1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh thái bình

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 849,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp có nhằm Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình và nâng cao, mở rộng sự tham gia ủng hộ, đó

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGHIÊM THỊ HƯƠNG

KIỂM SOÁT CHI TRẢ KINH PHÍ THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH THÁI BÌNH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quang Trung

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính

sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu khoa học

của riêng tôi, có sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Quang Trung

Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào, trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn số liệu khác nhau và được ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, bài luận văn này có tham khảo một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các cơ quan, tổ chức khác và cũng được ghi chú trong phần tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nghiêm Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy,

cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi kiến thức quý báu để tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Quang Trung - người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập tài liệu, số liệu và cung cấp cho tôi những thông tin hữu ích về vấn đề cần nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất cả năng lực và sự nhiệt tình của bản thân, tuy nhiên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các cán bộ công nhân viên trong Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình

để luận văn này có giá trị thực tiễn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nghiêm Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục đồ thị, sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 4

2.1 Cơ sở lý luận về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 4

2.1.1 Bảo trợ xã hội 4

2.1.2 Các vấn đề chung về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 7

2.1.3 Nội dung kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 12

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 23

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

2.2.1 Kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội của các địa phương khác trong cả nước 26

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho tỉnh Thái Bình 27

Trang 5

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình 28

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

3.2.1 Cách tiếp cận và khung phân tích 32

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 33

3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 34

3.2.4 Phương pháp phân tích 34

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36

Phần 4 Kết quả nghiên cưu và thảo luận 37

4.1 Tình hình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh Thái Bình 37

4.1.1 Chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh Thái Bình 37

4.1.2 Đối tượng hưởng chế độ bảo trợ xã hội 39

4.1.3 Kinh phí thực hiện chi trả trợ cấp xã hội 41

4.2 Thực trạng kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình 43

4.2.1 Thực trạng kiểm soát đối tượng hưởng trợ cấp xã hội 43

4.2.2 Thực trạng kiểm soát mức trợ cấp xã hội chi trả 49

4.2.3 Thực trạng kiểm soát việc thực hiện chi trả trợ cấp xã hội 53

4.2.4 Kiểm soát công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết đơn thư khiếu nại đối với việc thực hiện chi trả chính sách bảo trợ xã hội 56

4.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo trợ xã hội 57

4.2.6 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 59

4.3 Đánh giá chung về kiểm soát kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình 63

4.3.1 Ưu điểm 63

4.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 64

4.4 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình 67

4.4.1 Quan điểm, định hướng trong thời gian tới 67

4.4.2 Một số giải pháp 68

Trang 6

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 79

5.1 Kết luận 77

5.2 Kiến nghị 78

5.2.1 Đối với Nhà nước 78

5.2.2 Đối với UBND tỉnh Thái Bình và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình 78

Tài liệu tham khảo 82

Phụ lục 82

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân biệt đối tượng bảo trợ xã hội thường xuyên và đối tượng bảo trợ

xã hội đột xuất 14 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội 2016-2018 của tỉnh Thái Bình 31 Bảng 4.1 Số lượng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên theo từng

huyện của tỉnh Thái Bình từ năm 2014-2018 40 Bảng 4.2 Nguồn kinh phí do huy động tài trợ trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai

đoạn 2014 -2018 42 Bảng 4.3 Nguồn kinh phí do địa phương tài trợ trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai

đoạn 2014 -2018 42 Bảng 4.4 Nguồn kinh phí do Trung ương tài trợ trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai

đoạn 2014-2018 43 Bảng 4.5 Số lượng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội tỉnh Thái Bình năm 2018 44 Bảng 4.6 Số lượng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội là người cao tuổi của tỉnh

Thái Bình từ năm 2014 đến năm 2018 45 Bảng 4.7 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH về mức hỗ trợ BTXH được chi

trả hiện nay 52 Bảng 4.8 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH khả năng đảm bảo mức sống

tối thiếu của mức bảo trợ xã hội hiện nay 53 Bảng 4.9 Kết quả đánh giá việc thực hiện chi trả chế độ BTXH hàng tháng và

đột xuất 54 Bảng 4.10 Kết quả đánh giá việc thực hiện thủ tục hồ sơ nhận tiền chi trả chế độ

BTXH 54 Bảng 4.11 Kết quả đánh giá thái độ phục vụ của cán bộ thực hiện công tác chi trả

BTXH 55 Bảng 4.12 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH về sự cần thiết của công tác

kiểm tra thực hiện chế độ BTXH 57 Bảng 4.13 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH về thời gian giải quyết hồ sơ,

đơn thư, khiếu nại trong lĩnh vực BTXH 58

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu cấu kinh tế 2016-2018 30 Biểu đồ 4.1 Biến động đối tượng trợ cấp xã hội thường xuyên ở các huyện của

tỉnh Thái Bình từ năm 2014 đến 2018 41 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu đối tượng trợ cấp xã hội tỉnh Thái Bình năm 2018 44 Biểu đồ 4.3 Tình hình biến động số lượng đối tượng trợ cấp xã hội là người cao

tuổi tại các huyện của tỉnh Thái Bình năm 2014 đến năm 2018 47 Biểu đồ 4.4 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH về quy trình xét duyệt hồ sơ

chế độ bảo trợ xã hội hiện nay 49

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nghiêm Thị Hương

Tên luận văn: Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa

- Phân tích thực trạng kiểm soát chi trả kinh phí chi thực hiện chính sách bảo trợ

xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình và phân tích các yếu tố ảnh hưởng

- Đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp được thu thập dựa vào các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, niêm giám thống kê, các báo cáo tổng kết của địa phương và trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức Các số liệu cơ bản liên quan đến luận văn được thu thập tại Sở Lao động – Thương binh & xã hội tỉnh Thái Bình, Sở Tài chính tỉnh Thái Bình

- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Trong quá trình tìm hiểu thực tế tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các huyện, tác giả đã trực tiếp quan sát quy trình làm việc, quy trình kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách BTXH, công tác luân chuyển, xử lý chứng từ, lên báo cáo

Phương pháp xử lý dữ liệu

Đối với tài liệu thứ cấp sau khi thu thập, tác giả tiến hành tổng hợp và lựa chọn những tài liệu, số liệu liên quan đến đề tài phục vụ cho công tác nghiên cứu, như tài liệu về lý luận, thực tiễn và các tài liệu, số liệu thu thập được từ các phòng ban liên quan

