) 2.5 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CỦA LÀNG NGHỀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.5.1 Thực trạng ô nhiễm trên thế giới và Việt Nam
2.5.1.1 Trên thế giới
Năm 1964, Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới (World crafts council International) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống
“The costs of soil erosion on Java” (Chi phí do tác động của xói mòn đất
ở Java) của William và ( 1989) chỉ ra rằng ONMT do hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề ở nông thôn đã gây thiệt hại khoảng 411,2 triệu đô la Mỹ/năm, tương đương 4% GDP ngành nông nghiệp của Java, In-đô-nê-xi-a (315 triệu đô la Mỹ đối với vùng sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp và 96,2 triệu đô la Mỹ đối với các vùng sản xuất nông nghiệp lân cận) và khuyến cáo cần
có giải pháp chia sẻ lợi ích giữa hộ làm nghề và hộ bị ảnh hưởng bởi chất thải phát sinh từ làng nghề và các khu vực phụ cận làng nghề
Trang 28“Conservation or conversion of mangrove in Fiji: an ecological economic analysis” (Bảo tồn hay chuyển đổi rừng ngập mặn ở Fiji: phân tích kinh tế sinh thái) của Lal (1990) đã chỉ ra rằng ONMT do các hoạt động sản xuất ngành nghề nông thôn gây thiệt hại kinh tế nuôi trồng thủy sản tại chỗ là 9 đô la Mỹ/ha nhưng lại gây thiệt hại 150 đô la Mỹ/ha cho hoạt động thủy sản ở các vùng phụ cận ở đảo Fiji
“An assessment of paper mill wastewater impacts and treatment options
in Vientiane Capital City, Lao" (Đánh giá tác động của nước thải nhà máy giấy
và các giải pháp xử lý ở thủ đô Viêng Chăn, Lào) của Kaisorn và Phousavanh (2009) đã chỉ ra rằng chi phí phòng ngừa rủi ro do ONMT ở các làng nghề chế biến bột giấy tại Viêng Chăn, Lào là từ 60 đến 90 USD/kilogam độc chất ô nhiễm BOD
“Marginal Opportunity Cost Pricing for Wastewater Disposal: A case study of Wuxi, China" (Chi phí cơ hội ngoài lề để xử lý nước thải: nghiên cứu trường hợp của Vô Tích, Trung Quốc) của Fan (2011) tại hội nghị các báo cáo khoa học của tổ chức EEPSEA đã ước tính tổng lượng nước tiêu tốn cho hoạt động sản xuất làng nghề và tiểu thủ công nghiệp là khoảng 59,04 ngàn km3 nước/ngày và thải ra môi trường khoảng 34,09 km3 nước thải/ngày, gây thiệt hại kinh tế cho Trung Quốc khoảng 27,7 triệu đô la/ngày, tương đương 8,8 tỷ đô la/năm
2.5.1.2 Tại Việt Nam
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “Môi trường làng nghề Việt Nam”, Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6%
từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ” (Bộ TN&MT, 2008)
“Phát triển làng nghề và vấn đề bảo vệ môi trường trước hết là nước
Trang 29sạch” của Ngô Thái Hà (2009) đã chỉ rõ vai trò ích lợi của sự phát triển làng nghề; vấn đề kiểm soát và xử lý rác thải môi trường hiện nay ở các làng nghề; chỉ
ra các nguyên nhân gây ô nhiễm trong làng nghề và đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình ONMT ở các làng nghề như: tập trung các làng nghề theo hướng chuyên môn hóa để xử lý ô nhiễm; đề cao vai trò giám sát của chính quyền cơ sở
và Nhà nước và giải pháp quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề
“Làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững” của Chu Thái Thành (2009) đã chỉ ra những thách thức trong sự phát triển làng nghề hiện nay đó là hiện trạng ONMT gây ra bởi các hoạt động sản xuất làng nghề Để giải quyết hậu quả ô nhiễm, tác giả đề xuất giải pháp: chú trọng chính sách PTBV làng nghề; quy hoạch không gian làng nghề; tăng cường quản
lý môi trường tại các làng nghề; phát hiện và xử lý làng nghề gây ô nhiễm; tổ chức thí điểm triển khai áp dụng sản xuất sạch tại các làng nghề
“Nghiên cứu phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi” của Hồ Kỳ Minh (2011) đã chỉ ra rằng nguồn nước, không khí tại 10 làng nghề tỉnh Quảng Ngãi được khảo sát đang bị ô nhiễm và mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng Tác giả
