Để đảm bảo nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên phát triển ổn định và bền vững thì cần có những nghiên cứu đánh giá hiện trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuô
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HẢI NINH
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG NUÔI TÔM TẠI HUYỆN TIÊN YÊN,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải Ninh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Kim Văn Vạn và TS.Trần Đình Luân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thủy sản - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Tổng cục Thủy sản đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Tiên Yên, các tổ chức, cá nhân và các hộ nuôi tôm trên địa bàn các xã Đông Hải và xã Hải Lạng; NCS Trần Văn Tam - Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu trong luận văn nay
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải Ninh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của luận văn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý rủi ro 4
2.1.1 Khái niệm rủi ro 4
2.1.2 Quản lý rủi ro trong nông nghiệp 5
2.1.3 Phân loại rủi ro và vai trò của nghiên cứu rủi ro 10
2.1.4 Thực tiễn về quản lý rủi ro trong nông nghiệp 11
2.2 Hiện trạng về nuôi và dịch bệnh trên tôm ở Việt Nam 13
2.2.1 Hiện trạng nuôi tôm ở Việt Nam giai đoạn 2010 -2018 13
2.2.2 Hiện trạng về dịch bệnh trên tôm nuôi ở Việt Nam 14
2.2.3 Hiện trạng về quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản 16
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Địa điểm nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện khí hậu 23
Trang 53.1.3 Điều kiện thủy văn 24
3.2 Thời gian nghiên cứu 25
3.2.1 Thời gian thực hiện luận văn 25
3.2.2 Thời gian thu thập số liệu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu kế thừa tài liệu 26
3.4.2 Phương pháp điều tra cơ sở nuôi 27
3.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Hiện trạng nuôi tôm và tình hình dịch bệnh trên địa bàn huyện Tiên Yên 29
4.1.1 Hiện trạng phát triển nuôi tôm ở huyện Tiên Yên 29
4.1.2 Hiện trạng về rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm 34
4.2 Hiện trạng về quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên 38
4.2.1 Hiện trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm của cơ sở nuôi 38
4.2.2 Hiện trạng quản lý nhà nước về rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm 42
4.2.3 Nguyên nhân xảy ra dịch bệnh 44
4.3 Giải pháp giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên 45
4.3.1 Giải pháp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh đối với các cơ sở nuôi tôm 45
4.3.2 Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước 49
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Kiến nghị 53
Tài liệu tham khảo 54
Phụ lục 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các công cụ và chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp 6
Bảng 2.2 Ma trận đo lường rủi ro 8
Bảng 2.3 Hiện trạng phát triển nuôi tôm Việt Nam giai đoạn 2010-2018 14
Bảng 2.4 Hiện trạng diện tích tôm bị thiệt hại và dịch bệnh trên tôm nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2013-2018 14
Bảng 2.5 Phạm vi của bảo hiểm trong nông nghiệp 19
Bảng 3.1 Số hộ điều tra tại 02 xã Hải Lạng và xã Đông Hải huyện Tiên Yên 27
Bảng 4.1 Hiện trạng nuôi tôm huyện Tiên Yên giai đoạn 2015-2018 29
Bảng 4.2 Diện tích nuôi tôm huyện Tiên Yên giai đoạn 2015-2018 31
Bảng 4.3 Hiện trạng số lượng lao động tham gia nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 31
Bảng 4.4 Trình độ và kinh nghiệm của người lao động nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 32
Bảng 4.5 Quy mô diện tích đất nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 32
Bảng 4.6 Hiện trạng diện tích/ao nuôi tôm huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 33
Bảng 4.7 Ao chứ a và xử lý nước thải trong nuôi tôm trên đ ịa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 33
Bảng 4.8 Hiện trạng về diện tích tôm nuôi bị bệnh trên địa bàn huyện Tiên Yên giai đoạn 2015-2018 34
Bảng 4.9 Tình hình thiệt hai do dịch bệnh theo đối tượng nuôi và phương thức nuôi trên địa bàn huyện Tiên Yên giai đoạn 2015-2018 34
Bảng 4.10 Tỷ lệ rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên trong giai đoạn 2015-2018 37
Bảng 4.11 Kết quả điều tra tình hình cải tạo ao nuôi tôm 38
Bảng 4.12 Kết quả điều tra tình hình lấy nước và xử lý nước vào ao trước khi nuôi tôm 39
Bảng 4.13 Kết quả điều tra về việc chọn và thả tôm giống 40
Bảng 4.14 Kết quả điều tra về việc sử dụng thức ăn trong nuôi tôm 41
Bảng 4.15 Kết quả điều tra về việc quản lý ao nuôi tôm 41
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Hải Ninh
Tên luận văn: Hiện trạng và giải pháp quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm tại
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Ngành: Nuôi trồng thủy sản Mã số: 8620301
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nuôi tôm có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tại các địa phương ven biển Việt Nam Xuất khẩu tôm là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành Thủy sản Việt Nam Tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) được xác định là đối tượng nuôi chủ lực ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên trong giai đoạn 2015-2018 đã đạt được những thành quả nhất định: diện tích, sản lượng, năng suất đều tăng, tuy nhiên kết quả mang lại không ổn định Hiện nay, nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện đang phải đối mặt với không ít thách thức, khó khăn liên quan đến rủi ro dịch bệnh Để đảm bảo nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên phát triển ổn định và bền vững thì cần có những nghiên cứu đánh giá hiện trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, từ đó đề xuất một số giải pháp giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm
Sử dụng phương pháp nghiên cứu, thu thập các tài liệu thứ cấp thông qua các báo cáo, thông kế, tạp chí, đánh giá của các cơ quan chuyên môn, kết hợp với các phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, thu thập các tài liệu sơ cấp, phỏng vấn 120 hộ nuôi tôm Sau khi phân tích, xử lý số liệu Chúng tôi thu được một số kết quả:
Nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên mang lại hiệu quả kinh tế cao, đã góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đến năm 2018: Diện tích nuôi tôm đã tăng lên 1.215 ha, sản lượng đạt 1.130 tấn, năng suất đạt trung bình 0,93 tấn/ha Tuy nhiên, nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên thường xuyên gặp về rủi ro dịch bệnh Rui ro dịch bệnh đã xảy ra ở cả tôm sú và tôm chân trắng và xảy rả ở tất cả các hình thức nuôi Một số rủi ro dịch bệnh thừng gặp như: bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHV), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHNV), hội chứng chết sớm/bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/ AHPND); một số các bệnh liên quan đến vi khuẩn và môi trường… Tuy theo từng loại bệnh mà gây ra các mức độ thiệt hại khác nhau, trong đó bệnh đốm trắng gây ra tỷ lệ thiệt hai cao nhất
Dựa trên những phân tích hiện trạng về hiện trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, chúng tôi đưa ra một số giải pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do rủi ro về dịch bệnh trong nuôi tôm như sau:
Trang 9(i) Đối với các cơ sở nuôi tôm cần thực hiện các giải pháp: Đầu tư cơ sở hạ tầng theo đúng quy trình kỹ thuật nuôi tôm; nâng cao kiến thức về công tác phòng, chống dịch bệnh; áp dụng quy trình nuôi tôm tiên tiến, thiết bị công nghệ cao vào sản xuất; thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch bệnh tổng hợp; thực hiện đúng các quy định của cơ quan nhà nước về phòng, chống dịch bệnh; tham gia bảo hiểm rủi ro dịch bệnh (ii) Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Xây dựng quy hoạch và quản lý theo đúng quy hoạch; ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng vùng nuôi tôm tập trung, bao gồm: Hệ thống cấp thoát nước, đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống xử lý nước thải cho các vùng nuôi tôm; đảm bảo an toàn dịch bệnh; tập trung nghiên cứu khoa học công nghệ, cải tiến các quy trình nuôi tôm theo hướng thân thiện với môi trường và giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh; xây dựng, ban hành và hướng dẫn các cơ sở nuôi về các công tác phòng, chống dịch bệnh; thực hiện các chính sách hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả do dịch bệnh gây ra và khôi phục nuôi tôm ở địa phương và thực thi chính sách bảo hiểm; tăng cường công tác quản lý nhà nước về phòng, chống dịch bệnh
