TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Hữu Nam Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại Khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang Tên cơ sở
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU NAM
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI KHU CÔNG NGHIỆP QUANG CHÂU, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thủy Nguyên
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Hữu Nam, học viên cao học lớp Khoa học môi trường CH25KHMT, khoá 2016 - 2018 Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại Khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát và phân tích
từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Thủy Nguyên Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giảng viên Khoa Sau Đại học, Học viện nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học cao học trong suốt 2 năm qua
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thủy Nguyên đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu đề tài này
Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường Bắc Giang, lãnh đạo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang, Công ty Cổ phần khu công nghiệp Sài Gòn - Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin, tài liệu cần thiết cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Nam
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan I Lời cảm ơn II Mục lục III Danh mục chữ viết tắt VI Danh mục bảng VII Danh mục hình VIII Trích yếu luận văn IX Thesis abstract XI
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.1.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.2 Ý nghĩa đề tàI 3
1.2.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sơ lý luận về quản lý chất thải nguy hại 4
2.1.1 Các khái niệm 4
2.1.2 Cơ sở khoa học 5
2.1.3 Tác động của chất thảı nguy hạı 11
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải nguy hại trên thế giới và việt nam 14
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải nguy hại trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 17
2.3 Tổng quan về thực trạng phát sinh chất thải nguy hại từ hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc giang 27
2.3.1 Thực trạng phát triển của các khu công nghiệp 27
2.3.2 Thực trạng phát sinh chất thải nguy hại từ các khu công nghiệp 28
Trang 52.3.3 Tình hình thu gom, phân loại, xử lý chất thải nguy hại tỉnh Bắc Giang 29
2.3.4 Tình hình tuân thủ và thực hiện các quy định pháp luật trong hoạt động quản lý CTNH 32
2.3.5 Kết quả thanh tra, kiểm tra về môi trường tại các KCN, CCN 33
2.4 Tổng quan về tình hình quản lý chất thải nguy hại trên ðịa bàn tỉnh Bắc Giang 33
2.4.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và kỹ thuật trong quản lý chất thải nguy hại hiện được áp dụng tại tỉnh Bắc Giang 33
2.4.2 Công tác quản lý nhà nước đối với chất thải nguy hại 36
2.4.3 Công tác quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp 36
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đối tượng nghIên cứu 38
3.2 Phạm vI nghiên cứu 38
3.3 NộI dung nghIên cứu 38
3.3.1 Khái quát về khu công nghiệp Quang Châu 38
3.3.2 Thực trạng các chất thải nguy hại 38
3.3.3 Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ và nhân viên trong thực hiện quy chế và nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý CTNH 38
3.3.4 Đánh giá khái quát hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại 38
3.3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại đối với các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu 38
3.4 Phương pháp nghiên cứu 38
3.4.1 Phương pháp kế thừa 38
3.4.2 Điều tra, khảo sát thực địa 39
3.4.3 Phương pháp phỏng vấn 39
3.4.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 40
3.4.5 Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia 40
PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 41
4.1 Khái quát về Khu công nghiệp Quang Châu 41
4.1.1 Vị trí địa lý 41
4.1.2 Điều kiện về địa chất 43
4.1.3 Điều kiện về khí hậu, khí tượng 43
Trang 64.1.4 Điều kiện thuỷ văn 46
4.1.5 Cấp, thoát nước 46
4.1.6 Điều kiện môi trường 47
4.1.7 Đặc điểm KCN Quang Châu 47
4.2 Thực trạng chất thải nguy hại 50
4.2.1 Thành phần, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu 50
4.2.2 Tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về chất thải nguy hại 56
4.2.3 Thực trạng công tác thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại 60
4.3 Đánh giá hiểu biết và thái độ về công tác quản lý chất thải nguy hại tại KCN Quang Châu 68
4.3.1 Đánh giá hiểu biết của cán bộ và nhân viên về quy chế quản lý chất thải nguy hại 68
4.4 Đánh giá khái quát hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại tại KCN Quang Châu 70
4.4.1 Công tác thực hiện quy định về quản lý chất thải nguy hại 70
4.4.2 Những kết quả đạt được 71
4.4.3 Tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý chất thải nguy hại 72
4.5 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại 73
4.5.1 Về nhân sự 73
4.5.2 Về công tác quản lý CTNH 73
4.5.3 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải nguy hại 75
4.5.4 Công tác kiểm tra, giám sát quản lý chất thải nguy hại 75
4.5.5 Về công tác tuyên truyền, tập huấn đối với các doanh nghiệp 76
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 1 81
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Nhiệt độ không khí TB các tháng qua các năm tỉnh Bắc Giang 44
Bảng 4.2 Tổng số giờ nắng các tháng qua các năm của tỉnh Bắc Giang 44
Bảng 4.3 Độ ẩm không khí TB các tháng qua các năm của tỉnh Bắc Giang 45
Bảng 4.4 Lượng mưa trung bình các tháng và các năm của tỉnh Bắc Giang 45
Bảng 4.5 Danh sách các đơn vị đang hoạt động tại KCN Quang Châu 48
Bảng 4.6 Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh của khu công nghiệp 2017 52
Bảng 4.8 Tỷ lệ các thành phần chất thải nguy hại phát sinh 55
Bảng 4.9 Việc thực hiện thủ tục pháp lý về BVMT 57
Bảng 4.10 Tình hình quản lý chất thải nguy hại năm 2017 62
Bảng 4.11 Chi phí xử lý chất thải nguy hại năm 2017 64
Bảng 4.12 Tình hình đăng ký chủ nguồn thải CTNH 65
Bảng 4.13 Một số đơn vị thực hiện chuyển giao CTNH 66
Bảng 4.14 Nhận thức về CTNH của cán bộ quản lý 68
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Quy hoạch tổng thể KCN Quang Châu 42
Hình 4.2 Thống kê số lượng Công ty theo năm thành lập 49
Hình 4.3 Thống kê các loại hình kinh doanh trong KCN Quang Châu 49
Hình 4.4 Cơ cấu tổ chức quản lý KCN Quang Châu 50
Hình 4.5 So sánh lượng CTNH phát sinh giữa các Công ty 54
Hình 4.6 Thành phần tổng lượng CTNH phát sinh của KCN Quang Châu (kg/năm) 56
Hình 4.7 Hiện trạng thực hiện các thủ tục môi trường tại các công ty trong KCN Quang Châu 58
Hình 4.8 Hiện trạng thu gom, lưu trữ và vận chuyển, xử lý CTNH của các công ty tại KCN Quang Châu 63
Hình 4.9 Quy trình quản lý CTNH tại các doanh nghiệp 67
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Hữu Nam
Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại Khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại Khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang” là: Đánh giá thực trạng tình hình quản lý và xử lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang; Đề xuất được một số g ả pháp nâng cao h ệu quả quản lý chất thả nguy hại đối với các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nghiên cứu này, đề tài đã áp dụng các phương pháp chính sau đây: Thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội từ Phòng TNMT huyện Việt Yên; cán bộ quản lý môi trường tại Công ty cổ phần khu công nghiệp Sài Gòn - Bắc Giang (Chủ cơ sở hạ tầng) Khảo sát thực địa, điều tra thu thập các số liệu sơ cấp được thu thập từ các cán bộ làm công tác môi trường tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, công nhân trực tiếp làm công tác thu gom, phân loại, lưu giữ CTNH và người dân xung quanh khu công nghiệp
Các nhóm đối tượng trên điều tra, phỏng vấn cụ thể: tổng số phiếu thực hiện là: 83 phiếu, trong đó: 21 phiếu cho cán bộ làm công tác BVMT của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu (01 phiếu/01 doanh nghiệp); 42 phiếu cho Công nhân trực tiếp làm công tác phân loại, thu gom, lưu giữ CTNH và 20 người dân xung quanh
Trang 11nghiệp đang trực tiếp hoạt động
Lượng CTNH phát sinh tại các doanh nghiệp trong KCN Quang Châu tập trung chủ yếu ở các loại hình sản xuất như: Gia công, sản xuất thiết bị, linh kiện điện tử, sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời
2 Mỗi năm KCN Quang Châu phát sinh một khối lượng CTNH tương đối lớn, điển hình là 21 doanh nghiệp đại diện cho các ngành nghề phát sinh CTNH trong KCN
1 năm phát sinh khoảng 88,8 tấn CTNH Lượng CTNH phát sinh lớn nhất là tại Công ty TNHH Hosiden (Việt Nam) Ngoài ra, các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực bao bì, cán thép lại có lượng chất thải nguy hại phát sinh tương đối ít
Trong 21 doanh nghiệp tiến hành điều tra thì 100% doanh nghiệp đã có các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường đồng thời đã thực hiện phân loại, thu gom CTNH tại kho chứa theo đúng quy định và tiến hành ký hợp đồng với đơn vị có chức năng để vận chuyển, xử lý CTNH
3 Kết quả điều tra, cho thấy 100% cán bộ quản lý CTNH tại các doanh nghiệp
đã được đào tạo và có hiểu biết về CTNH, ngoài ra công, nhân viên làm công tác phân loại, thu gom và lưu giữ CTNH tại các doanh nghiệp có hiểu biết về CTNH chỉ đạt 71,4% Đối với đối tượng là người dân xung quanh khu vực KCN thì hiểu biết về CTNH còn rất hạn chế, chỉ 35% đối tượng phân biệt được CTNH và chất thải thông thường, tuy nhiên theo đánh giá khách quan, 100% đều đánh giá CTNH có ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
4 Công tác quản lý CTNH tại KCN Quang Châu còn có một số khó khăn tồn tại như: nhân sự, kinh phí, cơ sở hạ tầng vì vậy cần có một số giải pháp cụ thể để giải quyết các tồn tại trên
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Huu Nam
Title: Assessing the situation and proposing the solutions for hazardous waste management in Quang Chau Industrial Park, Bac Giang province
Major: Environmental science Code: 8440301
Name of Training Institution: Vietnam National University of Agriculture
Objectives
The aims of the project "Assessing the situation and proposing the solutions for hazardous waste management in Quang Chau Industrial Park, Bac Giang province" are: Assessing the status of management and treatment of hazardous waste at Quang Chau Industrial Park, Bac Giang province; Proposing some solutions to improve the efficiency of hazardous waste management for enterprises in Quang Chau Industrial Park, Bac Giang province
Methods
In order to carry out this study, the following main methodologies were applied: Collecting secondary data on the condition of natural, economic and social, etc from the department of Natural Resources in Viet Yen District and Environmental management officers at Sai Gon-Bac Giang Industrial Park Joint Stock Company (Infrastructure Owner) Field surveys and primary data collection surveys were made by environmental staffs in the industrial park, workers who are directly engaged in collecting, sorting and keeping the hazardous waste and people living around the industrial park
The specific number of survey: The total number of questionnaires was 83, in which: 21 votes for Environmental Protection Officers at Quang Chau Industrial Park (01 vote per 01 enterprise); 42 votes for direct workers involved in sorting, collecting and keeping hardzardous waste and 20 people living around
Main results and conclustions
Through the process of research and implementation, the study has drawn some conclusions as follows:
1 Quang Chau Industrial Park is one of six industrial zones in Bac Giang Province, located in Quang Chau Commune, Viet Yen District, invested by Sai Gon - Bac Giang Industrial Park Joint Stock Company Up to 2017, Quang Chau Industrial Park is composed of 21 enterprises operating directly
Trang 13The amount of hazardous waste generated at enterprises in Quang Chau Industrial Zone is mainly concentrated on production types such as processing, manufacturing equipments, electronic components, producting animal feed and solar panels
There is large amount of hazardous waste generated in Quang Chau Industrial Park anually In which, 21 factories who represent for activities of generating hazardous waste generated about 88.8 tons of hazardous waste The highest amount of hazardous waste was generated in Hosiden (Vietnam) Co., Ltd In addition, the production facilities in the field of packaging, rolling steel have relatively lower amount of hazardous waste generated
100% of 21 surveyed factories have legal procedures for environmental protection At the same time, they have classified and collected hazardous waste in their warehouses in accordance with the regulations and signed the contract with the company who provides the service of transporting and treating the hazardous waste
3 Survey results showed that 100% of HW (hazardous waste) management staffs at factories have been trained and have knowledge about HW In addition, there are only 71.4% of employees who work in sorting, collecting and keeping the HW have knowledge about HW For the people living around the industrial zone, the knowledge about HW is very limited, only 35% of the subjects discriminate between HW and conventional waste, but according to the objective evaluation, 100% HW affects the environment and human health
4 The management of HW in Quang Chau Industrial Park has some difficulties such as personnel, budget, infrastructure so it is necessary to figure out some specific solutions to solve the problems
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, nằm trong vùng trung du và miền núi phía Bắc Bắc Giang giáp với nhiều tỉnh thành, phía Bắc giáp Lạng Sơn, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía Nam giáp Bắc Ninh, Hải Dương
Hiện nay tỉnh Bắc Giang đã quy hoạch và đã được chính phủ cho phép quy hoạch và đầu tư xây dựng và triển khai 6 khu công nghiệp (KCN) và 29 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 3.755 ha; trong đó, 4 KCN đã đi vào hoạt động với diện tích 1.377ha, bao gồm: KCN Quang Châu (426 ha, có 21 nhà máy đang sản xuất với các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, may mặc và thức ăn chăn nuôi), KCN Đình Trám (127,35ha, có 114 nhà máy đang sản xuất, chủ yếu