Đối với thông tin sơ cấp: Đối với tài liệu sơ cấp sau khi thu thập và làm sạch, tác giả tiến hành tổng hợp xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, tiến hành phân tổ thống kê để làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích và rút ra những kết luận thực tiễn

Trang 11

Phương pháp phân tích

Sau khi thu thập số liệu, tiến hành phân tổ thống kê và tổng hợp thống kê, tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để so sánh và phân tích làm rõ mối quan hệ của các hoạt động… Từ đó, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách BTXH tại tỉnh Thái Bình

Phương pháp thống kê mô tả

- Thu thập dữ liệu, tóm tắt, trình bày các đặc trưng khác nhau của nội dung nghiên cứu về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh Thái Bình

- Xử lý tổng hợp số liệu, trình bày, tính toán các số liệu, khái quát được thực trạng công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2014 - 2018

- Tìm ra điểm mạnh, điểm yếu trong công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh Thái Bình, là cơ sở đưa ra các kết luận, kiến nghị để hoàn thiện

3 Kết quả nghiên cứu và kết luận

- Về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích, ý nghĩa về chính sách trợ cấp xã hội

- Về thực tiễn, luận văn đã nêu khái quát thực trạng việc kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2014-2018, những tác động tích cực và những tồn tại, vướng mắc

- Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp có nhằm Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình và nâng cao, mở rộng sự tham gia ủng hộ, đóng góp của các cá nhân, tổ chức cho hoạt động trợ cấp xã hội để tỉnh Thái Bình thực hiện tốt các chính sách xã hội, góp phần vào việc giảm bớt khó khăn và cải thiện cuộc sống của các đối tượng trợ cấp xã hội, giúp cho các đối tượng xã hội sớm hòa nhập cộng đồng, tự tin trong cuộc sống.

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nghiem Thi Huong

Thesis title: Controlling the payment of funding for social protection policies in Thai

Binh province

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

to the thesis was collected in the Department of Labors, War Invalids and Social Affairs

of Thai Binh Province, Department of Finance of Thai Binh Province

- Primary data: The working process, the process of controlling the fungding payment for social protection policies, the document circulating and processing, and making reports were directly observed by the author during the fact-finding in the Department of Labors, War Invalids and Social Affairs of Thai Binh at both provincial and district levels

Data processing

The collected secondary documents: The author synthesized and selected the documents and data which related to research, such as theoretical and practical documents, and the documents as well as data collected from the relevant departments The primary data: The author summarized and processed primary data by Microsoft Excel software after collecting and cleaning The statistical classification was conducted to make a basis for comparison, analyze and draw practical conclusions

Data analysis

After collecting data, the processes of conducting statistical classification and

Trang 13

summarizing statistics, calculating absolute and relative numbers, average numbers and indices were conducted The indicators of absolute and relative numbers, average numbers were used to compare and analyze in order to clarify the relationship of activities These results were used to assess the influence of factors on the controlling

of funding payment for social protection policies in Thai Binh province

Descriptive statistics method

- Collecting data, summarizing and presenting various characteristics of the research content on controlling payment of funding for social protection policies in Thai Binh province

- Processing and synthesizing data, presenting and calculating data, generalizing the situation of the controlling of funding payment for social protection policies in Thai Binh province in the period of 2014 - 2018

- Finding strengths and weaknesses in controlling the payment of funding for social protection policies in Thai Binh province, which is the basis for making conclusions and recommendations for completion

3 Main Findings and Conclusions

- Theoretically, the thesis systematized some basic issues about the concept, characteristics, content, purposes, and implications of social welfare policy

- In practice, the thesis outlined the current situation of controlling the funding payment for social protection policies in Thai Binh province in the period of 2014-2018, the positive impacts as well as shortcomings and problems

- The thesis also proposed solutions to control the payment of funding for social protection policies in Thai Binh province, improve as well as expand the participation and support of individuals and organizations for social assistance activities These solutions also aim to support Thai Binh province in implementation of social policies, contribute to reducing difficulties and improve the lives of social welfare beneficiaries That help social objects integrate into the community soon and confident in life

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, bảo đảm an sinh xã hội được Đảng xác định là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu Tuy nhiên cho đến nay, dù chúng ta đã có nhiều chuyển biến tích cực về đời sống vật chất, nhưng kết quả đạt được trong đảm bảo an sinh xã hội còn hạn chế và chưa vững chắc: Đời sống của một bộ phận nhân dân nhìn chung còn khó khăn, một bộ phận không nhỏ nhân dân ta còn sống dưới nhu cầu tối thiểu, bởi vậy, việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho người nghèo, người tàn tật, người già, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo ra tiền đề cho sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần củng cố những thành quả trong đổi mới kinh tế, chính trị, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, thường xuyên của nhân dân, tạo lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, tạo

sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

Trong cuộc sống, không phải ai cũng gặp may mắn, thuận lợi cho sự tồn tại

và phát triển, trái lại họ thường xuyên phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, biến cố… vì nhiều nguyên nhân khác nhau Khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc Do đó, có thể nhận thấy, trợ giúp

xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn Cùng với tập trung phát triển kinh tế, những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo trợ xã hội (BTXH), trợ giúp các đối tượng yếu thế cải thiện đời sống vươn lên hòa nhập cộng đồng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Cùng với cả nước, tại tỉnh Thái Bình trong nhiều năm qua việc triển khai, thực hiện các quy định pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương về chính sách bảo trợ xã hội trong bối cảnh có nhiều thuận lợi: nền kinh tế xã hội trong tỉnh phát triển tương đối ổn định, mức thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm, hệ thống chính sách an sinh xã hội được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm, triển khai thực hiện đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực Do đó, thực hiện chính sách như thế nào cho đúng quy định của Nhà nước, đảm bảo công bằng là một việc làm không đơn giản đặc biệt công

Trang 15

tác kế toán sẽ không chỉ là việc ghi chép phản ánh đơn thuần mà kế toán phải thực sự là hệ thống thông tin kinh tế - tài chính cung cấp chính xác, kịp thời phục

vụ cho việc kiểm soát kinh phí, ra quyết định quản lý và điều hành hoạt động tài chính của đơn vị nói chung và hoạt động chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội nói riêng Kết quả kiểm soát sẽ là cơ sở cho việc lập dự toán thu, chi, theo dõi tình hình chấp hành dự toán và là căn cứ đánh giá kết quả thực hiện

dự toán Trên thực tế việc kiểm soát kinh phí đã đóng góp vai trò không nhỏ đối với công tác quản lý tài chính tại đơn vị, đặc biệt là công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục như: Công tác triển khai thực hiện rà soát, lập hồ sơ giải quyết trợ cấp, thông tin báo cáo ở một số xã, thị trấn còn chậm làm ảnh hưởng đến kế hoạch