Trang 10THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Thi Hai Ninh
Thesis title: Current situation and solutions for disease risk management in shrimp
farming in Tien Yen district, Quang Ninh province
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Shrimp farming plays an important role in socio-economic development, especially in coastal areas of Vietnam Shrimp exportation is the key products of Vietnam's seafood industry Shrimp (including tiger shrimp and white leg shrimp) have been identified as the main cultured species in Tien Yen district, Quang Ninh province Shrimp farming in Tien Yen district in the period of 2015-2018 has achieved certain results: the area, production and productivity have increased However, the achievement has been unstable Currently, shrimp farming in Tien Yen is facing many challenges and difficulties related to disease outbreaks To ensure the stable and sustainable development
of shrimp farming in Tien Yen district, it is necessary to assess the current status of disease risks and disease risk management in shrimp farming in Tien Yen district and give the solutions to mitigate the losses due to disease outbreaks in shrimp farming
Shrimp farming in Tien Yen district creating high economic efficiency and has contributed positively to the socio-economic development of the locality By 2018: The shrimp farming area has increased to 1,215 ha, total production has reached 1,130 tons, the average yield is 0.93 tons / ha However, shrimp farming in Tien Yen district often faces with disease outbeaks There are several diseases occurred in both tiger shrimp and white shrimp such as white spot disease (WSSV), yellow head disease (YHV), infectious hypodermal and hematopoietic necrosis virus (IHHNV), early death syndrome (EMS/ AHPND) In addition, several diseases related to bacteria and environment also occurred Depending on the disease, the economic losses are differed,
in which white spot disease causes the highest rate of damage
Using research methods, collecting secondary documents through reports, statistics, journals, assessments of specialized agencies accompany with the results of field surveys, collecting data and interview 120 shrimp households Data analysis was conducted and we obtained the results as below:
Based on the current situation of disease risk and disease risk management in shrimp farming in Tien Yen district We suggest several solutions to prevent, and minimize economic losses due to outbreaks
Trang 11(i) For shrimp farms, it is necessary to apply the following solutions: Investing in infrastructure in accordance with the technical process of shrimp farming; improve knowledge about disease prevention; apply advanced shrimp farming process, high-tech equipments; implementation of integrated disease prevention and control solutions; strictly comply with the regulations of the state agencies on disease prevention; participate in disease risk insurance
(ii) For state management agencies: formulating the plans and manage plans appropriately; prioritize investment in building infrastructure of intensive shrimp farming areas, including: water supply and drainage systems, roads, electric systems, wastewater treatment systems for ; ensure safety disease outbreak; focusing on scientific and technological research, improving shrimp farming processes in an environmental friendly manner and minimizing risks caused by diseases; formulating, issuing and guiding for the farms in establishing disease prevention procedure; implement policies
to support disease prevention, effective handle with consequence of the disease outbreaks and restore local shrimp farming and enforce insurance policies; strengthen the state management of disease prevention and control
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, nghề nuôi tôm đã phát triển nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu ngư dân ven biển ở Việt nam Hiện nay, nghề nuôi tôm có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tại các địa phương ven biển Việt Nam Xuất khẩu (XK) tôm Việt Nam luôn là mặt hàng XK chính, là sản phẩm XK chủ lực của ngành Thủy sản Việt Nam Theo báo cáo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Viêt Nam (VASEP), năm 2018 tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 8,801 tỷ USD, trong đó giá trị XK tôm đạt 3,554 tỷ USD (chiếm 40,38% tổng giá trị XKTS Việt Nam)
Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương có tiềm năng và lợi thế phát triển nuôi tôm Tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) được xác định là đối tượng nuôi chủ lực ở các huyện ven biển tỉnh Quảng Ninh Theo Quyết định số 4209/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đã xác định huyện Tiên Yên (gồm các xã: Đông Ngũ, Đông Hải, Hải Lạng và Đông Rui) là một trong những vùng tập trung phát triển nuôi tôm của tỉnh Quảng Ninh
Nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) nói chung và nghề nuôi tôm nói triêng trên địa bàn huyện Tiên Yên trong giai đoạn 2015-2018 qua đã đạt được những kết quả nhật định: Năm 2015, tổng diện tích nuôi tôm là 1.155 ha, sản lượng tôm nuôi đạt 372 tấn, năng suất nuôi tôm trung bình đạt 0,32 tấn/ha; đến năm 2018, tổng diện tích nuôi tôm đạt 1.215 ha, sản lượng tôm nuôi là: 1.130 tấn, năng suất nuôi tôm đạt 0,93 tấn/ha Kết quả phát triển nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên trong giai đoạn 2015-2018 cho thấy: Diện tích, sản lượng và năng suất nuôi tôm đều tăng, tuy nhiên quá trình phát triển không ổn định Một trong những nguyên nhận dẫn đến quán trình phát triển nuôi tôm trong thời gian qua không ổn định là do dịch bệnh thường xuyên xảy ra Trong giai đoạn 2015-2018: Dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên diễn biến phức tạp, các năm đều xuất hiện dịch bệnh, đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nuôi tôm
Trang 13Hiện nay, nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên hiện nay đang phải đối mặt với không ít thách thức, khó khăn liên quan tới rủi ro dịch bệnh Do đó,
để đảm bảo nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên phát triển ổn định và bền vững thì cần có những giải pháp phù hợp để quản lý rủi ro (QLRR) dịch bệnh trong nuôi tôm
Với lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hiện trạng và giải pháp quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”, nội
dung đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng dịch bệnh và các biện pháp quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm hiện nay, trên cơ sở đó để xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên; đảm bảo cho nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, từ đó đề xuất một số giải pháp giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm, góp phần phát triển nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên ổn định và bền vững
1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý dịch bệnh trong nuôi tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Đối tượng khảo sát của đề tài là người dân, các cơ sở nuôi tôm và cán bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy sản ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14- Đề tài thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Điều tra, khảo sát phỏng vấn các hộ nuôi tôm trên địa bàn 02 xã (xã Hải Lạng và xã Đông Hải) huyện Tiên Yên
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp về hiện trạng phát triển nuôi tôm, tình hình dịch bệnh, các biện pháp quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh (2015-2018)
- Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra thu thập thông tin của các hộ/trạng trại nuôi tôm, cán bộ quản lý NTTS địa phương tại thời điểm năm 2018
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Đề tài đã tổng hợp, phân tích đánh giá được hiện trạng nuôi tôm về tình hình dịch bệnh trong nuôi tôm; đề tài đã chỉ ra rủi ro dịch bệnh xảy ra ở cả tôm
sú và tôm thẻ chân trắng và xảy ra ở tất cả các hình thức nuôi từ quảng canh cải tiến, đến nuôi thâm canh và bán thâm canh; đề tài cũng đã chỉ ra một số bệnh thường gặp trong nuôi tôm bao gồm các bệnh như: bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHV), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHNV), hội chứng chết sơm (EMS), bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND); một số các bệnh liên quan đến vi khuẩn và môi trường, vác các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm Trên cơ sở đó, đề tài đã
đề xuất được một số giải pháp quản lý rui ro dịch bệnh từ phía các hộ nuôi tôm
và từ phía các cơ quan quản nhà nước nhằm giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm huyện Tiên Yên, góp phần đảm bảo cho nghề nuôi tôm của địa phương phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