là sản xuất, lắp giáp linh kiện điện tử, cơ khí, bao bì nhựa, thức ăn gia súc, chế biến gỗ và may mặc….), KCN Song Khê - Nội Hoàng (158,78ha, có 21 nhà máy đang sản xuất với các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, pin năng lượng mặt trời, hóa chất, cơ khí, giấy và may mặc), KCN Vân Trung (350,3 ha, có 42 nhà máy đang sản xuất với các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, gia công lông vũ, sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời, may mặc…) (Kết quả điều tra, 2017)
Khu công nghiệp Quang Châu (KCN) được thành lập theo quyết định số 637/QDTTg ngày 25/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ do Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn - Bắc Giang làm chủ đầu tư, là KCN lớn và quan trọng hàng đầu của tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích 426 ha Đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Quang Châu” tại Quyết định số 2524/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; được cấp Giấy xác nhận
số 63/GXN-TCMT ngày 15/7/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án “Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Quang Châu”
Việc tập trung các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nêu trên đã tạo ra một lượng lớn chất thải như: Khí thải, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và đặc biệt là chất thải nguy hại nếu
Trang 15không được thu gom, xử lý triệt để sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động và đến người dân xung quanh khu công nghiệp Quang Châu
Hiện tại các nhà máy xí nghiệp sản xuất nằm trong KCN Quang Châu cũng bước đầu có ý thức thức trong việc phân loại CTRSH, CTRCN, CTRNH và phế liệu riêng biệt với nhau, các đơn vị đã ký hợp đồng xử lý các loại chất phát sinh từ quá trình sản xuất của đơn vị mình Nhưng vẫn còn một số doanh nghiệp thiếu ý thức trong việc quản lý CTNH phát sinh từ quá trình sản xuất của đơn vị, đồng thời một số doanh nghiệp chưa phân loại được chất thải nguy hại và các loại chất thải khác, dẫn tới công tác thu gom, lưu trữ, xử lý không đúng với quy định của nhà nước
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang” nhằm đưa ra một số giải pháp hữu hiệu trong công tác quản lý chất thải nguy hại đối với các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu nói riêng và trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói chung
Công tác quản lý chất thải nguy hại đối với 21 doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang
1.1.3 Yêu cầu của đề tài
- Đề tài phải đánh giá được những kết quả đã thực hiện và những ưu, nhược điểm, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện công tác quản lý chất thải nguy hại đối với các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Giang;
- Các giải pháp đề xuất xuất phát từ các kết quả nghiên cứu tại địa bàn và phù hợp với tình hình tại địa phương
Trang 161.2 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
1.2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây ô nhiễm của hoạt động sản xuất công nghiệp tác động ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh tại địa bàn Khu công nghiệp Quang Châu nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung Ngoài ra đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học, điều tra về công tác quản lý chất thải nguy hại và giúp cho các nhà quản lý về môi trường có những chính sách và định hướng quản lý môi trường chặt chẽ hơn
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng quản lý chất thải nguy hại tại một
số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tìm hiểu được mức độ ảnh hưởng của chất thải nguy hại, đưa ra những định hướng đúng đắn trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
2.1.1 Các khá n ệm
- Khái niệm CTNH là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năng phản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặc khi tiếp xúc với các chất khác
- Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH
- Vận chuyển CTNH là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lưu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế CTNH
- Xử lý CTNH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của CTNH (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người
- Sơ chế CTNH là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ-lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, xử lý hoặc nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của CTNH cho phù hợp với các phương pháp xử lý khác nhau
- Đồng xử lý CTNH là việc kết hợp một quá trình sản xuất sẵn có để xử lý CTNH, trong đó CTNH được sử dụng làm nhiên liệu, nguyên vật liệu bổ sung cho quá trình sản xuất này
- Tái sử dụng trực tiếp CTNH là việc trực tiếp sử dụng lại các CTNH có nguồn gốc là các phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đã qua sử dụng thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này theo đúng mục đích sử dụng ban đầu của phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đó mà không qua bất kỳ khâu xử lý hay sơ chế nào
- Giấy phép QLCTNH là tên gọi cho các loại giấy phép:
+ Giấy phép hành nghề QLCTNH là Giấy phép được cấp cho dịch vụ vận
Trang 18chuyển và xử lý CTNH theo quy định tại Thông tư này;
+ Giấy phép hành nghề xử lý, tiêu huỷ CTNH là Giấy phép được cấp cho dịch vụ xử lý CTNH theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
+ Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH là Giấy phép được cấp cho dịch
vụ vận chuyển CTNH theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
- Chủ hành nghề QLCTNH là tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép hành nghề QLCTNH để thực hiện dịch vụ vận chuyển và xử lý CTNH theo quy định tại Thông tư này
- Chủ nguồn thải CTNH là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh CTNH (sau đây gọi tắt là cơ sở phát sinh CTNH)
- Chủ vận chuyển CTNH là tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH còn giá trị sử dụng theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
- Chủ tái sử dụng CTNH là tổ chức, cá nhân tiếp nhận CTNH để tái sử dụng trực tiếp
- Chủ xử lý CTNH là tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép hành nghề xử lý, tiêu huỷ CTNH còn giá trị sử dụng theo quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT
- Đại lý vận chuyển CTNH là tổ chức, cá nhân được chủ hành nghề QLCTNH uỷ quyền hoặc hợp đồng để thực hiện hoạt động vận chuyển CTNH
- Cơ quan cấp phép (sau đây viết tắt là CQCP) là tên gọi chung của các cơ quan có thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy phép QLCTNH
- Cơ quan quản lý chủ nguồn thải CTNH (sau đây viết tắt là CQQLCNT) là
cơ quan có thẩm quyền quản lý các chủ nguồn thải CTNH theo quy định
- Mã số QLCTNH là mã số được cấp kèm theo Sổ đăng ký chủ nguồn thải hoặc Giấy phép QLCTNH
- Địa bàn hoạt động là phạm vi địa lý cho phép thực hiện dịch vụ vận chuyển và xử lý CTNH được ghi trong Giấy phép QLCTNH
2.1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại sinh ra từ 3 nguồn:
Trang 19- Công nghiệp: hầu hết các chất thải đều có nguồn gốc từ các loại nguyên nhiên liệu mà chúng ta phải cần để sử dụng cho công nghiệp
- Hoạt động sinh hoạt của con người, trong nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ
- Từ thiên nhiên: chất thải nguy hại có khả năng sản sinh ra từ các quá trình trao đổi chất trong tự nhiên, có hoặc không có vai trò của con người Trong