đã đưa ra một số giải pháp khắc phục và cải thiện tình trạng ONMT tại các làng nghề nơi đây như: tăng cường công tác tuyên truyền Luật BVMT và các văn bản chỉ đạo của các cơ quan ban ngành nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm cộng đồng về công tác BVMT, tuân thủ việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết BVMT tùy theo quy mô sản xuất; tuân thủ quy trình xử lý khí thải, nước thải và thu gom rác thải, chất rắn trong làng nghề; đưa các quy định cụ thể về môi trường vào hương ước, chỉ tiêu xây dựng Làng văn hoá để mọi người thực hiện Đối với cơ quan quản lý MTLN: thực hiện quy hoạch và xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề; giám sát chất lượng môi trường, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện Luật BVMT, các quy định về môi trường; có chính sách hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động di dời và các dự án cải tạo, xử lý ONMT ở các làng nghề,…
“Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững" của Nguyễn Thị Ngọc Lanh (2013), đã tiến hành đánh giá tác động của hoạt động sản xuất làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến môi trường và kết quả cho thấy các hoạt động sản xuất làng nghề ở đây đã gây ra ONMT đất, nước, không khí, môi trường sinh thái- cảnh quan Tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản lý, sử dụng đất đai tại các
Trang 30làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm PTBV, trong đó có nhóm giải pháp về BVMT làng nghề: quy hoạch lại không gian làng nghề; bố trí, sắp xếp lại đất đai trong làng nghề, bố trí đất để xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải, xử lý, chôn lấp rác thải; quan tâm đến môi trường lao động, cải tiến công nghệ sản xuất, tuyên truyền phổ biến pháp luật về môi trường và chính sách kèm theo; quản lý môi trường thông qua hương ước làng xã
“Hiện trạng và các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của Tạ Hoàng Tùng Bắc, Phạm Phương Hạnh ( 2014) đã chỉ ra rằng hầu hết các làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đều chưa có biện pháp thu gom, xử lý khí thải tập trung, chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nước thải chưa được thu gom xử lý hoặc chưa qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường; chất thải rắn phát sinh từ quá trình sản xuất chưa được xử
lý hoặc xử lý không triệt để,… đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề ONMT nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe của người dân trong các làng nghề, cụ thể theo kết quả điều tra của Chi cục BVMT Thanh Hóa năm 2013 cho thấy, tất cả các làng nghề được điều tra (22% số làng nghề) chưa có biện pháp thu gom, xử lý khí thải tập trung Tỷ lệ các cơ sở hoạt động trong các làng nghề xây dựng hệ thống xử lý khí thải rất thấp; việc vận hành chưa đạt hiệu quả Qua kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh tại 9 làng nghề (lựa chọn) so sánh với QCVN 05:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCKTQG) về chất lượng không khí xung quanh; QCVN 06:2009/BTNMT - QCKTQG về một số chất độc hại trong không khí xung quanh; QCVN 26:2010/BTNMT/BTNMT: QCKTQG về tiếng ồn cho thấy: 7/9 làng nghề được lấy mẫu phân tích đều có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi các chỉ tiêu như bụi, SO2, H2S… Cụ thể: Làng nghề vôi đá Đông Tân, Đông Hưng, huyện Đông Sơn, nồng độ bụi tại Trung tâm sản xuất của làng vượt QCVN 1,82 lần; tại khu dân cư Ngã Ba Nhồi, xã Đông Tân vượt 1,29 lần Làng nghề chế biến hải sản tại xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, nồng độ NH3 tại khu vực trung tâm làng nghề vượt QCVN 1,08 lần Làng nghề cơ khí Tiến Lộc, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, tại khu vực trung tâm của làng nghề, nồng độ bụi vượt 1,21 lần; SO2 vượt 1,2 lần; Khu vực cổng của làng nghề, nồng độ bụi vượt 1,16 lần
Hầu hết, các làng nghề chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; các cơ sở, doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải chiếm tỷ lệ rất thấp; nước thải chưa được thu gom xử lý hoặc chưa qua xử lý thải trực tiếp ra
Trang 31môi trường gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm khu vực xung quanh Điển hình, làng nghề ươm tơ, dệt nhiễu Hồng Đô, xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, hiện có
