HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ HỒNG MẠNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI MỌT THÓC ĐỎ Tribolium castaneum Herbst GÂY HẠI TRÊN HOA CÚC KHÔ NHẬP KHẨU TẠI CỬA
Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Cơ sở khoa học của đề tài
Các loại thảo dược được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong việc chữa trị từ lâu đời Các loài hoa là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang và được phát triển bởi các lương y người Việt Thuốc Nam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam Các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác (còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng "Nam dược trị Nam nhân" - thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam)
Thuốc đông y khi sử dụng không chỉ an toàn hơn các loại thuốc hoá học đắt tiền, mà còn có tác dụng điều trị nhằm tăng cường sức khoẻ, sức đề kháng của cơ thể đặc biệt đẩy lùi được một số căn bệnh hiểm nghèo Một trong những mặt hàng truyền thống được người Việt Nam sử dụng từ rất lâu đó là nguyên liệu các loại thảo dược Lượng nguyên liệu thảo dược nhập khẩu hàng năm ngày càng tăng cả về số lượng, khối lượng và chủng loại
Hiện nay, việc bảo quản nguyên liệu thảo dược nhập khẩu còn gặp nhiều khó khăn do các điều kiện về kho tàng, cách bảo quản, nhất là do sự gây hại của nhiều loại côn trùng làm hao hụt nguyên liệu, giảm giá trị hàng hóa trong kho bảo quản Một trong những đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại nghiêm trọng trong các kho bảo quản nguyên liệu thảo dược là loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) được phát hiện trên nhiều loại nông sản bảo quản khác nhau và các nhà khoa học cũng đã có công trình nghiên cứu quan tâm đến loài côn trùng này Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) chưa nhiều, nhất là trên mặt hàng bảo quản là nguyên liệu thảo dược.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước về loài mọt thóc đỏ Tribolium
Vị trí phân loại và danh pháp như sau:
- Ngành chân đốt (Phylum): Arthropoda
- Lớp côn trùng (Class): Insecta
- Bộ cánh cứng (Order): Coleoptera
Tên khác: Colydium castaneum (Herbst), Tribolium navala auct
Theo CABI (2018) mọt thóc đỏ có tên khoa học là Tribolium castaneum
(Herbst) và có tên tiếng anh là mọt bột đỏ (Red flour beetls), Bọ cám (Bran bug), Mọt bột đỏ gỉ sắt (Rust red flou beetle), Mọt bột (Flour beetle), Mọt thóc đỏ gỉ sắt (Rust red grain beetle), Mọt bột xay đỏ (Red meal beetle)
2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố
Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) là côn trùng hại thứ phát đối với các sản phẩm kho và có phổ ký chủ rộng (Adil, 1982) Thức ăn gồm ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc; bột mì, ngô, lúa mì, lúa mạch, bột ngô, hạt kê, yến mạch, gạo, lúa mạch đen, cám lúa mì, quả đậu, sữa bột, hạt cỏ khô, mẫu cây bảo tảng, bả độc tẩm Asen, thức ăn gia súc khô, gia vị, nhiều loại thực phẩm cất trữ, hầu hết các sản phẩm của thực vật và động vật khô, thậm chí còn có thể ăn lẫn nhau như pha trứng và pha nhộng côn trùng sống trong điều kiện quần thể quá đông (Subramanyam et al.,1996; Haines, 2001)
Ký chủ chính: ngô, lúa gạo, lúa mì, sản phẩm khô cất giữ, yến mạch, lúa miến, lúa mạch đen, lúa mạch, đậu, đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu lima, lạc, quả óc chó, quả hạch, lúa mì spenta (CABI, 2003)
Ký chủ phụ: sắn, hạt nhục đậu khấu, hạt kê, hạt kê trai, thuốc lá, cám mì, cỏ đinh lăng, cây lanh, cao su, bông, cánh hoa rum khô, hạt hướng dương, đậu tương, củ gừng, ớt chuông, bột quế, bột ca cao, củ từ, củ khoai sọ, khoai lang, kê xay, đậu quả, đậu đen, đậu bầu dục, chà là, lúa miến, lúa mì
Tribolium castaneum (Herbst) (Coleoptera: Tenebrionidae) là một loại côn trùng được lưu trữ rộng rãi và phá hoại ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trưởng thành của mọt thóc đỏ và sâu non tấn công nhiều nhà máy bột mì, nhà kho và cửa hàng tạp hóa và ăn nhiều loại rau khô, chẳng hạn như các sản phẩm ngũ cốc xay Côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng về trọng lượng và chất lượng của các sản phẩm được lưu trữ (Abdelgaleil et al., 2015)
2.2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
2.2.3.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Theo Haines (1991), họ Tenebronidae là một nhóm côn trùng lớn và đa dạng chứa hơn 10.000 loài trong đó có khoảng 100 loài được ghi nhận ở sản phẩm lưu trữ Hầu hết các loài trong giống Tenebrionidae có màu đen hoặc tối, có thể được tìm thấy trong các cửa hàng có chứa ngũ cốc bị nhiễm khuẩn, đặc biệt trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới
Rizana (2005), cho biết mọt thóc đỏ Triborium castaneum đẻ trứng nhỏ, hình trụ, màu trắng nằm rải rác trong sản phẩm Sâu non có màu vàng với đầu màu nâu nhạt, chúng sống bên trong các hạt cho đến khi hóa nhộng Trưởng thành dài khoảng 3 - 4 mm và có thể sống từ một năm trở lên
Adil (1982), ghi nhận trưởng thành của mọt thóc đỏ Triborium castaneum có chiều dài từ 3 đến 4 mm, cơ thể có màu nâu Râu đầu 11 đốt và 3 đốt cuối phình to Mắt kép, khoảng cách giữa 2 mắt kép bằng đường kính của mắt kép Chiều dài trung bình của mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 3,32 và chiều rộng là 1,03 mm Nhộng có màu nhạt và không hoạt động, ngoại trừ cũng có khả năng uốn cong cơ thể giữa ngực và bụng William (2000) đã nghiên cứu về loài
Triborium castaneum và cho rằng chiều dài của nhộng đực là 3,81 ± 0,03 mm và chiều rộng là 1,07 ± 0,03 mm Chiều dài và chiều rộng của nhộng cái là 4,12 ± 0,01 mm và 1,15 ± 0,01 mm