đề ra; Khả năng khai thác nguồn tài trợ cho hoạt động BTXH từ năm 2014 đến năm

2018 có tăng nhưng không ổn định, không tạo được điểm nhấn trong hành động chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn kinh phí tài trợ; Năng lực tổ chức thực hiện công tác BTXH còn hạn chế, chất lượng chưa cao; Việc bố trí cán bộ thực hiện nhiệm vụ BTXH chưa rõ ràng còn kiêm nhiệm nhiều; Đối tượng BTXH các xã, thị trấn nhiều nên việc kiểm tra giám sát, thẩm định, xác lập hồ sơ, quản lý, phân loại đối tượng trình hội đồng xét duyệt, niêm yết công khai danh sách, chi trả cho đối tượng còn gặp khó khăn; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về BTXH còn mỏng, đôi khi còn buông lỏng, chồng chéo, chưa có cơ chế phối hợp đồng bộ Việc kiểm soát kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện chưa đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng cao xét trên cả hai góc độ hiệu quả công việc và hiệu quả quản lý tài chính Do đó cần thiết phải có sự cải tiến, hoàn thiện công tác kiểm soát kinh phí chi thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Nhận thức được

tính cấp thiết này tác giả chọn đề tài “Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính

sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận

Trang 16

soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội do Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các huyện, thành phố thực hiện Cụ thể: Kiểm soát đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, kiểm soát mức trợ cấp xã hội chi trả, kiểm soát thực hiện chi trả trợ cấp xã hội, kiểm soát nguồn lực thực hiện trợ cấp xã hội

Chủ thể kiểm soát: Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các huyện, thành phố; xã hội kiểm soát Khách thể kiểm soát: Cán bộ chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI TRẢ KINH PHÍ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI TRẢ KINH PHÍ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI

2.1.1 Bảo trợ xã hội

2.1.1.1 Khái niệm bảo trợ xã hội

Theo Ngân hàng Thế giới (2011): Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập

Trong khi đó Tổ chức Lao động Quốc tế (2008) lại cho rằng: Bảo trợ xã hội

là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp

Ngân hàng Phát triển châu Á (2010) cũng đã chỉ rõ: Bảo trợ xã hội đề cập đến một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân

Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (2012), bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội

Có thể thấy tính phổ quát của thuật ngữ “bảo trợ xã hội” (social protection) qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trong nhiều hội thảo quốc tế gần đây Tuy nhiên ở mức độ nào đó, khái niệm này còn chưa rõ ràng, chủ yếu là do có nhiều cách sử dụng khác nhau và cách đặt vấn đề khác nhau ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị trường lao động chủ động nhằm phòng ngừa rủi ro cho người dân (Vũ Văn Phúc, 2011) Trợ giúp xã hội còn được xem như “phao cứu sinh” nhằm

hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa (Mai Ngọc Cường, 2013) Như vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn so với an sinh xã hội và được triển khai dưới hình thức trợ cấp xã hội trên

Trang 18

thực tế Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” (social assistance) là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2011) Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nước và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng Lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh vào việc kiềm chế nguy cơ gây tổn thương, làm mất nguồn sinh kế Trong khi đó, Tổ chức Lao động quốc tế lại hướng vào khả năng duy trì mức sống thông qua việc làm như một quyền của người lao động, đặc biệt trong khu vực phi chính thức Ngân hàng Phát triển Châu Á lại chú trọng đến tính dễ tổn thương của người dân khi gặp rủi ro nếu không có sự bảo trợ xã hội Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc

tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu đối với các trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức

lo liệu được cuộc sống

Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội như một lưới an toàn (safety-net) nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi

ro và tự bản thân không khắc phục được Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản

Quan điểm hiện đại về bảo trợ xã hội xem xét sự trợ giúp dưới ba hình thức:

hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội Trong bài luận văn này, bảo trợ

xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng xã hội

2.1.1.2 Vai trò của bảo trợ xã hội

Ngay từ khi ra đời cho đến nay, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận người yếu thế Là sự bảo

Trang 19

vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, bảo trợ xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo và

có vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội,

cụ thể:

- Bảo trợ xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội: Bảo trợ xã hội là một giá trị cơ bản và có tính định hướng trong việc thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của những bộ phận dân cư và mọi thành viên xã hội thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ phù hợp với khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định

- Dưới góc độ chính trị xã hội và nhân văn, BTXH không chỉ là thái độ, là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi

ro, khó khăn mà còn giảm thiểu những bất ổn trong xã hội, góp phần duy trì ổn định xã hội trong đó có ổn định về chính trị Sỡ dĩ, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc xuất phát từ chỗ nền tảng của trợ cấp xã hội là sự hợp tác, tương trợ cộng đồng giữa các thành viên xã hội trước bất hạnh, rủi ro của mỗi cá nhân Hoạt động bảo trợ xã hội mang tính nhân đạo, thể hiện truyền thống tương thân tương

ái, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau Thực hiện mục đích xã hội vì cồng đồng, không vì lợi nhuận

Theo đó, những khó khăn bất hạnh này được cả cộng đồng gánh vác, sẻ chia mà không đòi hỏi một nghĩa vụ nào về tài chính từ phía đối tượng Ở đây không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện mà hơn thế nữa lại là yếu tố tạo nên sự hòa đồng giữa các thành viên xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế Có thể nói, bảo trợ xã hội là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân và có sức hút hấp dẫn trước các giá trị nhân bản của con người

Ngày nay, bảo trợ xã hội không còn là vấn đề chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề có tính quốc tế Việc thực hiện bảo trợ xã hội không

bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, nó có ý nghĩa toàn cầu vì một thế giới hòa bình,ổn định và phát triển hơn

- Dưới góc độ của người thụ hưởng, BTXH được xem như là nguồn tài chính đảm bảo cho họ có cuộc sống tối thiểu trong xã hội, giúp họ từng bước khắc phục được những khó khăn, hòa nhập cộng đồng Đồng thời là nguồn an ủi rất lớn về mặt tinh thần đối với nhóm đối tượng chịu thiệt thòi trong cuộc sống

Trang 20

- Dưới góc độ kinh tế, BTXH không vì mục đích kinh doanh nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và vật chất Chính sách bảo trợ xã hội giúp điều hòa lại thu nhập của những tầng lớp khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện sự công bằng trong xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập dưới mức tối thiểu

