- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân thì công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập như: có những vụ việc giải quyết c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CAO THỊ THU THỦY
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Dung
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ được hoàn thành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới đến Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Quản lý đất đai và đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Văn Dung đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề
tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm Thành phố Hà Nội ”.1
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Quản lý đất đai cho bản thân tác giả trong nhưng năm tháng qua
Xin gửi tới Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Gia Lâm, phòng Thanh tra huyện Gia Lâm, Ban tiếp công dân huyện Gia Lâm lời cảm ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp
Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Quản lý đất đai Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa 3
1.5 Thời gian thực hiện đề tài 3
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
2.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo về đất đai 4
2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 4
2.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 6
2.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và nội dung khiếu nại, tố cáo 7
2.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới 12
2.2.1 Mỹ 12
2.2.2 Trung Quốc 13
2.2.3 Pháp và Đức 13
2.2.4 Thụy Điển 14
2.2.5 Đài Loan 14
2.3 Cơ sở thực tiễn và tính pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 14
2.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo 14
2.3.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai 16
Trang 52.3.3 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện
nay 20
2.3.4 Khái quát thực trạng tình hình khiếu nại tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay 23
2.4 Một số nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 29
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm 32
3.2.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội từ 01/01/2011 đến 31/12/2015 32
3.2.3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 33
3.3.3 Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia 33
3.3.4 Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu 34
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 35
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Gia Lâm 35
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
4.1.2 Các nguồn tài nguyên 36
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 37
4.2.1 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: 38
4.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai 40
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Gia Lâm 40
4.3.2 Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm 41
4.4 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm từ 2011-2015 46
4.4.1 Nhân lực 46
4.4.2 Công tác tiếp dân và tiếp nhận đơn 48
4.5 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm từ 2011-2015 59
4.5.1 Kết quả giải quyết khiếu nại 59
Trang 64.5.2 Kết quả giải quyết tố cáo 73
4.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 79
4.6.1 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo 79
4.6.2 Đầu tư kinh phí và khoa học công nghệ trong giải quyết khiếu nại tố cáo 80
4.6.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 80
4.6.4 Tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan 81
4.6.5 Một số giải pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo 81
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 85
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 92
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam GPMB Giải phóng mặt bằng
TCD Tiếp công dân
UBND Uỷ ban nhân dân
VPPL Vi phạm pháp luật
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo 18
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Gia Lâm năm 2015 40
Bảng 4.2 Thực trạng cán bộ liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Gia Lâm năm 2015 46
Bảng 4.3 Tình hình tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 2011 -2015 52
Bảng 4.4 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Gia Lâm 2011 - 2015 55
Bảng 4.5 Kết quả giải quyết Đơn KN trong lĩnh vực đất đai 2011- 2015 59
Bảng 4.6 Tổng hợp đơn khiếu nại liên quan đến phiếu điều tra 62
Bảng 4.7 Tổng hợp ý kiến liên quan đến phiếu điều tra đơn khiếu nại 63
Bảng 4.8 Kết quả giải quyết Đơn TC trong lĩnh vực đất đai 2011 - 2015 73
Bảng 4.9 Tổng hợp đơn tố cáo liên quan đến phiếu điều tra 75
Bảng 4.10 Tổng hợp ý kiến liên quan đến phiếu điều tra đơn tố cáo 76
DANH MỤC HÌNH Hình 4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Gia Lâm năm 2015 38
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Cao Thị Thu Thủy
Tên luận văn: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 60 85 01 03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên
địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại
tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: các số liệu thứ cấp được thu