40 hộ trong làng làm nghề ươm tơ, dệt nhiễu Lượng nước thải phát sinh từ quá trình ươm tơ khoảng 10 m3/ngày đêm/hộ gia đình Loại nước thải này có độ màu cao, nhưng không được xử lý, thải trực tiếp ra môi trường Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước thải, nước mặt và nước ngầm khu vực xung quanh của 9 làng nghề (đại diện) vào tháng 11/2013 cho các loại hình sản xuất khác nhau so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT, cột B1; QCVN 09:2008/BTNMT; QCVN 40:2011/BTNM; QCVN 11:2008/BTNMT; QCVN 14:2008/BTNMT, cho thấy còn nhiều làng nghề đang bị ô nhiễm bởi các chỉ tiêu: TSS, COD, BOD; NH4+, Coliform
Tại các làng nghề, chất thải rắn sản xuất phát sinh từ quá trình sản xuất, kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp chưa được xử lý hoặc xử lý không triệt để
đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe của người dân trong làng nghề Điển hình là làng nghề chế biến và khai thác đá Đông Tân, Đông Vinh, TP Thanh Hóa;
xã Yên Lâm, huyện Yên Định; xã Hà Phong, huyện Hà Trung… bột đá phát sinh
từ quá trình sản xuất chưa được xử lý, hiện đang chất đống trong khuôn viên từng
cơ sở trong làng nghề Theo số liệu thống kê của Chi cục BVMT Thanh Hóa năm
2013, tại 37/169 làng nghề được điều tra, tổng lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 37,5 tấn/ngày Tỷ lệ thu gom, xử lý đạt khoảng 60%, khoảng 30% đưa đến nơi quy định của địa phương và 10% thải ra môi trường
“Đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất tại làng nghề chế biến nông sản vùng đồng bằng sông Hồng" của Trần Văn Thể (2015), đã phân tích các đặc điểm sản xuất ở làng nghề chế biến nông sản làm phát sinh chất thải, từ đó lựa chọn các phương pháp phù hợp để đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải phát sinh tại các làng nghề này Trên cơ sở rà soát những vướng mắc, bất cập về công tác quản lý kết hợp với hiện trạng về ONMT và thiệt hại kinh tế, luận án đã đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, thực tiễn để quản
lý làng nghề theo hướng giảm thiểu thiệt hại kinh tế hướng tới PTBV và BVMT làng nghề
2.5.2 Công tác quản lý môi trường làng nghề trên thế giới và Việt Nam 2.5.2.1 Trên thế giới
Thực tế cho thấy, những quốc gia mà nhận thức được vai trò to lớn của
Trang 32hoạt động kiểm soát ONMT đối với sự PTBV của đất nước và con người họ và hiểu rõ những tác động của hoạt động BVMT làng nghề đối với hiệu quả cải thiện môi trường, đảm bảo an sinh xã hội cũng như phát triển kinh tế thì việc quản lý môi trường làng nghề, thực hiện pháp luật về BVMT làng nghề ở những quốc gia đó đã ở mức cao, điển hình như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ hay một số nước Châu Âu…
a Thực hiện pháp luật BVMT làng nghề của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, các làng nghề được ra đời cách đây hàng trăm năm, thường ở các vùng ngoại ô thành phố hoặc ở các vùng nông thôn Tuy có quy mô nhỏ, từ
23 đến 30 lao động, nhiều nơi có số lượng còn ít hơn 10 người, nhưng bất kì ai trong số họ đều có tay nghề rất cao Việc THPL về BVMT làng nghề trong thời
kỳ đầu, khi đất nước đang trong quá trình phát triển kinh tế, còn nhiều bất cập: các cơ sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống Nhật Bản rất ít quan tâm đến việc BVMT làng nghề, đến việc quản lý và sử dụng chất thải trong quá trình sản xuất Do vậy, hậu quả là môi trường ở các làng nghề Nhật Bản thời kỳ này bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân Trước hiện trạng đó, năm 1967, Luật cơ bản về BVMT đã được ban hành, quy định về kế hoạch kiểm soát ONMT, đặc biệt đưa ra các tiêu chuẩn môi trường và hệ thống kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm Đến năm 1974, Nghị viện Nhật Bản đã ban hành luật Phát triển nghề thủ công truyền thống, trong đó có quy định một số vấn
đề về BVMT trong các làng nghề Kết quả là các làng nghề thủ công Nhật Bản