- Dưới góc độ pháp luật, BTXH là một định chế quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu Vai trò pháp luật của bảo trợ

xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người Mỗi con người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được yêu thương, đùm bọc, bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa

Ở nước ta, quyền bảo trợ đã được ghi nhận trong Hiến pháp (2013) (Điều 67) và nhiều văn bản pháp lý khác Điều đó cho thấy bảo trợ xã hội không chỉ đơn thuần là hoạt động tự phát mang tính nhân đạo của cộng đồng mà dưới góc

độ pháp luật, nó đã được thể chế hóa thành chế định của hệ thống pháp luật an sinh xã hội quốc gia Cũng từ đó, giúp chúng ta nhận thức được rằng bảo trợ xã hội không phải là sự ban ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực, mà là quyền của mỗi thành viên trong xã hội, là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả cộng đồng

- Đối với xã hội, BTXH là một biện pháp của chính sách xã hội, một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng XHCN ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống

2.1.2 Các vấn đề chung về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

2.1.2.1 Các khái niệm

Theo Trường Đại học Ngoại Thương (2016), kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng đang diễn ra trong một tổ chức Tính chất quan trọng của kiểm soát được thể hiện ở cả hai mặt Một mặt, kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh Mặt khác, thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh

Trang 21

Thường người ta chỉ nhấn mạnh đến ý nghĩa thứ nhất (phát hiện sai sót) của kiểm soát vì cho rằng mọi hoạt động đều không tránh khỏi sai sót và kiểm soát là bước cuối cùng để hạn chế tình trạng này Điều đó đúng, nhưng chưa đủ, vì trong thực

tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động Một công việc, nếu không

có kiểm soát sẽ chắc chắc nảy ra nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát thường xuyên Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo) Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian

Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi

Như vậy, chức năng quản lý của hoạt động kiểm soát là giám sát, đo lường

và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm để đảm bảo rằng các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra để đạt tới các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành Nhiều nhà quản lý, đặc biệt là ở cấp thấp thường cho rằng trách nhiệm đầu tiên đối với thực hiện kiểm soát thuộc về các nhà quản lý cấp cao, còn họ thường quan tâm nhiều đến việc thực thi kế hoạch Đôi khi, do quyền lực của nhà quản

lý cấp cao và trách nhiệm tổng hợp của họ, việc kiểm soát cấp cao nhất và các cấp phía trên được nhấn mạnh tới mức mà mọi người cho rằng ở các cấp dưới chỉ cần công việc kiểm soát ít mà thôi Mặc dầu quy mô của việc kiểm soát thay đổi theo cấp bậc của các nhà quản lý, nhưng tại mọi cấp, các nhà quản lý đều phải có trách nhiệm đối với việc thực thi các kế hoạch, và do đó kiểm soát là một chức năng quản lý cơ bản ở mọi cấp

Từ nhận định trên, có thể khái quát rằng: Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch

Như vậy, kiểm soát gắn liền với quá trình giám sát nhưng đồng thời cũng

sẽ chỉ ra những biện pháp cần thiết để khắc phục những sai lệch của kế hoạch

Kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội là việc kiểm soát quá trình thực hiện chi tiền thanh toán các khoản trợ cấp xã hội

2.1.2.2 Cơ sở kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo

Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã từng bước nhận thức và quan trọng hơn đã tìm được những biện pháp, bước đi để xử lý biện chứng mối quan hệ phát triển kinh tế với việc thực hiện chính sách xã hội (bảo đảm công bằng xã hội, ASXH, tiến bộ xã hội): Tại Đại hội VI (1986) đến Đại hội

Trang 22

VIII (1996) Đảng đã chính thức khẳng định một số quan điểm chỉ đạo “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, 1996) Đến Đại hội IX của Đảng chủ trương này trở thành một định hướng chiến lược để phát triển bền vững đất nước: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường… Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và ASXH ” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 2001) Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kết hợp giữa các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi

cả nước và từng địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế ” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, 2006) Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng

Cộng sản Việt Nam, “Bảo đảm ASXH” được khẳng định với tư cách là nội dung

cấu thành của một trong 11 chủ đề chính của Báo cáo chính trị, và “Phát triển hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011) cũng được xem là một trong những nội dung

hợp thành của sự định hướng về “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế” trong Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội

2011 - 2020 Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Khóa

XI, Đảng ta đã ban hành nghị quyết “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai

đoạn 2012 - 2020” Nghị quyết nhấn mạnh: “Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội…” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011)

Ðại hội XII của Ðảng đã nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ an sinh xã hội là: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao mức sống người có công Rà soát, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội Ðẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, cận nghèo phấn đầu tự vươn lên thoát nghèo bền vững Khuyến khích nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh

xã hội của người dân Thực hiện tốt chính sách việc làm công, chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ có thời hạn cho người lao động mất việc khu vực công

Trang 23

Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao hiệu quả của hệ thống, đổi mới cơ chế tài chính, bảo đảm phát triển bền vững quỹ bảo hiểm xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách, khuyến khích tham gia của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội Thực hiện chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và các dịch vụ xã hội cõ bản cho người dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin (Đảng Cộng sản Việt Nam

(2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII NXB Chính trị quốc gia

- Sự thật, Hà Nội, tr.137)

Trên quan điểm của Đảng, hệ thống chính sách An sinh xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới được Nhà nước thể chế hóa bằng những văn bản có giá trị pháp lý qua từng chặng đường phát triển trong quá trình đổi mới:

- Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 01/11/2012 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020, trong đó đã xác định rõ quan điểm “Hệ thống ASXH phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước,

xã hội với người dân”; và nhiệm vụ “Xây dựng mã số ASXH để phát triển Hệ thống thông tin chính sách ASXH; Xây dựng bộ chỉ số về ASXH quốc gia và bộ

cơ sở dữ liệu hộ gia đình để phát triển hệ thống giám sát, đánh giá thực hiện chính sách ASXH hàng năm”

- Ngoài ra còn có các văn bản liên quan như Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Người cao tuổi; Luật Người khuyết tật; Luật Nuôi con nuôi; Luật Chăm sóc sức khỏe nhân dân, Luật Khám chữa bệnh; Luật Bảo hiểm y tế; Luật Giáo dục

- Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

- Thông tư liên tịch số 09/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 13/7/2007 của Bộ Thương binh và xã hội về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

