TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vương Hồng Quân Tên đề tài: Cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Vi
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để báo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Bình, ngày tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Vương Hồng Quân
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luật văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Nguyễn Thị Hoàng Đan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức Sở Kế hoạch & Đầu
tư, các sở ban ngành khác nói chung của tỉnh Thái Bình và một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quà trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Thái Bình, ngày tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Vương Hồng Quân
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ và biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3
1.4.1 Về lý luận 3
1.4.2 Về thực tiễn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4
2.1.2 Khái niệm về Chỉ số Chi phí thời gian 19
2.1.3 Nội dung nghiên cứu cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian 22
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian 25
2.2 Cơ sở thực tiễn 30
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI 30
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho Thái Bình 35
Trang 63.1 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Thái Bình 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 44
3.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 45
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu chỉ số chi phí thời gian 46
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
4.1 Thực trạng chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình 47
4.1.1 Khái quát Chỉ số PCI của tỉnh Thái Bình 47
4.1.2 Thực trạng Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Bình 48
4.1.3 Kết quả Chỉ số Chi phí thời gian trong chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Bình 55
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình 64
4.2.1 Hệ thống tổ chức, phối hợp của các cơ quan Nhà nước trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp 64
4.2.2 Hệ thống thủ tục hành chính 65
4.2.3 Đội ngũ cán bộ, công chức 66
4.2.4 Các điều kiện vật chất kỹ thuật 67
4.2.5 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp 68
4.3 Giải pháp cải thiện chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình 69
4.3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020 69
4.3.2 Giải pháp cải thiện Chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình 75
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81
5.1 Kết luận 81
Trang 75.2 Kiến nghị 82
5.2.1 Đối với trung ương 82
5.2.1 Đối với tỉnh Thái Bình 82
Tài liệu tham khảo 83
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
VCCI Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam VNCI Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam UBND Ủy ban nhân dân
WEF Diễn đàn Kinh tế Thế giới
IMD Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển
TW Trung ương
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ĐVT Đơn vị tính
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 44
Bảng 3.2 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin sơ cấp 44
Bảng 4.1 Chỉ số PCI của Thái Bình từ giai đoạn 2006 – 2017 47
Bảng 4.2 Thời gian tiếp cận thông tin và tính minh bạch của Thái Bình 48
Bảng 4.3 Thời gian thực hiện một số thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Bình 50
Bảng 4.4 Đánh giá của doanh nghiệp về thời gian thực hiện một số thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Bình 51
Bảng 4.5 Đánh giá của doanh nghiệp đối với ngành thuế Thái Bình 52
Bảng 4.6 Đánh giá của doanh nghiệp đối với một số thủ tục thuế Thái Bình 53
Bảng 4.7 Tình hình thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp 54
Bảng 4.8 Đánh giá của doanh nghiệp về tình hình thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước 55
Bảng 4.9 Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013 – 2017 58
Bảng 4.10 Chỉ số chi phí thời gian của Thái Bình so với cả nước giai đoạn 2013 – 2017 60
Bảng 4.11 Chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2013 – 2017 62
Bảng 4.12 Điểm số thành phần của chỉ số chi phí thời gian của các tỉnh đồng bằng sông hồng năm 2017 63
Bảng 4.13 Tổng hợp ý kiến đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới Chỉ số Chi phí thời gian ở tỉnh Thái Bình 65
Bảng 4.14 Số lượng giấy tờ trong một số thủ tục hành chính 65
Bảng 4.15 Số lần đi lại với cơ quan Nhà nước của doanh nghiệp khi thực hiện một thủ tục hành chính 66
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Vận dụng Mô hình Kim cương của Michael E Porter vào cạnh
tranh cấp tỉnh 7
Sơ đồ 2.2 Mô hình ba bước xây dựng PCI 17 Biểu đồ 4.1 Chỉ số chi phí thời gian của Thái Bình trong giai đoạn 2013 – 2017 56 Biểu đồ 4.2 Chỉ số chi phí thời gian của Thái Bình so với Nam Định giai đoạn
2013 - 2017 61
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vương Hồng Quân
Tên đề tài: Cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; Nội dung và yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh qua tìm hiểu kinh nghiệm cải thiện chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có một số tỉnh trong cả nước, một số bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã được rút ra cho tỉnh Thái Bình
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để thu thập thông tin về thực trạng chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi đối với 100 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Bình, thảo luận nhóm với cán bộ trung tâm hành chính công tỉnh Thái Bình Các phương pháp phân tích số liệu sử dụng trong nghiên cứu gồm: Phương pháp thống kê mô
tả, phương pháp thống kê so sánh
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:
Kết quả đánh giá thực trạng chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Thái Bình cho thấy: (i) Thời gian tiếp cận thông tin của doanh nghiệp tại tỉnh Thái Bình nhìn chung được đánh giá là nhanh chóng, dễ dàng và minh bạch thông tin, tuy nhiên đối với một số lĩnh vực, dự án đất đai còn chưa minh bạch và dễ dàng tiếp cận; (ii) Thời gian thực hiện các thủ tục hành chính để doanh nghiệp đảm bảo kinh doanh là tương đối thuận lợi (iii) Các thủ tục liên quan đến thuế được các doanh nghiệp đánh giá là hài lòng ,
sự phục vụ của cán bộ thuế được cải thiện; (iv) Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập như hiện tượng chồng chéo trong việc thanh tra, kiểm tra
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình gồm: Hệ thống tổ chức, phối hợp của các cơ quan nhà nước trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp; Hệ thống thủ tục hành chính; Đội ngũ cán bộ, công chức; Các điều kiện vật chất, kỹ thuật; Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Trang 12Một số giải pháp nhằm cải thiện chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Thái Bình trong thời gian tới được đề xuất dựa vào kết quả nghiên cứu bao gồm: (i) Nâng cao hiệu quả phối hợp của các cơ quan nhà nước trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp; (ii) Tiếp tục cải cách hệ thống thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục thuế; (iii) Nâng cao đạo đức công vụ và trình độ cán bộ công chức; (iv) Tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đủ đảm bảo hoạt động công vụ hiệu quả; (v) Thiết lập và đẩy mạnh hơn nữa những ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính; (vi) Tiếp tục rút ngắn thời gian thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp của các sở, ban, ngành; (vii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Trang 13THESIS ABSTRACT
Author: Vuong Hong Quan
Thesis’s Title: Improving the Time Cost Index in Provincial Competitiveness in Thai Binh
province
Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture
Objectives of the Study:
Firstly, the research contributed to the systematization and clarification of some theoretical and practical issues on the Time Cost Index in Provincial Competitiveness Secondly, the status and factors affecting the Time Cost Index in Provincial Competitiveness were examined Moreover, some lessons learned in improving the Time Cost Index in Provincial Competitiveness in Thai Binh province were recommended
Research’s Methodology:
The study used a secondary data collection method to collect information on the time cost situation in provincial competitiveness in Thai Binh province Primary data was collected through questionnaire survey of 100 enterprises in Thai Binh province as well as group discussions with officials of public administration center were conducted Data analysis methods used in the study include descriptive statistical method and comparative statistical method
Research findings and Conclusions:
The results of the time cost index in provincial competititveness in Thai Binh province showed that: (i) The access time of enterprises in Thai Binh province is generally considered to be fast and easy Information and communication are transparent, but for some areas, land projects are not transparent and easily accessible; (ii) Time to carry out administrative procedures for business is relatively convenient (iii) Tax-related procedures are considered satisfactory by enterprises, the service of staff tax is improved; (iv) Inspection and examination of state management agencies are still inadequate, as is the overlap in inspection and control
Moreover, the results showed that factors affecting the time cost index in provincial competitiveness in Thai Binh province including: Organizational system, coordination of state agencies in supporting enterprises; The Administrative procedures; The contingent of cadres and civil servants; Material and technical conditions; and Human resources of enterprises Some solutions to improve the time cost index in provincial competitiveness in
Trang 14Thai Binh in the coming time were proposed based on the research results including: (i) Improving coordination efficiency of State agencies in support of enterprises; (ii) continue reforming the administrative procedure system and shorten time to implement tax procedures; (iii) Improving public servants' ethics and professional qualifications; (iv) Facilitate the technical and material conditions needed to ensure effective public affairs; (v) Establish and further promote information technology applications in administration; (vi) Continue to shorten inspection time at enterprises of departments; (vii) improve the quality of human resources
Trang 15PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xây dựng với mục tiêu giúp lý giải nguyên nhân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có khu vực dân doanh phát triển năng động, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế hơn các địa phương khác
Theo khảo sát của VCCI năm 2016, những lĩnh vực có nhiều cải thiện trong môi trường kinh doanh ở tỉnh Thái Bình thời gian qua là môi trường kinh doanh minh bạch hơn, thuận lợi hơn trong thành lập doanh nghiệp Dù vậy, cộng đồng doanh nghiệp của tỉnh còn nhiều kỳ vọng, mong muốn tỉnh tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí không chính thức, tăng cường sự năng động, sáng tạo, thân thiện trong điều hành Trong đó, nỗ lực cải cách trước mắt là tập trung vào thực hiện cải cách thủ tục hành chính, giải quyết những khó khăn các doanh nghiệp đang gặp phải
Qua báo cáo PCI 2016 cho thấy sự cảm nhận của một số doanh nghiệp về môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Thái Bình mặc dù có những chuyển biến tích cực, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu PCI năm 2016 của tỉnh Thái Bình được 57,72 điểm, xếp thứ 40/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; so với năm 2015 tăng 0,08 điểm, tuy nhiên về thứ hạng lại giảm 02 bậc (40/38) Trong đó Chỉ số Chi phí thời gian được 6,86 điểm tăng 0,21 điểm so với năm 2015, xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố trên cả nước (Sở kế hoạch và Đầu tư Thái Bình, 2017)
Chi phí thời gian là một trong những chỉ số thành phần quan trọng để nâng cao
năng lực cạnh tranh của tỉnh Thực tế, chỉ số chi phí thời gian là một trong những yếu
tố quan trọng mà các doanh nghiệp và nhà đầu tư quan tâm hàng đầu Bởi không nhà đầu tư, doanh nghiệp nào muốn mất quá nhiều thời gian, sự rườm rà cho việc giải quyết các thủ tục hành chính hay công tác thanh, kiểm tra hoặc dành thời gian tìm hiểu
và thực hiện những quy định pháp luật
Nhằm phân tích Chỉ số Chi phí thời gian trong Chỉ số PCI của riêng tỉnh Thái Bình, qua đó nhận diện những mặt mạnh, những mặt còn hạn chế cần được cải thiện, tìm ra những giải pháp mạnh mẽ có tính đột phá, nhằm tạo ra sự chuyển biến trong môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XIX thì việc cải thiện, nâng cao
Trang 16Chỉ số Chi phí thời gian trong Chỉ số Năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Bình là thực
sự cần thiết Từ thực trạng trên, câu hỏi đặt ra là: Thực trạng Chỉ số Chi phí thời gian của tỉnh Thái Bình như thế nào? Các yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian của tỉnh Thái Bình là gì? Để cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian ở tỉnh Thái Bình cần có những chủ trương, giải pháp như thế nào? Để trả lời các câu hỏi trên với mong muốn đóng góp những đề xuất để cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; tôi
lựa chọn đề tài: "Cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh ở Thái Bình" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh, đề tài phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian Từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trên địa bàn tỉnh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
- Đánh giá thực trạng, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Bình
- Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Bình
1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước của tỉnh Thái Bình; một số địa phương khác trong nước để so sánh
đối chiếu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại tỉnh Thái Bình, nhưng tập
trung trên địa bàn thành phố Thái Bình vì đây là nơi tập trung các cơ quan chính quyền của tỉnh cũng như là nơi kinh tế - xã hội được tập trung phát triển và đầu tư nhiều nhất trong tỉnh
- Phạm vi thời gian:
Trang 17+ Dữ liệu thứ cấp thu thập để phục vụ cho việc đánh giá thực trạng Chỉ số chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được khảo sát trong giai đoạn 2013 đến năm 2017; Dữ liệu sơ cấp khảo sát các đối tượng liên quan năm 2017
+ Đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian 5 năm, từ năm 2013 đến năm 2017
và đề xuất giải pháp đến năm 2020
+ Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018
1.4.2 Về thực tiễn
Luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung của Chỉ
số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và những bài học kinh nghiệm rút
ra từ thực tiễn cho công tác cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian ở Thái Bình Từ những nội dung đó đã phân tích thực trạng Chỉ số Chi phí thời gian ở tỉnh Thái Bình theo các mặt còn tồn tại hạn chế và nguyên nhân đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số chi phí thời gian ở tỉnh Thái Bình Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian trong năng lực cạnh tranh ở tỉnh Thái Bình
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỈ SỐ CHI PHÍ THỜI
GIAN TRONG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
2.1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao Theo nhà kinh
tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm
đi (Porter et al., 2007)
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Đó