2.1.1 Khái niệm rủi ro
Cho đến nay thì vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro (RR), những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro Những định nghĩa này được đưa ra rất đa dạng, phong phú, nhưng tóm lại
có thể chia ra làm 2 trường phái lớn đó là trường phái truyền thống và trường phái trung hoà (Bui Thị Minh Nguyệt, 2004)
- Theo trường phái truyền thống, cho rằng: Rủi ro là những thiệt hại, mất
mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
- Theo trường phái trung hóa, cho rằng:
Rủi ro là sự bất trắc có thể lường được Rủi ro là sự bất trắc có liên quan đến xuất hiện những biến cố không mong đợi (Đoàn Thị Hồng Vân, 2002)
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước được
Như vậy, theo phái trung hóa, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi
ro xảy ra do nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan Tuy nhiên, một khi rủi ro xảy ra thì thiệt hại là khó tránh khỏi Khi rủi ro xảy ra thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất mát, giảm thu nhập, phá hoại tài sản, làm ngừng trệ sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nhìn nhận rủi ro dịch bệnh theo trường phái truyền thống, bởi vì với nông hộ thì họ quan niệm rủi ro dịch bệnh tức là sự không may, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của họ
Như vậy, theo trường phái truyền thống: “Rủi ro dịch bệnh là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm do dịch bệnh gây ra ngoài tầm kiểm soát của con người”
Trang 162.1.2 Quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Quản lý rủi ro là một khái niệm mới đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Trước hết cần phân biệt khái niệm quản lý rủi ro và khắc phục rủi ro Qủa lý rủi ro đề cập đến việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn nhân lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất, tức là trước khi rủi ro xảy ra Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý chống lại rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
2.1.2.1 Quan niệm về quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Theo Trần Đình Thao (2010 và 2013), quản lý rủi ro là một quá trình hoạch định ra những kế hoạch, những phương pháp và các hành động nhằm phân tích, đánh giá, xử lý và theo dõi rủi ro với mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu rủi ro cũng như thiệt hại do rủi ro gây ra nhằm đạt được lợi nhuận như mong muốn
Đoàn Thị Hồng Vân (2013) cho rằng: Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát và ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công Rõ ràng, quan niệm này được hình thành theo tiếp cận “quản lý” và “rủi ro”
Theo Đỗ Kim Chung (2014), những nỗ lực để nhận diện và quản lý các vấn
đề mang tính nội bộ và các mối đe dọa từ bên ngoài mà những điều đó có thể ảnh hưởng tới khả năng thành công của công việc được gọi là quản lý rủi ro
Theo Nguyễn Minh Thu và Trần Đình Thao (2016), quản lý rủi ro trong nông nghiệp là lựa chọn giữa các lựa chọn thay thế để giảm sự xuất hiện của rủi
ro, giảm thiểu những tác động của rủi ro trong nông nghiệp để làm thay đổi phúc lợi của nông trại Quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển hướng tới giảm chi phí
do rủi ro gây ra để hạn chế tới mức tối đa có thể đối với những ảnh hưởng tiêu cực từ các rủi ro đến kết quả, hiệu quả nuôi và hướng tới phát triển bền vững nuôi tôm ven biển Quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển là những nỗ lực để nhận diện và quản lý các vấn đề bên trong và bên ngoài của các nông trại nuôi tôm ven biển mà những vấn đề đó sẽ có thể ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả nuôi tôm của nông trại nói riêng và sự thành công hay thất bại của nông trại đó nói chung
2.1.2.2 Chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Theo Đỗ Kim Chung (2014), nguyên tắc quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Trang 17tập trung vào: Phòng ngừa tốt hơn là đối phó với rủi ro; Nỗ lực giảm thiểu tác động xấu, biến nguy cơ thành thời cơ; ra quyết định QLRR theo từng cấp độ phù hợp từ vi mô đến vĩ mô (hộ, cộng đồng, vùng, quốc gia); lồng ghép quản lý rủi ro sản xuất, thị trường, tài chính… vào kế hoạch hoạt động của các bộ phận trong nông trại; không chấp nhận những rủi ro không cần thiết; chấp nhận rủi ro khi lợi ích lớn hơn chi phí Từ đó, chiến lược QLRR trong nông nghiệp được xác định Chiến lược QLRR luôn đi cùng với các công cụ OECD (2009) đã hệ thống
3 chiến lược QLRR cơ bản của Newbery bao gồm: (i) Chia sẻ rủi ro (risk sharing), (ii) Tập trung rồi phân tán rủi ro (risk pooling) và (iii) Đa dạng hóa rủi
ro (diversification) Tuy nhiên, khi vận dụng chiến lược QLRR của Newbery cần quan tâm tới tính tương quan của rủi ro và phạm vi xảy ra rủi ro Từ đó, OECD cho rằng: Hai công cụ chủ yếu của thị trường để QLRR trong nông nghiệp là thị trường tương lai để giải quyết các rủi ro về giá và thị trường bảo hiểm để giải quyết phần lớn các rủi ro sản xuất Bên cạnh đó, vẫn có những rủi ro khó có thể đảm bảo bằng cơ chế thị trường Vì thế, cần phải phân chia rủi ro để quản lý riêng OECD đã hình thành chiến lược QLRR trong nông nghiệp (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Các công cụ và chiến lƣợc quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Hệ thống khuyến nông, khuyến ngư Cung cấp đầu vào chất lượng
Chương trình phòng tránh thảm họa Chương trình phòng dịch bệnh
Xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Đa dạng hóa, xen
canh gối vụ
Chuỗi sản phẩm Chia ra nhiều lần bán
Ngăn chặn dịch bệnh lây lan
Trang 18Chiến
lƣợc
Cơ chế phi chính thống
Hợp tác sản xuất:
Bảo hiểm
Đa dạng công cụ tài chính Việc làm phi nông nghiệp
Chương trình ngăn ngừa định kỳ
+ Chia sẻ các trang thiết
bị đầu vào, nguồn nước
Tích lũy, tiết kiệm và
dữ trữ: Vay tín dụng Bán tài sản tài chính Cứu trợ xã hội Dãn nợ,
khoanh nợ Nới lỏng các quy định về sản phẩm Chương trình hỗ trợ nông nghiệp
2.1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro
Theo Bùi Thị Minh Nguyệt (2004), quản lý rủi ro gồm các nội dung chính như sau: Nhận dạng, phân tích, đo lượng rủi ro; kiểm soát, phòng ngừa rủi ro; tài trợ khi rủi ro khi xuất hiện
a Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro
Nhận dạng rủi ro: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro
Trang 19trong hoạt động kinh doanh của tổ chức Hoạt động nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu nhằm thống kê tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã xảy ra, mà còn dự báo được những rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu rủi ro thích hợp Để nhận dạng rủi ro phải lập bảng liệt kê tất cả các dạng các rủi ro đã, đang
và sẽ có thể xuất hiện Có thể sử dụng phương pháp lập bảng hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Câu hỏi liên quan đến các vấn đề như: Gặp phải các loại rủi ro nào? Tổn thất bao nhiêu? Số lần xuất hiện và thời gian xuất hiện? Những biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro? Kết quả đạt được? Những rủi ro chưa xảy ra và có thể xuất hiện? Lý do? Những ý kiến đánh giá về đề xuất về QLRR (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
Phân tích rủi ro: Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê các rủi ro có thể đến, đây là bước khởi đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ
sở đó mới có thể tìm ra các giải pháp phòng ngừa Đây là công việc rất phức tạp bởi mỗi loại rủi ro thường do nhiều nguyên nhân (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
Đo lường rủi ro: Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian xác định và xác định mức độ nghiêm trong của rủi ro Trên cơ
sở đó có thể lập ma trận đo lường rủi ro (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
Nguồn: Bùi Thị Minh Nguyệt (2004)
- Ô I: Tập trung những rủi ro các mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cũng cao;
- Ô II: Tập trung những rủi ro các mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện thấp;
- Ô III: Tập trung những rủi ro các mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện cao;
- Ô IV: Tập trung những rủi ro các mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện cũng thấp
Trang 20- Để đánh giá mức độ nghiêm trong của rủi ro người ta sử dụng 02 tiêu chí: Mức độ tổn thất nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó tổn thất nghiêm trọng đóng vai trò quyết định Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại các loại rủi ro,
sẽ tập trung quản lý những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó theo thứ tự ưu tiến đến nhóm II và nhóm III và cuối cùng là nhóm IV (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2004)
b Kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro
Theo Bùi Thị Minh Nguyệt (2004), kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các hành động,… để ngăn ngừa né trách hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến Kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp sau:
- Các biện pháp né tránh rủi ro: là các biện pháp né tránh những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây là biện pháp sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Né tránh rủi ro có thể chỉ với những rủi ro có thể né trách được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thể né trách được
- Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro: là sử dụng các biện pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm thiểu mức độ thiệt hại rủi ro mang lại Các biện pháp giảm thiểu tổn thất là những biện pháp cứu vớt những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ dự phòng, phân tán rủi ro, chuyển giao rủi ro
c Tài trợ khi rủi ro
Có 02 biện pháp tài trợ rủi ro là khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro: + Biện pháp khắc phục rủi ro: Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất phải tự khắc phục rủi ro đã xảy ra hay tự chấp nhận khoản tổn thất đó Có rất nhiều hình thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia làm 02 nhóm: Chấp nhận rủi ro chủ động và chấp nhận rủi ro thụ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thất không có chuẩn bị trước
và phải vay mượn để khắc phục hậu quả do tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự phòng rủi ro, quỹ này chỉ để sử dụng bù đắp tổn thất
do rủi ro gây ra (Phạm Minh Thu, 2015)
+ Chuyển giao rủi ro: Bảo hiểm là một trong nhưng phương thức chuyển giao rủi ro Hoạt động bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc số đông bù số ít Bảo hiểm có tác dụng giúp cho người tham gia ổn định tài chính, khắc phục lại sản
Trang 21xuất khi rủi ro xảy ra (Phạm Minh Thu, 2015)
2.1.3 Phân loại rủi ro và vai trò của nghiên cứu rủi ro
2.1.3.1 Phân loại rủi ro theo nguồn hình thành
Có nhiều rủi ro và không chắc chắn có thể áp dụng vào quyết định quản lý sản xuất nông nghiệp Hầu hết các tác giả nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp phân loại rủi ro trong nông nghiệp thành các nhóm theo nguồn hình thành
(Chavas, 2004, Hazell et al., 1986 và Hardaker et al., 1997) bao gồm:
Rủi ro trong sản xuất: Rủi ro sản xuất xảy ra do việc không đoán trước
được tình hình thời tiết cũng như những bất định trong sản xuất nông nghiệp như sâu hại, dịch bệnh và nhiều yếu tố không dự đoán trước được khác Trong NTTS nói chung và nôi tôm nói riêng, dịch bệnh là yếu tố rủi ro lớn nhất của rủi
ro sản xuất
Rủi ro về giá cả hay rủi ro về thị trường: Rủi ro về thị trường xảy ra do
người nuôi không biết trước được giá mua đầu vào như cám công nghiệp và giá bán đầu ra như giá bán thương phẩm Trong khi đó nông dân lại phải quyết định
sử dụng bao nhiêu đầu vào và sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm Đặc biệt thị trường ngày càng trở lên cạnh tranh gay gắt hơn do ngày càng có người tham gia thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao Do đó, vấn đề giá cả và rủi ro thị trường ngày càng quan trọng theo thời gian
Rủi ro thể chế hay rủi ro chính sách: Rủi ro này xảy ra bởi vì Chính phủ
cũng là một nguồn rủi ro của nông dân Những thay đổi về luật pháp, chính sách chẳng hạn như luật xử lý chất thải trong NTTS, luật thuế, đều có ảnh hưởng đến nông dân Rủi ro thể chế cũng bao hàm rủi ro trong các mối quan hệ liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Rủi ro tài chính và rủi ro tín dụng: Rủi ro về mặt tài chính liên quan đến sự
an toàn hoặc mất an toàn về mặt tài chính của hộ nông dân An toàn tài chính của
hộ thể hiện ở khả năng sử dụng vốn vay để tạo ra lợi nhuận và khả năng thanh toán tiền vay Nếu tỷ lệ vốn vay trong tổng vốn sản xuất càng cao thì rủi ro càng lớn Ngoài ra, tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn đến khả năng tăng rủi ro về mặt tài chính
2.1.3.2 Phân loại rủi ro theo mức độ ảnh hưởng của rủi ro
Theo Trần Đình Thao (2010), rủi ro có thể phân loại theo mức độ ảnh
Trang 22hưởng của rủi ro, cụ thể bao gồm:
- Rủi ro cá nhân là rủi ro chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân nào đó;
- Rủi ro cộng đồng là rủi ro ảnh hưởng đến cả cộng đồng
2.1.3.3 Phân loại rủi ro theo mức độ xuất hiện của rủi ro
Cũng theo Trần Đình Thao (2010), rủi ro còn có thể được phân loại dựa vào mức độ xuất hiện của rủi ro:
- Rủi ro riêng rẽ là rủi ro chỉ xuất hiện 1 loại ở một thời gian nhất định;
- Rủi ro dây chuyền là khi rủi ro này xuất hiện thường kéo theo những loại rủi ro khác;
- Rủi ro kết hợp là nhiều loại rủi ro khác nhau cùng xuất hiện kết hợp
Như vậy, trong thực tế có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau nhưng trong nghiên cứu đề tài này sử dụng cách phân chia rủi ro theo nguồn hình thành
và tập trung chủ yếu vào loại rủi ro sản xuất Trong rủi ro sản xuất chọn nghiên cứu rủi ro dịch bệnh
2.1.4 Thực tiễn về quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Theo báo cáo phát triển thế giới 2000-2001 của Worldbank (2001), cơ chế QLRR của người sản xuất chia ra làm hai cơ chế: cơ chế phi chính thức (informal
mechanism) và chính thức (formal mechanism) bao gồm các chiến lược trước và
sau khi rủi ro xảy ra (ex ante & ex post strategies)
- Cơ chế QLRR phi chính thức (informal mechanism): Cơ chế QLRR phi
chính thức đề cập tới các chiến lược QLRR trước khi rủi ro xảy ra trên vùng nuôi trồng của hộ gia đình, được đặc trưng bởi việc đa dạng hóa sản xuất trong nông nghiệp Đa dạng đối tượng nuôi trồng, sử dụng các loại giống có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu được nóng hạn hay mưa lũ, thích ứng được khi rủi ro xảy ra Bên cạnh đó, việc đa canh, đa con, luân canh trong sản xuất để đa dạng hóa nguồn thu Nếu có rủi ro xảy ra, nguồn thu không bị giảm sút lớn do thiệt hại đối tượng này đã có đối tượng khác dự phòng Các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp
đa dạng hóa nguồn thu nhập nhằm giảm ảnh hưởng của các cú sốc trong tương lai đến một trong các nguồn thu đó
Theo Walker and Ryan (1990), phần lớn các hộ gia đình ở vùng nông thôn
Ấn Độ được khảo sát bởi ICRISAT đều có thu nhập từ ít nhất hai nguồn khác nhau Những nông dân khi hết mùa vụ (off-farm) có thể buôn bán hoặc làm đồ
Trang 23thủ công mỹ nghệ Bên cạnh đó, biện pháp chia sẻ rủi ro mùa vụ thông qua việc cho thuê đất và thuê lao động cũng được cho là phương pháp hữu hiệu để giảm rủi ro giữa các cá nhân, từ đó giảm thiệt hại Khi rủi ro xảy ra, người dân cần bán những tài sản dự trữ, vật hoặc phân bổ lại nguồn lực lao động cho những hoạt động kinh tế ngoài sản xuất nông nghiệp để làm cơ sở phục hồi những mất mát từ rủi ro thiên tai
- Cơ chế QLRR chính thức (formal mechanism): Chính phủ đóng vai trò
quan trọng trong QLRR cả trước và sau khi rủi ro xảy ra Trong đó, cán bộ khuyến nông thực hiện công tác tập huấn cho người dân về các tình huống có thể xảy ra Khi rủi ro xảy ra là việc làm rất cần thiết để người dân có thể lường trước các tình huống xấu nhất và để có chiến lược ứng phó Bên cạnh đó, chính phủ cũng giúp củng cố cơ sở hạ tầng như đê điều, các hệ thống thủy lợi, để giúp thoát nước khi có bão, lũ đồng thời giảm rủi ro về dịch bệnh, đồng thời thông qua các chương trình xã hội, đặc biệt là trợ cấp tiền mặt kịp thời cho người dân khi thiên tai xảy ra
Trên thực tế ở các nước đang phát triển, nông thôn, nông nghiệp và nông dân
có xu hướng đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong khi thu nhập, mức độ thay thế và
sở hữu tài sản thấp (World Bank, 2001) Hạn chế về tài sản, cơ hội đa dạng hóa thu nhập, khả năng tiếp cận bảo hiểm, thị trường tín dụng, cùng với thiếu hụt của thị trường và nguồn lực của chính phủ tham gia quản lý rủi ro trong nông nghiệp nên nông dân thường sử dụng cơ chế phi chính thống để quản lý rủi ro
Cùng với chiến lược mang tính tự vệ của nông trại để khắc phục rủi ro, chiến lược giảm nhẹ tác động của rủi ro dựa vào thị trường chủ yếu thông qua chuyển giao rủi ro đang nhận được sự quan tâm trên thế giới (World Bank, 2000 và 2001) Các quốc gia phát triển đã tiến hành bảo hiểm toàn bộ hoặc một số rủi ro trong nông nghiệp Thiên tai, thảm họa và dịch bệnh trong giai đoạn vừa qua diễn biến phức tạp và xảy ra liên tiếp đã làm tăng nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp trên toàn thế giới Về lý thuyết, bảo hiểm là công cụ quan trọng của thị trường để giảm nhẹ tác động của rủi ro trong sản xuất nông nghiệp; Còn thực tế như thế nào?