Chitrangad (2012), đã mô tả: trứng của mọt thóc đỏ Triborium castaneum có hình bầu dục, màu trắng hoặc không màu và gần như trong suốt khi mới đẻ và sau đó chuyển màu vàng nhạt, vỏ bên ngoài được phủ một chất dính, trứng có chiều dài trung bình 0,56 mm rộng 0,27 mm Sâu non có 7 tuổi, cơ thể màu vàng trắng Nhộng có màu trắng với chiều dài 3,5- 4,0 mm và rộng 1,1 mm Trưởng thành mọt thóc đỏ mới vũ hóa có màu vàng nhạt, sau đó dần biến thành màu nâu đỏ và nâu đen, trưởng thành có chiều dài từ 3 đến 4 mm, chiều rộng là khoảng 1 mm, hẹp, dài, cơ thể hình chữ nhật
Singh et al (2006), cho biết sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có từ 5-12 tuổi, cơ thể sâu non màu vàng trắng và có hình trụ, sâu non tuổi 1 thường từ dưới 1 mm, sâu non trưởng thành thay đổi từ 5 đến 7 mm
Bhubaneshwari and Devi (2014), mô tả trứng mới đẻ rất nhỏ, màu trắng, hình trụ thường có bột bọc xung quanh trứng và khiến trứng trở nên khó nhìn, chiều dài của trứng dao động từ 0,54 đến 68 mm với giá trị trung bình 0,59 ± 0,02 mm, trong khi chiều rộng dao động từ 18 đến 29 mm với giá trị trung bình 0,23 ± 0,02 mm Chiều dài trung bình trứng được tìm thấy là 0,42 mm, và chiều rộng là 0,13 mm Sâu non mới nở cơ thể có màu kem trắng, trong suốt, đầu màu nâu nhạt với mắt nâu, sâu non đẫy sức cơ thể có màu vàng nâu
Nhộng có đôi mắt phát triển đầy đủ, nhộng không có kén và ban đầu có màu trắng ngày đầu tiên, sau đó chuyển dần sang màu vàng ở giai đoạn thứ hai và cuối cùng chuyển thành màu nâu Phía lưng được bao phủ bởi lớp lông mịn Ở giai đoạn này nhộng không hoạt động và không ăn (Bhubaneshwari and Devi, 2014)
Trưởng thành mọt thóc đỏ có màu đỏ nâu, đầu dẹt và rộng Mắt kép màu đen, nhìn ở mặt dưới đầu thì thấy khoảng cách của 2 mắt kép bằng đường kính của mắt kép Râu hình chùy có 11 đốt, 3 đốt đầu phồng to lên Trưởng thành đực có một gai lồi ở phía sau của xương đùi trước trong khi trưởng thành cái không có Chiều dài của trưởng thành đực là 3,06 ± 0,03 mm và chiều rộng là 1,28 ± 0,30 mm, chiều dài và chiều rộng của trưởng thành cái là 3,70 ± 0,01 mm và 1,28 ± 0,03 tương ứng (Bhubaneshwari and Devi, 2014)
2.2.3.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Theo Stuart (2003), mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) đẻ 300-400 trứng trong bột mì hoặc các loại thực phẩm khác trong khoảng thời gian từ 5 đến 8 tháng (2-3 trứng /ngày) Thời gian phát dục của trứng dao động từ 5 -12 ngày, sâu non có hình trụ, màu trắng sau đó chuyển dần sang màu vàng Thời gian phát dục của sâu non từ 22 - 100 ngày Sâu non phát triển đẫy sức chuyển sang pha nhộng ở dạng nhộng trần và trong một tuần trưởng thành xuất hiện Vòng đời từ 7 đến 12 tuần, thời gian sống của trưởng thành từ 3 năm trở lên
Chitrangad (2012), đã nghiên cứu sinh học của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum trên bột mì và cho rằng vòng đời của mọt thóc đỏ Triborium castaneum khoảng 22 ngày
Bhubaneshwari and Devi (2015) đã ghi nhận ở nhiệt độ 29 o C và ẩm độ 59% thời gian phát dục của trứng mọt thóc đỏ là 4 - 5 ngày, sâu non có 7 lần lột xác và tổng thời gian phát triển của giai đoạn trước trưởng thành dao động từ 70 -
83 ngày, trung bình là 76,5 ngày Thời gian phát dục của nhộng kéo dài từ 6 đến
Tình hình nghiên cứu trong nước
2.3.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật
Với chính sách mở cửa, việc buôn bán giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển nên lượng hàng hoá thuộc diện KDTV nhập khẩu vào nước ta với số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới
Theo thống kê của cơ quan kiểm dịch thực vật mỗi năm hàng triệu tấn hàng thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước, mặt khác với chủ trương đi tắt đón đầu về công nghệ, đa dạng hoá cây trồng, chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống cây trồng chủ đạo có năng xuất cao vào thay thế dần các giống cũ trong nước (Báo cáo Công tác Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 7, 2018) Các mặt hàng thuộc diện kiểm dịch thực vật được nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta khá lớn, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật gây hạı nói chung, sâu mọt gây hại nói riêng xâm nhập, lây lan vào trong nội địa
Những năm qua tình hình sinh vật gây hại xuất hiện trên hàng nhập khẩu diễn biến tương đối phức tạp, thành phần rất đa dạng như nấm bệnh, côn trùng, cỏ dại, tuyến trùng, vi khuẩn, virus… Hầu hết các lô hàng nông sản đều bị nhiễm sinh vật gây hại nhưng với mức độ và tính chất khác nhau, nguồn gốc đa dạng phong phú
Việt Nam công bố: 114 loài sinh vật thuộc diện đối tượng KDTV trong đó có 60 loài côn trùng Việc nghiên cứu thành phần sinh vật gây hại nói chung và sâu mọt gây hại nói riêng trên các sản phẩm thuộc nông sản xuất nhập khẩu của ngành BVTV cho thấy: từ năm 1998 đến năm 2002, đã phát hiện hơn 40 loài côn trùng, gần 30 loài nấm bệnh, 58 loài cỏ dại, hàng chục loài tuyến trùng, vi khuẩn, vi rus là dịch hại thuộc đối tượng KDTV như: Radopholus similis; Ephilis oryzae; Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora subterranea; Lolium temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides obtectus…(Cục BVTV, 2002)
Năm 2002 tại các chi cục kiểm dịch thực vật đã phát hiện 531 lần dịch hại thuộc đối tượng KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột khoai tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện Trogoderma inclusum, 53 lần phát hiện Trogoderma granarium Trong những năm qua sinh vật gây hại xuất hiện trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là các dịch hại thuộc đối tượng KDTV bị phát hiện gần 900 lần Chúng có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Những dịch hại trên đã được xử lý triệt để tại các cửa khẩu (Viện BVTV, 2008)
