Tại những xã chưa có đơn vị thu gom và BCL tập trung, một phần rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý ngay tại gia đình; một phần được đổ thải không theo quy định được thu gom và đổ th
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hải Dương là một tỉnh với phần lớn diện tích và dân số nằm trong khu vực nông nghiệp Hiện nay, công tác quản lý rác thải sinh hoạt đặc biệt là rác thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn chưa được quản lý chặt chẽ Chủ trương của tỉnh là tất cả các xã trong tỉnh đều phải quy hoạch địa điểm chôn lấp rác tập trung và thành lập đơn vị thu gom Đến nay, tất cả các huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng đề án và đang triển khai thực hiện Công tác thu gom rác thải sinh hoạt ở thành phố Hải Dương và các thị trấn được tổ chức khá quy củ Tại khu vực nông thôn, theo một số tài liệu khảo sát ban đầu cho thấy công tác thu gom và xử lý rác thải ở khu vực nông thôn đang gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 50% đối với khu vực các xã có đơn vị thu gom và xử lý tại BCL tập trung Các thôn xóm có tổ thu gom rác thải riêng, các trang thiết bị ban đầu cho tổ thu gom được lấy từ ngân sách của huyện và
xã, kinh phí để duy trì tổ thu gom là do dân đóng góp Kinh phí chi trả lương cho người thu gom do người dân tự nguyện đóng góp nên thu nhập của người thu gom còn thấp chỉ từ 500.000 - 700.000 đ/tháng Tại những xã chưa có đơn vị thu gom và BCL tập trung, một phần rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý ngay tại gia đình; một phần được đổ thải không theo quy định được thu gom và đổ thải tại các ao làng,
ao hồ, kênh mương ngoài đồng đã và đang tác động không nhỏ tới đời sống và hoạt động sản xuất của người dân tại các khu vực nông thôn
Tính tới thời điểm hiện tại, toàn tỉnh chưa có số liệu thống kê đầy đủ về hiện trạng phát sinh, hiệu quả thu gom và công tác xử lý rác thải sinh hoạt Điều này đã
và đang gây khó khăn không nhỏ cho công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng kế hoạch quản lý rác thải sinh hoạt tại các khu vực nông thôn trên địa bàn toàn
tỉnh.Chuyên đề “Điều tra công tác quản lý, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương và đề xuất các biện pháp quản lý để cải thiện môi trường” là rất cần thiết, là cơ sở để lãnh đạo các cấp, các cơ quan quản lý môi
trường tỉnh Hải Dương giải quyết các vấn đề về rác thải nông thôn, từng bước cải thiện môi trường, nâng cao đời sống người dân nông thôn, thực hiện thành công chủ trương hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của tỉnh
Trang 22 Các cơ sở pháp lý để thực hiện chuyên đề
Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005;
Nghị quyết 41/NQ- TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộchính trị về Bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước;
Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tưởng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010
Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 104/2000/QĐ- TTg;
Thông tư 08/2010/TT- BTNMT ngày 18/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia, Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh;
Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT - BTC - BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường;
Quyết định số 2375/2002/QĐ- UB ngày 13/5/2002 của UBND tỉnh Hải Dương ban hành quy định về “trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân và cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ môi trường trên địa bàn Hải Dương”;
Quyết định số 55/2008/QĐ- UBND ngày 19 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương về “việc ban hành Quy định về quản lý an toàn rác thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương”;
Trang 3 Quyết định số 56/2008/QĐ- UBND ngày 19 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương về “việc ban hành Quy định về Bảo vệ môi trường
ở khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương”;
Quyết định số 1646/QĐ- UBND ngày 07/6/2011 của UBND tỉnh Hải Dương
về việc phê duyệt Đề án ”Giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn”;
Quyết định số 3155/QĐ-UBND ngày 15/11/2011 của UBND tỉnh Hải Dương
về việc Phê duyệt Quy hoạch vùng tỉnh Hải Dương đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030;
Kế hoạch hành động số 95- KH/TU ngày 03 tháng 9 năm 2009 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương “Thực hiện Chỉ thị số 29- CT/TW ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Ban Bí thư về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”;
Chỉ thị số 06/CT- UBND, ngày 26/01/2011 của UBND tỉnh Hải Dương, về việc tăng cường các biện pháp quản lý rác thải trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
Nghị quyết số 131/2009/NQ-HĐND ngày 09/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương quy định điều chỉnh, bổ sung mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng một số loại phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
Chức năng, nhiệm vụ và khả năng của Trung tâm tư vấn Khoa học và Công nghệ tài nguyên và môi trường;
Hợp đồng kinh tế số: 19/HĐ- KTKT đã ký giữa Chi cục bảo vệ môi trường
và Trung tâm tư vấn Khoa học và Công nghệ tài nguyên và Môi trường
3 Mục tiêu, phạm vi và yêu cầu
- Mục tiêu: điều tra công tác thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại khu
vực nông thôn tỉnh Hải Dương và đề xuất các biện pháp quản lý để cải thiện môi trường
- Phạm vi: 72 xã thuộc 12 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương
- Yêu cầu: các số liệu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học làm cơ sở cho việc
triển khai đề án giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Công tác điều
Trang 4tra phải đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, của Bộ Tài nguyên và Môi trường và tỉnh Hải Dương
4 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được các yêu cầu của nghiên cứu nhằm đảm bảo mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, nhóm nghiên cứu tiến hành các nội dung nghiên cứu theo trình
Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra để thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, hiện trạng phát sinh và quản lý rác thải sinh hoạt các địa bàn nông thôn khu vực nghiên cứu
Bước 3: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu với các yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình phát sinh và quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn
Bước 4: Điều tra hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý rác thải tại từng hộ gia đình theo phân mức thu nhập bình quân đầu người của hộ
Bước 5: Điều tra hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
72 xã nghiên cứu
Bước 6: Đề xuất các biện pháp quản lý và chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu như sau đây:
Trang 55.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thấp số liệu thứ cấp được sử dụng để thu thập các thông tin
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu Các thông tin này được thu thập đối với các cấp từ xã, huyện và tỉnh
Bảng 1 Nguồn gốc các số liệu thứ cấp quan trọng cần thu thập
Loại số liệu Nguồn số liệu/tài liệu tham khảo
Thông tin cấp Xã Báo cáo tổng kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Bản đồ quy hoạch BCL rác thải
Danh sách và lý lịch trích ngang đơn vị thu gom rác thải
… Thông tin cấp Huyện Báo cáo tổng kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012
Định hướng phát triển kinh tế xã hội
Báo cáo quy hoạch sử dụng đất cấp Huyện
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất
… Thông tin cấp Tỉnh Báo cáo tổng kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012