Bảo hiểm nông nghiệp là một cơ chế QLRR chính thức khác được sử dụng
ở nhiều quốc gia Theo FAO (2011), để QLRR hiệu quả và giảm thiểu bớt thiệt hại do rủi ro gây ra, bảo hiểm nông nghiệp chi phí thấp ngày càng được xem là
cơ chế cho việc cung cấp sự bảo đảm cho người dân đang hàng ngày đối mặt với
Trang 24rủi ro này nhằm giảm bớt sự ảnh hưởng Hệ thống bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện tại một loạt các quốc gia trên thế giới
Châu Á chiếm 86% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới (Silva
& Davy, 2012), với năm quốc gia nuôi tôm lớn nhất thế giới Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm nông nghiệp ở khu vực này còn nhiều hạn chế
Trung Quốc - nước nuôi tôm lớn nhất thế giới - đang nỗ lực cải thiện bảo hiểm nông nghiệp bằng chính sách trợ cấp phí bảo hiểm cho nông dân Tuy nhiên, tỷ lệ bảo hiểm nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc chỉ đạt 5%
Trong khi ở châu Âu, tỷ lệ bảo hiểm cho nuôi trồng thủy sản ở các quốc gia như Na Uy đạt gần 100% đã góp phần phát triển bền vững thủy sản (Hương Trà, 2014) Rõ ràng, bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ tài chính hướng tới quản lý rủi ro, đặc biệt đối với ngành có tính bất ổn cao như nuôi tôm ven biển
Tại Na Uy, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Hàn Quốc… doanh nghiệp bảo hiểm đã chủ động khuyến khích nông dân áp dụng các quy chuẩn thực hành tốt về an toàn sinh học, môi trường trong sản xuất để giảm thiểu rủi ro và phát triển nông nghiệp bền vững Theo kinh nghiệm của Cơ quan bảo hiểm nông nghiệp Tây Ban Nha (ENESA), hợp tác công tư có vai trò quan trọng trong triển khai bảo hiểm nông nghiệp thành công Tây Ban Nha tập trung hỗ trợ: phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm
2.2 HIỆN TRẠNG VỀ NUÔI VÀ DỊCH BỆNH TRÊN TÔM Ở VIỆT NAM 2.2.1 Hiện trạng nuôi tôm ở Việt Nam giai đoạn 2010 -2018
Ngành tôm Việt Nam đã phát triển mạnh và có đó góp quan trọng trong ngành thuỷ sản nói riêng và kinh tế đất nước trong nhiều năm qua; cải thiện bộ mặt kinh tế khu vực ven biển, tạo công ăn việc làm, ổn định xã hội Thực tiễn đã chứng minh, nghề nuôi tôm là nhân tố đóng vai trò chính trong phát triển ngành thủy sản Việt Nam; tôm là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong nhóm hàng thủy sản của Việt Nam Theo các báo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, trong giai đoạn 2010-2018, sản xuất và xuất khẩu tôm Việt Nam đã có bước đột phá khá thành công, ghi dấu ấn đậm nét vào lịch sử phát triển ngành thủy sản Việt Nam với mức tăng trưởng cao cả diện tích – năng suất – sản lượng – kim ngạch xuất khẩu Đến năm 2018, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 736.000 ha, sản lượng đạt 762.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,863 tỷ USD (chiếm 40,38% tổng giá trị XKTS Việt Nam)
Trang 25Bảng 2.3 Hiện trạng phát triển nuôi tôm Việt Nam giai đoạn 2010-2018
Năm Tổng diện tích
(ha)
Tổng sản lƣợng (tấn)
Tổng giá trị XK tôm (1000USD)
2.2.2 Hiện trạng về dịch bệnh trên tôm nuôi ở Việt Nam
Trong thời gian gần đây, chất lượng môi trường vùng nuôi có chiều hướng suy giảm, dịch bệnh trên tôm nước lợ có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Một số bệnh phổ biến gây thiệt hại lớn cho người nuôi tôm như: đốm trắng (WSSV), đầu vàng (YHV), hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu
mô (IHHNV), hoại tử cơ (IMNV), hội chứng chết sơm (EMS), bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND)… Đã gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm của Việt Nam Tình hình diện tích tôm bị thiệt hai và diện tích tôm bị bệnh ở Việt Nam trong giai đoạn 2013-2018 cụ thể tại Bảng 2.4
Bảng 2.4 Hiện trạng diện tích tôm bị thiệt hại và dịch bệnh trên tôm nuôi ở
Việt Nam giai đoạn 2013-2018
Năm
Tổng cộng Diện tích nuôi bị thiệt hại
(ha)
Diện tích bệnh (ha)
Tỷ lệ bệnh (%)
Trang 2635,34% tổng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại); diện tích bị thiệt hại do thời tiết, môi trường là 17.373 ha (chiếm 46,44% tổng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại); diện tích bị thiệt hai không xác định rõ nguyên nhân là 6.815 ha (chiếm 18,22% tổng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại)
Một số bệnh thường gặp trên tôm nuôi:
- Bệnh đốm trắng: do vi rút WSSV (White Spot Sydrome Virus) gây ra được xem là một trong những virus gây thiệt hại lớn nhất cho tôm nuôi và hiện tại vẫn còn là mối nguy lớn nhất cho người nuôi tôm nước lợ Tỷ lệ tôm chết do
bị nhiễm bệnh rất cao, có thể đến 80%, thậm chí đến 100% chỉ trong thời gian ngắn từ 3 - 10 ngày kể từ khi xuất hiện các dấu hiệu bệnh Bệnh do vi khuẩn thuộc giống Vibrio được xem là một trong những bệnh vi khuẩn quan trọng có liên quan đến hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt trên nhiều quốc gia Các nghiên cứu khoa học và quan sát thực tế thấy rằng, có mối liên hệ chặt chẽ giữa biến động các yếu tố môi trường và sự bùng phát dịch bệnh trên tôm nuôi Vì vậy, nhiều quốc gia đã tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lý và xử lý môi trường
ao nuôi kết hợp với các biện pháp kỹ thuật, hợp chất ức chế nguyên nhân và tác nhân gây bệnh Năm 2018, bệnh xảy ra tại 257 xã của 81 huyện, thị xã thuộc 24 tỉnh, thành phố, gồm: Tp Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Tp Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Trong năm 2016, dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 277 xã, 84 huyện, thị xã thuộc 25 tỉnh, thành phố Tổng diện tích tôm nuôi mắc bệnh là 3.643,91ha, chiếm 0,58% diện tích nuôi tôm Diện tích tôm sú nuôi mắc bệnh là 2.025,6ha; tôm thẻ là 1.865,4ha Tôm mắc bệnh có độ tuổi từ 10-120 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh có tôm mắc bệnh là 2.811,66 ha; còn lại 1.079,32ha diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và các hình thức nuôi khác Tỉnh Trà Vinh có diện tích bị đốm trắng lớn nhất (chiếm 20,97% tổng diện tích bị bệnh đốm trắng của cả nước), sau đó đến Bạc Liêu, Cà Mau (Cục Thú Y, 2019)
- Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND): Trong năm 2016, bệnh xảy ra tại
305 xã của 82 huyện, thị xã thuộc 25 tỉnh Tổng diện tích bị bệnh là 6.339,15ha, chiếm 0,94% diện tích nuôi tôm Diện tích tôm nuôi mắc bệnh là 2.633,44ha; tôm thẻ là 3.705,71ha Tôm mắc bệnh có độ tuổi từ 2-127 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh có tôm mắc bệnh là 5.378,52; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và các hình thức nuôi khác có tôm mắc bệnh là 960,63ha