đó có thể nói các ngành sản xuất công nghiệp là nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại lớn nhất và đang là mối quan tâm lớn hiện nay So với các nguồn phát sinh khác, nguồn công nghiệp mang tính thường xuyên và ổn định nhất, các nguồn từ dân dụng hay sinh hoạt không nhiều, tương đối nhỏ Có thể dẫn chứng nguồn thải nguy hại qua một số ngành công nghiệp tiêu biểu sau:
+ Ngành công nghiệp hoá chất: dung môi thải, dung môi công nghiệp dùng để hoà tan để tổng hợp các chất mới và dung môi giúp truyền nhiệt tốt, các chất này có tính chất dễ cháy nổ, dễ tham gia các phản ứng thế, độ bay hơi thấp… hầu hết có khả năng ức chế enzyme, cản trở gen, ngăn cản sự phân hoá tế bào dẫn đến bệnh tật…
+ Các chất dễ cháy, các sản phẩm từ dầu mỏ, các chất thải chứa axít, bazơ mạnh, các chất thải có hoạt tính cao: hợp chất chứa natri, hợp chất H2O2, hợp chất sunfit, NaS2: sinh ra từ ngành công nghiệp hoá chất cơ bản Chất xúc tác công nghiệp, các chất lấy ra từ bùn công nghiệp…
+ Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng (sản xuất xi măng, bê tông thương phẩm, bê tông nhựa nóng, )
+ Ngành công nghiệp chế biến sơn: chứa dung môi hữu cơ (mạch vòng
có benzen)
+ Ngành sản xuất và gia công kim loại: lò luyện gang, thép, tái chế kim loại đồng, chì… chất thải là các loại khí trong quá trình đốt như dioxin, furan, PCB Chất thải xi mạ như kim loại nặng, axít bazơ mạnh…
+ Ngành gia công trên bề mặt kim loại: nhớt, mỡ
+ Ngành công nghiệp giấy: dung môi hữu cơ chứa Clo như CH3Cl,
CH2Cl2…; chất thải ăn mòn: axít vô cơ, sơn phế thải (tạo màu cho giấy)… Theo các số liệu điều tra gần đây hàng năm lượng chất nguy hại thải phát sinh tính theo ngành và chủng loại tại khu vực TP Hồ Chí Minh như sau:
Trang 20+ Ngành sản xuất và bảo trì phương tiện giao thông: khoảng 20 000 tấn/năm: chủ yếu các vật dụng như bao bì, dẻ lau
+ Ngành công nghiệp giày da: dầu nhớt, phế thải xấp xỉ 20 000 tấn/năm + Ngành sản xuất các loại hoá chất bảo vệ thực vật: gần 10 000 tấn/năm + Ngành công nghiệp thuộc da: các chất thải có nguồn gốc hữu cơ động vật, các hoá chất sử dụng trong sản xuất
+ Ngành công nghiệp dầu khí: 6000 tấn/năm chủ yếu là các loại thùng kim loại
+ Ngành công nghiệp giấy 1000 tấn/ năm
+ Ngành công nghiệp điện tử: tồn tại trong các thiết bị
+ Ngành công nghiệp sản xuất thép: trong các xưởng kim loại chủ yếu là các loại thép vô cơ
+ Ngành công nghiệp xi mạ Ngành công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng 2.1.2.2 Phân loạ chất thả nguy hạ
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách phân loại chất thải nguy hại: Theo tính chất, nguồn gốc, cách quản lý, mức độc … Có thể nêu một số cách như sau:
Có một số cách phân loại CTNH như sau:
* Phân loại chất thải nguy hại theo hình thức tác động
- Loại 1: Các chất nổ
- Loại 2: Các dung dịch có khả năng cháy
- Loại 3: Các chất độc (nguy hiểm)
- Loại 4: Các chất ăn mòn
* Phân loại CTNH theo trạng thái vật lý
CTNH theo trạng thái vật lý như: CTNH dạng rắn, bùn, lỏng, khí
* Phân loại CTNH theo liều lượng tác động
Các nhà chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên
cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc
tố tới cơ thể qua miệng và qua da
* Phân loại chất thải nguy hại theo đường xâm nhập kết hợp với lượng tác động
Trang 21Chất độc xâm nhập vào cơ thể qua các con đường khác nhau, mức độ gây độc theo các con đường xâm nhập cũng không giống nhau Để xác định mức độ gây độc theo các con đường xâm nhập khác nhau vào cơ thể động vật và con người thường sử dụng đến chỉ số LD50
Bảng 2.1 Phân loại độc tính (LD50mg/kg, chuột nhà)
Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1993)
Ghi chú: LD50 là ký hiệu chỉ độ độc cấp tính của thuốc qua đường miệng hoặc qua da Đó là lượng độc chất gây chết 50% động vật thí nghiệm (tính bằng kg) LD50 càng nhỏ thì hoá chất đó càng độc
* Phân loại CTNH theo môi trường chất độc tồn tại
Các chất độc hóa học làm ô nhiễm nước tự nhiên và nước thải bao gồm những chất độc tồn tại ngay trong các vật liệu, chất thải sử dụng hoặc tiếp xúc, thải ra trong quá tŕnh sản xuất làm ô nhiễm nguồn nước tự nhiên và nước thải Đất là nơi tiếp nhận chất thải từ các nguồn khác nhau (sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và giao thông vận tải) Nitrat khí quyển cũng được lắng đọng trên mặt đất theo chu trình của Nitơ Dọc các xa lộ, lượng xe cơ giới chạy bằng xăng để lại hai bên đường bụi chì và đất đai sẽ có hàm lượng chì ngày càng cao Các chất thải rắn công nghiệp gây ô nhiễm lớn cho đất Đặc biệt nghiêm trọng là các CTNH làm ô nhiễm đất bởi các hoá chất và kim loại nặng (Cu, Zn,
Pb, As, Hg, Cr,Cd) Các nhà máy xả vào khí quyển rất nhiều khí độc như H2S,
CO2, CO, NOX Đó là nguyên nhân gây ra mưa axit, làm chua đất, phá hoại sự phát triển của thảm thực vật Hàng ngày, con người và động vật thải ra một khối lượng rất lớn các chất phế thải vào môi trường đất Đó là rác, phân, xác động vật
và các chất thải khác
Trang 22Các chất hoá học làm thay đổi tính chất và thành phần của đất, có khi làm chua đất, làm cứng đất, làm thay đổi cân bằng các chất dinh dưỡng giữa cây trồng và đất Nguồn ô nhiễm đất bởi chất phóng xạ là những phế thải của các cơ
sở khai thác các chất phóng xạ, các cơ sở sử dụng đồng vị phóng xạ trong nông nghiệp, trung tâm nghiên cứu nguyên tử, các nhà máy điện nguyên tử, các vụ thử hạt nhân, công nghiệp và y tế (sử dụng các đồng vị phóng xạ để chữa bệnh và nghiên cứu khoa học) Bên cạnh lợi ích rất to lớn thì phóng xạ đã gây cho con người nhiều hiểm hoạ
* Phân loại theo đặc tính của chất thải
Theo TCVN 6706: 2000 chia CTNH thành 7 nhóm ở bảng 1.2
Bảng 2.2 Phân loại chất thải nguy hại theo đặc tính
STT Loại chất thải
Mã số TCVN 6706-2000
Mô tả tính nguy hại
áp suất khí quyển
Chất thải có thể tự
Chất thải có khả năng tự bốc cháy do
tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên
do tiếp xúc với không khí và có khả năng bốc cháy
4.1 Chất thải có chứa clorat,
pecmanganat, peoxit vô cơ…
Trang 23STT Loại chất thải
Mã số TCVN 6706-2000
Mô tả tính nguy hại hoá
Chất thải chứa
Chất thải hữu cơ chứa cấu trúc phân
tử -0-0- không bền với nhiệt nên có thể bị phân huỷ và tạo nhiệt nhanh
Chất thải có chứa chất độc có thể gây
tử vong hoặc tổn thương trầm trọng khi tiếp xúc
* Phân loại theo ngành sản xuất có phát sinh chất thải
Nguồn: Thoe TCVN 6706: 2000 về chất thải nguy hại - Phân loại
Nguồn chất thải từ sản xuất công nghiệp: Các ngành công nghiệp phát sinh CTNH + Sản xuất hóa chất
Trang 24+ Kim loại màu
* Phân loại theo đặc điểm chất thải nguy hại
- Phân loại dựa vào dạng hoặc pha phân bố (rắn, khí, lỏng)
- Chất vô cơ hay chất hữu cơ
- Loại chất hoặc nhóm (dung môi hay kim loại nặng )
2.1.3 Tác động của chất thảı nguy hạı
2.1.3.1 Những tác động tích cực
Những năm qua, các KCN đã có tác động tích cực đối với vấn đề sử dụng, giải quyết việc làm, làm gia tăng phúc lợi cho người lao động Qua hơn 20 năm phát triển, đến nay đã có 283 KCN được thành lập trên cả nước Các KCN đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước KCN ra đời tạo nên mảnh đất thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp trong và ngoài nước có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất Hiện nay, đã có hơn 3.000 dự án đang sản xuất kinh doanh và 450 dự án đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản Về tình hình đầu tư trong nước, các KCN cả nước đã thu hút được 4.456 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 360.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 176.000 tỷ đồng, xấp xỉ 50% tổng vốn đăng ký Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế: các KCN, CCN đều đã đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa đất nước Mặt khác, sự ra đời của KCN còn tác động mạnh mẽ tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp
KCN góp phần quan trọng giải quyết việc làm, là nơi thu hút không ít lao động địa phương Tính bình quân 1ha đất nông nghiệp đã cho thuê thu hút trên
70 lao động trực tiếp (trong khi đó 1ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được từ 10 -
12 lao động) Đến thời điểm 31/12/2008, các KCN đã thu hút trên 1,17 triệu lao động trực tiếp Chất lượng, trình độ đội ngũ lao động tăng lên Thống kê cho thấy
Trang 25phần lớn lao động làm việc trong các KCN là lao động trẻ, có khả năng tiếp thu
kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, phương thức tổ chức và quản lý sản xuất tiên tiến, hiện đại Các KCN phát triển, kéo theo tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra khá nhanh, cùng với cơ sở hạ tầng được nâng cấp mọi mặt Như vậy, các KCN với vai trò, tiềm năng, sức hút đầu tư, đã thực sự có những đóng góp không nhỏ trong phát triển KT-XH
Hoạt động của các KCN, CCN đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và lao động địa phương nói riêng, đồng thời đã thay đổi đời sống nhân dân các vùng lân cận Cùng với sự hình thành và phát triển các KCN, số lượng việc làm được giải quyết qua các năm tăng đáng kể Bảng 2.3 Tình hình sử dụng lao động và thu nhập bình quân tại các KCN
Nguồn: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang (2016)
Ngoài việc tăng thu nhập từ nguồn lao động trực tiếp làm việc cho các doanh nghiệp trong KCN, việc phát triển KCN cũng góp phần làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình vùng lân cận KCN từ hoạt động cung cấp dịch vụ về nhà ở và các dịch vụ gián tiếp khác
Thực hiện chính sách đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, trong những năm qua thế, lực của đất nước ngày càng lớn mạnh, nguồn lực đầu
tư cho phát triển được tăng cường Việc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho đất nước; các dự án đầu tư với
sự đa dạng về hình thức, lĩnh vực đầu tư, quy mô trên khắp các tỉnh, thành phố trên
cả nước của các nhà đầu tư trong và ngoài nước ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm ban hành và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững đất nước
Trang 26Tuy nhiên, việc thu hút, triển khai các dự án đầu tư trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Tình trạng thu hút đầu tư ồ ạt vẫn diễn ra ở một số nơi; công tác bảo vệ môi trường chưa được xem trọng một cách toàn diện và chưa thực sự trở thành một trong ba trụ cột phát triển bền vững của đất nước Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ngày càng nghiêm trọng; việc xả thải trực tiếp các chất thải độc hại, chất thải có khả năng gây ô nhiễm ra sông hồ, biển của các cơ sở sản xuất, kinh doanh có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người dân, gây bức xúc trong xã hội
2.1.3.2 Tác hại của CTNH đối với sức khỏe
Việc thải các chất thải nguy hại không được xử lý, thất thoát dầu, các hoá chất khác do sự cố vào các con sông và hệ thống cung cấp nước ngầm đã làm bẩn các nguồn nước uống cũng như làm chết cá, sinh vật đáy vốn được nhân dân địa phương đánh bắt sử dụng Một số vấn đề sức khoẻ liên quan đến những tác động đó được hiểu như là kết quả của một số sự cố ô nhiễm môi trường, việc di chuyển dư lượng thuốc trừ sâu không được kiểm soát Rủi ro tăng dịch bệnh do ngộ độc kim loại và ung thư do nhiễm các chất gây ung thư vẩn đang tồn tại Tình trạng tăng bệnh ung thư, tim, nhiễm trùng hệ hô hấp và tiên hoá, viêm da cũng có thể tăng
Bệnh minamata ở Nhật Bản: Căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm
1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso (Một công ty sản xuất hóa chất) gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết sau một tháng bị mắc bệnh Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới
17 ngàn người Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận 10.625 người sau khi được chứng nhận
là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay
Trang 272.1.3.3 Sự tồn lưu tác nhân gây ô nhiễm môi trường
Những vấn đề gây tác động môi trường cơ bản liên quan đến việc chôn lấp các CTNH không đúng qui cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm Ở Việt Nam những nguồn này hay được dùng làm nguồn nước uống, sinh hoạt gia đình, phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Bất cứ sự ô nhiễm nào đối với các nguồn nước này đều có thể gây tiềm tàng
về sức khoẻ đối với nhân dân địa phương hay gây ra các tác động môi trường nghiêm trọng Có ít những tài liệu về những tai nạn do ô nhiễm gây ra do việc thực hiện tiêu huỷ chất thải nguy hại không hợp cách, và có không nhiều kết quả quan trắc để đánh giá tác động thực tế
Những chuyến khảo sát, điều tra về CTNH, xem xét những tài liệu đã công
bố và thảo luận với những cơ quan nhà nước khác nhau đã cho thấy ở Việt Nam đang có nhiều mối quan tâm về ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do công nghiệp Khó có thể phân lập chất thải nguy hại đã làm trầm trọng hơn vấn đề quản lý chất thải rắn và nước thải vốn đã khá trầm trọng và cũng làm cho việc quản lý chất thải rắn khó khăn hơn do thiếu những hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị, mà riêng việc này cũng đã làm cho vấn đề ô nhiễm nước mặt và nước ngầm gia tăng Lĩnh vực quan tâm chính về chôn lấp chất thải nguy hại liên quan đến những vấn đề sau:
- Ô nhiễm nước ngầm do lâu dài không được kiểm soát, chôn lấp tại chỗ, chôn lấp ở nơi chôn rác không có kĩ thuật, hoặc dùng để lấp các bãi đất trũng
- Khả năng ô nhiễm nước mặt do việc thải các chất lỏng độc hại không được
xử lý đầy đủ, hoặc do hậu quả của việc làm vệ sinh công nghiệp kém, hay do việc thải vào không khí những hoá chất độc hại từ quá trình đốt, cháy các vật liệu nguy hại
- Bản chất ăn mòn tiềm tàng của các hoá chất độc hại có thể phá huỷ hệ thống cống cũng như làm ngộ độc môi trường tự nhiên
2.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình ngh ên cứu về quản lý chất thả nguy hạ trên thế g ớ
Nhằm hạn chế sự phát sinh và kiểm soát các nguồn thải, giảm thiểu tới mức tối đa có thể tác động đến môi trường; các quốc gia đều đưa ra các quy định
Trang 28pháp luật cụ thể về công tác quản lý chất thải nguy hại để ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa các tác hại của chất thải nguy hại
Trên thế giới, các nước tiên tiến đã có hệ thống thông tin quản lý hoá chất hoàn chỉnh Hệ thống quản lý hoá chất( REACH) của châu Âu có hiệu lực từ ngày 1/6/2007 REACH cung cấp thông tin miễn phí về mọi hoạt động hoá chất với nhiều thứ tiếng sử dụng trong cộng đồng Châu Âu: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Ý,…
Bảng 2.4 Lượng CTNH và cách thức xử lý của một số nước trên thế giới
Tổng số CTNH ( Tấn)
Lượng lưu kho thường xuyên (%)
Đốt (%)
Tái chế (%)
Đốt tại nhà máy
Nguồn: European Union Council Directive (EUCD), (2011)
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Thổ Nhĩ Kỳ