Trang 24

- Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ

về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ

về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

- Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của Bộ Thương binh và xã hội – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định

số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

- Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

- Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24/10/2014 của Bộ Thương binh và xã hội – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một

số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

- Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 4, điều 11 Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24/10/2014 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã hoạch định và triển khai nhiều chính sách ASXH, chính sách BTXH quan trọng, huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng (người dân tộc thiểu số, người nghèo, người già cô đơn, trẻ em và các đối tượng dễ bị tổn thương) vươn lên trong cuộc sống Các chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH, chính sách BTXH được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, ; Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; Phát triển kết cấu

hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụ người dân tốt hơn Hệ thống pháp luật về ASXH, chính sách BTXH ngày càng hoàn thiện hơn, đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

Trang 25

2.1.3 Nội dung kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

2.1.3.1 Kiểm soát đối tượng hưởng trợ cấp xã hội

Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ,… hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên

có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về vật chất Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người

“yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân Ngoài ra dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, mại dâm, lang thang, xin ăn,…(Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2010)

Tiêu chí xác định đối tượng trợ cấp xã hội:

Hiện tại ở nước ta có nhiều văn bản quy định về các đối tượng trợ giúp xã hội, đối tượng trợ cấp xã hội Tuy vậy, trong quá trình thực hiện chính sách có sự nhầm lẫn về tiêu chí xác định đối tượng, đã dẫn đến thực tế ở nhiều tỉnh là đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội không được trợ cấp mà đối tượng không thuộc diện trợ cấp lại được trợ cấp Để khắc phục hạn chế này cần phải làm rõ khái niệm đối tượng trợ cấp xã hội thường xuyên và đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất, tiêu chí xác định và phân biệt giữa hai nhóm đối tượng này

- Đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất:

Đối tượng xã hội hay đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất là một bộ phận hay nhóm dân cư do các nguyên nhân chủ quan, khách quan gặp tác động phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động và cuộc sống mà cần đến có

sự trợ giúp của cộng đồng, Nhà nước thì mới có thể đảm bảo cuộc sống như những người bình thường khác

Theo quy định hiện hành đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất bao gồm có: ngườicao tuổi, người khuyết tật, người lang thang, xin ăn; trẻ em đặc biệt khó khăn (trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang ), người bị nhiễm HIV/AIDS

- Đối tượng trợ cấp xã hội thường xuyên:

Trang 26

Đối tượng bảo trợ xã hội cộng đồng hay đối tượng trợ cấp xã hội thường xuyên là đối tượng xã hội do các nguyên nhân chủ quan, khách quan gặp những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có hoặc không còn khả năng lao động, không

có nguồn thu nhập, không có người nương tựa, hay người có điều kiện đảm bảo chăm sóc ở mức sống tối thiểu, cần đến sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội

Theo quy định hiện hành, thì đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội bao gồm nhiều nhóm đối tượng, nhiều độ tuổi như:

Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ

em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất; trẻ em có cha

và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên

Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội

Người khuyết tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng

tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo Hộ gia đình có

từ 02 người khuyết tật trở lên

Người bị nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo

Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi Trong quá trình thực hiện chính sách cần phải phân biệt rõ đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng trợ giúp xã hội, việc phân biệt hai nhóm đối tượng giúp tránh bỏ sót và nhầm lẫn đối tượng Giữa đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng trợ cấp xã hội đột xuất có những điểm giống, khác nhau theo các tiêu chí sau:

Trang 27

Bảng 2.1 Phân biệt đối tượng bảo trợ xã hội thường xuyên và đối tượng bảo

trợ xã hội đột xuất

STT Tiêu chí phân

biệt Đối tượng bảo trợ xã hội

Đối tượng trợ cấp xã hội

Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: khuyết tật nặng (mất sức lao động, mất khả năng phục vụ sinh hoạt), người cao tuổi cô đơn (không có người chăm sóc, nuôi dưỡng), trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, người bị nhiễm HIV, người làm mẹ đơn thân,…

Hoàn cảnh nhẹ như khuyết tật nhẹ; người cao tuổi có người chăm sóc, còn sức khoẻ; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, …

Còn khả năng lao động hoặc

Có người chăm sóc, nuôi dưỡng

Mặc dù có sự khác biệt về mức độ giữa nhóm đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng trợ giúp xã hội, nhưng sự khác biệt này chỉ là tương đối, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, phong tục tập quán của từng địa phương cũng như những quy định về các chính sách trợ giúp của nhà nước ở từng thời kỳ

2.1.3.2 Kiểm soát mức trợ cấp xã hội chi trả

Để xác định mức trợ cấp có thể dựa vào các phương pháp tiêu biểu sau:

Trang 28

Phương pháp so sánh tương quan: Đây là phương pháp xây dựng mức trợ cấp

xã hội bằng cách so sánh các chế độ, chính sách hiện tại để xác định mức trợ cấp

xã hội hàng tháng; cũng cần so sánh cả với mức thu nhập, chi tiêu bình quân của cộng đồng và khả năng ngân sách của Nhà nước cho việc thực hiện chính sách Đây là một trong những phương pháp đơn giản và phù hợp trong các điều kiện các chế độ chính sách khác được xây dựng trên cơ sở của mức chi tiêu cần thiết

Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra các về nhu cầu chi tiêu của các đối tượng xã hội và của cộng đồng dân cư để xác định mức thu nhập cần thiết cho các nhu cầu cần thiết của đối tượng

Phương pháp bán cấu trúc: Sử dụng các kết quả tính toán của các điều tra liên quan để xác định mức chi tiêu tối thiểu cần thiết để xác định mức trợ cấp xã hội cộng đồng

Phương pháp chuyên gia: Sử dụng các chuyên gia có kinh nghiệm đưa ra các mức sau đó tổng hợp lại lấy mức trung bình làm mức trợ cấp

Phương pháp tổng hợp: Sử dụng tất cả các phương pháp trên để xác định mức trợ cấp, sử dụng các kết quả nghiên cứu, điều tra để xác định mức trợ cấp, sau đó so sánh các mức đó với các chế độ chính sách khác và so sánh khả năng ngân sách để lựa chọn mức phù hợp cho từng nhóm đối tượng, từng vùng và từng thời kỳ cụ thể

- Theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của chính phủ Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội thì quy định có 09 nhóm đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội hằng tháng do xã, thị trấn quản lý có hiệu lực từ năm 2007 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013 thì mức chi tương ứng với mức chuẩn BTXH 180.000 đồng nhân với hệ số tương ứng cụ thể như sau:

+ Nhóm 1, Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc thuộc diện nghèo:

Từ 18 tháng tuổi trở lên; người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hoá, học nghề có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên hệ số 01

Trang 29

Dưới 18 tháng tuổi; từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật nặng hoặc bị nhiễm HIV/AIDS hệ số 1.5

Dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật nặng, bị nhiễm HIV/AIDS hệ số 02

+ Nhóm 2, Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình hộ nghèo

+ Nhóm 6, Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc

hộ gia đình nghèo hệ số 1.5

+ Nhóm 7, Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (mức trợ cấp tính theo số trẻ nhận nuôi dưỡng)

Nhận nuôi dưỡng trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên hệ số 02

Nhận nuôi dưỡng trẻ em dưới 18 tháng tuổi; trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên

bị tàn tật hoặc bị nhiễm HIV/AIDS hệ số 2.5

Nhận nuôi dưỡng trẻ em dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật hoặc bị nhiễm HIV/AIDS hệ số 03

+ Nhóm 8, Hộ gia đình có từ 02 người trở lên là người tàn tật nặng không

có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm

Trang 30

Có 2 người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần hệ số 02

Có 3 người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần hệ số 03

Có từ 4 người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần trở lên hế số 04

+ Nhóm 9, Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới

16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới

Các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại điểm b khoản 1 điều này (nhóm 1,

2, 3, 4, 5, 6); trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi được gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng theo quy định; trẻ em là con của người đơn thân và đối tượng nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh được hưởng các chính sách như:

Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm Y tế, Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm Y tế

Các đối tượng đang học văn hóa, học nghề được miễn, giảm học phí; được cấp sách, vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật

Trang 31

Khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng mức 3.000.000 đồng/người Đối với trường hợp đối tượng thuộc diện được hưởng các mức mai táng khác nhau thì chỉ được hỗ trợ một mức mai táng phí cao nhất

Ngoài ra còn có các khoản trợ cấp đột xuất do ôm đau, thiên tai, địch họa, mất mùa, chết…theo quy định

- Theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 thì quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng hưởng BTXH thường xuyên bao gồm chỉ 06 nhóm đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội hằng tháng do xã, thị trấn quản lý có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 thì mức chi tương ứng với mức chuẩn BTXH 270.000 đồng nhân với hệ số tương ứng cụ thể như sau:

+ Nhóm 1, Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng: Đây là nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được quan tâm và trợ giúp Việc xác định trẻ em nhóm này căn cứ trên cơ sở độ tuổi, tình trạng mồ côi và khả năng tương nựa vào người thân thích Những đối tượng thuộc nhóm này gồm:

Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

Mồ côi cả cha và mẹ; Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

Mức chi:

Hệ số 2,5 đối với đối tượng nhóm 1 dưới 04 tuổi

Hệ số 1,5 đối với đối tượng nhóm 1 từ 04 tuổi trở lên

+ Nhóm 2, Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

Mức chi

Hệ số 1,5 đối với đối tượng nhóm 2

+ Nhóm 3, Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác

Trang 32

Mức chi

Hệ số 2,5 đối với đối tượng nhóm 3 dưới 04 tuổi

Hệ số 2,0 đối với đối tượng nhóm 3 từ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi

Hệ số 1,5 đối với đối tượng nhóm 3 từ 16 tuổi trở lên

+ Nhóm 4, Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (người đơn thân nghèo đang nuôi con)

Mức chi

Hệ số 1,0 đối với đối tượng nhóm 4 đang nuôi 01 con

Hệ số 2,0 đối với đối tượng nhóm 4 đang nuôi từ 02 con trở lên

+ Nhóm 5, Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng

Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng

+ Nhóm 6, Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật

Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo hệ số khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất Riêng người đơn thân nghèo đang nuôi con đồng thời là đối tượng quy định tại các nhóm 3, 5 và 6 thì ngoài chế độ đối với người đơn thân nghèo đang nuôi con còn được hưởng chế độ đối với đối tượng nhóm 3 hoặc nhóm 5 hoặc nhóm 6

Ngoài ra còn có các khoản trợ cấp đột xuất do ôm đau, thiên tai, địch họa, mất mùa, chết… theo quy định

Trang 33

Trợ cấp chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng

2.1.3.3 Kiểm soát việc thực hiện chi trả trợ cấp xã hội

Kiểm soát việc thực hiện chi trả trợ cấp xã hội là việc kiểm soát thời gian chi trả, số tiền chi trả và kiểm soát hình thức chi trả Chế độ, chính sách trợ giúp

xã hội thường xuyên và hỗ trợ người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng phải được chi trả kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng

Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định phương thức chi trả phù hợp với tình hình thực tế của địa phương theo hướng chuyển đổi chi trả chính sách trợ giúp xã hội

từ cơ quan nhà nước sang tổ chức dịch vụ chi trả

- Tổ chức chi trả

+ Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, thống nhất hướng dẫn việc chi trả, thẩm định, quyết toán các chế độ BTXH theo quy định của Luật

+ Bộ Tài chính phối hợp phân bổ nguồn Ngân sách cho hoạt động bảo trợ

xã hội

+ Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trong tổ chức, quản lý, thống nhất hướng dẫn việc chi trả, quyết toán các chế độ BTXH trên địa bàn quản lý theo phân cấp đúng quy định của pháp luật

Ký hợp đồng với Bưu điện tỉnh để thực hiện chi trả các chế độ về BTXH hàng tháng cho người nhận hằng tháng và nhận một lần

Trực tiếp chi trả các chế độ theo phân cấp

+ Ủy ban nhân dân huyện tổ chức chi trả chế độ BTXH thông qua Bưu điện huyện, xã

Trực Tiếp chi trả các chế độ BTXH theo phân cấp

- Quy trình chi trả

+ Ủy ban nhân dân huyện mà cụ thể là Phòng Lao động – Thương binh &

xã hội huyện lập danh sách chi trả lần đầu và danh sách biến động hằng tháng gửi phòng Tài chính – Kế hoạch huyện

+ Căn cứ vào lịch chi trả Ủy ban nhân dân tỉnh mà cụ thể là Sở Lao động – Thương binh & xã hội quy định cụ thể thời gian lập và chuyển các biểu mẫu cho

Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động – Thương binh & xã hội huyện, Bưu

Trang 34

điện tỉnh trước ngày 30 hằng tháng để đảm bảo thời gian cấp, chuyển kinh phí chi trả theo quy định