Trang 27Tỉnh Bạc Liêu có diện tích tôm nuôi mắc bệnh hoại tử gan tuỵ cấp lớn nhất (chiếm 23,61% tổng diện tích tôm bị mắc bệnh của cả nước), sau đó đến Sóc Trăng, Cà Mau và các địa phương khác (Cục Thú Y, 2019)
- Nguyên nhân khác:
+ Bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHN): 27,41 ha tôm thương phẩm phẩm nuôi thâm canh và báo thâm canh tại Tp Hồ Chí Minh (0,45ha), Ninh Thuận (0,8ha), Bà Rịa-Vũng Tàu (1,95ha, trong đó có 0,3ha giống), Bến Tre (9,81ha), Sóc Trăng (14ha) và Cà Mau (0,4ha) bị bệnh (Cục Thú Y, 2019) + Bệnh còi do MBV: 83,38ha nuôi tôm bị bệnh tại Bình Thuận (23,03ha),
Bà Rịa-Vũng Tàu (2,85ha), Kiên Giang (56ha trong đố có 51,5ha nuôi quảng canh và 4,5ha nuôi tôm lúa) và Trà Vinh (1,5ha) (Cục Thú Y, 2019)
+ Bệnh do vi bào tử trùng (EHP): 12,75ha nuôi tôm thâm canh tại Quảng Ninh (6,94ha), Quảng Nam (2,76ha), Ninh Thuận (1,95) và Bình Thuận (1,1ha)
bị bệnh (Cục Thú Y, 2019)
+ Bệnh phân trắng: 352 ha nuôi tôm bị bệnh tại Nghệ An (1,8ha), Quảng Ngãi (41,7ha), Khánh Hoà (4,5ha), Bình Thuận (2,4ha), Bến Tre (1,2ha), Trà Vinh (17,8ha), Bạc Liêu (278,3ha) và Cà Mau (4,3ha) (Cục Thú Y, 2019)
+ Do môi trường, thời tiết: 42.823,89ha nuôi tôm bị thiệt hại do biến đổi môi trường và thời tiết Cụ thể: Thanh Hoá (16,7ha), Thừa Thiên Huế (0,5ha), Quảng Nam (61ha), Quảng Ngãi (8,73ha), Bình Định (3,95ha), Phú Yên (67,2ha), Khánh Hoà (8ha), Bình Thuận (1,25ha), Long An (359,3ha), Kiên Giang (13.302,38ha, trong đó 11.882 ha nuôi tôm lúa và 1.420,38ha nuôi quảng canh, quản canh cải tiến), Trà Vinh (82,6ha), Sóc Trăng (6.041,97ha), Bạc Liêu (2.525,7ha) và Cà Mau (20.344,61ha, trong đó 20.337,43 ha quảng canh, quảng canh cải tiến) (Cục Thú Y, 2019)
+ Chưa xác định nguyên nhân: 14.046,7ha tôm nuôi tại các tỉnh Nghệ An (127,43ha), Quảng Bình (5,86ha), Thừa Thiên Huế (24,14ha), Khánh Hoà (375ha), bình Thuận (4,05ha), Bà Rịa-Vũng Tàu (4,18ha), Long An (279,61ha), Bến Tre (1,65ha), Trà Vinh (2,15ha), Bạc Liêu (90,5ha) và Cà Mau (13.132,12
ha, trong đó 13.020ha quảng canh, quảng canh cải tiến) bị thiệt hại nhưng chưa xác định được nguyên nhân (Cục Thú Y, 2019)
2.2.3 Hiện trạng về quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản
Sản xuất nông nghiệp nói chung và lĩnh vực NTTS nói riêng luôn đối mặt
Trang 28với nhiều loại rủi ro thiên tai khác nhau và mức độ ảnh hưởng cũng hết sức đa dạng, phức tạp Mỗi khi có biến cố về dịch bệnh, thiên tai rất nhiều nông dân dễ dàng trở nên trắng tay, trở về với nghèo đói Để hạn chế những rủi ro đó, góp phần khắc phục thiệt hại, giúp nông dân sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống Trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ liên quan đã nghiên cứu, ban hành một số chính sách nhằm hỗ trợ, ưu tiên những đối tượng chính sách, các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sinh sống tại những vùng có nhiều thiên tai hoặc dịch bệnh Một số văn bản, chính sách liên quan đến việc quản lý dịch bệnh trong NTTS nói chung và trong nuôi tôm nói riêng đã được ban hành, gồm có: Luật Thú y ngày 19/6/2015; Nghị định số 35/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Thú y; Luật Thủy sản; Quyết định
số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng
bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; Quyết định số 315/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 01 tháng 03 năm 2011 Về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013; Thông tư số 52/2011/TT-BNNPTNT ngày 28/7/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi; Thông tư số 56/2011/TT-BNNPTNT ngày 16/8/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thú y thuỷ sản; Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật thuỷ sản; Chỉ thị
số 4361/CT-BNN-TY ngày 30/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường công tác thú y thủy sản;
Hiện nay, một trong những hình thức QLRR dịch bệnh là hình thức Bảo hiểm (BH) đã được nhiều nước trên thế giới đã triển khai thực hiện Hình thức
BH ở Việt Nam đã được Nhà nước quan tâm và đã được triển khai thực hiện thí điểm trong thời gian qua Ngày 01/3/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) giai đoạn 2011 – 2013 với mục đích: Thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm
hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Chương trình bảo hiểm nông nghiệp thí điểm được thực hiện tại 20 tỉnh, thành phố trong cả nước với ba
Trang 29loại hình sản phẩm là: Thực hiện bảo hiểm đối với cây lúa tại 7 tỉnh (Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp) Thực hiện bảo hiểm đối với vật nuôi tại 9 tỉnh (Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Dương và Hà Nội) Thực hiện bảo hiểm đối với nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại 5 tỉnh (Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau) Chính phủ không trợ cấp mà chỉ
hỗ trợ phí bảo hiểm cho những người tham gia bảo hiểm của chương trình này: (1) Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; (2) Hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; (3) Hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; (4) Hỗ trợ 20% phí bảo hiểm cho tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN Ngoài ra, Chính phủ cũng hỗ trợ tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, yêu cầu sự tham gia của chính quyền các cấp trong việc vận động người dân tham gia bảo hiểm
Thực hiện Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, chương trình thí điểm BHNN đã được triển khai từ năm 2011-2013
và sau 3 năm chương trình đã đạt những kết quả như sau:
- Theo số liệu tổng kết 3 năm triển khai thí điểm BHNN, đã có 304.017 hộ nông dân, tổ chức tham gia BHNN với tổng giá trị được bảo hiểm là 7.747,9 tỷ đồng, trong đó có 233.361 hộ nghèo (chiếm 76,8%), 45.944 hộ cận nghèo (chiếm 15,1%) và 24.711 hộ thường (chiếm 8,1%) Xét về đối tượng BH, có 236.397 hộ nông dân và tổ chức tham gia bảo hiểm cây lúa với tổng giá trị bảo hiểm là 2.151
tỷ đồng; 60.133 hộ tham gia bảo hiểm vật nuôi và giá trị bảo hiềm đạt 2.713,2 tỷ đồng; 7.487 hộ nông dân tham gia bảo hiểm thủy sản với tổng giá trị bảo hiểm là 2.883,7 tỷ đồng Đến ngày 20/6/2014, các doanh nghiệp đã giải quyết bồi thường bảo hiểm với tổng số tiền là 701,8 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm là 178%, trong đó tỷ lệ bảo hiểm trong thủy sản là 669,5 tỷ đồng (chiếm 95,4%), cây lúa