Lượng phát sinh chất thải hàng năm của ngành công nghiệp sản xuất ở Thổ Nhĩ kỳ là 11,9 triệu tấn và nó tăng lên 17,49 triệu tấn vào năm 2004 Trong đó ngành công nghiệp luyện kim chiếm nhiều nhất 44% Ngành Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá 25% Ngành hóa chất, than đá, cao su và các sản phẩm nhựa chiếm 12% Còn lại là các ngành khác Từ năm 2000 đến năm 2004 tại Thổ Nhĩ
Kỳ có 3,6 triệu tấn chất thải nguy hại được tạo ra nhưng chỉ có khoảng 400.000
Trang 29tấn (chiếm 11%) được tái chế còn lại là xử lý bằng phương pháp khác (lưu kho, thải bừa bãi, chôn lấp, ném xuống biển hoặc sông,…) Theo thông tin của Viện Khảo sát phát triển Công nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ thì tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh năm 2004 khoảng 1,2 triệu tấn (370 cơ sở) Tuy nhiên đây chỉ là số liệu không hoàn toàn chính xác bởi vì nó chỉ dựa trên khảo sát của 1 phần các tỉnh và các ngành công nghiệp tạo ra chất thải Thực tế lượng chất thải nguy hại có thể cao hơn rất nhiều
Bảng 2.5 Các phương pháp xử lý CTNH ở Thổ Nhĩ Kỳ
Lượng CTNH tạo ra
Tái chế Xử lý Chôn lấp Đốt
Sử dụng làm phân bón
Các biện pháp khác Loại chất
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Pháp
Ở Pháp, văn bản quy định đầu tiên về những cơ sở sản xuất bị đưa vào danh sách xếp hạng gây ô nhiễm môi trường là một sắc lệnh Napoléon ký năm 1810,
và từ năm 1917 trở đi văn bản này được liên tục sửa đổi, bổ sung Cũng chính tại Luật này đã đưa ra những công cụ và cơ chế để quản lý những loại hình rác thải đặc biệt (hay còn gọi là chất thải nguy hại) Ngày 02/02/1995, Pháp lại có thêm một bộ luật mới là Bộ luật về tăng cường bảo vệ môi trường đã thiết lập thêm phụ phí đối với việc xử lý chất thải nguy hại, tương đương 40F (frăng Pháp)/1 tấn chất thải được loại bỏ để lại trong một cơ sở xử lý, và sẽ được tăng gấp đôi nếu tấn chất thải đó được tích trong một bãi thải đặc biệt “Phụ phí này do Cục
Trang 30Môi trường và quản lý năng lượng thu lại và trong vài năm tới sẽ tăng gấp đôi Năm 2011, ở Pháp phát thải 446 triệu tấn chất thải Trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 13 triệu tấn Tổng lượng CTNH của các ngành công nghiệp, xây dựng và công trình công cộng chiếm 2/3 số lượng chất thải Một nửa số chất thải này được thu hồi tái chế hoặc đốt thu hồi năng lượng” (European Commission (EC), 2015)
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Đức
Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thải nguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy định về hành chính… với nội dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước… về thu thập, vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn Đó là những biện pháp xử lý bằng pháp luật rất nghiêm các trường hợp làm phát sinh các chất thải nguy hại mà chưa xử lý hoặc quá giới hạn cho phép,
có thể áp dụng biện pháp phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động của nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất đã vi phạm pháp luật, bắt bồi thường thiệt hại gây ra hoặc truy tố trước pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà liên bang Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy hại Thêm vào đó, Nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức được tác hại nguy hiểm của loại chất thải này và chính nhân dân sẽ là người giúp cho các cơ quan nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại và nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết (European Commission (EC), (2015))
2.2.2 Tình hình ngh ên cứu về quản lý chất thả nguy hạ ở V ệt Nam
Các KCN, KCX, KKT được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc quy hoạch các vùng tập trung phát triển công nghiệp, vùng lãnh thổ kinh tế gắn với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá trong phát triển công nghiệp, phát triển vùng phục vụ mục tiêu
Trang 31đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
Từ ngày 24/9/1991, thành lập khu chế xuất đầu tiên với quy mô 300 ha đất tại xã Tân Thuận Đông, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh đã được Ủy ban hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư) do Chính phủ ủy nhiệm cấp giấy phép
Qua 20 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT đã đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Các KCN, KCX được hình thành và phát triển theo một quy hoạch thống nhất của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tính đến cuối tháng 5/2017, cả nước đã có 325 khu công nghiệp và 16 Khu kinh tế KCN, KKT đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Các KCN, KKT đã thu hút được 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đầu tư đăng ký Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, KKT chiếm từ 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KKT chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước
KCN, KKT đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước Các KCN, KKT có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng CNH, HĐH, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động
Trong quá trình xây dựng và phát triển KCN, KKT, có thể nói những thành tựu, đóng góp của các KCN, KKT vào phát triển kinh tế đất nước là cơ bản, nổi bật Tuy nhiên các KCN, KKT vẫn còn những hạn chế, khó khăn Chất lượng công tác quy hoạch KCN và triển khai thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt còn chưa chưa tốt, chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa tính tới yếu tố liên kết vùng và ngành, đáp ứng kịp yêu cầu phát triển Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Công tác bảo vệ môi trường KCN còn bất cập Vấn đề lao động, việc làm, đời sống công
Trang 32nhân trong KCN, KKT còn nhiều khó khăn, cơ chế, chính sách đối với KCN, KKT vẫn còn nhiều điểm vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện
* Tình hình quản lý CTNH tại Việt Nam
- Khung thể chế trong việc quản lý CTNH tại Việt Nam:
+ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về BVMT trong đó có trách nhiệm quản lý chất thải rắn và CTNH thống nhất từ Trung ương đến địa phương
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường: Theo Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, Bộ TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BVMT trong đó
có lĩnh vực quản lý CTNH, gồm các nhiệm vụ cụ thể như sau: trình Chính phủ
dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm, các dự án, đề án theo phân công của Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các chương trình, dự án quốc gia, các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư, xây dựng, công bố các tiêu chuẩn cơ sở hoặc trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố các tiêu chuẩn quốc gia; chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông tin truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra vuệc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải; hướng dẫn, kiểm tra việc thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá và thẩm định thiết bị, công trình xử lý nước thải trước khi đưa vào hoạt động; cấp giấy phép về môi trường
+ Các Bộ khác cũng được giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT trong lĩnh vực ngành
Bộ NN&PTNT chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với chất thải nông nghiệp