Niên giám thống kê Hải Dương 2011
… Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu theo danh sách các xã được đề xuất bởi Chi cục BVMT tỉnh Hải Dương (bảng 2)
5.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu điều tra
Điều tra phỏng vấn được thực hiện với các loại phiếu điều tra khác nhau chia thành 03 nhóm (chi tiết về mẫu phiếu điều tra được trình bày trong phụ lục):
a Phiếu điều tra đơn vị hành chính (cấp quản lý nhà nước về rác thải sinh
hoạt) gồm có Phiếu điều tra đơn vị hành chính cấp xã và Phiếu điều tra đơn vị hành chínhh cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố).Nội dung cơ bản cần điều tra gồm có: Diện tích tự nhiên; diện tích đất của các mục đích sử dụng khác nhau; dân số, tốc độ gia tăng dân số; số lao động trong các ngành nghề; thu nhập bình quân đầu người;
số lượng đơn vị hành chính trực thuộc; số lượng các đơn vị sản xuất kinh doanh (trang trại, làng nghề, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ dưỡng…); số lượng BCL quản lý; nhân lực quản lý, thu gom, vận chuyển, phương tiện thu gom, phương tiện vận chuyển… Nhận định về khó khăn, thách thức trong quản lý rác thải; đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương
Trang 6Thực hiện điều tra tại 12 huyện của tỉnh Hải Dương (12 phiếu) và 72 xã (72 phiếu) đối với cán bộ phụ trách môi trường của các cấp quản lý này
Bảng 2 Danh sách 72 xã thực hiện điều tra theo quyết định của Sở Tài nguyên
và Môi trường Hải Dương
STT Tên huyện Phân mức quản lý rác thải sinh hoạt
2 Kim Thành
3 Ninh Giang
5 Thanh Hà
Việt Hồng Thanh Bính Thanh Khê
7 Thanh Miện
Chi Lăng Nam Đoàn Tùng Tiền Phong
8 TP Hải Dương
9 Cẩm Giàng
b Phiếu điều tra đơn vị thu gom (tổ đội, hợp tác xã và công ty dịch vụ môi trường)
Trang 7Nội dung cơ bản của phiếu điều tra gồm có: thông tin chung về đơn vị (tên đơn vị, loại hình đơn vị, đăng ký hoạt động, thời gian hoạt động, cấp quản lý…); chức năng của đơn vị (loại nguồn thải phụ trách, các hoạt động quản lý: thu gom, vận chuyển, xử lý; thời gian và tần suất thu gom…); đặc điểm nhân lực (số người, đào tạo, tập huấn, ngành nghề phụ, thu thập khác nếu có…); đặc điểm trang thiết bị thu gom, vận chuyển (loại, đặc tính, nguồn gốc, số lượng, kinh phí bảo trì…); kinh phí hoạt động (nguồn, số lượng, phân bổ kinh phí, nguồn lương, chính sách xã hội khác); đánh giá của đơn vị về thuận lợi và khó khăn; đề xuất giải pháp
Điều tra công tác quản lý rác thải được thực hiện tại ít nhất 01 và nhiều nhất
05 đơn vị thu gom hiện có trên một xã (nếu có hoạt động thu gom) Tổng số phiếu điều tra đơn vị thu gom đã thực hiện là 245 phiếu (245 đơn vị) trung bình 3 – 4 đơn vị/xã Trong đó mỗi phiếu điều tra được thực hiện thu thập số liệu từ giá trị trung bình của ít nhất 02 người thu gom (nếu một tổ đội có nhiều hơn 1 người)
c Phiếu điều tra hộ gia đình
Hộ gia đình được phân chia theo thu nhập từ ý kiến đánh giá của Cán bộ địa chính Xã hoặc Ban quản lý thôn/xóm thành các mức: hộ giàu, hộ trung bình, hộ nghèo Số lượng phiếu điều tra yêu cầu tối thiểu 01 hộ/1 phân mức thu nhập/1 thôn tương đương 03 hộ/thôn Quá trình điều tra nông hộ đã tiến hành lấy 1334 phiếu điều tra nông hộ tại 366 thôn trên địa bàn 72 xã (tương ứng 3 – 4 phiếu/thôn hoặc
18 – 19 phiếu/xã)
Nội dung điều tra bao gồm: địa chỉ, số nhân khẩu; nghề nghiệp, thu nhập bình quân… Hiện trạng phát sinh rác thải (trồng trọt, chăn nuôi, nhu cầu sinh hoạt); Phân loại rác tại nguồn theo từng thành phần, hình thức tái sử dụng, tái chế rác thải; Thời gian lưu rác, phí thu gom, khoảng cách tới tuyến thu gom, Đánh giá của hộ gia đình về công tác thu gom (thời gian, tần suất, thái độ…); Đề xuất mong muốn của
hộ gia đình về công tác thu gom
5.3 Phương pháp khảo sát hiện trường
Phương pháp khảo sát tuyến thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu được thực hiện qua việc khảo sát thực địa và sử dụng các công cụ hỗ trợ cơ bản như bản đồ để xác định được khoảng cách di chuyển thực tế của mỗi tuyến đường
Trang 8vận chuyển rác thải từ nơi phát sinh đến nơi tập kết cuối cùng, điều kiện cơ sở hạ tầng thu gom
Các nội dung cơ bản của khảo sát hiện trường bao gồm:
Khảo sát tuyến thu gom: chiều dài, đặc điểm tuyến, loại đường, chiều rộng
đường, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trong thu gom và vận chuyển
Khảo sát bãi chôn lấp: diện tích, đặc điểm chôn lấp, các phương tiện hỗ trợ,
hình thức quản lý, khoảng cách đến khu dân cư và các loại hình sản xuất kinh doanh, đường giao thông vào bãi…
5.4 Phương pháp xác định hệ số phát sinh và thành phần rác thải
Phương pháp khối lượng được thực hiện nhằm mục đích thu được các số liệu
sơ cấp về khối lượng rác phát sinh thực tế tại các hộ gia đình Hộ gia đình được lựa chọn để thực hiện phương pháp cân khối lượng được phân thành 03 nhóm dựa vào
03 mức độ thu nhập: thu nhập cao, thu nhập trung bình và thu nhập thấp Tổng số lượng các mẫu được tiến hành nghiên cứu là 1334 mẫu, lặp lại 3 lần ở mỗi hộ
Để xác định hệ số phát thải rác sinh hoạt tiến hành:
Toàn bộ lượng rác thải phát sinh trong 24 giờ sẽ được chứa trong các loại dụng cụ chuyên dụng
Tiến hành cân lượng rác thu được trong ngày (quá trình thực hiện được lặp lại 3 lần ở 3 ngày khác nhau trong thời gian nghiên cứu)
Tính hệ số phát thải bằng công thức
Hệ số phát sinh rác = khối lượng rác cân được/số khẩu trong gia đình
Phương pháp phân loại rác thải được sử dụng để phân loại về mặt phần trăm khối lượng của các thành phần rác khác nhau phục vụ cho mục tiêu quản lý và xử
lý Phương pháp phân loại rác phải phản ánh được các thành phần cơ bản của rác theo 6 loại: rác thải hữu cơ, giấy- bìa các loại, nhựa các loại, thủy tinh và kim loại, túi nilon và các thành phần trơ
5.5 Phương pháp đếm tải
Phương pháp đếm tải được sử dụng nhằm mục đích xác định được hiệu suất thu gom rác thải sinh hoạt trong một đơn vị thời gian bởi các tổ đội/HTX thu gom Đếm tải là phương pháp đem lại các kết quả mang tính định lượng và chính xác
Trang 9nhất.Thực hiện phương pháp đếm tải, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhằm xác định được phạm vi địa bàn mà các tổ chức thu gom thực hiện công việc thu gom rác của mình thông qua việc thu thập các thông tin như: tần suất thu gom, tuyến thu gom, điểm trung chuyển rác làm cơ sở cho việc lựa chọn điểm thực hiện đếm tải Nếu rác được thu gom trong các bao tải sẽ được đếm số lượng và xác định khối lượng của mỗi một bao tải chứa rác Còn đối với phần rác chứa trong các xe thu gom rác sẽ được tính toán thông qua việc đo đạc thể tích thùng xe và khối lượng riêng sau khi nén Phương pháp đếm tải sẽ cung cấp thông tin về khối lượng rác được thu gom trong một đơn vị thời gian
m = V x d, kg
Trong đó: m: Khối lượng rác thải, kg
V: Thể tích thùng xe chứa rác, m 3 d: Khối lượng riêng của rác, kg/m 3
5.6 Phương pháp ước tính tổng lượng rác thải phát sinh
Tổng khối lượng rác thải phát sinh = hệ số phát thải x dân số
5.7 Phương pháp đánh giá hiệu quả xử lý rác thải
Để đánh giá hiệu quả xử lý rác thải sinh hoạt tại 72 xã nghiên cứu, kết quả điều tra hiện trạng BCL được so sánh với với tiêu chuẩn về BCL (TCXD 261:2001)
5.8 Phương pháp SWOT (Phương pháp phân tích điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức)
Sử dụng phương pháp SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của từng đối tượng trong hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn tại địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 10Chương 1 Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2 Hiện trạng phát sinh và quản lý rác thải nông thôn Hải Dương
Chương 3 Đề xuất giải phát quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn Hải Dương