là 19 tỷ đồng (chiếm 2,7%) và vật nuôi 13,3 tỷ đồng (chiếm 1,9%)
- Doanh thu phí BHNN sau 3 năm là 394 tỷ đồng, trong đó, phí cho lĩnh vực thủy sản chiếm nhiều nhất (218 tỷ đồng) Tổng số tiền đã giải quyết bồi thường bảo hiểm đến ngày 20/6/2015 là 701,8 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ bồi thường 178,1% Trong đó, chủ yếu là bồi thường bảo hiểm thủy sản với tổng số
Trang 30tiền 669,5 tỷ đồng, chiếm hơn 95% tổng số tiền bồi thường Báo cáo cũng cho biết, tỷ lệ bồi thường đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản là 306%
- Kết quả thực hiện BHNN đã góp phần ổn định sản xuất cho nhiều hộ gia đình, giúp người nông dân có thói quen tuân thủ các quy trình sản xuất và nuôi trồng để tiến tới phát triển sản xuất trên quy mô lớn Tuy nhiên, BHNN được đánh giá là một nghiệp vụ rất khó khăn không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới Qua thực tiễn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, các doang nghiệp (DN) bảo hiểm đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc không chỉ riêng đối với DN bảo hiểm mà cả từ phía người dân
Bảng 2.5 Phạm vi của bảo hiểm trong nông nghiệp Đối tƣợng bảo hiểm Các loại rủi ro đƣợc bảo hiểm
- Vật nuôi chết do thiên tai (lũ lụt, bão, rét đậm, rét hại)
- Vật nuôi chết do dịch bệnh (lở mồm long móng, tụ huyết trùng, tai xanh, nhiệt thán, phó thương hàn, cúm gia cầm, dịch tả, )
- Vật nuôi bị buộc phải tiêu hủy
Rủi ro về tôm/cá
* Dịch bệnh:
- Tôm sú: dịch bệnh đốm trắng, bệnh đầu vàng và bệnh hoại tử gan
- Tôm chân trắng: dịch bệnh đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan, hội chứng Taura
- Cá tra/cá Basa: dịch bệnh gan thận mủ
* Thiên tai: Bão lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá, xâm nhập mặn, sóng thần
- Về phía người tham gia bảo hiểm: Các rủi ro được bảo hiểm phải theo quy định (Bảng 2.5), ngoài ra người tham gia bảo hiểm còn phải tuân theo các tiêu chí về quy mô, quy trình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sản xuất đối với cây lúa Trong khi đó, người dân lại chưa có thói quen, chưa có hiểu biết nhiều về bảo hiểm nông nghiệp, công việc tuyên truyền giải thích của doanh nghiệp bảo hiểm chưa đủ để người dân nhận thức và tham gia bảo hiểm Khả năng tài chính còn hạn hẹp, quy mô sản xuất còn mang tính tự cấp tự túc, sản xuất mang tính
Trang 31chất hàng hoá chưa cao nên đa số người dân không có tâm lý bỏ tiền tham gia bảo hiểm Người dân chưa thực sự tin tưởng vào doanh nghiệp bảo hiểm, chưa được nhà nước hỗ trợ để tham gia bảo hiểm
+ Về phía DN bảo hiểm thường phải nhận rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
là rất lớn, nếu chỉ bảo hiểm theo hướng kinh doanh đơn thuần thì không có DN bảo hiểm nào mặn mà với bảo hiểm nông nghiệp vì kinh doanh không có hiệu quả, nguy cơ thua lỗ cao Nếu có triển khai bảo hiểm nông nghiệp thì cũng chọn đối tượng ít có rủi ro để nhận bảo hiểm hoặc tiến hành một cách cầm chừng Hầu hết các doanh nghiệp khi tham gia lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp đều xác định không thể có lợi nhuận lớn Nguyên nhân ở đây là do tính chất phức tạp của lĩnh vực bảo hiểm này Đối tượng bảo hiểm nông nghiệp rất phong phú và trên diện rộng cho nên rất khó trong công tác quản lý rủi ro, dễ phát sinh các tiêu cực trong vấn đề xác định thiệt hại
Hiện nay, một trong những hình thức chia sẻ rủi ro là hình thức Bảo hiểm Nhà nước quan tâm, Nhà nước luôn coi phát triển BH là một giải pháp giảm nhẹ thiệt hại về người, của và môi trường, đồng thời đóng góp vào phát triển bền vững, quốc phòng và an ninh Một trong những chính sách đã được ban hành và triển khai thực hiện là: Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 –
2013 Tuy nhiên quá trình thực hiện Quyết định số 315/QĐ-TTg vẫn còn nhiều bất cập, khó khăn Vì vậy, việc thực hiện chính sách BH trong nông nghiệp nói chung và BH thủy sản nói riêng hiện nay mới dừng lại ở việc “Thí điểm”, chưa được nhân rộng Nguyên nhân của tình trạng này là do cơ chế chính sách về bảo hiểm thủy sản chưa phù hợp với thực tế; chưa đánh giá và quản lý được RR thiên tai và RR dịch bệnh
Có nhiều mô hình khác để thực thi BH cho nông nghiệp như khuyến khích các mô hình BH tương hỗ, dành độc quyền hay ưu tiên cấp giấy phép cho những
DN BH chuyên cung cấp các dịch vụ BHNN, bắt buộc nông dân tham gia một số loại hình BH bắt buộc Tuy nhiên, trong bất cứ mô hình nào, thì BHNN luôn cần vai trò hỗ trợ của Nhà nước, như vai trò một nhà BH cuối cùng để bảo vệ người dân trước mọi thảm họa Ở Việt Nam, một đất nước nông nghiệp luôn gánh chịu nhiều thảm họa, nông dân rất cần có được những phương thức bảo vệ như BH
Trang 32Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước ta vẫn chưa có các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho hoạt động triển khai BHNN Nông dân và các DN BH vẫn chưa có một cầu nối nào, một cơ chế nào để hỗ trợ, giảm bớt rủi ro Đó là một trong những khó khăn rất lớn đối với quá trình triển khai BHNN ở nước ta
Tóm lại, việc thực hiện BHNN ở Việt Nam đã gặp phải những thất bại, tỉ lệ bồi thường rất lớn so với doanh thu, nhiều năm bồi thường vượt cả doanh thu Sự thất bại trên có rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do rủi ro cao của ngành sản xuất nông nghiệp, thị trường tái BH phát triển chưa mạnh, cơ chế quản lý rủi
ro nông nghiệp trong BH còn kém, vấn đề về nhận thức chưa cao của người nông dân về BHNN và thiếu sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của nhà nước ta Để có thể phát triển được BHNN, các vấn đề trên cần phải được giải quyết trong cả ngắn hạn và dài hạn với các cơ chế quản lý hợp lý, hỗ trợ đúng mức và tuyên truyền cho người nông dân
Tại Việt Nam hiện nay, rủi ro trong nuôi tôm ven biển xảy ra liên tục, mức
độ thiệt hại khá nghiêm trọng và được xem là rủi ro vĩ mô Nguyên nhân xoay quanh: (i) Quy hoạch vùng nuôi và cơ sở hạ tầng của vùng nuôi thiếu đồng bộ; (ii) Quản lý nhà nước đối với tôm giống, hóa chất xử lý môi trường, thuốc thú y, thức ăn cho tôm, khuyến ngư, liên kết… yếu, nhất là ở cấp cơ sở; (iii) Từng nông trại nuôi đơn lẻ, tận dụng tối đa diện tích để nuôi, không có diện tích ao để xử lý nước và thiếu tính gắn kết theo nhóm hộ/cộng đồng nuôi; (iv) Tính bất thường của môi trường tự nhiên và ô nhiễm môi trường đất, nước trong vùng nuôi…(Nguyễn Thị Minh Thu và Trần Đình Thao, 2016)