Bộ Công thương chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật
Trang 33về BVMT các các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với lĩnh vực công nghiệp, trong đó có chất thải công nghiệp; tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu chất thải
Bộ Xây dựng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng xử lý chất thải rắn
Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý chất thải y tế
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm huy động lực lượng ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác BVMT, trong đó có quản lý chất thải; trong lực lượng thuộc thẩm quyền quản lý Cục Cảnh sát môi trường được thành lập để giúp Tổng cục Cảnh sát thống nhất quản lý, tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng cảnh sát môi trường trong cả nước thực hiện các chủ trương, kế hoạch, biện pháp về BVMT; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường, trong đó
Tương tự như các bộ, ngành khác, các Sở NN&PTNT, Y tế, Xây dựng, Công thương, Công an tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT, trong đó có quản lý chất thải thuộc lĩnh vực ngành tại địa phương
* Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý CTNH ở Việt Nam:
- Chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp khẩn cấp để quản lý chất thải rắn ở vùng đô thị và khu công nghiệp 1997;
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại;
Trang 34- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/06/2014;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định
về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT;
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Quản lý chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn tới năm 2050;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn ở khu công nghiệp và đô thị tới năm 2020
- TCVN 6706:2000 Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải nguy hại - phân loại;
- TCXDVN 320:2004 Tiêu chuẩn thiết kế - Bãi chôn lấp chất thải nguy hại;
- TCVN 7629:2007 Tiêu chuẩn Việt Nam về ngưỡng chất thải nguy hại;
- TCVN 6707:2009 Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo;
- QCVN 07: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại
* Quy định về trách nhiệm của chủ nguồn thải
Việc quản lý CTNH trên cơ sở quy định trách nhiệm của cơ sở phát thải sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, nội dung này được quy định tại Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có nhiều vấn đề bất cập, gây khó khăn cho các cơ
sở và công tác quản lý Do đó đã được thay thế bởi Thông tư số BTNMT ngày 30/6/2015
36/2015/TT-Theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT nêu trên, tại Điều 7 Yêu cầu kỹ
Trang 35thuật, quy trình quản lý đối với chủ nguồn thải CTNH thải như sau:
1 Chủ nguồn thải CTNH thực hiện các trách nhiệm theo quy định tại Điều
7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP với các yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý quy định từ Khoản 2 đến Khoản 9 Điều này
2 Bố trí khu vực lưu giữ CTNH; lưu giữ CTNH trong các bao bì hoặc thiết
bị lưu chứa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý theo quy định tại Phụ lục
2 (A) ban hành kèm theo Thông tư này
3 Yêu cầu khi chuyển giao CTNH:
a) Chỉ ký hợp đồng chuyển giao CTNH với các tổ chức, cá nhân có Giấy phép xử lý CTNH hoặc Giấy phép quản lý CTNH phù hợp;
b) Khi có nhu cầu xuất khẩu CTNH để xử lý ở nước ngoài, chủ nguồn thải CTNH phải tuân thủ Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các CTNH và việc tiêu hủy chúng (sau đây gọi tắt là Công ước Basel) theo quy định tại Điều 23 Thông tư này
4 Sử dụng chứng từ CTNH mỗi lần chuyển giao CTNH theo quy định tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này, trừ các trường hợp sau:
a) Tự tái sử dụng, sơ chế, tái chế, xử lý, đồng xử lý, thu hồi năng lượng từ CTNH trong khuôn viên cơ sở;
b) Trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 24 Thông tư này
5 Sau thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày chuyển giao CTNH, nếu không nhận được hai liên cuối cùng của chứng từ CTNH mà không có lý do hợp lý bằng văn bản từ phía tổ chức, cá nhân tiếp nhận CTNH thì chủ nguồn thải CTNH báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Tổng cục Môi trường để kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật
6 Lập và nộp các báo cáo:
a) Báo cáo quản lý CTNH định kỳ hàng năm (kỳ báo cáo tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12) theo mẫu quy định tại Phụ lục 4 (A) ban hành kèm theo Thông tư này và nộp Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 31 tháng
01 của năm tiếp theo Trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 12 Thông
tư này, chủ nguồn thải CTNH chỉ báo cáo một lần trong thời hạn 01 (một) tháng
kể từ ngày chấm dứt hoạt động;
b) Báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 367 Lưu trữ với thời hạn 05 (năm) năm tất cả các liên chứng từ CTNH đã sử dụng, báo cáo quản lý CTNH và các hồ sơ, tài liệu liên quan để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu
8 Áp dụng đồng thời việc kê khai chứng từ CTNH và báo cáo quản lý CTNH trực tuyến trên hệ thống thông tin của Tổng cục Môi trường hoặc thông qua thư điện tử khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền
9 Trường hợp tự tái sử dụng, sơ chế, tái chế, xử lý, đồng xử lý, thu hồi năng lượng từ CTNH thì phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý quy định tại Phụ lục 2 (A) ban hành kèm theo Thông tư này và đăng ký trong Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH
* Thực trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải công nghiệp nguy hại các KCN tại Việt Nam
- Phát sinh CTNH
Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, CTNH chiếm khoảng 15%-20% lượng CTR công nghiệp Đây là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngoại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng CTNH phát sinh từ các KCN của KCN phía Nam khoản 82.000-134.000 tấn/năm, cao hơn các khu vực khác (gấp 03 lần miền Bắc và khoảng
20 lần miền Trung) Gần một nửa số lượng chất thải công nghiệp phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là tại thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương Thực tế lượng phát sinh CTNH này có thể lớn hơn, do chưa được quản lý đúng cạch và thống kê đầy
đủ, nhiều loại CTNH được thu gom cùng với rác thải sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng
Chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh chủ yếu tại các KCN Các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm ngoài KCN cũng là nguồn phát sinh CTNH không nhỏ Nhìn chung các có sở sản xuất nằm tập trung ở những tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội,
TP, Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương Các cơ sở sản xuất này với quy mô khác nhau, hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất khác nhau như: thực phẩm, mỹ phẩm, sản xuất hóa chất, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc BVMT, sản xuất các mặt hàng điện tử, may mặc, giày da, chế biến gỗ, cơ khí đã tạo ra một lượng CTR công nghiệp nói chung và CTNH nói riêng khá lớn Việc quản lý các nguồn thải này cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các KCN