+ Phòng Kế hoạch – Tài chính huyện căn cứ vào danh sách đối tượng hưởng chế độ BTXH của Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội chuyển đến

và thực hiện chuyển kinh phí cho Bưu điện tỉnh vào tài khoản trước chi trả thời gian 04 ngày Lập thông báo chuyển kinh phí chi trả chế độ BTXH cho bưu điện tỉnh biết về số tiền đã chuyển cho Bưu điện tỉnh

+ Thực hiện chi trả theo phân cấp chi trả

+ Thực hiện truy thu hoặc truy lĩnh số tiền đã chi sai cho người hưởng chế

độ BTXH theo phân cấp

+ Trách nhiệm của ủy ban nhân dân huyện chi trả cho người hưởng theo phân cấp chi trả; thực hiện truy thu, truy lĩnh khi Bưu điện chi sai

+ Trách nhiệm của cơ quan Bưu điện

Thực hiện chi trả chế độ BTXH theo đúng thỏa thuận đã được cam kết theo hợp đồng đã ký Bưu điện tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn Bưu điện huyện thực hiện các nội dung đúng theo hợp đồng dịch vụ chi trả

Bưu điện huyện: Thực hiện chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho người hưởng tại các điểm chi trả, khi chi trả kiểm tra Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh, hướng dẫn người ký tên vào danh sách chi trả Trường hợp đã lưu giữ hình ảnh người hưởng hoặc người được ủy quyền trên phần mềm thì không cần xuất trình giấy tờ tùy thân có ảnh, thực hiện đối chiếu hình ảnh với người hưởng hoặc người được ủy quyền nếu đúng thì chi trả, cán bộ chi trả ký và ghi số tiền chi trả vào sổ nhận tiền và gửi trả lại cho người hưởng giữ

- Quyết toán thu, chi BTXH

Bản chất của BTXH là sự bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng thụ hưởng Có nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế khi đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống của mình Nguồn thu chủ yếu của hoạt động BTXH là nguồn phân bổ từ nguồn ngân sách Trung ương và một phần nhỏ còn lại là nguồn ngân sách địa phương cân đối và vận động các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ Hoạt động chi BTXH là hoạt động thường xuyên nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân

+ Quyết toán thu BTXH: Quyết toán thu tổng cộng trong năm thực hiện

Trang 35

+ Quyết toán chi

Chế độ BTXH hằng tháng: Quyết toán theo số thực chi trả lương trước ngày 10 hằng tháng

Chế độ BTXH một lần: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 05 của tháng liền kề

Chế độ BTXH đột xuất: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 05 của tháng liền kề

- Kinh phí thực hiện chế độ chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, hỗ trợ nhận chăm sóc tại cộng đồng và kinh phí thực hiện chi trả chính sách; tuyên truyền, xét duyệt đối tượng; ứng dụng công nghệ thông tin; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ và kiểm tra giám sát được thực hiện theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước

- Ngân sách địa phương tự cân đối theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước

- Nhận tiền trợ giúp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua cơ quan, tổ chức

- Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng và các nguồn kinh phí địa phương không đủ để thực hiện trợ giúp đột xuất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ lương thực, kinh phí từ nguồn ngân sách trung ương

2.1.3.4 Công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết đơn thư khiếu nại đối với việc thực hiện chi trả chính sách bảo trợ xã hội

- Thanh tra, kiểm tra là phương thức của quản lý nhà nước; đây là một nội dung quan trọng, vì hoạt động BTXH là hoạt động nhằm đảm bảo an sinh xã hội, công bằng xã hội đối tượng hưởng lợi là các đối tượng có mức sống dưới tối thiểu, đây là nhóm đối tượng rất nhạy cảm, dễ bị lợi dụng kích động rất cần sự quan tâm đặc biệt của nhà nước nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội cho nên việc thanh tra, giám sát thực hiện đúng theo quy định là hết sức cần thiết Thanh tra kiểm tra không chỉ phát hiện thu hồi, xử lý vi phạm mà quan trọng hơn là nâng cao kỷ cương, kỷ luật, ý thức chấp hành pháp luật về BTXH; đảm bảo ASXH cho mọi công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Trang 36

- Ủy ban nhân dân các cấp sẽ thanh tra, kiểm tra những vụ việc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thu, chi BTXH cũng như ngăn chặn tình trạng làm giả hồ sơ, ký khống để trục lợi từ nguồn BTXH hoặc khi có người đứng đầu cơ quan nhà nước giao thực hiện

- Khi thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BTXH phải tuân theo pháp luật; bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lặp về vi phạm, đối tượng, nội dung thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; tiến hành thường xuyên gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan BTXH nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thu, chi BTXH góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực BTXH

2.1.3.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo trợ

xã hội

Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo theo các quy định của pháp luật và của ngành là một trong những hoạt động mang tính thường xuyên của quản lý nhà nước về BTXH

Chính sách BTXH vận dụng qua nhiều giai đoạn và có điều chỉnh, bổ sung nên việc đảm bảo quyền lợi của đối tượng không phải khi nào cũng giải quyết tốt Người thụ hưởng có quyền khiếu nại, tố cáo đến cơ quan nhà nước về những bất hợp lý khi thực hiện các chế độ BTXH, các cơ quan nhà nước sẽ có trách nhiệm giải quyết những khiếu nại này theo thẩm quyền từ thấp đến cao

Trong trường hợp cố tình bao che, không giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền quy định thì sẽ bị xử lý theo quy định

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

Theo Mai Ngọc Cường (2013), các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội bao gồm: Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo trợ xã hội; Sự phát triển kinh tế; Vai trò lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương; Trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo trợ xã hội; Công tác tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách ưu đãi đối với các đối tượng bảo trợ xã hội

Trang 37

2.1.4.1 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo trợ xã hội

Hệ thống chính sách, pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện chính sách Nếu hệ thống chính sách pháp luật về bảo trợ xã hội đầy đủ, công khai, minh bạch, rõ ràng thì việc triển khai thực hiện sẽ mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên hiện nay hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện luôn thay đổi, thiếu tính thống nhất, thiếu sự đồng bộ, chặt chẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách ngay tại cơ sở

Các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức,

cá nhân thực hiện các quy định về BTXH là căn cứ để kiểm tra, xử lý những trường hợp vi phạm

Nếu hệ thống chính sách, pháp luật không chặt chẽ, đầy đủ, thì việc giải quyết sự việc, tình huống sẽ không triệt để và nhanh chóng, kịp thời