là một quy luật tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của cuộc sống từ vi mô đến vĩ mô, từ cá nhân đến toàn thể xã hội
Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khách quan của nền kinh tế thị trường, cũng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và quản lý kinh doanh sử dụng một số thuật ngữ như “năng lực cạnh tranh” “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh”, trong tiếng anh nó thường được sử dụng là “Competitiveness Capability” Liên quan đến quá trình cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được hình thành thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các cấp độ khác nhau như: năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh ngành; năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ
Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và
tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp doanh nghiệp với tư cách là những thực thể độc lập Theo định nghĩa của đại từ điển tiếng Việt thì “Năng lực” là: những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc (Nguyễn Như Ý, 1999) Do vậy có thể khẳng định, năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể
Trang 19cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó, mục tiêu ấy được khái quát nhất là, hiệu quả cao và phát triển bền vững
Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) định nghĩa năng lực canh tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (Porter et al.,2007), năng lực cạnh tranh là tập
hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của một thanh phố hay một vùng lãnh thổ Sử dụng năng suất là thước đo cơ bản, khái niệm năng lực cạnh tranh vì vậy sẽ bao gồm cả mức tăng trưởng kinh tế và khả năng tăng trưởng bền vững
Vấn đề liên quan đến cạnh tranh đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu Dẫu đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, song chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn được thừa nhận về vấn đề này, do đó chưa có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh (Lê Đăng Doanh và cs., 1998) Thậm chí năng lực cạnh tranh cùng cấp độ cũng có những phương pháp đánh giá khác nhau, chẳng hạn, đánh giá năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia thì trên thế giới cũng
đã có hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia được các nước và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng phổ biến là:
1- Phương pháp do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu;
2- Phương pháp do Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển (IMD) đề xuất trong Niên giám Cạnh tranh thế giới
Cả hai phương pháp trên đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Sachs và chuyên gia của WEF như Peter Cornelius, Macha Levinson tham gia xây dựng (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2003)
Tóm lại, năng lực cạnh tranh là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả năng
đủ để giành thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó Mục tiêu đó phải có tính khái quát, hiệu quả rõ ràng và phải hướng đến sự phát triển bền vững Như vậy năng lực cạnh tranh có thể được phát biểu như là khả năng tạo lập được những thuận
Trang 20lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững
Phi tập trung hoá là xu hướng đang phát triển phổ biến trong quản lý kinh tế ở nhiều nước Phi tập trung hoá là chế độ phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của TW cho chính quyền địa phương Do đó, trong phạm vi một quốc gia cũng xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay cấp địa phương, được gọi
là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang tồn tại một cấp độ cạnh tranh đặc thù là cạnh tranh cấp tỉnh
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi ñịa phương Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu tư phát triển
ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào Tạo môi trường thuận lợi
để thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa phương Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu
đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó Do vậy, một tỉnh có năng lực cạnh tranh cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh đó
Trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội, có tính chất và phương thức cạnh tranh gay gắt hơn, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó Đồng thời trong sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển Vấn đề liên kết ở đây thực chất
là sự hợp tác, liên kết các ngành, liên kết các địa phương không chỉ nhằm mục tiêu tạo lực như xoá bỏ mức độ giới hạn địa giới hành chính tạo ra các nguồn lực đầu vào (đất đai, nguyên liệu, lao động) có quy mô lớn hơn cho các nhà ñầu tư, mà còn làm sao phân chia nguồn lực một cách hiệu quả nhất Liên kết các địa phương trong vùng và liên kết các ngành mang tính bổ sung lẫn nhau, duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh cho các tỉnh (Nhà xuất bản trẻ, 2008)
Trang 21Như vậy, thực chất năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với các địa phương khác trong phạm vi quốc gia
Sơ đồ 2.1 Vận dụng Mô hình Kim cương của Michael E Porter
vào cạnh tranh cấp tỉnh
Nguồn: Nhà xuất bản trẻ (2008)
Trong mô hình Kim cương vận dụng nghiên cứu xác định năng lực cạnh tranh các tỉnh (xem Sơ đồ 2.1) cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chính quyền cấp tỉnh Trong điều kiện phân cấp mạnh mẽ, chính quyền cấp tỉnh có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực đến sức hấp dẫn của các yếu tố đầu vào (nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng), các yếu tố liên quan đầu ra (quy mô thị trường, tập quán tiêu dùng, ); hệ thống các doanh nghiệp và nhà đầu tư tại địa phương; các ngành dịch vụ hỗ trợ và liên quan Những tác động ấy được biểu hiện thông qua sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh đối với các yếu tố trên như sau:
Một là, đối với các yếu tố sản xuất, thể hiện chủ yếu ở lĩnh vực đào tạo lao động (số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thông tin thị trường lao động,…) và chất lượng cơ sở hạ tầng (đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh,…) Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn
Cơ hội
Cơ cấu, hệ
thống DN, Nhà đầu tư tại tỉnh
Các yếu tố đầu
vào liên quan
Các yếu tố liên quan đầu ra
Các ngành
hỗ trợ và liên quan
Chính quyền cấp tỉnh
Trang 22dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Quốc hội, 2003) nên chính quyền cấp tỉnh có vai trò rất lớn đối với yếu tố sản xuất này tại địa phương, như quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất…
Hai là, đối với các ngành hỗ trợ và liên quan Mỗi ngành sản xuất kinh doanh đều có các ngành hỗ trợ và liên quan như ở các lĩnh vực công nghệ, thông tin (kinh doanh, thị trường, đầu tư) Trong phạm vi địa phương, chính quyền cấp tỉnh có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (như trợ giúp pháp lý, xúc tiến thương mại - đầu tư,…) hoặc khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển các dịch vụ hỗ trợ này
Ba là, đối với các yếu tố đầu ra Ở cấp địa phương, sự ảnh hưởng này không
rõ nét như ở cấp quốc gia Chính quyền địa phương có thể tác động lên thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thông qua những dự báo, định hướng sản xuất - tiêu dùng, đồng thời chính quyền tỉnh cũng có thể đóng vai trò là khách hàng trong một số trường hợp cần thiết Tính minh bạch và tiếp cận thông tin của doanh nghiệp rất quan trọng, một mặt có thể giúp doanh nghiệp định hướng thị trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu cầu thị trường, mặt khác, định hướng cho người tiêu dùng về những hàng hóa có chất lượng Bên cạnh đó, chính quyền có thể nỗ lực cải cách hành chính để cắt giảm chi phí không chính thức cho doanh nghiệp, từ đó có khả năng giảm giá bán, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đồng thời, giảm chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà nước nhằm giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa cơ hội trong sản xuất kinh doanh