Qua các nghiên cứu trên cho thấy: Bài học kinh nghiệm QLRR cho nuôi tôm ven biển ở Việt Nam: (i) Quy hoạch các vùng nuôi tôm đảm bảo đồng bộ về
cơ sở hạ tầng kỹ thuật; (ii) Kiểm soát chất lượng và giá đầu vào phục vụ nuôi tôm (giống, thuốc thú ý, hóa chất và thức ăn…); (iii) Chuẩn hóa và thúc đẩy phát triển các quy trình nuôi đảm bảo phòng ngừa dịch bệnh, an toàn thực phẩm, có trách nhiệm với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; (iv) Hình thành các nhóm nuôi trong cộng đồng để chia sẻ thông tin, hợp tác cùng phòng tránh, giảm nhẹ tác động và khắc phục rủi ro; (v) Hình thành và phát triển chuỗi giá trị sản phẩm tôm để kiểm soát sản xuất, chia sẻ lợi ích cũng như thiệt hại giữa các tác nhân và quan trọng hơn cả là hướng tới QLRR thông qua công cụ hợp đồng
Từ vấn đề nghiên cứu tổng quan cho thấy: Ngành nông nghiệp nói chung và
Trang 33lĩnh vực nuôi tôm vùng ven biển gặp nhiều rủi ro liên quan đến thiên tai và dịch bệnh; đã có những nghiên cứu chỉ ra những rủi ro và kinh nghiệm quản lý rủi ro trong nông nghiệp và trong nuôi tôm Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trước đây mới dựng lại ở việc đánh giá và đưa ra các giải pháp chung chung về quản lý rui ro trong nông nghiệp và trong nuôi tôm ở Việt Nam; các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu vào nghiên cứu về nội dung thực trạng về quản lý rủi ro dịch bệnh, chưa xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh và chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể quản lý rui ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Tuy nhiên, những cơ sở khoa học và lý thuyết và các bài học kinh nghiệm trong đánh giá, quản lý rủi ro trong nông nghiệp và trong nuôi trồng thủy sản của các công trình nghiên cứu trước đây đã đưa ra,… sẽ làm cơ sở khoa học, là tài liệu tham khảo để luận văn này tiếp tục nghiên cứu, áp dụng và làm rõ thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho vùng nuôi tôm ở huyện Tiên Yên để nhằm giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm, góp phần phát triển nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Tiên Yên ổn định và bền vững trong thời gian tới
Trang 34PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Vùng nghiên cứu có các đặc điểm như sau:
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tiên Yên là một huyện miền núi ven biển nằm ở trung tâm của khu vực phía đông của tỉnh Quảng Ninh, ở tọa độ địa lý 21011‟-21033‟ vĩ độ Bắc,
107013‟-107032‟ kinh độ Đông Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đình Lập thuộc tỉnh Lạng Sơn và huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Nam giáp huyện
Ba Chẽ và thành phố Cẩm Phả, phía Nam Vịnh Bắc bộ, phía Tây Bắc giáp huyện Huyện Tiên yên nằm ở điểm trung gian giữa TP Móng Cái và TP Hạ Long có vi ̣ trí là giao điểm của các quốc l ộ qua; có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Qu ảng Ninh Có đường bờ biển dài 35 km, tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ là điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế và phát triển kinh tế biển và kinh tế thủy sản
Tiên Yên là huyê ̣n có đi ̣a hình trung du miền núi ven biển Vùng miền núi: Gồm 6 xã (Là Lâu, Điền Xá, Yên Than, Phong Du, Đa ̣i Dực, Đa ̣i Thành) ở phía Bắc – Tây Bắc, đi ̣a hình chia cắt ma ̣nh, bị sói mòn rửa trôi mạnh, chủ yếu là rừng
và cây đặc sản , chăn nuôi; không có điều kiện nuôi tôm Vùng đồng bằng ven biển: Gồm 5 xã (Đông Ngũ, Đông Hải, Hải Lạng, Tiên Lãng, Đồng Rui) có tiềm năng và điều kiện thuận lợi phát triển nuôi tôm
3.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyê ̣n Tiên Yên mang đă ̣c trưng của vùng khí hâ ̣u nhiê ̣t đới gió mùa ; khí hậu thích hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ
cao nhất lên đến 3.667,4mm, năm thấp nhất là 1.103,8mm Số ngày mưa trong năm trung bình 163 ngày, mùa mưa nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, mùa mưa
Trang 35ít nhất tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lươ ̣ng mưa phân bố không đều trong năm , mưa thường tâ ̣p trung từ tháng 3 đến tháng 9 chiếm 80 – 85% tổng lượng mưa cả năm, lươ ̣ng mưa lớn nhất vào tháng 7 khoảng 452mm, lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 12 và tháng 1 khoảng 30mm
Về độ ẩm không khí : Tuy có lượng mưa lớn , nhưng lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm thấp 26% nên đô ̣ ẩm không khí trung bình hàng năm k há cao 84%, độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 3 tháng 4 đa ̣t tri ̣ số 87 – 88%, thấp nhất vào tháng 10 và tháng 11 đa ̣t tri ̣ số 76% Nhìn chung độ ẩm không khí ở Tiên Yên không chênh lệch so vớ i các vùng bởi nó phu ̣c thuô ̣c vào đ ộ cao, đi ̣a hình và phân hoá theo mùa , mùa nhiều mưa có độ ẩm không khí cao hơn mùa mưa ít
Bão: huyê ̣n miền núi ven biển nên thường hay chi ̣u ảnh hưởng trực tiếp của bão, bão thường xuất hiê ̣n vào tháng 6 đến tháng 10, hàng năm thường có 3 tới 4 cơn bão và áp thấp nhiê ̣t đới đổ bô ̣ vào đất liền với sức gió cấp 8 đến cấp 10, gây
ra tác đô ̣ng tiêu cực đến h ệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển Hậu quả đi kèm với bão thường là mưa to, gió lớn gây ra lũ lụt tại nhiều khu vực Bão kèm theo mưa lớn, lượng mưa của các cơn bão đổ bộ trực tiếp ít nhất cũng trên 100mm, có khi tới 300-400mm gây ngọt hoá đột ngột hoặc lũ lụt phá vỡ các ao đầm nuôi trồng thuỷ sản Ngoài ra, khi mưa về nhiệt độ không khí lại càng giảm nhanh, làm cho rủi ro của nuôi trồng thuỷ sản càng cao (Quy hoạch phát triển KTXH huyện Tiên Yên, 2011)
3.1.3 Điều kiện thủy văn
a Thuỷ triều
Thuỷ triều vùng Tiên Yên là chế độ nhật triều trong một ngày có một lần nước lên và mô ̣t lần nước xuống Các sông nhật triều có biên đợt 70-90cm, đô ̣ lớn thuỷ triều vùng Tiên Yên như sau : Cực đa ̣i 480cm; trung bình đa ̣t 340cm; cực tiểu đa ̣t 195cm Thuỷ triều mạnh thường xuất hiện ở các tháng 6, 7, 8
Thuỷ hoá : nhiê ̣t đô ̣ nước biển thay đổi theo mùa , cực đa ̣i vào mùa hè , cực tiểu vào mùa đông Các đỉnh triều (nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Số ngày
có một lần nước lên và một lần nước xuống chiếm 85-95% (tức trên 25 ngày) trong tháng Khu vực Tiên Yên có biên độ thuỷ triều vào loại lớn nhất nước ta, khoảng 3,5 - 4,0m Thuỷ triều ở khu vực Tiên Yên mạnh nhất vào các tháng 1, 6,
7 và 12 Trong những tháng này, mực nước thực tế lên đến hơn 4 m (so với "0"