Chương 4 Đề xuất chính sách hỗ trợ công tác quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn Hải Dương
Phần kết luận
7 Các báo cáo chuyên đề:
Chuyên đề 1 “ĐIỀU TRA CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG”
Chuyên đề 2 “ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GÓP PHẦN CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG”
Chuyên đề 3 “ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG”
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
1.1.1 Hiện trạng phát sinh CTR sinh hoạt nông thôn
Dân số Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn tập trung ở khu vực nông thôn, chiếm
68,25% (Tổng cục thống kê, 2011) Trong những năm gần đây, ở khu vực nông thôn
mặc dù tỷ lệ dân số có giảm, nhưng vẫn ở mức cao Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tương đối chậm, tuy nhiên cơ cấu ngành sản xuất ở nông thôn đang ngày càng đa dạng và được đẩy mạnh Sau gần 3 năm triển khai Nghị quyết 26- NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, theo đánh giá của Chính phủ, các bộ, ngành, đời sống của người nông dân đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu nhập của người nông dân năm 2010 tăng 34,5% so với năm 2008, tất cả các lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều có bước phát triển khá
Nông nghiệp đã chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao; an ninh lương thực được bảo đảm Cơ cấu hộ nông dân theo ngành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham gia sản xuất phi nông nghiệp, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Tỷ trọng phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ tăng lên rõ rệt, góp phần tạo
việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho nông dân
Hình 1.Cơ cấu ngành sản xuất ở nông thôn Việt Nam năm 2011
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011
Song song với sự chuyển biến tích cực, nông thôn Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã có quy hoạch nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ
Trồng trọt 74%
Chăn nuôi 24%
Dịch vụ 2%
Trang 12tầng xã hội còn lạc hậu, VSMT nông thôn còn nhiều vấn đề bất cập Cả nước hiện còn hơn 400 nghìn nhà ở tạm bợ Hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn Chính những hạn chế, yếu kém này kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn đang ở mức báo động ở nhiều nơi
Một trong những nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường nông thôn là do CTR từ hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi, sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong sản xuất nông nghiệp, CTR từ hoạt động làng nghề và rác thải từ sinh hoạt CTR nông thôn có thể phân thành 3 dạng chính:
- Chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn
- Chất thải rắn nông nghiệp
- Chất thải rắn làng nghề
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng Đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông thôn
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: các hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn
và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn)
Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta
có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất do có mức độ hoạt động sản xuất nông nghiệp cao
CTR làng nghề chiếm phần lớn trong nguồn phát sinh CTR nông thôn Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế – xã hội cho các địa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng tạo sức ép lớn đối với môi trường khi thải ra lượng CTRlớn Hiện cả nước có khoảng 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc
Trang 13làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% lao động của cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp cho ổn định đời sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế
nông thôn (Bộ TN & MT, 2011) Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác
nhau, phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh và mang đặc tính của loại hình sản xuất Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất thải làng nghề ngày càng đa dạng và phức tạp
về thành phần, có thể thấy rằng chất thải làng nghề bao gồm những thành phần chính như: phế phụ phẩm từ chế biến lương thực, thực phẩm, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon,
vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu, gốm sứ, gỗ, kim loại
1.1.2 Phân loại và thu gom CTR sinh hoạt nông thôn
Việc phân loại CTR sinh hoạt nông thôn được tiến hành ngay tại hộ gia đình đối với một số loại chất thải như giấy, các tông, kim loại (để bán), thức ăn thừa, lá cải, su hào, (sử dụng cho chăn nuôi) Các CTR sinh hoạt khác không sử dụng được hầu hết không được phân loại mà để lẫn lộn, bao gồm cả các loại rác có khả năng phân hủy và khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh, cành cây, lá cây, hoa quả ôi thối, xác động vật chết Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40 – 55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến
Nhiều xã không có quy hoạch các BCL tập trung, không có BCL công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do
đó, các BCL tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Một số huyện, xã mặc dù đã có quy hoạch BCL, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật
và người dân vẫn chưa có ý thức đổ rác theo quy định
1.1.3 Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Phân compost (phân hữu cơ)
Sản xuất phân compost là giải pháp được sử dụng rộng rãi tại các nước có hệ thống phân loại tốt, trên cơ sở quá trình phân huỷ hiếu khí tự nhiên của các vi sinh vật biến rác thành mùn và chất dinh dưỡng cho cây trồng Ưu điểm của phương pháp là
Trang 14giảm ô nhiễm môi trường, tạo phân hữu cơ vi sinh có tác dụng tốt cho đất và cây trồng, giá thành phù hợp với điều kiện nước ta
Hiện nay, ở Việt Nam sản xuất phân compost đã được thực hiện ở một số nhà máy - được xây dựng gần các đô thị, nơi cung cấp chính các loại chất thải hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào Hiện tại chưa có các số liệu đánh giá về chi phí - lợi ích của các nhà máy đang hoạt động Mặt khác, chưa có nhà máy nào được xây dựng để phục vụ xử lý rác thải nông thôn Rất khó để đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng làm phân compost ở quy mô nhỏ lẻ, từng hộ gia đình, vì vậy tại khu vực nông thôn công nghệ này chưa được áp dụng phổ biến
Khí sinh học (Biogas)
Biogas là một loại năng lượng sinh học có được từ sự nén hoặc khử hay lên men trong điều kiện yếm khí của những vật chất có nguồn gốc hữu cơ như phân chuồng, bùn trong hệ thống cống rãnh, rác phế thải hộ gia đình, hoặc các loại rác hữu
cơ có thể bị phân huỷ Trong thực tế, CTR chăn nuôi chủ yếu được xử lý bằng ủ nóng
và hầm biogas Sau khi xử lý, phân được sử dụng bón cho cây trồng hoặc dùng làm thức ăn cho cá
Hiện nay, chăn nuôi ở Việt Nam chủ yếu vẫn ở quy mô hộ gia đình, chất thải chăn nuôi của các hộ này chủ yếu được xử lý bằng các hình thức: hầm biogas, tận dụng nuôi thuỷ sản, làm phân ủ bón ruộng Có khoảng 19% chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường xung quanh
Phục vụ chế biến thức ăn nuôi trồng thủy sản
Hiện nay, phân gia súc, gia cầm được sử dụng khá đa dạng cho quá trình chế biến thức ăn nuôi trồng thủy sản
- Nuôi giun quế làm thức ăn nuôi trồng thủy sản: phân trâu bò, phân lợn và chất độn như cỏ, rơm rạ, bèo, dây lang, thân cây lạc hoặc lá cây khô được sử dụng
để làm chất nền để nuôi giun quế Ngoài ra, phân tươi của gia súc ăn cỏ là có thể cho giun ăn trực tiếp, hoặc có thể ngâm phân tươi đó với phân chuồng đã ủ hoại làm thức
ăn cho giun
- Sử dụng phân gà ủ với chế phẩm men sinh học để thay thế một phần thức ăn nuôi trồng thủy sản