Bốn là, đối với cơ cấu, hệ thống doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh Sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh lên yếu tố này khá rõ nét Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế của địa phương, chính quyền cấp tỉnh sẽ có những cơ chế, chính sách cụ thể (như chính sách thuế, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, liên kết,…)
để khuyến khích mở rộng hay hạn chế đầu tư (trong và ngoài nước) vào lĩnh vực nào đó Đồng thời, thực hiện giảm chi phí gia nhập thị trường sẽ tạo lập nhiều doanh nghiệp mới Do đó, có thể thay đổi cơ cấu, hệ thống doanh nghiệp, nhà đầu tư tại tỉnh
Ngoài ra, các cơ hội cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định lên các nhân tố trong
mô hình, chẳng hạn như là sự phát triển khoa học công nghệ thế giới, cơ chế chính sách riêng của TW, quan hệ đối ngoại (thông qua hoạt động liên kết, hợp tác,…) của
Trang 23các địa phương khác đối với tỉnh
Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau:
- Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề
án, chính sách phát triển kinh tế;
- Tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh lành mạnh;
- Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc
sử dụng các công cụ tài chính công;
- Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra
Để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hoá thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận ra được và nhìn nhận như nhau Vì thế, khi nói đến năng lực cạnh tranh và tạo dựng năng lực cạnh tranh cho địa phương mình, mỗi tỉnh nhìn nhận và cách làm khác nhau Trong tư duy cạnh tranh cũ, có tỉnh đã “xé rào” để thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp (Vũ Thành Tự Anh, 2007) Trong tư duy “cạnh tranh phát triển bền vững”, năng lực cạnh tranh của tỉnh được đánh giá chủ yếu trong “con mắt” của nhà đầu tư và doanh nghiệp mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khung khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế
2.1.1.2 Nội dung của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên – địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố nguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chính quyền cấp tỉnh Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng rất khó hoặc thậm chí không đạt được trong thời gian ngắn Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự hấp dẫn đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm
Trang 24và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hiện nay được cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau:
1 Chi phí gia nhập thị trường
Là chỉ số thành phần xác định về thời gian hoàn thành các thủ tục và giấy tờ cần thiết để doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động (gia nhập thị trường) Gồm các chỉ tiêu đo lường về: Thời gian doanh nghiệp phải chờ để Đăng ký kinh doanh và xin cấp đất; thời gian chờ nhận đủ các loại giấy tờ cần thiết để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh; số giấy phép, giấy đăng ký, quyết định chấp thuận cần thiết để chính thức hoạt động; mức độ khó khăn theo đánh giá của doanh nghiệp để có đủ giấy đăng
ký, giấy phép và quyết định chấp thuận
Mục đích của việc xây dựng chỉ số thành phần này là đánh giá sự khác biệt giữa các tỉnh về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới ở tỉnh Theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, trình tự, thủ tục Đăng ký kinh doanh thống nhất ở các tỉnh nhưng thực tế vẫn có sự khác biệt
2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Là chỉ số thành phần xác định khả năng tiếp cận đất đai và mức độ ổn định trong sử dụng đất Gồm các chỉ tiêu đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: Mức độ khó khăn tiếp cận đất đai doanh nghiệp; mức độ
ổn định khi đã có được mặt bằng kinh doanh
Chỉ số thành phần này xây dựng xuất phát từ đất đai hay mặt bằng sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố sản xuất cơ bản đối với các doanh nghiệp Các chính sách liên quan đến đất đai còn có sự không đồng đều giữa các tỉnh (VCCI, 2017)
3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Là chỉ số thành phần xác định khả năng tiếp cận các văn bản pháp lý và mức độ tham gia của doanh nghiệp vào các chính sách, quy định mới Gồm các chỉ tiêu đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho sự hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong triển khai thực hiện các chính sách, quy định đó; mức độ tiện dụng trang Web tỉnh đối với doanh nghiệp
Chỉ số thành phần này được xây dựng do tính minh bạch là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt môi trường kinh doanh nào thuận lợi cho sự phát
Trang 25triển của doanh nghiệp Chỉ số về tính minh bạch phải hội tụ đủ các thuộc tính: tính
sẵn có của thông tin; tính công bằng; tính dự đoán trước được; và tính cởi mở
4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Là chỉ số thành phần xác định thời gian doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính Gồm các chỉ tiêu đo lường thời gian doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính; mức độ thường xuyên mà doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra
Xuất phát từ nghiên cứu chi phí giao dịch trên cơ sở thời gian bỏ ra là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu về các nền kinh tế đang chuyển đổi Các nhà quản lý doanh nghiệp thường phải bỏ dở công việc kinh doanh để giải quyết các vấn đề sự vụ giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước - thời gian
mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạt động quản lý kinh doanh
Chỉ số này xây dựng nhằm đánh giá số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra để chi trả các khoản chi phí không chính thức, các khoản chi phí bất thường khác trong điều kiện hoạt động kinh doanh bình thường
6 Cạnh tranh bình đẳng
Là chỉ số thành phần xác định tính công bằng trong cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp Gồm các chỉ tiêu đo lường sự thuận lợi, khó khăn của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ số này xây dựng nhằm góp phần phản ánh đầy đủ và hoàn thiện các khía cạnh thay đổi mà doanh nghiệp đề cập Đồng thời thể hiện được các hình thức ưu đãi, gây mất bình đẳng đối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong sân chơi kinh doanh Điều này góp phần tăng cường tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, vì một nền kinh tế cạnh tranh bình đẳng (VCCI, 2017)
Trang 267 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Là chỉ số thành phần đánh giá sự năng động, tiên phong của lãnh đạo tỉnh trong quản lý, điều hành nền kinh tế tỉnh Gồm các chỉ tiêu đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong thực thi chính sách TW cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển kinh tế địa phương; khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách chưa rõ ràng của TW theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
Chỉ số này được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống quy định pháp luật liên quan hoạt động kinh doanh và đầu tư còn chưa hoàn chỉnh và thiếu rõ ràng trong khi vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Trong điều kiện đó, chính quyền các tỉnh có những cách thức xử lý khác nhau và mang lại những kết quả khác nhau Kết quả ấy có thể tạo cơ hội, hỗ trợ hoặc trở thành rào cản sự phát triển cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
8 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Là chỉ số thành phần đánh giá các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Gồm các chỉ tiêu
đo lường sự sẵn có của các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin kinh doanh, tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, các dịch vụ công nghệ; số lượng các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân
và chất lượng của các dịch vụ này
Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp là sản phẩm của các ngành hỗ trợ và liên quan trên địa bàn tỉnh Đối tượng cung cấp các dịch vụ này có thể do khu vực tư nhân hoặc nhà nước cung cấp Tuy nhiên, theo sự phát triển nền kinh tế thị trường, cơ hội tiếp cận với các dịch vụ của khu vực tư nhân ngày càng lớn nên việc tập trung vào các dịch
vụ do nhà nước cung cấp không có nhiều ý nghĩa bằng Nhà nước chủ yếu đóng vai trò định hướng phát triển cho các ngành hỗ trợ và liên quan trên địa bàn tỉnh cả về số lượng và chất lượng nhằm tạo điều kiện các doanh nghiệp tiếp cận nhiều hơn các dịch
vụ do tư nhân cung cấp (VCCI, 2017)
9 Đào tạo lao động
Là chỉ số thành phần đánh giá đào tạo nghề và phát triển kỹ năng người lao động Gồm các chỉ tiêu đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm
Cùng với đất đai, lao động là một yếu tố sản xuất quan trọng Hàng năm các tỉnh đều phải đương đầu với áp lực giải quyết việc làm cho người dân có nhu cầu tìm kiếm
Trang 27việc làm Tuy nhiên, thực tế những năm qua các doanh nghiệp luôn phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm
và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Vì vậy, chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với môi truờng kinh doanh trên địa bàn
10 Thiết chế pháp lý
Là chỉ số thành phần đánh giá thiết chế pháp lý ở địa phương Gồm các chỉ tiêu
đo lường lòng tin của doanh nghiệp đối với hệ thống toà án, tư pháp của tỉnh; mức độ hiệu quả của thiết chế pháp lý này trong giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nại của doanh nghiệp với các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền ở địa phương Chỉ số này được xây dựng trên cơ sở cho rằng phát triển pháp luật và giải quyết tranh chấp một cách chính quy luôn là một mắt xích yếu trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt Nam Đồng thời, hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp vẫn lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua các cơ chế không chính thức (VCCI, 2017)
Đối với một tỉnh, để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh thì không chỉ một chỉ
số thành phần nào mà cần đảm bảo đồng bộ các chỉ tiêu cấu thành các chỉ số thành phần ấy Do bản thân các chỉ tiêu mang tính động và mở nên các chỉ số thành phần cũng động và mở theo thời gian Điều quan trọng là khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cần phải xác định được những nhân tố ảnh hưởng (phản ánh qua trọng số) tới năng lực cạnh tranh một tỉnh theo thời gian ñể phản ánh kịp thời Trọng số được áp dụng cho tất cả các chỉ số thành phần Đóng góp của từng chỉ số thành phần lên những yếu tố đo lường sự phát triển doanh nghiệp (như số doanh nghiệp đang thực sự hoạt động; quy mô vốn đầu tư hoặc đầu tư trên đầu người của doanh nghiệp; lợi nhuận bình quân) là trọng số được tính trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Cơ sở xác định trọng số là thông qua phương pháp hồi quy để tính toán và phân chia trọng số thành các nhóm khác nhau, thông thường theo 3 mức: Cao, Trung bình và Thấp Khi nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển cùng công cuộc cải cách đang diễn ra trong cả nước, lĩnh vực kinh doanh và đầu tư ngày càng đa dạng, một số chỉ số thành phần sẽ trở nên kém quan trọng nhưng một số khác lại trở thành thiết yếu Lúc ấy trọng số của các chỉ số thành phần phải tính toán lại để phản ánh môi trường chính sách mới
Việc xác định rõ ràng nội dung chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có ý nghĩa quan trọng để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh các tỉnh ở Việt Nam
Trang 282.1.1.3 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Theo VCCI (2017), quy trình bao gồm 3 bước chính: Thu thập số liệu, Xử lý
dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần, Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI
Bước 1: Thu thập số liệu
* Thiết kế bảng hỏi
Phiếu điều tra được cập nhật điều chỉnh từ phiếu điều tra năm 2005 Phiếu điều tra gồm các thông tin cơ bản về DN cũng như về điều hành kinh tế cấp tỉnh Một
số câu hỏi có nguồn gốc từ đánh giá Môi trường đầu tư của World Bank được điều
chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam
Phiếu điều tra có ý nghĩa quyết định đến tính chính xác của kết quả điều tra bởi
nó là cơ sở cung cấp dữ liệu ban đầu phục vụ cho những bước thực hiện phân tích, đánh giá tiếp theo Phiếu điều tra được xây dựng theo kiểu bảng hỏi để người được hỏi lựa chọn câu trả lời, trong đó có cả những câu hỏi mở và câu hỏi đóng
* Chọn mẫu tiến hành điều tra
Tiến hành dựa trên việc điều tra chọn mẫu doanh nghiệp tư nhân trong cả
nước với số lượng nhất định (không lớn) thông qua phương pháp điều tra gián tiếp
bằng bảng hỏi Các doanh nghiệp được chọn để gửi phiếu điều tra thông qua việc phân
tổ và chọn mẫu từ danh sách các doanh nghiệp đang nộp thuế ở địa phương để đảm bảo tính đại diện của mẫu điều tra
Danh sách chọn mẫu từ các doanh nghiệp đang nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh (trong đó có địa chỉ và số điện thoại liên lạc cụ thể) Mẫu được chọn theo tỷ lệ theo từng tỉnh trên cơ sở phân nhóm doanh nghiệp theo loại hình (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) và tuổi của doanh nghiệp (doanh nghiệp được thành lập trước hay sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực)
Sau khi xác minh địa chỉ, phiếu điều tra được gửi qua đường bưu điện (phương pháp điều tra qua thư) Cơ cấu doanh nghiệp được lựa chọn trong mẫu điều tra được điều chỉnh gần giống với cơ cấu doanh nghiệp của tỉnh (theo số liệu từ Tổng Cục thuế) Phiếu điều tra được trình bày trên giấy in đẹp, phong bì dễ nhận thấy, thường được gửi đi 1 tuần sau Tết âm lịch (là thời điểm doanh nghiệp thường có mặt ở địa chỉ của mình) Phiếu điều tra được gửi kèm một thư giải thích cụ thể về tầm quan trọng của cuộc điều tra trong việc cải thiện môi trường kinh doanh
Trang 29Bước 2: Xử lý số liệu và xây dựng các chỉ số thành phần
* Xử lý số liệu
Sau khi nhận được trả lời của doanh nghiệp, số liệu được xử lý bằng các công
cụ thống kê để giảm thiểu sai số gây ra bởi tỷ lệ phản hồi có thể chưa cao Các thông tin thu được thông qua điều tra doanh nghiệp này được sử dụng để tạo thành “dữ liệu cảm nhận” hay “dữ liệu mềm” (soft data) Ngoài ra, nghiên cứu PCI còn thu thập số liệu thông qua phương pháp xin ý kiến chuyên gia, sử dụng bộ câu hỏi so sánh và dùng một
số số liệu thống kê để tính toán một số chỉ số tạo thành “dữ liệu cứng” (hard data) Số liệu cứng được thu thập qua các tài liệu từ các nguồn đã được công bố chính thức và các bên thứ ba Số liệu này bao gồm từ các nguồn các Bộ, ngành và các số liệu do nhóm thu thập Số liệu cứng để tính toán các điều kiện truyền thống sẽ được sử dụng trong tính toán trọng số của các chỉ số cấu thành nhằm loại trừ ảnh hưởng của điều kiện truyền thống tới kết quả phát triển của khu vực doanh nghiệp và chỉ giữ lại những kết quả có được từ công tác quản lý và điều hành của chính quyền tỉnh thông qua hồi quy đa biến
Các số liệu thu thập chính là các giá trị được lượng hoá của các chỉ tiêu được xây dựng là cơ sở xây dựng các chỉ số thành phần Trong đó khi sử dụng số liệu cứng, chỉ tiêu cứng chiếm khoảng 40% chỉ số thành phần Quá trình thu thập
số liệu bao gồm việc nhập số liệu, có kiểm tra chéo, cơ sở dữ liệu tự động không cho phép nhập những giá trị sai hoặc ngoài khoảng cho phép và công tác kiểm tra, làm sạch số liệu (VCCI, 2017)
* Xây dựng các chỉ số thành phần
Khi đã thu thập số liệu, nhóm nghiên cứu xây dựng chỉ số Các chỉ số thành phần được xây dựng từ năm 2005 và được cải tiến trong các năm tiếp theo để phản ánh chính xác hơn lý thuyết về điều hành kinh tế cũng như các chính sách cụ thể của Việt Nam Mỗi chỉ số thành phần được xây dựng từ một hay nhiều chỉ tiêu khác nhau Các chỉ tiêu này đều phải qua các kiểm định để chọn những chỉ tiêu có ý nghĩa thống