Việc phát hiện thành phần sinh vật gây hại cũng như nguồn gốc xuất xứ của các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý và quản lý sinh vật gây hại trên hàng nhập khẩu vào Việt Nam
2.3.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ
2.3.2.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Bùi Công Hiển (1995), mô tả mọt thóc đỏ có màu nâu đỏ sáng đến nâu tối, dài 3 - 4,2 mm Râu đầu hình chùy và có 3 đốt phình to rõ ràng Trứng có dạng dài, chiều dài 0,6 mm và chiều rộng 0,4 mm, màu trắng bóng và được phủ bên ngoài bằng một lớp quánh dính do con cái tiết ra Sâu non có 6 chân với đầu màu nâu thẫm, lúc đầu cơ thể màu trắng sau chuyển nâu vàng, chiều dài sâu non mới nở là 1,2 mm, đốt bụng thứ chín mang đôi phần phụ dung để bò Sâu non đẫy sức có chiều dài 6 - 7 mm Nhộng dài 3,5 - 4 mm
Nguyễn Thị Bích Yên (1998), cho rằng trứng dài 0,47 - 0.55mm, rộng 0,29 - 0,33mm (ở 25 o C) và dài 0,52 - 0,56mm, rộng 0,31 - 0,37mm (ở 30 o C); Nhộng dài 3,61mm - 4,0mm và rộng 1,05 - 1,2mm
Theo Vũ Quốc Trung (2008), Tenebrionidae là một họ bọ cánh cứng được tìm thấy trên toàn thế giới, ước tính khoảng hơn 20.000 loài Nhiều con bọ cánh cứng có cánh màu đen, dẫn đến tên gọi chung của họ là Bọ cánh cứng bóng tối Ngoài 9 phân họ liệt kê ở đây Tenebrionidae là họ lớn nhất và quan trọng nhất trong bộ Coleoptera, đa dạng về kích thước và hình dạng Đặc điểm chủ yếu:
+ Thân dẹt hình bầu dục hay hình ống
+ Bàn chân trước và giữa có 5 đốt, bàn chân sau có 4 đốt
+ Đốt hang chân trước hình cầu, ở đốt hang kiểu đóng
Hà Thanh Hương (2008), bố trí thí nghiệm nuôi mọt ở 2 ngưỡng nhiệt độ
25 o C và 30 o C thu được kết quả trứng của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum hình bầu dục, màu trắng sữa, kết cấu màng vỏ mỏng và xù xì, phủ bên ngoài một chất keo dính nên dễ dàng bám vào giá thể, trứng được đẻ thành từng quả hoặc thành từng cụm nhỏ, ở 25 o C trứng có chiều dài trung bình từ 0,65 - 0,67 mm, chiều rộng trung bình 0,33 - 0,35 mm, ở 30 o C chiều dài trung bình của trứng từ 0,64 - 0,66 mm và chiều rộng trung bình 0,31 - 0,33 mm Sâu non mới lột xác có màu trắng sau mới chuyển màu vàng, ở 25 o C sâu non đẫy sức có chiều dài trung bình 5,63 - 5,77 mm, chiều rộng (độ rộng đầu) trung bình 0,77 - 0,79 mm Ở
30 o C chiều dài trung bình 5,52 - 5,66 mm, chiều rộng trung bình 0,78 - 0,80 mm Nhộng thuộc loại nhộng trần, mới lột xác màu trắng hơi vàng, sau chuyển sang màu vàng đậm, mặt lưng có lông Dạng trưởng thành của mọt thóc đỏ có cơ thể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, rầu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hình chùy rõ ràng, đầu và phần trên của mảnh lưng ngực có nhiều điểm lõm nhỏ xếp thành hang, trưởng thành mới vũ hóa có mảnh lưng ngực màu trắng hơi vàng, hai cánh màu trắng, công thức bàn chân 5 - 5 - 4
Theo Vũ Văn Hậu (2013), sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có
4 tuổi Chiều dài của sâu non tăng dần theo từng tuổi, tuổi 1 và tuổi 2 kích thước ít thay đổi nhưng tuổi 3, tuổi 4 kích thước tăng nhanh, sâu non đẫy sức có chiều dài trung bình 6,31±0.010; rộng 0,39±0,009 Về kích thước nhộng, chiều dài trung bình 4,3 ± 0,007mm, chiều rộng trung bình 1,26 ± 0,010mm Pha trưởng thành cơ thể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, râu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hình chùy rõ ràng Kích thước của trưởng thành trung bình 4,03 ±0,009 mm; chiều rộng trung bình 4,18±0,015mm
2.3.2.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Vòng đời của sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum ở 30 o C là 5 tuần và tuổi thọ của mọt trưởng thành 1 năm hoặc dài hơn (Vũ Quốc Trung và cs., 1991) Theo Bùi Công Hiển (1995), sau 8 - 13 ngày (tùy theo nhiệt độ) trứng nở thành sâu non và sâu non lột xác từ 6 - 12 lần, mỗi ngày con cái đẻ 2 - 18 trứng và thời kỳ đẻ trứng kéo dài hơn 150 - 400 ngày, nên số lượng đẻ ra tối đa hơn 1000 trứng, trung bình 350 - 400 trứng Thời kỳ nhộng dài từ 7 - 12 ngày, tùy theo nhiệt độ, thời gian của một vòng đời dao động từ 7 tuần - 3 tháng
Trong điều kiện tự nhiên của phòng thí nghiệm (t( o C, RHs,5%), kết quả khảo sát chu kỳ sinh sinh trưởng của mọt thóc đỏ có vòng đời trung bình là
53,7 ngày, tỷ lệ vũ hoá 100% Khả năng đẻ trứng cao, trung bình 1 ngày đẻ khoảng 5 trứng/1 trưởng thành cái, trứng được đẻ liên tục ở các ngày trong thời gian khảo sát (Trần Văn Mì, 2004)
Vũ Văn Hậu (2013), chỉ ra rằng thời gian phát dục của pha trứng trung bình là 4,1 ± 0,16 ngày Thời gian phát dục của pha sâu non trung bình là 73,5 ±2,58 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng trung bình là 6,55 ±0,24 ngày Thời gian phát dục của pha giai đoạn tiền đẻ trứng trung bình là 11,3 ±0,62 ngày Vòng đời của loài mọt thứ cấp Tribolium castaneum (Herbst) trên môi trường thức ăn là sắn lát ở điều kiện 25 o C trung bình là 95,33 ± 3,58 ngày
2.3.2.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Bùi Công Hiển (1995), cho rằng ở 7 o C tất cả các giai đoạn phát triển đều chết trong vòng 25 ngày Đa số các loài côn trùng có khả năng tồn tại trong kho đều có thể xâm nhiễm vào một lớp sâu của hàng hóa nhưng loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) có xu hướng thích ở gần bề mặt
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
- Điều tra thành phần sâu mọt gây hại trên hoa cúc khô tại cửa khẩu Chi
- Phòng kỹ thuật Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7- Lạng Sơn.