2.1.4.2 Sự phát triển kinh tế

Sự phát triển của mỗi nền kinh tế là minh chứng cho trình độ văn minh của

xã hội Xã hội càng văn minh thì cuộc sống con người càng được đảm bảo vững chắc dẫn đến số lượng đối tượng thụ hưởng BTXH giảm đi đồng nghĩa với việc giảm đi gánh nặng của xã hội

Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm như yếu tố tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách điều tiết Thu nhập bình quân của người dân tăng cao, bằng chính sách thuế phù hợp nhà nước đóng vai trò thực hiện phân phối lại thu nhập góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và sự tăng trưởng kinh tế cũng giúp nhà nước có thêm nguồn động lực chăm lo phát triển về

xã hội mà trọng tâm là phát triển hệ thống ASXH trong đó có BTXH Tăng trưởng kinh tế cũng tạo nguồn lực để từng bước mở rộng đối tượng, mở rộng chính sách BTXH

Ngoài ra kinh tế tăng trưởng nhanh làm cho mức sống tối thiểu của người dân từng bước được nâng lên, tác động trực tiếp đến chính sách BTXH làm tăng mức trợ cấp để đảm bảo mức sống tối thiểu cho các đối tượng được bảo trợ Tuy nhiên bên cạnh sự tăng trưởng cũng sẽ nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội như là thất nghiệp, thiếu việc làm, phân hóa lại xã hội… làm cho đối tượng này gia tăng nhiều

Trang 38

2.1.4.3 Vai trò lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương

Việc triển khai các chính sách, chế độ của Nhà nước và chăm lo đời sống của các đối tượng bảo trợ xã hội là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội ở các địa phương Thực tế thời gian qua cho thấy ở những địa phương mà cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội tích cực phối hợp, các tầng lớp nhân dân nhiệt tình tham gia thì nơi đó các chế độ chính sách bảo trợ

xã hội được thực hiện tốt, các hoạt động trợ giúp xã hội được duy trì và phát triển, đời sống của các đối tượng bảo trợ xã hội ngày một nâng lên

2.1.4.4 Trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

Công tác thực hiện chính sách BTXH tốt hay không chịu ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng đội ngũ CBCC làm công tác này Vì nhân tố con người là nhân tố quyết định thành công của mọi chính sách Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất, trình độ chuyên môn yếu thì không thể đảm bảo chất lượng công việc Trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo trợ xã hội chưa đồng đều, một số cán bộ hạn chế cả về trình độ chuyên môn và năng lực công tác, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Các chế độ, chính sách triển khai thực hiện không kịp thời, nhất là ở cấp xã đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách

Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công bảo trợ xã hội còn nhiều hạn chế, một bộ phận đối tượng bảo trợ xã hội còn trông chờ,

ỷ lại vào chính sách của Nhà nước

2.1.4.5 Công tác tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách ưu đãi đối với các đối tượng bảo trợ xã hội

Công tác tuyên truyền được xác định là khâu quan trọng trong triển khai thực hiện chính sách Bằng nhiều hình thức, phương pháp truyền thông phong phú, đang dạng Hệ thống văn bản quy định chính sách bảo trợ xã hội đã được phổ biến đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong tỉnh để mọi người hiểu biết được chính sách, cùng thực hiện và giám sát thực hiện chính sách Công tác tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách ưu đãi đối với các đối tượng bảo trợ xã hội thực hiện tốt, người dân nắm rõ được các chính sách bảo trợ xã hội

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và ngược lại

Trang 39

Căn cứ báo cáo tăng, giảm và quyết định trợ cấp mới trong kỳ, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện lập danh sách chi trả, làm thủ tục chuyển kinh phí chi trả qua Bưu điện cấp huyện

Bưu điện lập kế hoạch, chuyển tiền đến Bưu điện xã hoặc trực tiếp theo cho nhân vien Bưu điện phụ trách chi trả

Tổ chức chi trả cho đối tượng hoặc người đại diện tại các địa điểm giao dịch của cơ quan bưu điện hoặc UBND xã

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội chốt danh sách, số liệu thực chi

và quyết toán kinh phí với Bưu điện và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

2.2.1.2 Kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội của tỉnh Hà Nam

Theo báo kết quả thực hiện chi trả trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2018, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam đã thực hiện rất tốt công tác kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ

xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Nam, cụ thể: Trong việc triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội, cho thấy tách bạch trong việc xét duyệt trợ cấp và tổ chức chi trả; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng phục vụ xã hội; tạo thuận lợi trong kiểm tra, giám sát; minh bạch, kịp thời trong chi trả, đảm bảo an toàn nguồn tiền chi trả; giảm áp lực và nâng cao hiệu quả quản lý, xét duyệt đối tượng của cán bộ chuyên môn cấp xã Thúc đẩy tính chuyên nghiệp, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý, cũng như thái độ phục vụ của cán bộ công chức Những năm qua, tỉnh Hà Nam đã chuyển đổi phương thức chi trả chính sách trợ

Trang 40

giúp xã hội sang hệ thống bưu điện giúp tận dụng được nguồn lực về con người,

cơ sở vật chất, mạng lưới, trang thiết bị, phương tiện vận chuyển; tạo được mối quan hệ gần gũi với các cấp chính quyền địa phương

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho tỉnh Thái Bình

Từ kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ

xã hội của tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho tỉnh Thái Bình như sau:

Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về BTXH theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của Ngành và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng yêu cầu hiện đại theo nguyên tắc tập trung thống nhất

Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ phù hợp với từng lĩnh vực với các tiêu chí cụ thể như đạo đức, trình độ chuyên môn, độ tuổi… Đảm bảo tạo được một đội ngũ cán bộ chuyên sau theo từng chức năng của ngành để có căn cứ đánh giá, phân loại và bồi dưỡng cán bộ

Tăng cường công tác chi tiền tại nhà đối với các đối tượng già, tàn tật nêu đơn nhằm giảm áp lực tại điểm chi cũng như tăng cường mức độ hài lòng của người dân đối với chế độ, chính sách BTXH của nhà nước

Thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động chi BTXH không để xảy ra tình trạng thiếu sót hoặc chi không đúng đối tượng

Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra, giám sát của huyện trong việc thực hiện chính sách BTXH trên địa bàn tỉnh Thái Bình Việc lựa chọn, bố trí cán bộ, công chức trong đoàn cần phải bố trí đúng thành phần theo quy định ngoài ra còn cần phải lựa chọn người có phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn sâu đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong cho cán bộ công chức làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra

Ngày đăng: 15/07/2021, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w