kê để xếp hạng có ý nghĩa và loại bỏ khả năng một mẫu khác lại ra một xếp hạng tỉnh khác, đồng thời đảm bảo xếp hạng của các tỉnh là do các yếu tố điều hành tạo nên chứ không vì một lý do cụ thể của doanh nghiệp trong tỉnh Giá trị của các chỉ tiêu này có được là từ kết quả điều tra bằng phiếu và tham khảo thêm số liệu cứng
- Sau khi chọn chỉ tiêu cho các chỉ số thành phần, các chỉ tiêu được chuẩn hoá theo thang điểm 10 Lượng hoá các chỉ tiêu được tính theo công thức:
Chẳng hạn, Chỉ số thành phần thứ k có n chỉ tiêu thì công thức tính điểm của
Trang 30chỉ tiêu thứ i là:
Chỉ tiêu i = 9 x
Điểm của tỉnh - Điểm nhỏ nhất của mẫu
+ 1 Điểm lớn nhất của mẫu - Điểm nhỏ nhất của mẫu
Theo công thức trên, Chỉ tiêu i có thể nhận các giá trị từ 1 đến 10, bằng 1 khi điểm của tỉnh thấp nhất trong tất cả các tỉnh xếp hạng và bằng 10 khi điểm của tỉnh cao nhất trong các tỉnh xếp hạng
Trường hợp, nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt (ví
dụ như số lần thanh tra, cản trở kinh doanh, tiêu cực, ) thì lấy 11 trừ cho công thức trên
- Chỉ số thành phần được tính bằng cách tính bình quân số học các chỉ tiêu Chẳng hạn, Chỉ số thành phần k có n chỉ tiêu thì điểm của Chỉ số thành phần thứ k sẽ là:
n
Chỉ số k = [∑(Chỉ tiêu i)]/n
i =1
Trường hợp nếu một chỉ tiêu có nhiều nhóm nhỏ sẽ lấy bình quân nhóm để nhóm
có trọng lượng như nhau
Bước 3: Xây dựng chỉ số tổng hợp
Sau khi thu thập và xử lý số liệu, tính toán được các chỉ tiêu, chỉ số thành phần của 63 tỉnh, gắn trọng số (đặt là w) cho mỗi chỉ số thành phần để tính PCI tổng hợp theo thang điểm 100 Chẳng hạn, công thức tính PCI của tỉnh X năm 2009 như sau:
Sau khi xác định Chỉ số tổng hợp PCI cho các tỉnh (có thể nhận giá trị từ 10
đến 100) sẽ sắp xếp và phân thành nhóm xếp hạng PCI theo các mức độ: Rất tốt, tốt,
khá, trung bình, tương đối thấp và thấp (đảm bảo khoảng cách nhất định về điểm số giữa các nhóm)
Tóm tắt phương pháp xây dựng PCI:
Trang 31Sơ đồ 2.2 Mô hình ba bước xây dựng PCI
Nguồn: VCCI (2017)
Trong giai đoạn 2005-2012, nhóm nghiên cứu PCI tính toán thống kê sơ bộ ở cấp tỉnh trước khi hiệu chỉnh và xây dựng các chỉ số thành phần Bắt đầu từ năm 2013, nhóm nghiên cứu chuyển sang tính toán hiệu chỉnh từng giá trị chỉ tiêu, các chỉ số thành phần và điểm số PCI theo từng doanh nghiệp trả lời điều tra chấm điểm Việc tính toán từng chỉ số thành phần ở cấp độ doanh nghiệp cho phép nhóm nghiên cứu tính toán phân tích cụ thể về chất lượng điều hành trong phạm vi một tỉnh, theo từng ngành, từng loại hình hay quy mô doanh nghiệp
2.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Có nhiều cách phân loại nội dung các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh như theo phạm vi ảnh hưởng, đối tượng ảnh hưởng, tính chất ảnh hưởng và cấp độ ảnh hưởng Dưới đây sẽ đề cập nội dung các nhân tố theo cách phân loại theo đối tượng ảnh hưởng, bao gồm nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
Nhóm các nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố có thể tác động để cải thiện theo ý chí của mình Năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lí và chất lượng đội ngũ công chức cấp tỉnh có ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc nhất tới chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trang 32Năng lực của bộ máy quản lý là khả năng thực hiện chức năng quản lý và phục
vụ của bộ máy hành chính Trong đó, bao hàm khả năng huy động tổng hợp các yếu tố: 1- Hệ thống tổ chức các cơ quan; 2- Hệ thống thể chế, thủ tục hành chính (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ); 3- Đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính với cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu
cụ thể của việc thực thi công vụ; 4- Tổng thể các điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đủ đảm bảo hoạt động công vụ hiệu quả Năng lực hoạt động phụ thuộc vào chất lượng các yếu tố này
Hiệu lực hoạt động thể hiện ở việc thực hiện đúng, có kết quả chức năng của bộ máy để đạt đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Ở khía cạnh thực tiễn, gắn với tính khả thi, hiệu lực thể hiện ở sự nghiêm túc, khẩn trương, triệt để của tổ chức, công dân trong việc thi hành chính sách, pháp luật của nhà nước trên phạm vi toàn xã hội Nó phụ thuộc vào năng lực, chất lượng của nền hành chính
Hiệu quả hoạt động là những kết quả đạt được của bộ máy trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội
Trong những nội dung trên thì năng lực quyết định hiệu quả và hiệu lực hoạt động Hiệu lực, hiệu quả là thước đo, tiêu chuẩn đánh giá năng lực Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của bộ máy thể hiện ở các nội dung: phục vụ, công khai, phối hợp trong hoạt động quản lý theo vùng, ngành, lãnh thổ, hiệu lực, hiệu quả, hiện đại, khoa học, phân định rõ chức năng
Nhóm các nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là tập hợp những nhân tố mà chính quyền tỉnh không có khả năng hoặc ít có khả năng tác động thay đổi được Mỗi tỉnh có điều kiện tự nhiên, kinh tế - văn hóa - xã hội khác nhau, nên sức hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài cũng khác nhau
Nhóm nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bao gồm :
* Điều kiện tự nhiên: Có những tỉnh có ưu đãi lớn về tự nhiên có thể phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, nông nghiệp ngư nghiệp, công nghiệp… , ngược lại có những tỉnh lại thường xuyên đối mặt với thiên tai hạn hán… gây khó khăn trong sự phát triển kinh tế
* Văn hóa – xã hội: Một số tỉnh có trình độ dân trí cao thuận lợi cho sự phát
triển khoa học công nghiệp và nhu cầu đa dạng, nhưng cũng có những tỉnh có đời sống
Trang 33hết sức khó khăn trình độ dân trí thấp nhất là những tỉnh chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số
* Kinh tế: Nền kinh tế thị trường mang đến cho các địa phương nhiều cơ hội để phát triển kinh tế của tỉnh Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế góp phần giải phóng năng lực sản xuất, kích thích sự phát triển của mọi thành phần kinh tế Nếu tỉnh nào biết tận dụng lợi thế sẵn có kết hợp với hệ thống chính sách pháp luật thống nhất của TW có sự tương đồng về lợi thế tiềm năng trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì tỉnh, địa phương đó thu hút được đầu tư nhiều hơn, sản xuất kinh doanh phát triển hơn và nền kinh tế sẽ tiến nhanh hơn Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực đến các mặt đời sống văn hóa xã hội Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng vô cảm và nhiều tệ nạn khác, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
* Khoa học công nghệ: Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ mà cụ thể là lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho quá trình xử lý và trao đổi thông tin được nhanh hơn và chính xác hơn Điều này cho phép chính quyền các tỉnh làm việc tốt hơn (tăng năng suất, hiệu quả quản lý) với chi phí thấp hơn, mất ít thời gian giải quyết công việc hơn từ đó làm hài lòng các nhà đầu tư và doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh, mở ra kênh tương tác giữa chính quyền địa phương với công dân và doanh nghiệp làm cho bộ máy chính quyền gần gũi hơn với người dân và doanh nghiệp (Phan Nhật Thanh, 2011)
2.1.2 Khái niệm về Chỉ số Chi phí thời gian
2.1.2.1 Khái niệm
Theo VCCI thì Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
là chỉ số thành phần nhằm đo lường thời gian doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính, mức độ thường xuyên doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các
cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện thanh tra, kiểm tra
Chỉ số được đo lường thông qua các chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu đo lường theo tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp trong tổng thể các doanh nghiệp điều tra trên địa bàn tỉnh, thành phố Để phản ánh các chỉ tiêu, các nhà nghiên cứu đưa ra các câu hỏi có thể trực tiếp hoặc gián tiếp để cho các doanh nghiệp lựa chọn phương án trả lời Sau đó thống