Vật liệu nghiên cứu
- Nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
+ Ống nghiệm, vợt bắt côn trùng, bộ rây côn trùng, đĩa petri đường kính 10 cm, các loại hộp nhựa có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới, túi đựng mẫu, pince, kéo, bút lông, bút chì, khay đựng dụng cụ, xiên các loại, đồ dùng mở bao, hộp, cốc đong, găng tay, đồ dùng trộn chia mẫu
+ Kính hiển vi, kính lúp, hộp nuôi sâu, sổ sách ghi chép nghiên cứu
+ Cân kỹ thuật có độ nhạy ± 1 gam
+ Cồn 70 0 , formol 5%, lọ thuỷ tinh để lưu mẫu, nhãn ghi rõ thời gian.
Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu
- Đánh giá hiệu lực phòng trừ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu bằng thuốc hoá học Phosphine.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
Mẫu được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 141:2013/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2013) về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật Điều tra các lô hàng được nhập về lấy mẫu lưu kho qua cửa khẩu ở Lạng Sơn theo từng tháng (2 - 4 lần/tháng) ghi chép nguồn gốc xuất xứ của lô hàng ở các vùng khác nhau của Trung Quốc
Các điểm lấy mẫu được quy định theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc x x x x x a=b mặt trên a mặt quy ước b mặt đáy
* Số lượng bao được chỉ định lấy mẫu ban đầu phân bố đều trong lô
Số bao của cả lô Số bao được chỉ định lấy
- Từ 10 - 100 bao 4 bao và cứ thêm 20 bao thì lấy thêm 1 bao được chỉ định
- Từ 101 - 500 bao 8 bao và cứ thêm 50 bao thì lấy thêm 1 bao được chỉ định
- Từ 501 - 1.000 bao 16 bao và cứ thêm 100 bao thì lấy thêm 1 bao được chỉ định
Chú thích: - Trên 1.000 bao thì chia làm nhiều lô nhỏ
- Khối lượng mẫu ban đầu 2 kg/bao
- Trộn đều tất cả các mẫu ban đầu của mỗi lô, phân tách mẫu theo nguyên tắc chéo để lấy mẫu trung bình với khối lượng như sau:
Trường hợp khối lượng tất cả các mẫu ban đầu của một lô hạt nhỏ hơn 2 lần khối lượng mẫu trung bình thì lấy tất cả mẫu ban đầu làm mẫu trung bình
- Kiểm tra bên ngoài phương tiện, thùng xe, container và nơi chứa nguyên liệu hoa cúc khô Nếu có điều kiện thì kiểm tra bên trong phương tiện chuyên chở, chứa đựng, bên ngoài bao bì
- Nếu không có điều kiện quan sát chi tiết như trên thì việc quan sát, lấy mẫu nguyên liệu hoa cúc khô được tiến hành trong quá trình bốc dỡ vào kho bãi tại cửa khẩu nhập hoặc bốc dỡ sang xe
Lưu mẫu qua từng đợt điều tra và mẫu được kiểm tra sau các thời gian 1, 3,
6 tháng theo dõi sự xuất hiện các loài mọt trên các nguyên liệu hoa cúc khô
Chỉ tiêu theo dõi: độ thường gặp (%); mật độ mọt (con/kg)
Hình 3.1 Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
3.4.2.1 Nhân nuôi nguồn mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Nguồn mọt: Thu thập mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ các lô hàng hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
Thức ăn nhân nuôi mọt: là hoa cúc sấy khô và bột mì Thức ăn được sấy ở nhiệt độ 50 o C trong 2 giờ để loại bỏ nguồn sâu mọt có trong thức ăn, sau đó thức ăn để ẩm đạt độ thủy phần 17% thì sử dụng làm nguồn thức ăn
Ghép đôi 20 cặp trưởng thành thả vào lọ có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới Bên trong lọ có chứa 0,1 kg nguyên liệu là hoa cúc khô (và bột mỳ) sau 24h tiến hành đưa trưởng thành mọt ra khỏi hộp và tiến hành thu trứng tiến hành thí nghiệm
3.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, thời gian phát triển các pha của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Thí nghiệm nghiên cứu theo phương pháp nuôi cá thể của William (1999) Sau khi trứng nở tách riêng từng cá thể sâu non nuôi cá thể trong hộp chiều cao x đường kính (4 cm x 7 cm) bên trong có sẵn thức ăn là hoa cúc khô, hàng ngày theo dõi ngày hai lần vào 8 giờ sáng và 16 giờ chiều về sự phát triển thời gian phát dục, tỷ lệ chết của pha sâu non, nhộng và trưởng thành trước đẻ của mọt Số lượng cá thể theo dõi n0
Theo dõi thời gian phát triển các pha của mọt thóc đỏ theo từng giai đoạn (trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành)
Hình 3.2 Hình ảnh nuôi sinh học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
Pha trứng: kiểm tra hàng ngày cho đến khi trứng nở thành sâu non
Pha sâu non: hàng ngày theo dõi thời gian sâu non lột xác
Pha nhộng: tiếp tục theo dõi và đếm số lượng mỗi ngày một lần Ghi chép thời điểm khi sâu non tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng vũ hóa trưởng thành Pha trưởng thành: khi phát hiện nhộng vũ hóa trưởng thành Ghép đôi trưởng thành đực - cái trong hộp petri có thức ăn Theo dõi mỗi ngày một lần đến khi tìm thấy quả trứng đầu tiên và ghi chép ngày đẻ trứng
Chỉ tiêu: Theo dõi mô tả quan sát đặc điểm hình thái, thời gian phát dục cá thể côn trùng theo từng giai đoạn (trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành) Ghi chép số cá thể chết trong quá trình theo dõi
3.4.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ và thức ăn đến thời gian phát triển, sức sinh sản và tỉ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Tiến hành nuôi theo phương pháp nuôi cá thể giống như mục 3.4.2.2 Nhiệt độ theo dõi ở 2 công thức ứng với mức nhiệt độ là 25 và 30 o C, ẩm độ trung bình dao động từ 70 - 80% với hại loại thức ăn là bột mì và hoa cúc khô