thập tại các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ có liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: điều tra 123 công dân, cán bộ công chức
là người có đơn, bị đơn hoặc có liên quan đến các vụ khiếu nại tố cáo về đất đai được điều tra, cán bộ công chức được giao giải quyết các cụ khiếu nại tố cáo về đất đai trên
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia: tham vấn ý kiến để phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Phương pháp phân tích ,thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu: thống kê kết quả tiếp công dân, kết quả xử lý đơn thư, kết quả điều tra, kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo
Kết quả chính và kết luận
- Gia Lâm là một huyện có vị trí cửa ngõ thủ đô có tốc độ đô thị hóa nhanh Tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Gia Lâm những năm gần đây đã đạt được kết quả nhất định Công tác ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai được thực hiện thường xuyên; công tác thi hành pháp luật trong công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng ; toàn huyện đã có 22/22 xã, thị trấn có bản
đồ địa chính, bản đồ quy hoạch Các phòng ban của huyện và toàn bộ các xã, thị trấn đã
sử dụng các phần mềm chuyên ngành, phần mềm xử lý đơn thư…
Trang 10Năm 2011-2015, UBND huyện Gia Lâm đã tiếp nhận 489 đơn, trong đó 440 đơn khiếu nại tố cáo thuộc lĩnh vực đất đai có 413 đơn thuộc thẩm quyền Mặc dù thời gian tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo đảm bảo nhưng vấn đề xử lý đơn của cán bộ được giao còn có những hạn chế nhất định Có những trường hợp phân tích, xử lý đơn không sát dẫn đến nhận đơn chưa đúng thẩm quyền, giao việc về các phòng, ban chưa đúng người đúng việc hoặc hướng dẫn người có đơn khiếu nại, tố cáo thực hiện chưa đúng trình tự, thủ tục Thực tế cán bộ chuyên trách công tác tiếp dân, xử lý đơn thư chỉ có một người, lượng công việc lại nhiều, hiệu quả công việc chưa cao
Năm 2011-2015, huyện đã giải quyết 283 đơn khiếu nại, trong đó : cấp huyện là
178 đơn, cấp xã là 105 đơn Số đơn khiếu nại được điều tra là 20 đơn (cấp huyện) có nội dung: 30% về giấy chứng nhận QSDĐ, 45% về giải phòng mặt bằng, 25% nội dung khác Số công dân không đồng ý là 22/51 người chiếm 43,13%, không đồng ý chiếm 56,87%, cán bộ 20/20 không đồng ý chiếm 100% Số đơn tố cáo được giải quyết là 130 đơn, trong đó : cấp huyện là 81 đơn, cấp xã là 49 đơn 12 đơn được tiến hành điều tra, nội dung chủ yếu : tố cáo cán bộ xã là 75%, tố cáo cán bộ huyện là 16,67%, nội dung khác là 8,33% Kết quả điều tra: công dân đồng ý là 48,08%, không đồng ý chiếm 51,92%, cán bộ công chức đồng ý là 50%, không đồng ý là 50%
- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân thì công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập như: có những vụ việc giải quyết chưa thấu tình, đạt lý, chưa đảm bảo các quy định của pháp luật dẫn đến người dân tiếp tục khiếu nại, tố cáo kéo dài và phải nhờ đến các cơ quan cấp trên trực tiếp giải quyết Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số xã còn rất hạn chế, năng lực cán bộ còn chưa thực sự chuyên nghiệp
- Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai, huyện Gia Lâm cần phải: nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan và một số biện pháp
bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo Mục đích của các giải pháp này nhằm hạn chế việc phát sinh khiếu nại, tố cáo và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Cao Thi Thu Thuy
Thesis title: “Evaluate the real status and propose solutions to increase the effect of settling complaints and denunciations on land in Gia Lam district, Hanoi”
Major: Land management Code: 60 85 01 03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- Evaluation of receiving citizens and settling complaints, denunciations on land
in Gia Lam district, Hanoi
- Propose some solutions to improve the efficiency of the settlement of complaints and denunciations on land in Gia Lam district, Hanoi
Methods
Following methods are used in the thesis:
- The method of collection secondary data, document: Secondary data was collected in the professional departments, divisions related to the settlement of complaints and denunciations on land in Gia Lam district, Hanoi
- Methods of collection primary data: survey of 123 citizens, public officials are the applicant, the defendant or related to complaints and denunciations on land being investigated, officials are assigned to resolve above specific complaints and denunciations on land
- Method consult expert: consultation to analyze the causes of the complaints and denunciations on land
- Methods of data analysis, statistics, processing and aggregation: statistics results of receiving citizens, results of resolving letters, the results of the investigation, the results of settlement of complaints and denunciations
Main findings and conclusions
- Gia Lam is a gateway of the Hanoi capital with rapid speed of urbanization The settlement of complaints and denunciations in Gia Lam district in recent years has achieved certain results The promulgation and implementation of legal documents in the field of land is carried out regularly; law enforcement in the work of land acquisition, land allocation, land lease, land use license, compensation, support and resettlement, clearance ; the district has 22/22 communes and towns having cadastral