kê phần trăm các doanh nghiệp lựa chọn chỉ tiêu đó là bao nhiêu
Các chỉ tiêu phản ánh chỉ số được thay đổi qua các năm để phù hợp với những cải cách, sự thay đổi chính sách cũng như những thách thức mới của nền kinh tế Các
Trang 34chỉ tiêu có thể được lược bỏ bớt và thêm vào các chỉ tiêu mới nhằm đảm bảo thể hiện đúng vai trò mới của các lĩnh vực điều hành, đánh giá đúng thực trạng công tác điều hành kinh tế cấp tỉnh Đây là ưu điểm của chỉ số cũng như về phương pháp đánh giá,
đó là vẫn phản ánh được đầy đủ năng lực điều hành của chính quyền tỉnh một cách linh động mà không làm thay đổi quá nhiều phương pháp và cách thức đo lường chỉ số qua các năm
Chỉ số thành phần chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước được đưa vào với các chỉ tiêu sau :
- Các doanh nghiệp cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi khách không chính thức (% Đồng ý)
- Tỉ lệ doanh nghiệp dành hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện quy định pháp luật (%)
- Cán bộ công chức giải quyết công việc hiệu quả (%)
- Cán bộ công chức thân thiện (%)
- Doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần để hoàn tất thủ tục (%)
- Thủ tục giấy tờ đơn giản (%)
- Phí, lệ phí được niêm yết công khai (%)
- Thời gian thực hiện thủ tục hành chính được rút ngắn hơn so với quy định(%)
- Tỉ lệ doanh nghiệp bị thanh, kiểm tra từ 5 cuộc trở lên trong năm(%)
- Nội dung thanh, kiểm tra bị trùng lặp (%)
- Số giờ trung vị cho mỗi cuộc làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế
- Thanh, kiểm tra tạo cơ hội cho cán bộ nhũng nhiễu doanh nghiệp (%)
2.1.2.2 Vai trò của chỉ số chi phí thời gian trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chi phí thời gian là một trong những chỉ số thành phần quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Năm 2005 là năm đầu tiên Chỉ số PCI được tiến hành khảo sát, cho đến nay có những thành phần được thay đổi, bổ xung, nhưng thành phần Chỉ số chi phí thời gian vẫn được giữ nguyên Chứng tỏ Chỉ số chi phí thời gian giữ vai trò quan trọng, không thể thay thế (tính đến thời điểm hiện nay) trong các chỉ số thành phần của Chỉ số PCI
Trang 35Chi phí thời gian là một loại chi phí rất được các doanh nghiệp quan tâm Hằng năm, thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để giải quyết vấn đề thủ tục giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quan Nhà Nước khiến các doanh nghiệp
bỏ dở công việc kinh doanh của mình Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp cảm thấy rườm rà gây mất thời gian và là yếu tố gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp Thực
tế những năm qua khi chưa có chính sách cải cách thủ tục hành chính của Nhà Nước,
các doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí để hoàn thành đúng thủ tục quy định
Bàn về các chi phí không chính thức: Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế thuộc VCCI, có nhiều hình thức phân biệt đối xử nếu doanh nghiệp không chi trả chi phí không chính thức Một là bị kéo dài thời gian làm thủ tục Hai là gặp khó khăn hơn trong những lần thanh tra, kiểm tra sau Thậm chí, doanh nghiệp bị suy diễn và áp dụng những mức xử lý bất lợi… (Mai Phương, 2018) Đáng chú ý, theo phản ánh của doanh nghiệp, thái độ của cán bộ thuế thường không văn minh, lịch sự nếu thiếu “bôi trơn” Thậm chí có trường hợp doanh nghiệp dù làm đúng vẫn phải có khoản phí “bôi trơn”, nếu không có thể sẽ bị bắt bẻ, làm khó trong các thủ tục quyết toán, thanh, kiểm tra thuế Có thể thấy được Chi phí thời gian có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp Nó còn là “cái gậy” để một số thành phần cán bộ nhà nước có điều kiện để gây sự nhũng nhiễu cho doanh nghiệp
Vì vậy, mỗi tỉnh (vùng) muốn thu hút được đầu tư phát triển kinh tế thì cần phải thực hiện cải cách hành chính, bôi trơn bộ máy hành chính, cắt giảm chi phí không cần thiết (đặc biệt là chi phí thời gian) cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
2.1.2.3 Đặc điểm của Chỉ số chi phí thời gian
Đây là chỉ số đo lường một trong những chi phí không chính thức của doanh nghiệp Nó gắn liền với các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động có liên quan tới chính quyền (VCCI, 2017)
Chỉ số chi phí thời gian là một loại chỉ số tổng hợp Là tổng hợp của thời gian
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đi thực hiện hiện các công việc, yêu cầu của các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước
Chỉ số chi phí thời gian được xuất phát từ nghiên cứu chi phí giao dịch trên cơ
sở thời gian bỏ ra Các nhà quản lý doanh nghiệp thường phải bỏ dở công việc kinh doanh để giải quyết các vấn đề sự vụ giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các
cơ quan quản lý nhà nước - thời gian mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạt động quản lý kinh doanh
Trang 362.1.3 Nội dung nghiên cứu cải thiện Chỉ số Chi phí thời gian
2.1.3.1 Thời gian tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và tính minh bạch của thông tin
Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu tiếp cận thông tin của cộng đồng doanh nghiệp đang trở nên cấp thiết, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến quá trình phát triển của mỗi doanh nghiệp
Theo đánh giá của các chuyên gia thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng trong xã hội, ổn định tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương Song, qua theo dõi cho thấy, doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện rất khó khăn trong tiếp cận nguồn lực về đất đai, vốn, khoa học - công nghệ, năng lực tài chính và quy mô đầu tư nhỏ lẻ, thiếu thông tin chính thức để xem xét, quyết định đầu tư Trong khi đó, việc công khai và cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước mới chỉ đáp ứng được một phần, trong đó không ít trường hợp thiếu sự chủ động, không đầy
đủ khi cung cấp, nhất là các thông tin liên quan đến kế hoạch (như ngân sách, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách ưu đãi đầu tư…)
Theo khảo sát của VCCI thì mối quan hệ cá nhân giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khả năng tiếp cận thông tin, tài liệu quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Vấn đề này
sẽ dẫn tới nhiều hệ quả không mong muốn đối với nền kinh tế, đó là nhiều doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực và thời gian để phát triển các mối quan hệ cá nhân với các cơ quan quản lý nhà nước, thay vì sử dụng các nguồn lực đó để phát triển sản xuất, kinh doanh một cách hiệu quả Ðồng thời, đây có thể coi là một phần nguyên nhân dẫn tới cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, nhất là giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp (VCCI, 2017)
2.1.3.2 Thời gian thực hiện các thủ tục hành chính để đảm bảo doanh nghiệp được hoạt động, kinh doanh
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính Dưới góc độ quản lý nhà nước nói chung, thủ tục hành chính được hiểu là công cụ, phương tiện quan trọng để các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể Còn dưới góc độ xã hội, thủ tục hành chính được xác định là cầu nối để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân,
Trang 37tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, trong đó, cơ bản và chủ yếu là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức
Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ, thủ tục hành chính được quy định theo hướng giải thích từ ngữ: “thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện
do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”
Thủ tục hành chính có những đặc điểm cơ bản sau đây:
a) Về thẩm quyền ban hành và hình thức pháp lý thủ tục hành chính phải được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và được thể hiện dưới hình thức quy phạm thủ tục hành chính