Số cá thể thí nghiệm ban đầu (nU) cho mỗi mức nhiệt độ Thức ăn là hoa cúc khô, bột mì
Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian phát triển các pha, tỷ lệ sống sót, sức sinh sản, thời gian sống…
3.4.2.4 Nghiên cứu thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trong điều kiện có và không có thức ăn
Mọt Tribolium castaneum (Herbst) sử dụng trong thí nghiệm là các cá thể mới vũ hóa Bố trí 5 cặp mọt trưởng thành đực cái đựng trong hộp với chiều cao 15cm, đường kính 10 cm, nắp lưới có chứa 50g nguyên liệu hoa cúc khô, bột mỳ (có thức ăn) Lọ chỉ thả mọt không có thức ăn Đặt các hộp trong điều kiện nhiệt độ 25 o C và 30 o C Theo dõi hằng ngày 2 lần sáng và chiều, ghi chép số cá thể mọt chết cho đến khi không còn một cá thể nào sống sót Số lần nhắc lại n = 3
Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sống (ngày)
3.4.2.5 Nghiên cứu mức độ hại của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Thả trưởng thành mới vũ hóa (05 cặp đực - cái) vào các hộp nhựa kích thước: chiều cao 12cm x chiều rộng 9cm đựng 100g các loại (mỗi công thức nhắc lại 3 lần):
Công thức 2: Hoa cúc khô
Tại mỗi thời điểm khi kiểm tra dùng sàng rây mọt ra khỏi hộp để kiểm tra mật độ mọt Sau khi kiểm tra toàn bộ số mọt được đưa trả về hộp ban đầu để kiểm tra ở số lần tiếp theo Theo dõi mức độ hao hụt sau khoảng thời gian
20, 40, 60, 80, 100, 120 ngày và so sánh với số lọ đối chứng (không có mọt) Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ hao hụt phần trăm theo Kenton and Carl (1978)
3.4.3 Thử nghiệm hiệu lực của phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô
Thử nghiệm hiêụ lực của thuốc Phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại Phòng kỹ thuật - Chi cục KDTV vùng 7
Hóa chất thử nghiệm: Phosphine
PHương pháp bảo quản sâu mọt
Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt theo Bùi Công Hiển (1995)
- Phương pháp xử lý mẫu:
+ Đối với côn trùng trưởng thành: Giết chết trong lọ độc có chứa KCN, sau đó sấy khô ở nhiệt độ thấp rồi tăng dần nhiệt độ lên làm khô mẫu (sấy ở nhiệt độ 30 - 40 o C trong 2 ngày, sau đó tăng nhiệt độ lên 50 - 60 o C trong 7-10 ngày tùy theo kích thước côn trùng)
- Phương pháp bảo quản mẫu: Đối với côn trùng sau khi giết, cho vào lọ bảo quản nơi khô ráo có ghi nhãn gồm ký hiệu mẫu, ngày thu thập, vật phẩm bị bại nơi thu thập và người thu thập Đối với sâu non, nhộng thì ngâm vào cồn 70 o
Mẫu thu được của từng địa điểm đợt điều tra được để riêng trong lọ có nhãn theo quy định Tất cả các mẫu thu thập được ở các địa điểm đều phải đưa về phòng thí nghiệm giám định bằng kính lúp soi nổi theo các khóa phân loại hiện hành và chụp ảnh tại Phòng Kỹ thuật của Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7 Lạng Sơn Định loại côn trùng theo tài liệu của Bousquet (1990), Gorham (1991) và Bùi Công Hiển (1995).
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm IRRISTART 4.0 và Microsoft Ecxel 2003
Số liệu thí nghiệm thu thập được xử lý trong Excel, IRRISTAT (Phạm Tiến Dũng, 2003), (Nguyễn Thị Lan và Phạm Tiến Dũng, 2006)
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu hoa cúc nhập khẩu qua cửa khẩu
Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã tiến hành điều tra thu thập thành phần côn trùng gây hại có trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc khác nhau để xác định thành phần loài cũng như độ bắt gặp của các loài Kết quả điều tra được chúng tôi thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần côn trùng gây hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2018 - 2019
TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bộ MĐPB
1 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) Tenebrionidae Coleoptera ++
2 Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus Silvanidae Coleoptera +
3 Mọt rõu dài Cryptolestes pusillus (Schửnherr) Cucujidae Coleoptera +
4 Mọt râu dài Cryptolestes ferrugineus (Stephens) Cucujidae Coleoptera + Ghi chú: MĐPB: Mức độ phổ biến
+: Gặp ít (ĐBG từ 25-50%) ++: Thường gặp (ĐBG từ 50-75%)
Qua kết quả điều tra ở bảng 4.1 cho thấy, các lô hàng nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn có 4 loài mọt gây hại thuộc 3 họ và đều thuộc bộ cánh cứng Coleoptera
Hình 4.1 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Oryzaephilus surinamensis (Linnaeus) Hình 4.4 Mọt râu dài
Trong 3 loài côn trùng gây hại, loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) xuất hiện với mức độ phổ biến qua các đợt điều tra thu mẫu Các loại mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis Linnaeus) và mọt râu dài (Cryptolestes minutus Olivier) ghi nhận xuất hiện ở độ bắt gặp ít
Kết quả điều tra cũng tương tự như nghiên cứu của Hà Thanh Hương
(2008), khi nghiên cứu thành phần côn trùng gây hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu tại cửa khẩu Lạng Sơn chúng tôi cũng không phát hiện loài nào mới thuộc đối tượng kiểm dịch.