Trang 15Tuy nhiên, các đơn vị thu mua phân gia súc gia cầm thường mua tại các địa điểm có quy mô chăn nuôi lớn, đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ thì phương pháp phù hợp vẫn là xây hầm biogas
Sản xuất nhiên liệu
- Sản xuất nhiên liệu từ trấu: ngày nay, than trấu, củi trấu là một sự lựa chọn tối ưu để thay thế nhiên liệu hóa thạch Việt Nam là một nước sản xuất lúa gạo hàng đầu Châu Á, vì vậy việc sản xuất than trấu rất có lợi cho kinh tế và môi trường 1kg trấu sẽ sản xuất được 0,9kg than (không chứa khí lưu huỳnh nên không gây ô nhiễm môi trường) Theo tính toán để có được 1 tấn hơi bão hoà, nếu sử dụng dầu F.O phải tốn 632.000 đồng, than đá là 478.000 đồng, than cám là 282.000 đồng, còn than trấu chỉ tốn 250.000 đồng (giảm được khoảng 20- 25%) Hiện nay, công nghệ này đang dần dần được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam
- Làm nguyên liệu sản xuất than tổ ong: Than tổ ong và than viên được sản xuất chứa 60% chất thải hữu cơ làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (là các chất hữu cơ, tinh bột thất thoát từ các quá trình làm bún, miến…), 40% còn lại là than cám thông thường Nhiệt lượng do than này cung cấp cao hơn than bình thường 10–20%, thời gian cháy lâu hơn, trong khi giá thành lại rẻ hơn 25–35% Như vậy vừa tiết kiệm được nguồn than bùn mà lại ít ô nhiễm môi trường vì chất hữu cơ trộn lẫn làm cháy 100% than bùn, ít khói hơn thông thường Đặc biệt là viên than hữu cơ khi đã cháy hết có thể tái tạo sử dụng làm phân bón
1.1.4 Xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Tuy nhiên, toàn quốc chỉ có 12 trên tổng số 63 tỉnh thành phố có bãi chôn lấp (BCL) hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật ở nông thôn và phần lớn được xây dựng trong vòng 10 năm qua Hầu hết, các BCL chất thải nông thôn là các BCL không hợp vệ sinh, chủ yếu là BCL hở và để phân hủy tự nhiên Hiện nay, phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phù hợp nhất là chôn lấp hợp vệ sinh Ngoài ra, các biện pháp khác như phương pháp làm phân hữu cơ, đốt chất thải thu năng lượng cần được tiếp tục nghiên cứu và mở rộng, tuy nhiên chưa phù hợp cho áp dụng rộng rãi tại khu vực nông thôn Việt Nam
Trang 16Đối với một số loại chất thải rắn khác được thu gom chung với CTR sinh hoạt nông thôn hiện nay:
Bao bì hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học: Hiện các địa phương đều
chưa có công nghệ xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, bao bì sau khi thu gom cùng với bao bì phân bón hóa học thường đem đốt hoặc chôn lấp ở xa khu dân cư Nhiều địa phương nông dân còn thu chung vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật với rác thải sinh hoạt Tất cả các cách làm trên đều chưa đảm bảo cho môi trường và con người Phương pháp đốt ở các lò tiêu chuẩn có khả năng xử lý triệt để ô nhiễm nhưng các lò này chi phí xây dựng và vận hành cao, xa các cụm dân cư khó có thể yêu cầu người nông dân vận chuyển rác bao bì đến để đốt thường xuyên khi lượng bao bì không lớn Nếu ở địa phương có thu gom tập trung thì cũng phải thu gom một lượng đủ lớn mới
có thể tổ chức đem tiêu hủy, trong khi đó số lò đủ tiêu chuẩn của Việt Nam còn quá
ít, chi phí vận chuyển tới nơi tiêu hủy khá cao Như vậy việc xử lý tại chỗ để làm sạch bao bì phục vụ cho tái sử dụng hoặc lưu giữ trước khi đem tái chế hoặc tiêu hủy là cần thiết
Chất thải rắn trồng trọt: Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào không chỉ làm
phân bón, thức ăn gia súc, nuôi trồng nấm rơm, nhiên liệu đốt mà còn cho ngành sản xuất vật liệu sạch.Hiện nay, phương pháp xử lý các phụ phẩm nông nghiệp như rơm
rạ, trấu, vỏ hạt điều… chủ yếu là đốt bỏ rồi dùng tro bón ruộng Tuy nhiên, cách làm này vừa gây lãng phí, vừa gây ô nhiễm môi trường do khói bụi và nguy cơ cháy nổ
Chất thải rắn chăn nuôi: Để xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, có
nhiều công nghệ hiện đại Tùy theo đặc điểm của từng vùng, từng mô hình người chăn nuôi sử dụng các biện pháp khác nhau Hai biện pháp xử lý chất thải đang được
sử dụng rộng rãi, hiệu quả cao ở nước ta: Phương pháp ủ và công nghệ khí sinh học Chất thải rắn làng nghề: Cũng như CTR sinh hoạt nông thôn, hầu hết CTR
làng nghề chưa được xử lý triệt để Đặc tính chất thải làng nghề có nhiều thành phần nguy hại Vì vậy, CTR làng nghề cần được phân loại tốt ngay từ ban đầu, để những thành phần chất thải thông thường có thể đem đi chôn lấp cùng rác thải sinh hoạt, còn các thành phần nguy hại cần được thuê các đơn vị có chức năng xử lý
Trang 171.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Hải Dương được tái thành lập từ năm 1997 và hiện nay có 12 đơn vị hành chính phân theo thành phố, thị xã, huyện (Hải Dương, Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện) Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc Địa giới hành chính của tỉnh nằm trong tọa độ địa
+ Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang
+ Phía đông giáp Thành phố Hải Phòng
+ Phía nam giáp tỉnh Thái Bình
+ Phía tây giáp tỉnh Hưng Yên
ba Thập kỷ trước Từ năm 2000 đến năm 2009 nhiệt độ không khí có xu thế tăng dần, năm 2003 và năm 2006 nhiệt độ trung bình năm là 24,20C, nhiệt độ trung bình năm 2009 là 24,30C (tương đương năm 1998) Nhiệt độ trung bình năm của 10 năm đầu của thế kỷ 21 là 23,80C, tăng hơn so với trung bình nhiều năm (TBNN ) (1960 –
2000 ) là 0,50C
Bảng 3: Tổng lượng mưa hàng tháng (mm) theo các năm tại Hải Dương
Trang 18Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương 2011
Bảng 4: Bảng giá trị nhiệt độ trung bình các tháng tỉnh Hải Dương ( o C)
Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương 2011
Trung bình mỗi năm có từ 120 đến 130 ngày mưa với lượng mưa bình quân dao động từ 1.400 - 1.500 mm/năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX, tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm là tháng VIII, tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng XII Lượng mưa cả năm tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa
Trang 19và chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,30C, giờ nắng trung bình hàng năm là khoảng 1.524 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87%
1.2.3 Địa hình
Địa hình của tỉnh Hải Dương nhìn chung khá bằng phẳng, nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, theo hướng nghiêng của vùng Đồng bằng Bắc
Bộ Địa hình của tỉnh được chia làm 2 vùng chủ yếu:
- Vùng đồi núi nằm ở phía Bắc của tỉnh, chiếm 10% diện tích tự nhiên gồm
13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn, độ cao địa hình dưới 1000m Đây là vùng được hình thành trên nền địa chất trầm tích Trung sinh với hướng núi chính chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Vùng Chí Linh có địa hình cao nhất, tiêu biểu là đỉnh Dây Diều (thuộc dãy núi Huyền Đính) với độ cao 618m Đây là nơi khởi đầu của hệ thống núi thuộc cánh cung Đông Triều (Quảng Ninh) Huyện Kinh Môn có dãy núi Yên Phụ chạy dài 14 Km, gần như song song với Quốc
lộ 5A Vùng Côn Sơn – Kiếp Bạc tuy địa hình không cao nhưng cũng có một số đỉnh núi cao hơn 200m như đỉnh Côn Sơn, Ngũ Nhạc Cảnh quan và thiên nhiên vùng đồi núi thấp phù hợp với việc phát triển du lịch, khai thác tài nguyên khoáng sản và trồng các loại cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày
- Vùng đồng bằng còn lại chiếm 90% diện tích tự nhiên, gồm 9 huyện và thành phố Hải Dương, nằm ở hạ lưu sông Thái Bình Vùng này được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa, chủ yếu của sông Hồng và sông Thái Bình với độ cao trung bình từ 3 – 4m, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Theo độ cao địa hình, vùng này được chia thành 4 khu vực:
+ Khu vực ngoài đê sông Thái Bình, sông Luộc có độ cao lớn hơn ngoài đê và nghiêng theo triền sông