Trang 12maps, land use planning maps The district office and all communes and towns have used specialized software, software for processing applications
In 2011-2015, Gia Lam district ‘s People's Committee has received 489 applications,
of which 440 complaints and denunciations in the field of land, has 413 application under the jurisdiction Although the time to receive complaints and denunciations is ensure but the application processing of assigned officers have certain limits There are cases which analysis, processing the application does not close properly resulting in receipt of no jurisdiction, assignment of wrong people or guide people with complaints and denunciations done not right process, procedure In fact, staffs in the reception of citizens, handling complaints is only one person, a lot of work, work efficiency is not high
In 2011-2015, the district has resolved 283 complaints, of which 178 application in district level, 105 application in commune level Number of complaints investigated is 20 (district level) with the content of: 30% of land use right certificates, 45% of land clearance, 25% of others The number of citizens who disagree is 22/51, accounted for 43.13%, disagree accounting for 56.87%, staff disagree 20/20, accounted for 100% Number of complaints resoved are 130 applications, of which 81 application in the district level, 49 application in the commune level 12 application are investigated, the main contents: commune officials denounced as 75%, district officials denounced as 16.67%, other content is 8.33% Survey results: citizens agree is 48.08%, disagree accounting for 51.92%, officials agree is 50%, disagree 50%
- According to a survey, gathering information from the people consulted, the settlement of complaints and denunciations on land is limited and inadequate as: there are cases resolved not reasonable, not assure the provisions of the law resulted in people continuing complaints and denunciations in long time and have to ask the superior agency to resolve The settlement of complaints and denunciations of some communes was very limited, staff capacity was not really professional
- To improve the efficiency of the settlement of complaints and denunciations on land, Gia Lam district need to: complete the land law policy system and settlement of complaints and denunciations; build a reasonable structure and improve staff capacity; investment funds to settle complaints and denunciations, investment in science and technology in the settlement of complaints and denunciations; strengthen propaganda and popularization of legal education and other solutions The purpose of these solutions is to minimize the occurrence of complaints and denunciations and improve the efficiency of the settlement of complaints and denunciations of the State administrative organization in Gia Lam district in the near future
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân và các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Vấn đề này đã được quy định rất rõ tại Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung tại Điều 30 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Theo ý nghĩa tích cực thì khiếu nại, tố cáo là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm và thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân nhằm góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải hết sức khéo léo, hợp lý, hợp tình nhằm ổn định chính trị, đảm bảo trật tự và công bằng xã hội, chính vì vậy, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đặc biệt quan tâm
Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai thường xuyên xảy ra do những mâu thuẫn, bất cập trong quá trình quản lý và sử dụng đất Việc khiếu nại, tố cáo
và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai đã được Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định cụ thể hóa tại Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung tại Luật Đất đai năm 2013; Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998, 2005
và Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 Trong lĩnh vực đất đai các quy định của Nhà nước về giá đất, giao đất, cho thuê đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn thay đổi qua từng thời kỳ do sự phát triển của đất nước, bên cạnh đó là việc khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng có xu hướng gia tăng cả
về hình thức và nội dung phức tạp hơn
Thời gian qua, tình hình khiếu nại, tố cáo trong cả nước diễn biến tương đối phức tạp, gay gắt, kéo dài, xuất hiện nhiều vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp và có những vụ việc khiếu nại, tố cáo không đúng sự thật, lôi kéo, xúi giục người khác Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo năm sau cao hơn năm trước tập trung chủ yếu trong lĩnh vực đất đai (chiếm trên 70% đơn thư khiếu nại, tố cáo) Tình hình này ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong thực thi pháp luật và giảm lòng tin trong nhân dân Đứng trước thực trạng đó, năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Thanh tra Chính phủ phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành có liên quan cùng với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết dứt điểm các vụ việc