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt
Trong quá trình điều tra theo dõi côn trùng gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, chúng tôi nhận thấy có loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) xuất hiện với mức độ khá phổ biến, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) nhằm cung cấp thêm thông tin tài liệu quan trọng để tiến hành các công tác kiểm dịch thực vật và trên cơ sở đó có biện pháp quản lý chúng trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
Chúng tôi tiến hành nuôi sinh học mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25 o C và 30 o C, ẩm độ không khí trung bình 70-80% với thức ăn là hoa cúc khô
4.2.1 Đặc điểm hình thái của mọt Tribolium castaneum (Herbst)
Trong điều kiện thí nghiệm ở hai nhiệt độ 25 o C và 30 o C, ẩm độ không khí trung bình 70% với thức ăn là hoa cúc khô, chúng tôi tiến hành đo kích thước các pha phát dục của mọt Kết quả theo dõi được trình bày tại bảng 4.2
Bảng 4.2 Kích thước các pha phát dục của mọt Tribolium castaneum
(Herbst) ở hai mức nhiệt độ Đơn vị: mm
Chỉ tiêu theo dõi Nhiệt độ 25 o C Nhiệt độ 30 o C
Chiều dài Chiều rộng Chiều dài Chiều rộng Trứng 0,41 ± 0,01 0,25 ± 0,03 0,31 ± 0,02 0,24 ± 0,02 Tuổi 1 1,01 ± 0,06 0,17 ± 0,04 1,02 ± 0,08 0,18 ± 0,04 Tuổi 2 1,85 ± 0,07 0,26 ± 0,02 1,87 ± 0,07 0,27 ± 0,03 Tuổi 3 2,49 ± 0,08 0,53 ± 0,02 2,51 ± 0,07 0,54 ± 0,05 Tuổi 4 3,40 ± 0,09 0,61 ± 0,02 3,42 ± 0,10 0,62 ± 0,04 Tuổi 5 4,50 ± 0,10 0,71 ± 0,02 4,52 ± 0,10 0,72 ± 0,03 Tuổi 6 5,17 ± 0,09 0,77 ± 0,01 5,19 ± 0,10 0,78 ± 0,02 Tuổi 7 5,70 ± 0,09 0,76 ± 0,02 5,72 ± 0,08 0,77 ± 0,02 Tuổi 8 6,21 ± 0,10 0,76 ± 0,01 6,23 ± 0,10 0,77 ± 0,03 Nhộng đực 4,08 ± 0,03 1,21 ± 0,01 4,11 ± 0,03 1,21 ± 0,02 Nhộng cái 4,14 ± 0,05 1,23 ± 0,02 4,16 ± 0,05 1,24 ± 0,02 Trưởng thành đực 3,81 ± 0,03 1,08 ± 0,02 3,87 ± 0,02 1,10 ± 0,02 Trưởng thành cái 4,07 ± 0,04 1,15 ± 0,03 4,08 ± 0,03 1,16 ± 0,03
Trứng của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) có hình bầu dục, màu trắng sữa, kết cấu màng vỏ mỏng và xù xì, phủ bên ngoài một chất keo dính nên dễ dàng bám vào giá thể, trứng được đẻ từng quả hoặc thành cụm nhỏ Ở các nhiệt độ theo dõi trứng chúng đều có hình dạng như nhau, kết quả hình thái trứng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Hà Thanh Hương (2008)
Sâu non mới nở có màu trắng trong, sau đó đục dần và chuyển sang màu vàng đặc trưng Đầu màu nâu nhạt, tương đối đậm hơn màu thân Sâu non có 12 đốt (3 đốt ngực và 9 đốt bụng), đốt bụng cuối xẻ thành 2 gai thịt nhọn màu nâu đen Trên mặt lưng có màu vàng kem, có những băng ngang màu nâu nhạt ở cuối đốt và có rải rác những lông nhỏ màu nâu nhạt Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 còn yếu nên hoạt động chậm chạp, từ tuổi 3 trở lên chúng hoạt động rất nhanh nhẹn Sau mỗi tuổi sâu đều để lại xác lột trên bề mặt thức ăn Sâu non có từ 6 - 8 tuổi tùy thuộc vào điều kiện sinh sống của chúng
Trong điều kiện nuôi ở nhiệt độ 25 o C và 30 o C, kích thước sâu non biến đổi từ tuổi 1 đến tuổi 8 được thể hiện như sau
Hình 4.5 Trứng của Tribolium castaneum (Herbst) Hình 4.6 Sâu non tuổi 1 Tribolium castaneum (Herbst)
Hình 4.7 Sâu non tuổi 2 Tribolium castaneum (Herbst) Hình 4.8 Sâu non tuổi 3 Tribolium castaneum (Herbst) Ở nhiệt độ 25 o C, sâu non tuổi 1 có chiều dài từ 1,01 ± 0,02 mm, chiều rộng 0,17 ± 0,02 mm Sâu non tuổi 2 có kích thước chiều dài là 1,85 ± 0,03 mm, chiều rộng là 0,26 ± 0,02 mm Sâu non tuổi 3 có kích thước chiều dài là 2,49 ± 0,07 mm, chiều rộng là 0,53 ± 0,02 mm Sâu non tuổi 4 có kích thước chiều dài là 3,40 ± 0,09 mm, chiều rộng là 0,61 ± 0,02 mm Sâu non tuổi 5 có kích thước chiều dài là 4,50 ± 0,10mm, chiều rộng là 0,71 ± 0,02mm Sâu non tuổi 6 có kích thước chiều dài là 5,17 ± 0,09mm, chiều rộng là 0,77 ± 0,01mm Sâu non tuổi 7 có kích thước chiều dài là 5,70 ± 0,09mm, chiều rộng là 0,76 ± 0,02mm Sâu non tuổi 8 có kích thước chiều dài là 6,21 ± 0,10mm, chiều rộng là 0,76 ± 0,01mm