+ Khu Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Nam Chí Linh và Tây Bắc Tứ Kỳ có độ cao trung bình từ 4 – 5m
+ Khu Ninh Giang, Thanh Miện có độ cao phổ biến dưới 2m
+ Khu Kim Thành, Đông Nam Sách, Thanh Hà có độ cao trung bình dưới 1m
Trang 201.2.5 Tài nguyên nước
- Nước mưa: lượng mưa trung bình nhiều năm tại Hải Dương biến động từ 1.100mm- 1.900mm, trung bình khoảng 1.478mm/năm Lượng mưa năm lớn nhất đạt 2.347 mm (năm 1973) và lượng mưa năm nhỏ nhất là 964 mm (năm 1988) Lượng mưa lớn nhất 24h đã đo được trong tỉnh là trận mưa ngày 14/07/1971 tại Thanh Hà đạt 445,5 mm
- Nước mặt: sông ngòi Hải Dương gồm hệ thống các sông chính và hệ thống các sông nội đồng
+ Hệ thống các sông chính: Dòng chảy trong sông là dòng chảy tự nhiên từ các sông của thượng nguồn chảy về, nó hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như: Mưa, lũ trên lưu vực, sự điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn
+ Các sông nội đồng, dòng chảy trong lòng dẫn được điều tiết theo yêu cầu của người sản xuất Nguồn nước được lấy từ các sông tự nhiên vào qua các cống dưới đê hoặc các trạm bơm tưới, cửa ra là các cống tiêu hoặc các trạm bơm tiêu
1.2.6 Tài nguyên đất
Bên cạnh nguồn tài nguyên nước dồi dào, tài nguyên đất cũng là một nguồn tài nguyên góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 1.654,8 Km2, trong đó có khoảng 138.800 ha đất phù sa sông Thái Bình có xen kẽ phần nhỏ phù sa sông Hồng, chiếm khoảng 90% tổng diện tích đất tự nhiên Phần còn lại là diện tích đất đồi núi được hình thành trong quá trình phân hóa đất mẹ, đất dốc tụ hoặc xen kẽ giữa phù sa với quá trình dốc tụ, phân bố ở phía Bắc tỉnh thuộc 2 thị xã Chí Linh và Kinh Môn, chiếm khoảng 10% tổng diễn tích đất tự nhiên trong tỉnh
Đất đai ở vùng đồng bằng chủ yếu hình thành do sự bồi đắp phù sa nên tương đối màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp toàn diện với
Trang 21nhiều loại sản phẩm đa dạng như cây lương thực, rau màu, cây công nghiệp Tuy nhiên bên cạnh đó, hiện nay còn tồn tại một số diện tích đất thuộc vùng đồng bằng
bị nhiễm mặn và khoảng 3.500 ha đất phù sa glây mạnh, bị úng nước về mùa hè, độ chua cao, yếm khí, hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình
Theo số liệu thống kê cho đến năm 2009, Hải Dương đã đưa vào sử dụng 165.477 ha đất, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 106.577 ha, đất phi nông nghiệp là 58.165 ha, đất chưa sử dụng là 735 ha
1.2.7 Dân số và lao động
Dân số năm 2011 là 1.718.895 người (Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, 2011) Mật độ dân số trung bình: 1.039 người/km2 Trong đó: Dân số thành thị: 376.438 người; Dân số nông thôn: 1.342.457 người
Bảng 5: Số đơn vị hành chính phân theo huyện, thị xã, thành phố
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, 2011
Bảng 6 Diện tích, dân số và mật độ dân số các đơn vị hành chính trên địa bàn
tỉnh Hải Dương
Đơn vị Diện tích Dân số Mật độ dân số
Trang 221.2.8.Giao thông & cơ sở hạ tầng
Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.Hệ thống giao thông: gồm đường
bộ, đường thuỷ, đường sắt; phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước
và nước ngoài rất thuận lợi
- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp
I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện:
- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với Quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh.Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua thị xã Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu
và than cho các tỉnh
Trang 23- Đường thuỷ: Với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2011)
Hiện trạng sử dụng đất qua các năm từ 2005 đến 2011 đối với đất nông nghiệp có sự biến đổi ít, trong đó có sự giảm nhẹ về diện tích đấtsản xuất nông nghiệp (gần6.500 ha từ năm 2005 đến 2011), bên cạnh đó có sự gia tăng đáng kể
Trang 24của diện tích đất lâm nghiệp có rừng (tăng hơn 2.000 ha) Đặc biệt, trong khoảng 5 năm từ 2005 đến 2011, diện tích đất phi nông nghiệp (đặc biệt là đất ở đô thị và nông thôn) có sự gia tăng đáng kể, hơn 6.000 ha từ năm 2005 so với năm 2011
1.2.10 Kinh tế
Thời kỳ 2001- 2010, giá trị tổng sản phẩm - GDP tỉnh (giá 1994) tăng bình quân 10,3%/năm Giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh bình quân đạt 10,9%/năm, giai đoạn 2006- 2010 đạt 9,7%/năm Trong 10 năm, GDP khu vực công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 13,5%/năm; khu vực dịch vụ tăng bình quân 11,2%/năm; khu vực nông nghiệp tăng bình quân 3,1% Tính chung khu vực phi nông nghiệp tăng bình quân 12,6%/năm cao gấp 4,1 lần tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và cao hơn 1,2 lần tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế tỉnh
Từ năm 2000 đến 2010, tỷ trọng các khu vực Nông nghiệp - Công nghiệp và xây dựng - Dịch vụ trong GDP thay đổi từ cơ cấu 34,8% - 37,2%- 28% chuyển sang cơ cấu 23% - 45,3% - 31,7% Tuy không đạt chỉ tiêu quy hoạch đề ra (năm
2010 cơ cấu GDP tương ứng 21%- 46%- 33%) nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn đạt khá nhanh, trung bình mỗi năm tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp tăng thêm được gần 1,2% trong cơ cấu GDP của tỉnh
Cơ cấu lao động trong các khu vực nông nghiệp- công nghiệp - dịch vụ từ 82,6%- 8,9%- 8,5% (2000) chuyển sang 54,5% - 27,3% - 18,2% (2010) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng từ 17,4% lên 45,5%, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 82,6% xuống 54,5% Trung bình mỗi năm tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng thêm 2,8% trong cơ cấu lao động
Trang 25CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH
HOẠT NÔNG THÔN HẢI DƯƠNG 2.1 Hiện trạng phát sinh
Rác thải sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn cơ bản sau: rác thải do hoạt động sinh hoạt của con người tại các hộ gia đình, hoạt động của trường học, cơ quan hành chính, sinh hoạt của các đơn vị sản xuất, kinh doanh, bệnh viện… liên hệ mật thiết với các hoạt động sống của con người Trong đó rác thải sinh hoạt phát sinh trực tiếp từ các hộ gia đình chiếm một lượng rất lớn
2.1.1 Tổng lượng rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn
Để đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương, nghiên cứu đã được thực hiện trên 72 xã điểm thuộc 12 huyện/thị xã/thành phố Rác thải sinh hoạt được thu mẫu trong 24 giờ tại tất cả các hộ gia đình tiến hành phỏng vấn (phân loại theo thu nhập), mỗi hộ tiến hành thu mẫu lặp lại 2 lần Khối lượng rác thải phát sinh được cân trực tiếp tại hộ gia đình của các xã nghiên cứu để tính hệ số phát sinh rác thải sinh hoạt trung bình trên đầu người Hệ
số phát sinh rác thải tại các địa bàn nghiên cứu được trình bày trong bảng 1
0.45 0.33 0.46 0.44 0.47 0.5
Trang 26Kết quả thu được mức phát thải bình quân đầu người dao động trong khoảng
từ 0,19 đến 0,78 kg/người/ngày trong đó trung bình 72 xã nghiên cứu là 0,44 kg/người/ngày Hệ số phát sinh rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn cao nhất tại 6
xã thuộc địa bàn thành phố Hải Dương (0,56 kg/người/ngày) và thấp nhất ở các xã nông thôn thuộc huyện Kinh Môn (0,33 kg/người/ngày) Hệ số phát sinh này nằm ở mức trung bình so với các địa phương khác trên cả nước
Bảng 8 Lượng rác thải nông thôn phát sinh theo huyện trên địa bàn Hải Dương
Ghi chú: 1: Nguồn số liệu điều tra 2012
2: Nguồn niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2011
Tổng lượng thải phát sinh của toàn tỉnh (ứng với dân số nông thôn năm