có những bước phát triển mới mẻ cũng như sự chuyển biến tích cực trong việc cải thiện chất lượng môi trường tại các làng nghề Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản còn ban hành một bộ tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng sản phẩm của các làng nghề trong đó phân loại chất lượng sản phẩm thành 5 cấp, từ 1 sao đến 5 sao dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá, trong đó nổi bật nhất là các quy định về kiểm soát ONMT, sử dụng chất liệu thân thiện với môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Nếu các sản phẩm không thân thiện với môi trường, hoặc việc sản xuất ra nó gây ONMT, các làng nghề phải nộp một khoản phí môi trường Vì vậy, các làng nghề đã đầu tư vào việc xử lý chất thải và công nghệ sản xuất sạch,… để thay cho việc nộp phí môi trường Hơn nữa, việc quy định các làng nghề sẽ được nhận hỗ trợ từ phía chính phủ nếu đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép cũng góp phần nâng cao hiệu quả THPL về BVMT ở làng nghề Nhật Bản Pháp luật quy định chính phủ chỉ hỗ trợ cho các sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, cấp 5 sao được hỗ trợ nhiều nhất, cũng chính vì vậy các cơ sở sản xuất, kinh
Trang 33doanh ở làng nghề Nhật Bản luôn tự phấn đấu để có các sản phẩm chất lượng cao đồng thời đảm bảo thân thiện với môi trường
b Thực hiện pháp luật BVMT làng nghề của Trung Quốc
Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của Trung Quốc đã ban hành các văn bản QPPL quy định khá cụ thể việc THPL về BVMT, trong đó Luật BVMT năm 1979 (sửa đổi năm 1989) được coi là “luật khung” khi chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản và khái quát Còn việc bảo vệ, quản lý các thành phần quan trọng của môi trường như nước, không khí, quản lý chất thải rắn
và tiếng ồn được quy định trong các đạo luật riêng, đó là: Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước sửa đổi 1996 được kết cấu và điều chỉnh theo hướng phân loại thành phần môi trường nước như nước mặt, nước ngầm; Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn sửa đổi 2004 được kết cấu và điều chỉnh theo hai tiêu chí gồm mức độ nguy hại của chất thải và nguồn phát thải; Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí (ONKK) (1995, sửa đổi 2000) được kết cấu và điều chỉnh theo nguồn gây ô nhiễm (như ONKK gây ra bởi hoạt động đốt than, bởi các phương tiện giao thông và chất thải khí, bụi, mùi…); Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn (1996) [9] được kết cấu và điều chỉnh theo từng hoạt động kinh tế - xã hội là nguồn gây ô nhiễm như ô nhiễm tiếng ồn nói chung, tiếng ồn công nghiệp, tiếng ồn xây dựng, tiếng ồn giao thông, tiếng ồn các hoạt động khác.Ngoài ra, gần đây Hội đồng nhà nước và Bộ xây dựng Trung Quốc cũng đã ban hành một loạt chỉ tiêu kỹ thuật môi trường về khí thải, nước thải Hiện Trung Quốc đang có 4 đạo luật liên quan đến lĩnh vực thuế BVMT đó
là Thuế tài nguyên, Thuế tiêu thụ, Thuế đối với các phương tiện giao thông, tàu
bè và Thuế mua các phương tiện giao thông Các loại thuế này được ban hành nhằm định hướng cho các chủ thể sử dụng và khai thác tiết kiệm nguồn tài nguyên Các sản phẩm từ các làng nghề truyền thống bị đánh thuế 5%, bất kể hàng hóa loại nào
Trong lĩnh vực bảo vệ nguồn tài nguyên nước, phí nước thải được quy định tại Điều 18 Luật BVMT 1979 Trong những năm 1979-1981, phí ô nhiễm được áp dụng thử nghiệm ở 27 tỉnh, thành phố dưới sự giám sát trực tiếp của chính phủ Năm 2003, hệ thống tính phí nước thải của Trung Quốc đã có một số thay đổi: việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ không chỉ dựa trên nồng độ, phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm, phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi, tùy
Trang 34thuộc vào ngành nghề và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm Ngoài
ra, các địa phương có thể tự đặt ra các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ hơn tiêu chuẩn môi trường quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường Trung Quốc quy định Bên cạnh đó, một số chính sách ưu đãi thuế cũng được Trung Quốc áp dụng với mục đích kêu gọi tiết kiệm năng lượng ở các làng nghề như thực hiện ưu đãi thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng sử dụng năng lượng sạch, khuyến khích tái sử dụng chất thải và phế liệu trong sản xuất Đối với những cơ sở sản xuất ở làng nghề có chuyển giao công nghệ BVMT hay công nghệ tiết kiệm nguồn tài nguyên cũng được miễn thuế thu nhập Những chính sách nêu trên đã góp phần nâng cao nhận thức về BVMT làng nghề của các địa phương Phong trào sử dụng công nghệ phát triển sạch trong sản xuất thủ công của các làng nghề hiện nay trở nên tích cực hơn Năm 2006, lãnh đạo thôn