Hình 4.9 Sâu non tuổi 4 Tribolium castaneum (Herbst) Hình 4.10 Sâu non tuổi 5 Tribolium castaneum (Herbst) Ở nhiệt độ nuôi 30 o C, sâu non tuổi 1 có chiều dài từ 1,02 ± 0,03 mm, chiều rộng 0,18 ± 0,02 mm Sâu non tuổi 2 có kích thước chiều dài là 1,87 ± 0,04 mm, chiều rộng là 0,27 ± 0,03 mm Sâu non tuổi 3 có kích thước chiều dài là 2,51 ± 0,08 mm, chiều rộng là 0,54 ± 0,05 mm Sâu non tuổi 4 có kích thước chiều dài là 3,42 ± 0,10 mm, chiều rộng là 0,62 ± 0,04 mm Sâu non tuổi 5 có kích thước chiều dài là 4,52 ± 0,10mm, chiều rộng là 0,72 ± 0,03mm Sâu non tuổi 6 có kích thước chiều dài là 5,19 ± 0,10mm, chiều rộng là 0,78 ± 0,02mm Sâu non tuổi 7 có kích thước chiều dài là 5,72 ± 0,08mm, chiều rộng là 0,77 ± 0,02mm Sâu non tuổi 8 có kích thước chiều dài là 6,23 ± 0,10mm, chiều rộng là 0,77 ± 0,03mm Kích thước trung bình của sâu non từ tuổi 1 đến tuổi 8 nuôi ở nhiệt độ 25 o C thường nhỏ hơn ở nhiêt độ 30 o C tuy nhiên chúng tôi thấy không có sự sai khác rõ rệt khi nuôi ở hai mức nhiệt độ Chiều dài của sâu non tăng tỷ lệ thuận từ tuổi 1- tuổi 7, đến tuổi 8 sâu non đẫy sức bị giảm về chiều dài Chiều rộng có thay đổi nhưng thay đổi rất chậm
Hình 4.11 Sâu non tuổi 6 Tribolium castaneum (Herbst) Hình 4.12 Sâu non tuổi 7 Tribolium castaneum (Herbst)
Hình 4.13 Sâu non tuổi 8 Tribolium castaneum (Herbst)
Nhộng mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) là dạng nhộng trần, mới lột xác màu trắng hơi vàng, sau chuyển màu vàng đậm, mặt lưng có lông Giai đoạn cuối cùng khi gần vũ hóa thành trưởng thành nhộng chuyển sang màu nâu
A Mặt bụng nhộng B Mặt lưng nhộng
Hình 4.14 Nhộng Tribolium castaneum (Herbst)
Nhộng cái thường có kích thước lớn hơn so với nhộng đực và dựa trên bộ phận sinh dục để phân biệt đực, cái Theo quan sát chúng tôi nhận thấy, nhộng đực có bộ phận sinh dục nằm ở đốt bụng cuối, có 2 u lồi nổi lên rõ ràng, ở nhiệt độ 25 o C nhộng đực có chiều dài từ 4,08 ± 0,03mm và chiều rộng từ 1,21 ± 0,01mm; ở nhiệt độ 30 o C nhộng đực có chiều dài từ 4,11 ± 0,03mm và chiều rộng từ 1,21 ± 0,01mm
Còn nhộng cái có bộ phận sinh dục nằm ở đốt bụng cuối, có 2 hình hạt đậu mảnh và rất nhỏ úp vào nhau, ở nhiệt độ 25 o C nhộng cái có chiều dài từ 4,14 ± 0,05mm và chiều rộng từ 1,23 ± 0,02mm; ở nhiệt độ 30 o C nhộng cái có chiều dài từ 4,16 ± 0,05mm và chiều rộng từ 1,24 ± 0,02mm
Kết quả về hình thái và kích thước nhộng đực và cái của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với tài liệu mô tả của Hà Thanh Hương (2008)
A Mặt bụng trưởng thành đực, cái B Mặt lưng trưởng thành
C Mặt bụng trưởng thành mới vũ hóa D Mặt lưng trưởng thành mới vũ hóa Hình 4.15 Trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst): Cơ thể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, râu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hình chùy rõ ràng, toàn thân màu nâu bóng, dầu dẹt và rộng, mắt kép màu đen, khoảng cách giữa 2 mắt kép bằng đường kính một mắt kép Trưởng thành mới vũ hóa có mảnh lưng ngực màu vàng nhạt, hai cánh màu trắng sau đó cơ thể chuyển sang màu nâu đỏ đậm dần, đặc điểm hình thái này phù hợp với mô tả của Hà Thanh Hương
(2008), Bùi Công Hiển (1995) và Nguyễn Thị Bích Yên (1998)
Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy trưởng thành cái có kích thước lớn hơn trưởng thành đực Ở nhiệt độ nuôi 25 o C, trưởng thành đực có chiều dài từ 3,81 ± 0,03mm; chiều rộng từ 1,08 ± 0,02mm; trưởng thành cái có chiều dài từ 4,07 ± 0,04mm và chiều rộng là 1,15 ± 0,03 mm Ở nhiệt độ nuôi 30 o C, trưởng thành đực có chiều dài từ 3,87 ± 0,02mm; chiều rộng từ 1,10 ± 0,02mm; trưởng thành cái có chiều dài từ 4,08 ± 0,03mm và chiều rộng là 1,16 ± 0,03 mm
4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ
4.2.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến vòng đời của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng phát dục của côn trùng nói chung và sâu mọt nói riêng Chúng tôi tiến hành theo dõi thời gian phát dục các pha của mọt loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trong phòng thí nghiệm với thức ăn là hoa cúc khô nhiệt độ cố định trong tủ định ôn là 25 o C và 30 o C, ẩm độ trung bình 70% kết quả nghiên cứu được trình bày tại bảng 4.3 Kết quả ở bảng 4.3 chúng tôi thấy:
- Pha trứng có thời gian phát dục trung bình ở 25 o C là 5,35± 0,64 ngày ở nhiệt độ 30 o C là 4,35± 0,64 ngày Không có sự khác biệt thời gian phát dục của pha trứng khi nuôi ở hai điều kiện nhiệt độ khác nhau ở mức tin cậy p >0,05
So với tài liệu của tác giả Vũ Văn Hậu (2013) chỉ ra rằng thời gian phát dục của pha trứng trung bình là 4,1 ± 0,16 ngày thì thời gian của pha trứng của chúng tôi là dài hơn Theo kết quả nghiên cứu của Bhubaneshwari and Devi
(2015) thời gian trứng nở của mọt thóc đỏ là 4 - 5 ngày, như vậy nghiên cứu của chúng tôi tương đương với tác giả
Bảng 4.3 Thời gian phát dục của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở 2 mức nhiệt độ khác nhau với thức ăn trên hoa cúc