2011) là 575,7 tấn/ngày tương đương 210.130,5 tấn/năm Như vậy, có thể nói rác thải phát sinh từ khu vực nông thôn chiếm một lượng rất lớn trong tổng lượng thải phát sinh trên địa bàn Hải Dương Trong đó, lượng rác thải phát sinh trung bình của một đơn vị hành chính cấp huyện là 48 tấn/ngày trong đó cao nhất ở huyện Thanh
Hà (69 tấn/ngày) và thấp nhất ở thị xã Chí Linh (24,8 tấn/ngày) và Thành phố Hải Dương (23,5 tấn/ngày) Lượng phát thải chất thải rắn có nguồn gốc sinh hoạt khu
Trang 27vực nông thôn phụ thuộc hệ số phát sinh rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình Trong đó
đa số các địa phương đều có tỷ lệ dân số nông thôn trong khoảng 80% tổng dân số trừ TP Hải Dương, thị xã Chí Linh
Hình 4 Mối quan hệ giữa lượng rác thải sinh hoạt phát thải và dân số nông thôn
của các đơn vị
Khi xem xét mối quan hệ giữa tổng lượng rác thải phát sinh với tỷ lệ dân số nông thôn (với dữ liệu thống kê về mật độ dân số theo các đơn vị hành chính tỉnh Hải Dương năm 2011), các huyện có áp lực lớn về lượng rác thải nông thôn là: Thanh Hà, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện (lượng rác thải tương đương lớn hơn
50 tấn/ngày, khoảng 1500 tấn/tháng hoặc 16 nghìn tấn/năm) Tuy nhiên, đa phần các địa phương trên đều có mật độ dân số ở mức trung bình Điều này tạo ra những thuận lợi trong xử lý rác thải nhưng đồng thời gây khó khăn cho công tác thu gom rác thải Ngược lại, các huyện Cẩm Giàng, Gia Lộc, Bình Giang có mức phát thải không cao (40 - 50 tấn/ngày) nhưng có diện tích tự nhiên nhỏ nên tạo ra những khó khăn trong việc lựa chọn địa điểm xử lý rác thải
2.1.2 Thành phần rác thải phát sinh
Thành phần rác thải thể hiện tỷ lệ phần trăm phân bổ của các dòng rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân Thông tin về thành phần rác thải sẽ được sử dụng trong việc quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý rác thải phù hợp với điều kiện địa phương và đặc trưng rác thải sinh hoạt tại địa phương Để nghiên cứu thành phần rác thải tại khu vực nông thôn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành xác định:
0 60,000 120,000 180,000 240,000
Trang 28 Phần trăm chất hữu cơ (thực phẩm thừa, hữu cơ khó phân huỷ)
Phần trăm giấy, bìa các loại
Phần trăm nhựa các loại
Phần trăm kim loại và thuỷ tinh
Phần trăm túi nilon các loại
Phần trăm thành phần trơ các loại
Phầm trăm chất thải nguy hại
Kết quả thu được về thành phần rác thải được thể hiện trong bảng 9:
Bảng 9 Thành phần rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn của các đơn vị
Nguồn: Số liệu điều tra, 2012
Thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn Hải Dương chủ yếu là hữu cơ,
chiếm khoảng 66,98%rác thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt Trong đó rác thải từ
thực phẩm thừa trước và sau khi chế biến chiếm một lượng đáng kể Ở các hộ gia đình có chăn nuôi (gia súc, gia cầm, thuỷ sản, thuỷ cầm…) lượng thức ăn thừa ít hơn so với các hộ khác không có chăn nuôi do một phần rác thải bỏ được tái sử
Trang 29dụng cho chăn nuôi Phần còn lại trong rác thải gồm có: xác động vật chết, rác thải vườn thu gom chung, chất hữu cơ khó phân huỷ (vải, da, gỗ…) Túi nilon chiếm
một lượng tương đối lớn: 12,28% về khối lượng Thành phần rác thải có thể tái chế
gồm có giấy bìa các loại chiếm 8,01%; nhựa các loại chiếm 4,00%; thuỷ tinh và kim loại chiếm 1,71% Tổng rác thải có thể tái chế chiếm 13,71% về mặt khối lượng Thành phần rác thải không thể tái chế, tái sử dụng gồm có bụi, cát, sỏi các loại, xỉ than, rác thải xây dựng… chiếm khoảng 7,04% về khối lượng Như vậy, thành phần hữu cơ trong rác thải trường hợp nghiên cứu tại 72 xã nông thôn Hải Dương là khá cao so với nhiều địa phương khác trên cả nước Điều này được giải thích do hiệu quả tái sử dụng chất hữu cơ (chăn nuôi, bón ruộng…) còn thấp tại một số địa phương này
Hình 5 Thành phần rác thải phát sinh trên địa bàn Hải Dương
Các loại chất thải nguy hại trong rác thải sinh hoạt nông thôn gồm có: kim tiêm và các dụng cụ y tế khác; pin khô sau khi sử dụng; dầu thải và giẻ dính dầu thải từ đèn, bếp dầu, phương tiện giao thông được thu gom chung; bóng đèn huỳnh quang, thùng, can và các vật dụng khác chứa hoá chất (sơn, hoá chất gia dụng khác)… nhưng lượng này không đáng kể Chỉ có 6,45% số mẫu rác thải được thu thập trong thời gian nghiên cứu có chứa chất thải nguy hại và chỉ chiếm khoảng 1 – 8% về khối lượng tại một hộ có phát sinh Giá trị này tương đương trong toàn bộ
1334 hộ gia đình tiến hành đánh giá, lượng chất thải nguy hại chỉ chiếm khoảng 0,06% về khối lượng
66.98 8.01
4.00 1.71
12.28
7.04
Chất thải hữu cơ (%) Giấy-bìa các loại (%) Nhựa các loại (%) Thuỷ tinh (%) Túi nilon các loại (%) Thành phần trơ các loại (%)
Trang 30Không có sự khác biệt đáng kể về mặt thành phần rác thải của các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Thành phần dễ phân huỷ (bao gồm chất hữu cơ, giấy bìa các loại) dao động trong khoảng 72,48% đến 79,22% trong đó cao nhất ở các huyện Ninh Giang (79,22%), Chí Linh (77,91%), Tứ Kỳ (77,34%) và thấp nhất ở các huyện Bình Giang (72,63%), Gia Lộc (72,52%), Cẩm Giàng (72,48%) Thành phần khó phân huỷ (phần còn lại) dao động trong khoảng 20,78% đến 27,52% Với công tác xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn hiện tại trên địa bàn 12 đơn
vị hành chính của tỉnh Hải Dương, hình thức chôn lấp tại các BCL không hợp vệ sinh, điều này đã và đang gây ra các nguy cơ tiềm ẩn đối với chất lượng môi trường đất, nước, không khí tại khu vực chôn lấp Bên cạnh đó, với tổng lượng rác thải lớn, nhu cầu về diện tích đối với các BCL là rất lớn nếu vẫn tiếp tục áp dụng biện pháp
xử lý hiện tại Thành phần rác thải cũng ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác xử lý
Do thực trạng này, việc áp dụng xử lý rác thải sinh hoạt bằng hình thức chôn lấp hiện nay đã và đang gây ra những nguy cơ rất cao đối với chất lượng môi trường (đất, nước, không khí) và sức khoẻ con người
2.2 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt
2.2.1 Hệ thống kỹ thuật trong quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn
Hệ thống kỹ thuật trong quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn ở Hải Dương nói riêng và nhiều địa phương khác trên cả nước nói chung bao gồm có các công đoạn sau đây:
a Công tác phân loại tại nguồn
Trước khi thực hiện thu gom, tại một số hộ gia đình có phương thức phân loại, tái sử dụng, tái chế ngay trong nội vi gia đình Hình thức quản lý rác thải tại gia đình như sau:
- Đối với rác thải hữu cơ có nguồn gốc từ thực phẩm thừa trước chế biến: chỉ 32,97% số hộ tiến hành phân loại trước thu gom, tuy nhiên 87,43% số hộ tiến hành phân loại đều thực hiện phân loại thường xuyên (1 lần/ngày – 1 lần/tuần)
- Đối với rác thải hữu cơ có nguồn gốc từ thực phẩm thừa sau chế biến: 49,72% số hộ tiến hành phân loại trước thu gom, tuy nhiên gần 100% số hộ tiến hành phân loại đều phân loại thường xuyên (1 lần/ngày – 1 lần/tuần)
Trang 31- Đối với chất hữu cơ khác (da, vải, gỗ…): 1,86% số hộ tiến hành phân loại trước thu gom nhưng với tần suất rất thấp (1 tháng/lần - một vài lần/năm)
- Đối với giấy, bìa các loại: 100% số hộ được hỏi tiến hành phân loại trước khi thải bỏ
- Đối với nhựa, kim loại, thuỷ tinh: 100% số hộ được hỏi tiến hành phân loại trước khi thải bỏ nhưng với tần suất dao động từ thường xuyên đến thỉnh thoảng hoặc hiếm khi Điều này cho thấy hiệu suất của quá trình phân loại thấp (phân loại không triệt để)
- Đối với xỉ than, đất, gạch vụn, đá sỏi, cát bụi các loại: 99,62% số hộ không tiến hành phân loại trừ một số ít hộ phân loại để rải đường, đầm nền nhưng quy mô không lớn và không phổ biến