b) Về yếu tố tạo thành của thủ tục hành chính
Các bộ phận tạo thành thủ tục hành chính là một trong các dấu hiệu quan trọng
để nhận biết thủ tục hành chính Các bộ phận tạo thành, gồm: tên thủ tục; hồ sơ; trình tự; cách thức thực hiện; cơ quan thực hiện; đối tượng thực hiện; kết quả của thủ tục; yêu cầu, điều kiện (nếu có); mẫu đơn, tờ khai (nếu có); phí, lệ phí (nếu có)
c) Về chủ thể trong quan hệ giải quyết thủ tục hành chính, gồm bên chủ thể giải quyết thủ tục hành chính và bên đối tượng tham gia thủ tục hành chính, cụ thể:
- Chủ thể giải quyết thủ tục hành chính
Chủ thể giải quyết thủ tục hành chính là cơ quan, người có thẩm quyền được xác định trong các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính Đây là các chủ thể bắt buộc trong quan hệ thủ tục hành chính Có thể chia các chủ thể giải quyết thủ tục hành chính thành 3 nhóm sau đây:
+ Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước
+ Các tổ chức, người có thẩm quyền được pháp luật cho phép hoặc được Nhà nước trao quyền nhằm cung cấp một hoặc một số dịch vụ hành chính công
- Đối tượng tham gia thủ tục hành chính, bao gồm các cá nhân, tổ chức:
+ Cá nhân: có thể là công dân Việt Nam; công dân nước ngoài
+ Tổ chức: Cơ quan nhà nước; các tổ chức không phải là cơ quan nhà nước được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; các tổ chức nước ngoài được thành lập hợp pháp tại nước ngoài…
Trang 38Cơ quan nhà nước là chủ thể tham gia thủ tục hành chính trong trường hợp phải quyết các công việc liên quan đến quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý như các tổ chức pháp nhân khác, ví dụ: thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thủ tục đăng ký, đăng kiểm xe ô tô…
Trong thực tế hiện nay, những phản ánh của doanh nghiệp về thủ tục hành chính khá giống nhau và tập trung chủ yếu và sự phức tạp và rườm rà của hệ thống quy định, giấy tờ; ý thức và trách nhiệm của người thực thi trực tiếp, cùng với đó là những tiêu cực có thể xảy ra dẫn đến gây mất thời gian và chi phí
2.1.3.3 Các thủ tục liên quan tới thuế
Thuế ra đời là mang tính tất yếu gắn liền với sự tồn tại của nhà nước Như chúng ta đã biết, mỗi nhà nước muốn tồn tại thì phải có một nguồn vật chất nhất định để duy trì sự tồn tại và thực hiện chức năng của nhà nước Nguồn vật chất đó hình thành từ nhiều hoạt động khác nhau nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động thu thuế Việc thu thuế tạo ra một nguồn thu tài chính lớn cho nhà nước, qua
đó nhà nước có thể tồn tại và thực hiện chức năng của mình Do vậy thuế là một hiện tượng tất yếu, xuât hiện và tồn tại cùng các hiện tượng kinh tế xã hội khác, nó
có thể khái quát qua định nghĩa như sau: “Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt
buộc mà các tổ chức cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định” (Luật Dương Gia, 2015)
Như vậy có thể thấy thuế là một khoản giá trị mà người có nghĩa vụ thực hiện phải nộp cho nhà nước theo quy định pháp luật thuế Thuế là nghĩa vụ của người nộp thuế Trong lịch sử, khoản giá trị đó có thể tồn tại dưới dạng vật có giá trị nhưng hiện tại thì thuế tồn tại dưới dạng tiền tệ
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, có thể thấy để làm được một giấy phép, làm lại hóa đơn, nộp thuế, khai thuế… đều tốn rất nhiều thời gian Để có thể hoàn thành những thủ tục này doanh nghiệp phải làm qua rất nhiều bước Không chỉ vậy, đơn vị kinh doanh còn phải mất thời gian đợi để có được xác nhận, dấu, xem xét giải quyết… Tùy thuộc vào từng loại thủ tục mà có thể kéo dài từ 3 – 15 ngày
Hơn nữa, một hạn chế trong thủ tục thuế hiện nay đó là sử dụng hóa đơn giấy Khi doanh nghiệp sử dụng hóa đơn giấy, việc kiểm tra, hạch toán hóa đơn sẽ mất rất nhiều thời gian
Trang 39Chính vì vậy, thủ tục thuế phức tạp, rườm rà là rào cản lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng, làm giảm sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế
2.1.3.4 Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
Giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và có nhiều điểm giao thoa nhau Bởi vì kiểm tra và thanh ra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý” Qua kiểm tra, thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích đánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra Đây là mối quan hệ đan chéo nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra… đó là kiểm tra Trong thực tiễn, vẫn còn có sự nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra với thanh tra
Qua thực tế triển khai hoạt động thanh tra, kiểm tra thời gian qua thấy rằng, hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành nói riêng vẫn tồn tại những hạn chế, còn những vụ việc gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra chưa chặt chẽ; Thời gian thanh tra kéo dài, nội dung tranh tra chưa rõ ràng, có khi vượt ra ngoài thẩm quyền quản lý; Chậm ban hành kết luận thanh tra, chưa làm rõ được dấu hiệu vi phạm, kiến nghị xử lý chưa cụ thể (Trung Hiếu, 2017)
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến Chỉ số Chi phí thời gian
2.1.4.1 Hệ thống tổ chức, phối hợp của các cơ quan Nhà nước trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp
Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là rất cần thiết,
vì những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành, địa phương và chức năng đại diện của nhiều hiệp hội doanh nghiệp Có thể thấy rằng, một doanh nghiệp khi được hình thành và tham gia vào thị trường sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Ví dụ: Đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, bên cạnh
Trang 40Luật Doanh nghiệp là luật gốc về doanh nghiệp, các công ty còn chịu sự điều chỉnh của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn Để có thể hoạt động ổn định và hạn chế các rủi ro pháp lý không đáng có, doanh nghiệp này cần phải nắm rõ các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên Do vậy, để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp một cách hiệu quả, cần có sự tham gia phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước Các cơ quan này, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ đưa ra lời giải đáp trong lĩnh vực
mà mình được giao; trong trường hợp vấn đề liên quan đến nhiều bộ, ngành thì các bộ, ngành đó cần phối hợp với nhau để giải quyết (Dương Đăng Huệ, 2018)
Thứ hai, mỗi cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp là hoàn toàn độc lập nhau Do vậy, để đạt được sự thống nhất trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và cùng hướng đến một mục tiêu chung, các cơ quan quản lý nhà nước và các
tổ chức có liên quan cần phải phối hợp với nhau, tránh chồng chéo và trùng lặp về thẩm quyền (Dương Đăng Huệ, 2018)
2.1.4.2 Hệ thống thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống quy phạm thủ tục
Hệ thống quy phạm thủ tục là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết công việc công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức
và công dân Đó cũng chính là các hệ thống các nguyên tắc quản lý và điều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức phải tuân theo trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình
Xét trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước thì thủ tục hành chính là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng để giải quyết các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Trình tự này có thể từ dưới lên, từ cấp trên xuống mà cũng có những trình tự thực hiện song hành
Các thủ tục hành chính được xây dựng cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy quản lý nhà nước hiện hành Ví dụ:
- Thủ tục cấp giấy phép xây dựng - Thủ tục đăng ký kinh doanh - Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Thủ tục hộ tịch, hộ khẩu…
Thủ tục hành chính có tác động rất lớn tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hàng năm, các doanh nghiệp thường tốn rất nhiều thời gian vào công