Ái Dân, thành phố Du Thụ nơi có làng nghề trồng rau củ lớn nhất ở vùng Hoa Bắc đã thí điểm thực hiện mô hình cải thiện môi trường xanh nông thôn thu gom rác thải “phân loại, tập trung ủ phân, thống nhất bón trên ruộng” Trên cơ sở trưng cầu ý dân, Đảng ủy thị trấn đã hướng dẫn thôn Ái Dân ban hành “Quy định thôn” và “Quy ước hộ nông dân”, quy định đối với người dân trong thôn Theo
đó, thị trấn đã tổ chức thực hiện: “Một là, mỗi làng chọn ra hai khu vực tập kết rác thải làm phân bón, rác thải của các hộ gia đình do các hộ tự thu gom và vận chuyển; rác thải công cộng do nhân viên chuyên thu gom và vận chuyển Các hộ nuôi lợn lắp đặt hệ thống Biogas để tận dụng nguồn phân lợn tại chỗ, sản xuất khí ga phục vụ sinh hoạt; dùng nước tiểu pha loãng rồi định kỳ tưới lên bãi rác thải nơi làm phân bón chôn tập trung Hai là, Phó Bí thư chi bộ các thôn phụ trách quản lý công tác thu gom rác thải của toàn thôn, định kỳ kiểm ra hoạt động làm sạch môi trường Rác thải do các hộ tự vận chuyển sẽ do nhân viên thu gom rác phân loại quản lý và ủ tập trung Ba là, rác thải không xử lý được sẽ để r êng
và chôn lấp tập trung” Sở Bảo vệ môi trường và Sở Nông nghiệp thành phố sẽ tổ chức tập huấn cho nhân viên thu gom rác thải làm phân bón, tiền lương sẽ được giải quyết theo cơ chế làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, con số cụ thể sẽ tính theo
số lượng thu gom được Việc tuyên truyền phổ biến kiến thức về BVMT làng nghề cho người dân làng nghề cũng đã được thực hiện và không ngừng đổi mới, hoàn thiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, BVMT trong toàn thị trấn, công tác
xử lý và cải thiện môi trường được tăng cường hơn
Tuy nhiên, việc THPL về BVMT ở một số làng nghề vẫn còn chưa nghiêm, điển hình là các làng nghề thủ công truyền thống ở hai bên sông Trường
Trang 35Giang, có quy mô nhỏ, hộ gia đình và không theo quy hoạch: các làng nghề không được trang bị hệ thống xử lý nước thải, chất thải nguy hại… nên hầu hết chất thải được xả trực tiếp ra môi trường, vi phạm pháp luật môi trường Điển hình là các làng nghề tuyển sắt và chế biến nhựa ở Mã Yên Sơn, mỗi năm đổ xuống sông khoảng 14 tỷ tấn rác thải làm cho đời sống thủy sinh ở đây bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến sản lượng đánh bắt giảm mạnh Tình hình vi phạm
là vậy, tuy nhiên, chính quyền tại một số địa phương không chú ý nhiều, chỉ khi nào xảy ra xô xát, người dân biểu tình mạnh mẽ thì chính quyền mới thực thi pháp luật hay thực hiện đóng cửa các cơ sở sản xuất, kinh doanh đó
Tóm lại, Trung Quốc đã thành công trong việc ban hành đầy đủ các văn bản QPPL về BVMT trong đó có BVMT làng nghề Từng lĩnh vực đều có một
bộ luật riêng quy định việc THPL về BVMT, tài nguyên Tuy nhiên, trong thực
tế, khi triển khai thực hiện thì vẫn còn những bất cập Đây cũng là một kinh nghiệm cho Việt Nam khi việc ban hành đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đảm bảo việc thực hiện tốt pháp luật về BVMT làng nghề
2.5.2.2 Tại Việt Nam
a Đánh giá chung
Tại Việt Nam những việc đã làm được trong Quản lý môi trường làng nghề như: ban hành các văn hản về phát triển bền vững và BVMT làng nghề; một số địa phương đã xây dựng và triển khai quy hoạch tập trung cho làng nghề với BVMT; bước đầu triển khai một số công cụ quản lý trong BVMT làng nghề như: áp dụng công cụ kinh tế bằng các hình thức thuế, phí BVMT, quan trắc giám sát chất lượng các thành phần môi trường, công khai phổ biến thông tin về hiện trạng môi trường Những năm gần đây nhà nước ta đã quan tâm hơn đến vấn đề môi trường làng nghề, năm 2011 Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, và gần đây nhất năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thay thế cho Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT, đây là văn bản mới nhất chỉ rõ phân cấp trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã về vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề
Trang 36Năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 phê duyệt Đề án Tổng thể bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Theo đó, để định hướng cho việc xử
lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên quy mô toàn quốc, đề án sẽ lựa chọn, xây dựng và áp dụng thử nghiệm 6 mô hình làng nghề truyền thống gắn với du lịch thực hiện tốt các quy định về BVMT
Trong đó có 2 mô hình làng nghề thủ công mỹ nghệ, 2 mô hình làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và 2 mô hình làng nghề sản xuất đồ gốm sứ) để đánh giá, rút kinh nghiệm trước khi phổ biến, nhân rộng ra các địa phương có các loại hình làng nghề tương tự
Luật BVMT đã quy định trách nhiệm BVMT làng nghề cho UBND cấp tỉnh: "Chỉ đạo, tổ chức thống kê, đánh giá mức độ ô nhiễm của các làng nghề trên địa bàn và có kế hoạch giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề bằng các biện pháp: cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới hệ thống thu gom, xử
lý nước thải tập trung; xây dựng khu tập kết chất thải rắn; quy hoạch cụm, khu công nghiệp làng nghề để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư"
Có 35/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương trên toàn quốc đã ban hành các văn bản chỉ đạo, quy hoạch, kế hoạch BVMT nói chung và BVMT làng nghề nói riêng để định hướng chiến lược và tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề BVMT làng nghề bức xúc ( Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2012)
Bên cạnh đó xuất phát từ thực tiễn đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường dưới góc độ quản lý môi trường làng nghề và pháp luật môi trường như
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng các chính sách
và giải pháp cải thiện môi trường các làng nghề nông thôn Việt Nam" của Đặng Kim Chi (2005) Đề tài đã tập trung nghiên cứu định hướng các chính sách nhằm PTBV làng nghề phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và đề xuất các nhóm giải pháp cải thiện môi trường ở các làng nghề Việt Nam như: giải pháp công nghệ
xử lý môi trường cho các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, làng nghề tái chế kim loại; các giải pháp sản xuất sạch hơn cho làng nghề tái chế kim loại đem lại hiệu quả to lớn về mặt sinh thái, môi trường và xã hội Đề tài nghiên cứu cũng
đã thiết kế xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu và website MTLN, băng hình, áp phích, giúp cho công tác quản lý môi trường ở làng nghề hiệu quả hơn, góp
Trang 37phần cung cấp thông tin, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về BVMT làng nghề
“Environmental Management for Traditional Craft Villages in Viet Nam” (Quản lý môi trường ở các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam) của Viện nghiên cứu môi trường Hàn Quốc và Ngân hàng thế giới (2010) cho biết: 1450 làng nghề thủ công ở Việt Nam đã gây ra ONMT nghiêm trọng và lãng phí tài nguyên Các làng nghề này thường thải trực tiếp các khí thải vào không khí, các chất chưa qua xử lý ra sông hồ với lượng chất ô nhiễm khổng lồ và mức độ ONMT ở vùng nông thôn không giảm mà ngày càng trở nên trầm trọng Mặc dù nhà nước và chính quyền địa phương cũng đã quan tâm đến vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn những khó khăn về khả năng quản lý hành chính, con người cũng như nguồn lực tài chính Bài viết này cũng nhìn thẳng vào những thách thức về môi trường mà các LNTT Việt Nam đang phải đương đầu và đề ra những kiến nghị, cũng như gợi ý cho việc xây dựng pháp luật về quản lý môi trường ở vùng nông thôn Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của Hàn Quốc
“Ô nhiễm môi trường làng nghề: Cần có chế tài đủ mạnh” của Linh Lan (2011) cho rằng để các làng nghề PTBV và giảm thiểu ONMT, các Bộ, ngành chức năng cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn các địa phương gắn phát triển làng nghề với giữ gìn môi trường; vận động các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư công nghệ hiện đại, kết hợp xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải Bên cạnh đó, các địa phương cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân làng nghề để BVMT và đặc biệt phải có chế tài xử phạt đủ mạnh để ngăn chặn các hành vị gây tổn hại MTLN