Như vậy, có ít nhất 40,71% số hộ gia đình không bao giờ tiến hành phân loại rác thải sinh hoạt trước khi thải bỏ Và theo cách này có khoảng gần 60% số hộ tiến hành phân loại trước khi thải bỏ Tuy nhiên lợi nhuận thu được từ quản lý nội vi đối với rác thải khá thấp (vài nghìn đồng/tháng) kể cả đối với những hộ tiến hành phân loại thường xuyên, do đó hiệu quả của việc phân loại rác thải không cao Địa phương còn rất ít mô hình xử lý rác thải thành phân compost (tái chế rác thải) nên chưa khuyến khích được người dân tham gia hoạt động này
Bảng 10 Phần trăm số hộ áp dụng tự quản lý và xử lý rác thải
Tái chế
Chôn lấp
Đổ
tự do
Thu gom
Trang 32Rác thải trước khi thu gom được chứa trong các loại thùng chứa rác gia đình
tự trang bị (thùng – sọt rác; xô thường, thùng xốp, sọt tre…); hiện chưa có địa phương nào trang bị cho các hộ gia đình phương tiện chứa rác tạm thời Thông qua kết quả điều tra trên 245 đơn vị thu gom rác thải đại diện của 64 (có hoạt động thu gom) trong tổng số 72 xã được thực hiện điều tra thuộc về 12 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhận định chung về tình hình tổ chức quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn với các nội dung cơ bản sau: Hình thức tổ chức quản lý, hiện trạng nhân lực, trang thiết bị và hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn
Hình 6 Phần trăm số hộ áp dụng tự quản lý và xử lý rác thải
b Công tác thu gom
Kết quả điều tra phỏng vấn 12 đơn vị hành chính cấp huyện và 72 đơn vị hành chính cấp xã cho thấy hình thức tổ chức quản lý nhà nước về rác thải sinh hoạt nông thôn hiện nay như sau:
Có 8/72 xã không có tổ đội thu gom, không tổ chức thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt bao gồm: Cổ Thành, An Lạc thuộc thị xã Chí Linh; Tân Tiến thuộc huyện Gia Lộc; An Sinh thuộc huyện Kinh Môn; Thanh Khê, Thanh Hải thuộc huyện Thanh Hà; Quang Trung thuộc huyện Tứ Kỳ Các xã còn lại đều có từ 1 – 10
tổ thu gom rác thải sinh hoạt ứng với số lượng hộ dân, số đơn vị cấp thôn (thôn, xóm, thị tứ) trực thuộc Trung bình mỗi xã đều có khoảng 3 – 4 đơn vị thu gom rác thải sinh hoạt
19.97 52.89
7.59 57.68
Trang 33Khi xem xét về hình thức tổ chức quản lý, hiện nay có nhiều tổ chức tham gia quản lý rác thải sinh hoạt trên một địa bàn cụ thể, trong đó có thể chia ra thành
05 nhóm cơ bản thuộc về hai hình thức sau:
(1) Tổ đội thu gom là hình thức tổ chức cơ bản, chiếm số lượng đông đảo và hiện đang đóng góp tích cực vào công tác quản lý rác thải sinh hoạt nhiều khu vực nông thôn và ven đô thị nước ta Tổ vệ sinh môi trường(VSMT) có trách nhiệm thu gom, vận chuyển toàn bộ khối lượng rác thải sinh hoạt từ nguồn phát sinh trong khu vực được giao quản lý đến điểm tập kết hàng ngày, bảo đảm đúng thời gian, tuyến đường quy định Đồng thời, vệ sinh thường xuyên khu vực điểm tập kết rác thải sinh hoạt của thôn, bảo quản phương tiện, dụng cụ VSMT theo sự chỉ đạo, phân công của UBND cấp xã và trưởng thôn
(2) Đơn vị cung cấp dịch vụ thu gom rác thải thông thường tại đó việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển rác thải thông thường do các công ty dịch vụ, hợp tác xã dịch
vụ hoặc hộ gia đình (gọi tắt là chủ thu gom) thông qua hợp đồng thực hiện dịch vụ Theo đó, chủ thu gom tự chủ động đảm bảo về nhân lực, phương tiện, trang thiết bị nhằm thu gom, vận chuyển toàn bộ rác thải tại những địa điểm đã quy định trong hợp đồng dịch vụ Loại hình đơn vị dịch vụ bao gồm có: công ty môi trường đô thị, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã VSMT, hộ gia đình kinh doanh dịch vụ rác thải…
(3) Phạm vi nghiên cứu này tiến hành trên các xã thuộc khu vực nông thôn của tỉnh Hải Dương, do đó hình thức tổ chức quản lý rác thải chủ yếu là mô hình tổ đội thu gom (238/245 đơn vị, chiếm 97,14% về số lượng) Bên cạnh đó cũng có một số
mô hình quản lý rác thải khác như:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn môi trường phụ trách tại thôn An Dương, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn môi trường Nam Sơn, xã Tam Kỳ, huyện Kim Thành;
- Hợp tác xã VSMT thôn Hội Yên, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện;
- Hợp tác xã VSMT thôn Trung Tâm và thôn Hoàng Gián mới, xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh;
- Công ty môi trường đô thị Hải Dương phụ trách tại xóm 1 và xóm 2, xã Thạch Khôi, Thành phố Hải Dương;
Trang 34- Nhóm tự quản ví dụ mô hình hội phụ nữ tự quản lý rác thải sinh hoạt trong phạm vi thôn, xóm tại thôn Tuấn, thôn Phúc Lão – xã Hùng Thắng – huyện Bình Giang – tỉnh Hải Dương
Bảng 11 Hình thức tổ chức quản lý rác thải trên địa bàn nghiên cứu
Nguồn: Số liệu điều tra, 2012
Do ảnh các hình thức quản lý khác chỉ chiếm 2,86% trong tổng số các hình thức tổ chức quản lý rác thải, do đó không ảnh hưởng lớn tới hiệu quả quản lý rác thải chung của toàn huyện hoặc toàn tỉnh Sau đây, nhóm nghiên cứu đánh giá chung về hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt nông thôn đối với tất cả các hình thức
tổ chức quản lý – tổ, đội thu gom (sau đây gọi tắt là tổ) Tuy có thể nói hình thức tổ chức không liên hệ trực tiếp tới hiệu quả quản lý rác thải nhưng ảnh hưởng gián tiếp tới công tác quản lý rác thải thông qua một số vấn đề xã hội như mức lương, các đãi ngộ khác được hưởng đối với người lao động trong các đơn vị quản lý rác thải Do
đó, để xem xét rõ hơn về ảnh hưởng của các vấn đề này tới công tác quản lý rác thải
ở địa phương chúng tôi sẽ phân tích rõ hơn trong phần 2.2.4
Các tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải có nguồn gốc sinh hoạt trên địa bàn các xã nông thôn Hải Dương phần lớn được tổ chức bằng cách vận động tham gia do chính sách quản lý rác thải của thôn, xóm, hội phụ nữ và các hội đoàn thể khác
Công tác thu gom rác sinh hoạt trên địa bàn tỉnh hiện nay do 2 lực lượng chính thực hiện là công lập và dân lập Theo số liệu điều tra thực tế trên địa bàn 72
xã nghiên cứu, số lượng nhân lực phục vụ công tác thu gom rác thải là 836 người
Nhân lực tham gia thu gom và vận chuyển rác thải chủ yếu là lao động nhàn rỗi từ các hoạt động sản xuất khác
Trang 35Trung bình một tổ đội thu gom có khoảng từ 1 đến 4 người, thông thường là người trong một gia đình Cá biệt, các đơn vị tổ chức thu gom do đoàn thể địa phương tự tổ chức ví dụ Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, số người tham gia trực tiếp công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt lên tới vài chục người (cao nhất là tại thôn Tuấn, xã Hùng Thắng, huyện Bình Giang với tất cả thành viên Hội phụ nữ thay phiên nhau hoạt động trong tổ thu gom – 50 người) Bên cạnh các đoàn thể xã hội, phần lớn các tổ đội thu gom do chính quyển xã, tổ chức tự quản thôn thành lập thường tự lựa chọn ra một hộ, một vài cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt trong địa phương để thành lập tổ đội thu gom Tại 72 xã nghiên cứu, 131 trong số 245 tổ đội được điều tra được thành lập từ một hộ gia đình trong đó 89/131 là hộ nghèo (chiếm 36,32% số tổ đội được điều tra)
Trong 12 huyện được điều tra, số lượng nhân lực thu gom rác thải trung bình trên một tổ đội cao nhất lần lượt là Nam Sách, Thanh Hà, Ninh Giang, Kim Thành
và Tứ Kỳ Trong khi đó, tại huyện Gia Lộc, huyện Cẩm Giàng, thị xã Chí Linh, TP Hải Dương, huyện Bình Giang và huyện Kinh Môn lần lượt là những địa phương có
số lượng nhân lực tham gia quản lý rác thải thấp Tại các địa phương này, mỗi tổ thông thường có 2 người, một số tổ chỉ có 1 người
Trong số 836 người thu gom vận chuyển được điều tra có 633 người làm
việc bán thời gian chiếm 75,69% Theo đó 24,31% số người thu gom, vận chuyển làm việc toàn thời gian với thu nhập chính từ nguồn kinh phí thu gom, quản lý rác thải Những người lao động này chủ yếu làm việc trong các Hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn… cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải Trong tổng