Trang 14khiếu nại, tố cáo trong đó đặc biệt quan tâm và giải quyết triệt để đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, có tính chất phức tạp
Gia Lâm là huyện ngoại thành có vị trí cửa ngõ của thủ đô, có tốc độ đô thị hóa cao, giá trị đất đai ngày càng tăng, có nhiều dự án được triển khai trên địa bàn huyện dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu nại tố cáo gia tăng Từ đầu năm 2011 đến hết năm 2015, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại tố cáo và quản lý nhà nước về đất đai như: hệ thống văn bản pháp luật thiếu tính đồng bộ, nhận thức về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của một bộ phận cán bộ và người dân còn chưa đầy đủ, do cơ chế thị trường
và sự phát triển kinh tế mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng đất nên một số đối tượng sử dụng đất đã lợi dụng những bất cập trong chính sách đất đai của Nhà nước nhằm đạt được lợi ích bất hợp pháp là những nguyên nhân chính dẫn đến việc giải quyết, khiếu nại, tố cáo và quản lý đất đai thêm phần khó khăn và phức tạp
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo, xuất phát từ thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, để góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.2 Yêu cầu
- Đảm bảo tính chính xác, khách quan của số liệu thu thập được;
- Đảm bảo những kiến nghị, đề xuất phù hợp với địa phương và có thể áp dụng với địa phương khác có điều kiện tương tự như huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội
Trang 15Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai: nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan và một số biện pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Làm cơ sở triển khai các đề án nhằm cải cách công tác tiếp dân xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại huyện Gia Lâm nói riêng và trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói chung
+ Nắm bắt được hoạt động tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Đánh giá được công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đẩt đai tại huyện Gia Lâm trong những năm gần đây
+ Rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
+ Nâng cao hiệu quả trong công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại huyện Gia Lâm
1.5 THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Từ tháng 5/2015 đến tháng 10/2016
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
Khái niệm về khiếu nại của Nhà nước Việt Nam được sử dụng lần đầu tiên tại Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, trong
đó quy định: “…Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…” (Chính phủ, 1945) Khiếu nại của nhân dân ở đây là sự khiếu nại đối với chính quyền khi người khiếu nại cho rằng cán bộ, nhân viên nhà nước đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành vi VPPL hoặc vi phạm quyền lợi của mình Thực chất, đó chính là sự khiếu nại những hành vi nảy sinh trong bộ máy HCNN, do những người làm trong các cơ quan HCNN thực hiện
Ngày nay, khái niệm về khiếu nại thường được sử dụng trong các văn bản pháp luật quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, HVHC của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi
có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại, 2011) Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người
sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai Tại Khoản 2 Điều 264 Luật số 64/2010/QH12 Luật Tố tụng Hành chính đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8
thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất
đai về khiếu nại, khởi kiện đối với QĐHC, HVHC về quản lý đất đai, trong đó quy định: “Người sử dụng đất có quyền khiếu nại QĐHC hoặc HVHC về quản lý đất đai” (Quốc hội, 2010)
QĐHC là văn bản do cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản
lý HCNN được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể HVHC là hành vi của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan
Trang 17HCNN thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Các QĐHC hoặc HVHC bị khiếu nại được quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai QĐHC trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư; Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất (Chính phủ, 2004)
HVHC trong quản lý đất đai bị khiếu nại theo quy định của pháp luật
là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trực tiếp đến các QĐHC về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn sử dụng đất cho người sử dụng đất (Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại, 2011) Như vậy, các QĐHC và HVHC nêu trên nếu bị khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu các QĐHC, HVHC trong quản
lý đất đai mà bị khiếu nại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Khoản 6 và Khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại, 2011)
Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan HCNN là hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan HCNN là nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan HCNN nhân danh Nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các QĐHC, HVHC trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
Trang 182.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Khái niệm tố cáo được hiểu dướigóc độ pháp lý là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết
về hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo, 2011)
Pháp luật hiện hành quy định, khi phát hiện hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì mọi công dân có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết để giải quyết theo quy định của pháp luật Tố cáo hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo
và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo (Khoản 7, Điều 2, Luật Tố cáo, 2011)
Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 (nay là Điều 205 Luật đất đai 2013) quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai Việc giải quyết tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo” (Chính phủ, 2003) Đây là một quy định mang tính dẫn chiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai sẽ thực hiện theo các quy định của Luật Tố cáo
Như vậy, có thể hiểu, tố cáo hành vi VPPL về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của các hội, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 192.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và nội dung khiếu nại, tố cáo
2.1.3.1 Khái niệm về đất đai và Quản lý Nhà nước về đất đai
Trong quản lý Nhà nước về đất đai khẳng định: Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công
trình kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng
Quản lý là sự tác động, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục tiêu
đề ra, đúng ý chí của con người quản lý và bao gồm 5 yếu tố quản lý: xã hội, chính trị, tổ chức, quyền uy, thông tin
Quản lý Nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng có thể của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất của từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp Từ đó thống nhất về quy hoạch, kế hoạch sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai để xây dựng thành một hệ thống quản lý đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc để đất hoang, hoá, làm cho đất xấu đi
Như vậy, để quản lý tốt về đất đai thì ở mỗi chế độ chính trị khác nhau và tại mỗi thời điểm khác nhau, Nhà nước cần có chính sách quản lý đất đai khác nhau Tuy vậy, mục đích cuối cùng là thâu tóm toàn bộ quyền lực của Nhà nước
về quản lý tài nguyên đất, đề ra những quyết định quản lý, sử dụng và tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra về đất đai Thông qua đất đai để điều chỉnh chi phối các hoạt động khác của xã hội
Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả ” (Quốc hội nước CHXHCNVN, 1992) Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: " Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003) Điều 5 Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai” Điều 21 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể hơn :" Chính phủ, UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai", Điều 17 Luật đất đai 2013
Trang 20quy định" Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất" Điều này đã khẳng định tính chất quan trọng của đất đai; đồng thời là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả
Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: Ban hành các văn bản QPPL về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSDĐ; Thống kê, kiểm kê đất đai; Quản lý tài chính về đất đai; Quản lý và phát triển thị trường QSDĐ trong thị trường bất động sản; Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý VPPL về đất đai; Giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)
Ngoài 13 nội dung đã quy định trong Luật Đất đai năm 2003 thì tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014) quy định bổ sung 02 nội dung quản lý nhà nước về đất đai đó là: Xây dựng hệ thống thông tin đất đai và phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)
2.1.3.2 Người sử dụng đất
Theo quy định của pháp luật đất đai, người sử dụng đất bao gồm: Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,
tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các
tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất; Cộng đồng dân
cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán
Trang 21hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự,
cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu
tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất (Điều 9, Luật Đất đai 2003 nay là Điều 5, Luật Đất đai 2013)
Quyền lợi của người sử dụng đất bị xâm phạm như bị lấn chiếm, bị chuyển nhượng, sử dụng, hoặc cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà không có sự đồng ý của người sử dụng đất là nguyên nhân công dân khiếu nại, tố cáo
2.1.3.3 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải phóng mặt bằng
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra QĐHC để thu lại QSDĐ hoặc thu lại đất
đã được giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật (Khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai 2003) Khoản 11, Điều 3 Luật đất đai