“Crafting sustainability: managing water pollution in Vietnam’s craft villages” (Phát triển bền vững nghề: quản lý ô nhiễm nguồn nước ở các làng nghề Việt Nam) của Sango Mahanty và cộng sự (2012), đề cập đến sự phát triển nhanh chóng của 2.790 làng nghề nông thôn Việt Nam kể từ năm 1980, khi Việt Nam thông qua chính sách “đổi mới", đã đe dọa tới môi trường và sức khỏe con người Bản chất quy mô nhỏ và phân tán của sản xuất thủ công đã thách thức Nhà nước trong việc kiểm soát ONMT và mức độ ô nhiễm ở các làng nghề vẫn gia tăng một cách đáng báo động Các dự án PTBV có thể là phương pháp tiếp cận tốt hơn để giải quyết các vấn đề ONMT nan giải Ngoài ra, công trình này
đã tổng hợp những kết quả nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị cho việc xây dựng chính sách tương lai về kiểm soát ô nhiễm ở các làng nghề
Trang 38“Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam” của Lê Kim Nguyệt (2014) đã nêu lên hiện trạng ONMT tại các làng nghề
ở Việt Nam, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc phục như: hoàn thiện
hệ thống văn bản QPPL BVMT đối với các làng nghề; nhà nước cần tiến hành quy hoạch, tổ chức, phân bố lại sản xuất tại các làng nghề cho phù hợp với tính chất đặc thù của từng loại hình làng nghề; kết hợp sản xuất hàng hóa của các làng nghề với việc truyền bá văn hóa, phát triển du lịch; tăng cường đầu tư, hỗ trợ về tài chính để các làng nghề sản xuất đổi mới trang thiết bị phục vụ sản xuất, thay thế dần công cụ thủ công lạc hậu; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục, tuyên truyền vận động đến tận hộ sản xuất cá thể và tổ chức sản xuất nhằm nâng cao ý thức BVMT của người dân
b Những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý môi trường làng nghề
* Những tồn tại, hạn chế:
- Các quy định, văn bản, chính sách, còn chồng chéo nhau, không phân biệt được cụ thể chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, cá nhân về trách nhiệm quản lý MTLN và giữa các đơn vị này chưa có sự thống nhất khi giải quyết vấn
đề MTLN; thiếu một cơ quan “đầu mối” Vai trò trách nhiệm trong công tác quản
lý môi trường làng nghề, cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành và giữa các Bộ, ngành với địa phương còn bất cập, chồng chéo và không rõ ràng
- Các Nghị định, Thông tư khác về thu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn, áp dụng QCVN,TCVN về môi trường hay phân loại, đăng ký chủ nguồn thải nguy hại hoặc hướng dẫn các qui định về BVMT rất khó triển khai trong hoạt động SXLN cũng như khuyến khích các hộ sản xuất nghề tự giác thực hiện các qui định về BVMT
- Sự quan tâm trong chỉ đạo, điều hành của nhiều cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp về BVMT làng nghề ở nhiều địa phương còn thiếu thường xuyên, kịp thời và “đủ độ” do các địa phương này chưa xác định BVMTLN là vấn đề ưu tiên để chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch khắc phục tình trạng ONMT tại làng nghề, mặc dù trên thực tế, vấn đề ONMT làng nghề đã trở nên bức xúc
- Các văn bản pháp lý từ Trung ương thường được đăng trên công báo, nhưng hầu hết chính quyền cấp xã tại các làng nghề đều không có công báo, do đó việc cập nhật thông tin không thường xuyên Địa phương cũng thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý môi trường các cấp trong công tác truyền thông môi trường
Trang 39- Lực lượng cán bộ làm công tác môi trường các cấp từ trung ương đến các tỉnh còn quá mỏng về số lượng và hạn chế về chất lượng Hầu hết các tỉnh còn thiếu hụt cả về nhân sự, phương tiện và tài chính cho việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về BVMT đến các hộ sản xuất nghề Nhận thức của cán
bộ địa phương (cấp xã) về công tác BVMT cũng còn rất hạn chế, chính vì thế việc phổ biến kiến thức pháp luật trong lĩnh vực này tới các hộ sản xuất nghề không được thực thi
- Đối với cấp xã, phường và thị trấn ở các tỉnh, là cấp liên quan trực tiếp đến công tác BVMT làng nghề, kiến thức về môi trường là rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của làng nghề Ở cấp này không có cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường, phần lớn cử một cán bộ kiêm nhiệm, thường thì cán