số người nêu trên, có 449 người (chiếm 53,71%) có hợp đồng lao động, được hưởng các chính sách xã hội khác ngoài lương; phần còn lại không có hợp đồng lao động, không được hưởng chính sách lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
và các trợ cấp khác khi tham gia quản lý rác thải
Bảng 12 Số lượng xe thu gom, quãng đường thu gom và nhân lực trung bình
của một tổ thu gom trên địa bàn từng huyện
chuyển(km/ngày)
Nhân lực (người/tổ)
Trang 36Trung bình Khoảng
biến động Trung bình
Khoảng biến động
Nguồn: Số liệu điều tra, 2012
Hình 7 Nhân lực và chiều dài tuyến thu gom trung bình của các địa phương
Nguồn: Số liệu điều tra, 2012
Như vậy, một số địa phương có diện tích rộng như thị xã Chí Linh, huyện Kim Môn, huyện Kim Thành, huyện Tứ Kỳ, huyện Thanh Hà… hiện nay có hai phương thức để đảm bảo công tác quản lý chủ yếu: một là tăng số nhân lực và trang thiết bị thu gom rác thải kéo theo đó là tăng chi phí cho công tác thu gom (huyện
1 2 3 4 5
Trang 37Thanh Hà, Tứ Kỳ) Hai là giữ nguyên số nhân lực thu gom rác thải nhưng tăng số chuyến hoặc tăng tần suất thu gom để thu gom được hết rác thải phát sinh (huyện Kim Thành, thị xã Chí Linh…)
Công đoạn thu gom được thực hiện bằng hai hình thức sau đây:
+ Quy trình thu gom thủ công: công nhân chủ yếu sử dụng xe đẩy tay dung tích 0,66
m3 hoặc xe cải tiến tự trang bị (dung tích 1 – 3 m3) thu gom rác từ hộ dân thuộc địa bàn quản lý của Công ty, hợp tác xã, tổ đội Sau đó đẩy xe rác đến điểm tập kết rác hoặc điểm trung chuyển
+ Quy trình thu gom cơ giới: sử dụng xe cơ giới (chủ yếu là xe công nông) đi dọc tuyến đường để thu gom rác, sau đó chuyển đến trạm trung chuyển
Trang thiết bị liên quan tới quá trình thu gom rác thải có nguồn gốc sinh hoạt nông thôn gồm có:
- Thùng rác cố định: hiện nay, chỉ có một số địa phương trang bị thùng rác cố
định trên đường phố tại các thị trấn, thành phố Rất ít xã trang bị thùng rác tại các nơi công cộng Trong 72 xã thực hiện điều tra chỉ có 3 xã có thùng rác cố định: thôn Nại Trì, xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện; thôn Hoàng Tường, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện; thôn Phương La, xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà Tuy nhiên, đa phần các loại thùng rác cố định này là các loại thùng tạm thời do chính quyền địa phương hoặc cụm dân cư tự trang bị, không có nắp đậy và có thể rò rỉ nước rỉ rác ra môi trường xung quanh
- Xe thu gom: chủ yếu là xe đẩy tay có kích cỡ nhỏ, linh động, dễ di chuyển
vào trong các ngõ nhỏ, di chuyển được trên đường đất… gồm có hai loại: xe đẩy tay thu gom rác chuyên dụng và xe cải tiến Xe đẩy tay thu gom rác chuyên dụng được chính quyền địa phương (cấp huyện trở lên) trang bị cho một số xã trong các chương trình sự nghiệp môi trường của địa phương Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khác nhau một số địa phương chưa được trang bị hoặc do không phù hợp với điều kiện của địa phương nên các tổ đội thu gom sử dụng xe cải tiến Xe cải tiến thường có dung tích chứa rác lớn hơn xe đẩy tay chuyên dụng, nhẹ hơn và linh động hơn do đó được nhiều tổ đội thu gom sử dụng
- Chổi, cào, gầu hót, xẻng…
Trang 38- Bảo hộ lao động: gồm có khẩu trang (loại thường); gang tay (vải hoặc cao
su); ủng cao su; quần áo bảo hộ lao động
Bảng 13 Nguồn gốc một số loại trang thiết bị phục vụ thu gom, vận chuyển CTR
Loại trang thiết bị Đơn vị tính Nguồn gốc
Nguồn: Số liệu điều tra, 2012
Trong đó, khi xem xét các loại trang biết bị chính, tổng số xe thu gom là 393 cái/245 tổ đội trong đó được cấp 270 cái chiếm 68,7% tuy nhiên rất nhiều tổ đội không sử dụng đến các xe này do quá nặng, dung tích chứa nhỏ (0,66 m3), không phù hợp với đường đất, đường cánh đồng 123 xe cải tiến do tổ đội thu gom tự trang
bị (chiếm 31,3% tổng số xe) có ưu điểm nhẹ hơn (bánh hơi), phù hợp với nhiều loại đường giao thông, thể tích chứa rác lớn hơn (có thể lên đến 2 m3 - nếu chất đầy) Xe vận chuyển được địa phương trang bị cho tổ đội thu gom có 14 cái (tính trên 245 tổ) chiếm 26,9% còn lại là công nông và xe tải loại 1,3 tấn (38 cái – chiếm 73,1%) là chủ yếu
Trang thiết bị bảo hộ lao động được một số địa phương trang bị cho người thu gom trích từ nguồn thu lệ phí thu gom rác thải do dân đóng góp (1.000 đồng/người/tháng – 20.000 đồng/người/tháng) thông thường là 2 đôi ủng/người/năm; 2 đôi gang tay/người/năm; 2 khẩu trang/người/năm hoặc ít hơn Một số địa phương không trang bị bảo hộ lao động cho người thu gom Tuy nhiên,
số lượng trang bị bảo hộ lao động trên không đủ cho người lao động Theo phản ánh của các người thu gom được phỏng vấn, số lượng bảo hộ lao động (cộng dồn các loại) mà địa phương trang bị cho 1 người thu gom là 617 cái/245 tổ trong khi đó lượng sử dụng thực tế là 1917 cái/năm do đó, lượng trang bị chỉ đáp ứng được khoảng 32,2% nhu cầu Phần còn lại do người thu gom tự trang bị thêm
Trang 39Xe đẩy tay Xe cơ giới Bảo hộ lao động
Hình 8 Số lượng trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải từ các nguồn khác nhau
Bên cạnh đó, có khoảng 36,8% người được hỏi khi thu gom không sử dụng đến bất cứ trang bị bảo hộ lao động nào (ngoại trừ khẩu trang); 53,9% không sử dụng gang tay (một cách thường xuyên) do gang tay gây ảnh hưởng tới thao tác khi thu túi nilon đựng rác; 70,2% người lao động được hỏi không thường xuyên sử dụng ủng cao su hoặc các loại giầy bảo hộ lao động; 100% người thu gom trong các
tổ đội VSMT (không kể công ty môi trường đô thị Hải Dương) không có quần áo bảo hộ lao động
Với số lượng nhân lực nêu trên ứng với lượng rác thải phát sinh trên một khoảng thời gian nhất định lớn và địa bàn phụ trách rộng, mỗi tổ đội thu gom thường phải vận chuyển khoảng 2 – 6 chuyến xe/lần thu gom Quãng đường vận chuyển rác từ hộ dân – điểm trung chuyển – BCL dao động trong khoảng 5,4 – 13,5 km/ngày thu gom Vấn đề tuyến vận chuyển rác thải xa gặp phải ở các địa phương như thị xã Chí Linh, huyện Kim Thành và Kinh Môn (Ví dụ: khoảng cách từ bãi chôn lấp tập trung đến khu dân cư khoảng 1,5 km (An Lạc – Chí Linh), trung bình vận chuyển 10 chuyến/ngày, do đó tổng quãng đường vận chuyển là 30 km/ngày) Nhân lực mỏng, thiếu trang thiết bị, trang thiết bị lạc hậu, thô sơ (chủ yếu là xe đẩy tay, xe cải tiến) cùng với điều kiện về tuyến đường vận chuyển còn nhiều khó khăn gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở địa phương Tổng kết một số khó khăn về phương tiện thu gom và quãng đường vận chuyển trên một số địa phương trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương tập trung vào các nội dung sau:
Trang 40Hình 9 Một số xe thu gom rác được sử dụng trên địa bàn Hải Dương
Nhiều địa phương chưa được trang bị xe thu gom: các xã thuộc huyện Gia Lộc, thị xã Chí Linh, huyện Kim Thành, huyện Ninh Giang… Một số địa phương được trang bị xe thu gom nhưng xe quá nặng, quá to không phù hợp với giao thông
và địa hình BCL ở Hải Dương: huyện Bình Giang, huyện Tứ Kỳ, huyện Nam Sách… Ví dụ: xe đẩy tay loại 0,66 m3 có thân xe và các trục đều làm bằng sắt, quá nặng trong khi chỉ có 1 người thu gom; xe cải tiến được chính quyền địa phương trang bị cho tổ đội thu gom quá lớn, không đi được trên đường đất; phần lớn các xe cải tiến tự chế đều khá lớn, lượng rác vận chuyển trên một lần lớn phải có 2 người thu gom thực hiện thu gom trong một lần
Bên cạnh đó, đường ra bãi chôn lấp quá xa (Kim Thành, Chí Linh…) hoặc số lượng chuyến nếu thu gom bằng xe đẩy tay trong một lần thu gom quá nhiều (Ninh Giang, Bình Giang…) không thể sử dụng xe đẩy tay, tổ thu gom địa phương phải tự trang bị xe cơ giới: huyện Kim Thành, thị xã Chí Linh để phục vụ thu gom Các loại
xe cơ giới thường sử dụng là công nông, xe ngựa gắn với đầu máy kéo được sử dụng khá phổ biến tại các tổ đội thu gom có tần suất thu gom thấp (1 lần/tuần hoặc
2 lần/tuần)