Trang 37Bảng 2.6 Chất thải nguy phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2015
Đơn vị tính: tấn/ngày
Loại đô thị Tỉnh/thành phố CTR công nghiệp
không nguy hại
CTR công nghiệp nguy hại
Trang 38Việc thống kê phát thải CTNH từ các hoạt động sản xuất công nghiệp hiện nay chủ yếu dựa vào việc đăng ký chủ nguồn thải CTNH, tỷ lệ các cơ sở đăng ký chủ nguồn thải CTNH còn thấp, đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ
và hộ gia đình, nhất là tại các làng nghề Do đó, trên thực tế tổng lượng CTNH phát sinh lớn gấp nhiều lần so với con số thống kê
Mức độ phát sinh CTNH công nghiệp trong các KCN tùy thuộc vào loại hình sản xuất chủ yếu
Theo số liệu tổng hợp báo cáo tình hình phát sinh chất thải nguy hại của
182 chủ nguồn thải chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì trong năm
2017 đã phát sinh nhiều loại chất thải nguy hại khác nhau với thải lượng khoảng: 5.475.452 kg
- Thu gom, vận chuyển chất thải công nghiệp nguy hại
Việc thu gom CTR công nghiệp và CTNH chủ yếu do các Công ty môi trường đô thị cấp tỉnh thực hiện Lượng CTNH còn lại do các công ty/doanh nghiệp tư nhân được cấp phép đảm trách việc thu gom, vận chuyển Trên địa bàn thành phố Hà Nội, tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh tại các KCN khoảng
750 tấn/ngày, nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 637-675 tấn/ngày Trong đó, CTNH khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-15%), thu gom được khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm khoảng 60-70%) Tại khu vực phía Nam, số lượng doanh nghiệp hoạt động và được cấp phép trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển CTR công nghiệp nguy hại nhiều hơn và tỷ lệ thu gom cao hơn Trong tổng số 23 công ty được Bộ TN&MT cấp phép tại thành phố Hồ Chí Minh có 16 công ty hành nghề vận chuyển CTNH và 20 công ty hành nghề xử lý CTNH Hiện chưa có số liệu đầy đủ về tỷ lệ thu gom CTNH công nghiệp ở từng thành phố của Việt Nam Tỷ
lệ thu gom tại các KCN tương đối cao hơn so với bên ngoài KCN
Trên địa bàn tỉnh có 01 đơn vị (Công ty cổ phần xử lý, tái chế chất thải công nghiệp Hoà Bình có Cơ sở xử lý chất thải nguy hại tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng) được Tổng cục Môi trường cấp Giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại mã số 1-2-3-4-5-6.014.VX ngày 03/8/2017 Năm 2017, Công ty đã tiếp nhận xử lý chất thải nguy hại của 414 chủ nguồn thải với tổng khối lượng chất thải nguy hại là 43.250.713,55 kg; tiếp nhận xử lý 30.572,3 kg chất thải nguy hại do chủ hành nghề QLCTNH khác (Công ty cổ phần tập đoàn thành công); chuyển giao 11.079.572 kg chất thải nguy hại cho Công ty cổ phần tập
Trang 39đoàn Thành Công và 5.486 kg cho Công ty TNHH Ngọc Thiên xử lý, còn lại do Công ty tự xử lý
- Xử lý và tiêu hủy chất thải công nghiệp nguy hại
Theo Quy hoạch các khu xử lý CTR công nghiệp liên vùng, liên tỉnh, đến năm 2020, 04 vùng KTTĐ đều sẽ xây dựng khu xử lý CTR công nghiệp và CTNH Đó là các khu xử lý Nam Sơn, Sơn Dương ở vùng KTTĐ Bắc Bộ; Hương Văn, Bình Nguyên, Cát Nhơn ở vùng KTTĐ miền Trung; Tân Thành, khu xử lý CTR công nghiệp nguy hại Tây Bắc Củ Chi ở vùng KTTĐ phía Nam; khu xử lý CTR công nghiệp và CTNH vùng liên tỉnh ở vùng KTTĐ vùng ĐBSCL Cho đến nay, các khu xử lý CTR công nghiệp liên tỉnh, liên vùng này hầu như chưa được hình thành Số lượng các đơn vị hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH được Bộ TN&MT cấp phép gia tăng hàng năm Tính đến tháng 6 năm 2013, Bộ TN&MT đã cấp 80 Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề xử lý CTNH cho các cá nhân, tổ chức đăng ký Các doanh nghiệp này được Bộ TN&MT hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Hầu hết các doanh nghiệp thu gom và xử lý CTR công nghiệp nguy hại đều tập trung ở phía Nam
Công nghệ xử lý CTNH ở Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi có sự ra đời của Luật BVMT năm 2014 và các văn bản dưới luật đã có những bước tiến triển đáng kể Hầu hết các cơ sở xử lý chất thải công nghiệp đều có quy mô nhỏ và sử dụng lò đốt theo mẻ Nhà máy xử lý chất thải tại Đại Đồng (Công ty URENCO Hà Nội) đã đầu tư xây dựng 01 lò đốt rác với công suất 20 tấn/ngày; nhà máy xử lý chất thải công nghiệp tại thôn Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với công suất 100 tấn/ngày với các phương tiện, thiết bị hiện đại của Công ty cổ phần môi trường Thuận Thành
đã thực hiện việc thu gom và xử lý chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại cho một số doanh nghiệp lớn như: Công ty TNHH Sam Sung Electronics Viêt Nam, Công ty TNHH Wintek Việt Nam, Công ty TNHH Piaggio Việt Nam
là một trong những công trình xử lý chất thải công nghiệp lớn nhất tại vùng KTTĐ phía Bắc
Nhìn chung, công nghệ xử lý chưa thực sự hiện đại, sử dụng công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH ở Việt Nam
Trang 402.3 TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT SİNH CHẤT THẢİ NGUY HẠİ TỪ HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHİỆP TRÊN ĐỊA BÀN Tİ̉NH BẮC GIANG
2.3.1 Thực trạng phát tr ển của các khu công ngh ệp
Sau khi Quy chế KCN được ban hành kèm theo Nghị định số 332/HĐBT ngày 18/10/1991, tiếp theo ngày 28/12/1994, Chính phủ đã ra nghị định số 192/CP ban hành Quy chế KCN và ngày 24/4/1997 ra Nghị định 36/CP ban hành Quy chế KCN, KCX, KCNC thay thế 02 nghị định trên thành lập KCN để làm thí điểm cho một mô hình kinh tế nhằm thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa theo hướng CNH, HĐH theo đường lối của Đảng do Nghị quyết Đại hội lần thứ
VI đề ra và phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh Bắc Giang
Nhờ có Quy chế trên, từ năm 1992, đặc biệt từ khi tách tỉnh Hà Bắc thành
02 tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh đến nay, cả tỉnh đã có 06 KCN được thành lập, trong đó 04 KCN đang hoạt động là: Đình Trám, Quang Châu, Song Khê - Nội Hoàng và Vân Trung; 01 KCN Châu Minh - Mai Đình đang trong quá trình thực hiện các thủ tục pháp lý để thực hiện dự án, còn 01 KCN Việt Hàn đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư
- KCN Đình Trám: Phần diện tích 95 ha thuộc KCN Đình Trám cũ đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật và đi vào vận hành đáp ứng được yêu cầu của các dự án thứ cấp trong KCN, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất
là 2.000m3/ngày đêm đã đưa vào hoạt động phục vụ việc xử lý nước thải cho các doanh nghiệp trong KCN Phần cụm công nghiệp Đồng Vàng mới sáp nhập với diện tích 17 ha đã xây dựng và hoạt động sản xuất trên diện tích 10 ha, diện tích còn lại khoảng 07 ha từ năm 2006 chưa triển khai và diện tích 12 ha, Công ty TNHH Fuhong Precision đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng và hoạt động sản xuất
- KCN Song Khê - Nội Hoàng: Khu vực phía Bắc diện tích 90,6 ha do Công
ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp tỉnh làm chủ đầu tư (trước đây là Công ty
cổ phần đầu tư kinh doanh nhà Hoàng Hải) và khu phía Nam với diện tích 68,1
ha do Công ty cổ phần phát triển Fuji Bắc Giang làm chủ đầu tư
- KCN Quang Châu với diện tích 426 ha do Công ty cổ phần KCN Sài Gòn
- Bắc Giang làm chủ đầu tư, hiện tại KCN đã thu hút 21 dự án đầu tư tại KCN, trong đó 18 dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài, 03 dự án trong nước với các loại