Nhiệt độ 25 o C Nhiệt độ 30 o C LSD CV%
Dài nhất Trung bình Ngắn nhất
Dài nhất Trung bình Trứng 3,5 7,5 5,35 a ±0,64 3,0 6,0 4,35 a ± 0,14 1,22 3,3 Tuổi 1 4,5 8,5 6,42 a ±0,95 3,5 6,0 5,42 a ±0,75 1,16 4,7 Tuổi 2 5,0 9,5 7,69 a ±0,88 4,0 7,5 6,02 a ± 0,65 1,02 3,5 Tuổi 3 5,5 9,5 7,52 a ±0,97 4,0 7,0 5,75 a ± 0,81 1,01 3,3 Tuổi 4 6,0 10,0 8,08 a ±1,46 4,5 7,5 6,75 a ± 1,42 1,77 3,0 Tuổi 5 6,0 14,5 9,46 a ±0,77 5,0 9,0 8,06 a ± 1,01 1,77 3,6 Tuổi 6 6,5 12,5 8,58 a ±0,84 5,0 9,0 7,81 a ± 0,52 1,94 3,3 Tuổi 7 6,5 9,5 9,38 a ±0,98 5,0 7,5 6,02 a ± 0,72 1,02 4,8 Tuổi 8 7,0 11,5 10,19 a ±1,24 5,5 8,5 7,14 a ± 1,08 1,62 4,9 Tổng SN 50,5 93,0 70,79 a ±1,54 39,5 68,0 53,75 b ± 1,81 4,83 3,2 Nhộng 4,5 10,5 9,17 a ± 0,36 3,5 7,0 6,15 a ± 0,56 1,53 4,9 Tiền đẻ trứng 6,5 15,5 11,08 a ± 0,57 4,0 11,5 9,76 b ± 0,67 1,06 4,6 Vòng đời 62,5 119 92,92 a ±4,02 47 86,5 78,23 b ±2,18 7,94 4,7
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong phạm vi hàng chỉ sự sai khác ở độ tin cậy p≤ 0,05, ẩm độ 70-80%
- Pha sâu non: có 8 tuổi, trải qua 7 lần lột xác Thời gian phát dục các tuổi sâu non kéo dài nhất ở tuổi 8 (ở nhiệt độ 25 o C trung bình là 10,19± 1,24 ngày; ở nhiệt độ 30 o C trung bình là 9,14± 1,08 ngày) Tổng thời gian phát dục của pha sâu non ở nhiệt độ 25 o C trung bình là 70,79± 1,54 ngày; ở nhiệt độ 30 o C thời gian này trung bình là 53,75± 1,81 ngày Qu xử lý thống kê có sự sai khác đáng tin cậy có ý nghĩa ở mức xác xuất p≤ 0,05
Khảo nghiệm thuốc hoá học phòng trừ loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
Tribolium castaneum (Herbst) HẠI NGUYÊN LIỆU HOA CÚC KHÔ
Hiện nay, xông hơi là biện pháp chủ yếu để phòng trừ côn trùng trên hàng nông sản xuất nhập khẩu và côn trùng hại kho do chúng có nhiều ưu điểm như giá thành rẻ, hiệu quả và đặc biệt là hầu như không để lại dư lượng thuốc trên hàng hoá cũng như không làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá được xử lý Ở Việt Nam, chủ yếu dùng thuốc xông hơi để xử lý phòng trừ đối với côn trùng gây hại trong kho gồm 2 loại chính là Methyl bromide và Phosphine Nhưng việc sử dụng Methyl bromide đã gây hại tới môi trường nghiêm trọng, nó là một trong những tác nhân phá huỷ tầng Ozon, do đó nó là loại thuốc đang dần bị loại trừ Chúng tôi tiến hành thí nghiệm xử lý thuốc thuốc xông hơi Phosphine đối với loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trong phòng thí nghiệm của Chi cục KDTV vùng 7, Lạng Sơn, ở 3 mức với liều lượng là 1 gam PH3/m 3 , 2 gam PH3/m 3 , 3 gam PH3/m 3 trên pha trưởng thành với 03 mức thời gian xử lý thuốc là 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày Kết quả được thể hiện ở bảng 4.17 và hình 4.23
Bảng 4.17 Hiệu lực phòng trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) của thuốc Phosphine ở các liều lượng khác nhau Liều lượng
Hiệu lực sau các ngày xử lý (%)
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong phạm vi cột chỉ sự sai khác ở độ tin cậy p≤ 0,05
Hình 4.23 Hiệu lực phòng trừ mọt Tribolium castaneum (Herbst) của thuốc Phosphine ở các liều lượng khác nhau
Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 4.17 cho thấy, hiệu lực thuốc ở các nồng độ 1g/m 3 , 2g/m 3 và 3g/m 3 trong đó, hiệu lực thuốc đạt thấp nhất khi sử dụng nồng độ 1g/m 3 và đạt cao nhất khi sử dụng ở nồng độ 3g/m 3 Đồng thời, thời gian xử lý cũng là một yếu tố giúp gia tăng hiệu lực thuốc, thời gian ủ thuốc càng dài thì hiệu lực thuốc càng tăng Thời gian xử lý sau 3 ngày cho thấy hiệu lực thấp nhất và sau 7 ngày là thời gian ủ thuốc mang lại hiệu lực cao nhất
Phosphine có tác dụng mạnh trong việc tiêu diệt mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) Ngay tại mức nồng độ 1g/m 3 , hiệu lực của thuốc cũng đạt 87,7% sau 5 ngày xử lý thuốc và đạt đến 93% sau 7 ngày xử lý thuốc Ở mức nồng độ 2g/m 3 đạt cao nhất sau 7 ngày xử lý (đạt 97,7%) và cao nhất là ở nồng độ 3g/m 3 sau 7 ngày xử lý thuốc đạt 100% Như vậy, thuốc Phosphine có hiệu lực trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) hiệu quả nhất ở liều lượng 2 - 3g/m 3 với thời gian xử lý là 7 ngày
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với QCVN01-19/ BNNPTNT Bởi đây là một loại thuốc được sử dụng để xử lý đối với hàng hóa nông sản nhập khẩu, do thuốc có độc tố và có khả năng cháy nổ nên yêu cầu người sử dụng phải được tập huấn và có chứng chỉ trước khi hành nghề khử trùng vì vậy khó có thể áp dụng phương pháp này đối với những hộ kinh doanh bảo quản nông sản ở quy mô nhỏ.