bộ địa chính không có chuyên môn về lĩnh vực môi trường kiêm nhiệm thực hiện công tác quản lý môi trường nên còn nhiều bất cập trong việc quán triệt và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật
- Hoạt động thanh tra, k ểm tra không thường xuyên và th ếu ngh êm túc;
sơ kết, tổng kết, g ả quyết kh ếu tố kh ếu nạ , xử lý v phạm pháp luật còn mang tính hình thức; khen thưởng trong v ệc thực h ện pháp luật về BVMT làng nghề ở các tỉnh ĐBSH chưa được quan tâm
- Quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm làng nghề đang gặp nhiều khó khăn, bất cập trên nhiều phương diện: pháp luật - chính sách, cán bộ, thể chế và bộ máy, đầu tư,…Nhiều làng nghề đã xảy ra xung đột môi trường hoặc khiếu kiện kéo dài, vượt cấp nhưng chưa được chính quyền và cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời và triệt để, dẫn tới các hành vi gây ô nhiễm tiếp tục gia tăng Tại một số làng nghề còn xảy ra hiện tượng cán bộ địa phương hoặc cán bộ quản lý môi trường có hành vi bao che, dung túng cho việc gây ô nhiễm của một số hộ sản xuất nghề, không giải quyết nghiêm túc các kiến nghị, khiếu kiện của người dân làng nghề đối với các hành vi gây ô nhiễm của một số
cơ sở sản xuất nghề, có hành vi trù dập đối với những người phản ánh vấn đề ô nhiễm của làng nghề
c Định hướng khắc phục trong công tác quản lý môi trường làng nghề
- Ban hành các chính sách cụ thể và thỏa đáng về ưu đãi, hỗ trợ về vốn, công nghệ sản xuất, đào tạo nhân lực, ưu đãi thuế thu nhập, thuế xuất khẩu, tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường, quảng bá sản phẩm, thu hút du lịch, khám chữa
Trang 40bệnh định kỳ đối với các tổ chức, cá nhân trong làng nghề truyền thống và làng nghề thực sự "đúng nghĩa" Đầu tư kinh phí từ các nguồn ngân sách nhà nước cấp Trung ương và địa phương và các nguồn khác để nâng cấp cơ sở hạ tầng (điện, đường, hệ thống thoát nước, hệ thống thu gom và xử lý nước thải, hệ thống thu gom chất thải rắn, quy hoạch tỷ lệ cây xanh nông thôn) cho các làng nghề đã được công nhận
- Xây dựng và ban hành lộ trình và hệ số áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phù hợp cho đặc thù sản xuất làng nghề, đảm bảo các Quy chuẩn được ban hành có tính khả thi cao và là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành công tác quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
- Tại Trung ương, giao một Bộ (nên là Bộ NN&PTNT) là "cơ quan đầu mối" trong quản lý việc phát triển làng nghề và các đối tượng sản xuất trong làng nghề Đối với đon vị được giao đầu mối, ngoài trách nhiệm quy hoạch, định hướng phát triển và quản lý sản xuất, còn có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện các biện pháp xử lý các chất thải phát sinh từ sản xuất và bảo vệ cảnh quan, môi trường Bộ Công thương quản lý các khu/cụm/điểm công nghiệp tập trung Bộ TN&MT chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy chuẩn về BVMT; hướng dẫn, kiểm tra việc lập các hồ sơ, thủ tục về môi trường;kiểm tra, giám sát tình hình tuân thủ các quy định của pháp luật về BVMT; phát hiện các làng nghề ô nhiễm và đề xuất phương án xử lý; tổ chức thu phí về BVMT; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm Bộ Công an có trách nhiệm điều tra, phát hiện, xử
lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT
- Ở địa phương, giao UBND cấp tỉnh trên cơ sở phân công, phân cấp hợp
lý chỉ đạo quyết liệt các cấp chính quyền (trước hết là UBND cấp xã) trong hoạt động quản lý môi trường làng nghề; tiếp tục đẩy mạnh công tác hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về BVMT đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động tại các làng nghề và có hình thức xử lý cương quyết, triệt để, kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xây dựng quy chế phối hợp giữa ngành môi trường và các ngành có liên quan khác ở địa phương (đặc biệt là ngành điện, công an, thuế ) để áp dụng các hình thức cưỡng chế, xử lý phù hợp đối với các cơ sở cố tình vi phạm các quy định của pháp luật (như cắt điện, cắt nước, khống chế ra/vào cơ sở )