2013 quy định thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai
- Giải phóng mặt bằng: Khi Nhà nước cần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thì sẽ tiến hành các bước theo đúng qui định của pháp luật nhằm mục đích lấy được mặt bằng khu đất cần sử dụng cho các mục đích trên gọi là giải
Trang 22Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Khoản 6, Điều 4, Luật Đất đai 2003) Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích thu hồi cho người sử dụng đất"
- Hỗ trợ: Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua việc đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới, ổn định đời sống, ổn định sản xuất (Khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai 2003 nay là Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai 2013)
- Bố trí tái định cư: Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi Đối với các dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí lại cho các hộ giải phóng mặt bằng sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định cư tại chỗ Việc bố trí lại đất tái định cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơn hoặc bằng nơi cũ (Chính phủ, 2004)
Giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là những hành vi được qui định tại mục 4 chương II Luật Đất đai năm 2003 nay là Mục 2 Chương VI Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Khi công dân bị thu hồi đất, được đền bù, hỗ trợ không thỏa đáng dẫn tới việc đơn thư khiếu nại, tố cáo
2.1.3.4 Giá đất
Tại Điều 12 Luật Đất đai năm 1993, lần đầu tiên khái niệm giá đất chính thức được quy định ở Việt Nam: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển QSDĐ, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian” (Quốc hội nước CHXHCNVN, 1993)
Trang 23Theo quy định tại Khoản 24 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì giá QSDĐ (sau đây gọi là giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về QSDĐ Khoản 19 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định giá đất là giá trị của QSDĐ tính trên một đơn vị diện tích đất
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 Giá trị QSDĐ
là giá trị bằng tiền của QSDĐ đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003) (nay là Khoản 20 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013)
Một số nước trên thế giới có hai loại giá đất: giá đất do Nhà nước quy định và giá đất hình thành trên thị trường Giá đất do Nhà nước quy định trên cơ
sở giá đất thị trường nhằm phục vụ mục đích của Nhà nước Giá đất thị trường được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên sở hữu đất và các bên có liên quan Cả hai loại giá đất có mối quan hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau, trong đó giá đất do Nhà nước quy định là cố định trong một khoảng thời gian xác định, còn giá đất thị trường luôn biến đổi
Giá đất được hình thành bởi sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau của ba mặt là hiệu quả, tính khan hiếm tương đối và yêu cầu hữu hiệu, mà những nhân tố này lại luôn luôn ở thế biến động Các nguyên tắc cơ bản trong định giá đất là những nguyên tắc kinh tế, chúng có liên quan mật thiết tới học thuyết kinh
tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến quan niệm giá thị trường Những nguyên tắc này rất ít khi được xem xét một cách riêng rẽ mà người ta thường sử dụng các nguyên tắc này trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vì chúng luôn đi với nhau và
bổ sung cho nhau
Giá đất theo quy định của Thành phố luôn thấp hơn so với giá thị trường, khi đền bù giải phóng mặt bằng công dân không nhất trí là nguyên nhân có đơn thư khiếu nại, tố cáo
Trang 24chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)
Tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ (nay được thay thế bởi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014) đã quy định bổ sung về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được gọi chung là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Chính phủ, 2009)
Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Theo một số tài liệu thì ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù việc giải quyết các KNTC hành chính đã có từ lâu và hiện nay đã đi vào nề nếp, song ngoài việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì nhiều nước vẫn duy trì và coi trọng việc giải quyết KNTC của cơ quan hành chính Một số nước còn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính là thủ tục bắt buộc trước khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính hoặc tòa án tư pháp Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyền lựa chọn khiếu nại đến cơ quan hành chính (cơ quan đã ban hành QĐHC hoặc thực hiện HVHC) để thực hiện việc khiếu nại Điểm đáng lưu ý là hầu hết các nước đều xác định khiếu nại hành chính dù đã được giải quyết bởi cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Xem xét cách tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính một số nước trên thế giới để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này
2.2.1 Mỹ
Mỹ là nhà nước liên bang, việc tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính cũng có những nét đặc thù so với các quốc gia khác Việc tổ chức các cơ quan giải quyết khiếu kiện hành chính ở Mỹ chia làm ba loại:
Loại thứ nhất là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính độc lập (hay còn gọi là cơ quan Tài phán hành chính) hiện nay có 26 trên tổng số 53 bang của Mỹ
Trang 25Loại thứ hai là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính được tổ chức trong chính cơ quan hành chính nhưng chuyên trách hóa, tức là những người trong cơ quan này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các QĐHC trong lĩnh vực quản lý của cơ quan mình Trong trường hợp bị từ chối thì đương
sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp để giải quyết khiếu kiện
Loại thứ ba là trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó (điển hình là Hải quan) Trên thực tế 90% vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nại hành chính
vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án Ngoài ra, ở Mỹ còn có cơ quan độc lập chuyên giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức
Pháp luật Mỹ quy định trường hợp hành chính đã được cơ quan hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó (Đinh Văn Minh, 2010)
2.2.2 Trung Quốc
Trung Quốc là nước thành lập hệ thống Tòa hành chính từ những năm
1990 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quan đến khiếu nại hành chính Khiếu nại hành chính không phải là một trình tự bắt buộc Người khiếu nại không buộc phải khiếu nại tới cơ quan hành chính trước khi khởi kiện ra toà án Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản pháp quy có quy định thì
nó trở thành điều kiện bắt buộc Cơ quan hành chính phải giải quyết khiếu nại trong thời gian hai tháng kề từ ngày nhận được khiếu nại Trường hợp không có
sự thống nhất quá trình khiếu nại hành chính, người khiếu nại có thể kiện ra Toà án hành chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trả lời của cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)
2.2.3 Pháp và Đức
Việc giải quyết khiếu nại hành chính ở Pháp và Đức được giao cho một cơ quan xét xử đặc biệt là các toà án hành chính độc lập hoàn toàn với các toà án tư pháp Pháp là nước có lịch sử hơn 200 năm về tổ chức, thực hiện hoạt động tài phán hành chính; Đức có Tòa án hành chính từ nửa sau thế kỷ 19 Đến nay, cả
Trang 26hai nước này đều có hệ thống cơ quan tài phán hành chính được tổ chức và hoạt động rất chặt chẽ, song việc giải quyết khiếu nại hành chính vẫn được coi trọng Nguyên nhân là do các nước này quan niệm rằng Tòa án hành chính chỉ giải quyết tính hợp pháp của các QĐHC mà không thể giải quyết được các vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế xã hội như các cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)
2.2.4 Thụy Điển
Thụy Điển có Tòa hành chính thực hiện việc xét xử các vụ án hành chính Tòa hành chính được thành lập từ năm 1909 Khiếu nại của công dân có thể được giải quyết theo thứ bậc hành chính mà không cần phải kiện ra Tòa hành chính và trong trường hợp này pháp luật Thụy Điển có những quy định cụ thể nhằm tránh tình trạng cùng một vụ việc nhưng cả cơ quan hành chính và Tòa hành chính đều thụ lý giải quyết (Đinh Văn Minh, 2009)
2.2.5 Đài Loan
Đối với Đài Loan, theo Luật xét xử của Tòa hành chính ban hành năm
1932, được sửa đổi, bổ sung năm 1975 thì khi công dân cho rằng quyền lợi của mình bị xâm hại bởi một QĐHC của cơ quan nhà nước trung ương hoặc cơ quan hành chính địa phương, họ có quyền khởi kiện lên Tòa hành chính nếu không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền hoặc trong thời hạn 02 tháng mà họ không được giải quyết Như vậy, muốn khởi kiện vụ án hành chính thì vụ việc phải được giải quyết qua giai đoạn tiền tố tụng hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ TÍNH PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
2.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và được thể chế hóa qua các thời kỳ tại các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, mới đây nhất là Hiến pháp năm 2013 và quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam Chủ trương, đường lối của Đảng còn được thể hiện qua nhiều văn bản, trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 27Đứng trước tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong một vài năm gần đây không ngừng gia tăng và diễn biến phức tạp, điển hình như một số vụ việc:
vụ việc khiếu nại của một số công dân tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên liên quan đến dự án Khu đô thị, thương mại - du lịch Văn Giang; vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (Thanh tra chính phủ 2013), Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung chỉ đạo và ban hành thêm nhiều văn bản để giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Thông báo Kết luận số 130/TB-TW ngày 10/01/2009 của
Bộ Chính trị về tình hình kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo từ năm 2006 và giải pháp trong thời gian tới (Bộ Chính trị, 2009); Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó nhấn mạnh: Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm các KNTC về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về KNTC, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giải quyết (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2012)
Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân đối với các QĐHC về đất đai đã chỉ rõ: “Thủ trưởng các cơ quan HCNN theo thẩm quyền chủ động xem xét từng vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai trong phạm vi quản lý
để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bố công khai kết quả giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức tạp, khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm
về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ” (Quốc hội nước CHXHCNVN năm 2012) Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 14/5/2012
về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC và nhiều văn bản khác để chỉ đạo công tác giải quyết KNTC, trong đó tập trung vào các nội dung: Chấn chỉnh, xử lý những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai (như công tác quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ ); giải quyết kịp thời những
vụ việc KNTC về đất đai ngay từ khi mới phát sinh, không để trở thành “điểm nóng”, gây phức tạp về an ninh, trật tự; tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trong công tác giải quyết KNTC, tập trung
Trang 28vào những địa bàn trọng điểm thường xảy ra các vụ việc KNTC đông người, phức tạp nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội (Chính phủ, 2012)
Có thể nói khiếu nại, tố cáo về đất đai đang là một thách thức đối với Đảng, các cơ quan nhà nước HCNN có thẩm quyền và toàn thể xã hội Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương Việc giải quyết KNTC trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN cần phải đổi mới, thường xuyên tiếp nhận các thông tin phản hồi từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai (về thể chế, bộ máy tổ chức…), quan tâm, chú trọng đến lợi ích chính đáng, thiết thực của người dân trong giải quyết KNTC nhằm đảm bảo công bằng xã hội, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay đối với Đảng và Nhà nước ta
2.3.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai
Trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan HCNN, trình tự, thủ tục giải quyết KNTC Các văn bản pháp luật được ban hành qua các thời kỳ mặc dù có một số quy định chưa thực sự hợp lý, nhưng nhìn chung đã thể hiện rõ sự phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn, thể hiện sự thay đổi về cơ chế chính sách ngày càng minh bạch, có lợi hơn cho người dân Các văn bản pháp luật được ban hành sau khắc phục được những mâu thuẫn, bất cập chồng chéo của các văn bản đã ban hành trước đó
Các văn bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo do Nhà nước ban hành trong giai đoạn từ 01/01/2009 đến 31/12/2013 được thể hiện tại Bảng 1.1 Qua đó có thể thấy hệ thống pháp luật quy định về giải quyết KNTC còn chưa đồng bộ, nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa thống nhất giữa các văn bản trong hệ thống pháp luật nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi và bổ sung năm 2004, 2005, hiện nay đã hết hiệu lực thi hành) có các quy định không thống nhất với Luật Đất đai năm 2003 như: quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai; quy định về việc khởi kiện vụ việc khiếu nại đến Tòa án trong Luật Đất đai năm 2003 làm hạn chế quyền khởi kiện của người
Trang 29khiếu nại hơn so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; sự khác nhau giữa các quy định về thời hạn, thời hiệu Đây là những mâu thuẫn giữa Luật Khiếu nại, tố cáo
và Luật Đất đai năm 2003 gây khó khăn trong việc áp dụng để giải quyết khiếu nại tố cáo
Luật Đất đai năm 2003 ra đời vào thời điểm Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998 chưa được sửa đổi, bổ sung Ngay từ khi mới ra đời, dù có một số quy định
về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai mâu thuẫn với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 nhưng vẫn còn có thể “chấp nhận được” Tuy nhiên, sau khi sửa đổi Luật Khiếu nại, tố cáo (vào các năm 2004 và 2005), nhiều quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai trong Luật Đất đai đã trở thành lạc hậu, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Nội dung đầu tiên cần phải sửa đổi là quy định liên quan đến “quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 đã bãi bỏ Khoản 15 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 về việc giải thích rằng: Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là quyết định có hiệu lực thi hành và người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp Ở lần sửa đổi này, cụm từ “quyết định này
là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” tại đoạn 2 Điều 54 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 cũng được thay bằng cụm từ “quyết định này là quyết định
có hiệu lực thi hành” Như vậy, trong giải quyết khiếu nại hiện nay không còn tồn tại khái niệm “giải quyết khiếu nại cuối cùng”
Sau đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo năm 2011 ra đời đã quy định thống nhất hơn, tiếp đến Luật Đất đai số 45/2013/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014), trong đó quy định về quản lý, sử dụng đất và tại Chương XIII, Mục 2, Điều 204, Điều 205 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo về đất đai, phần nào đó đã khắc phục những mâu thuẫn nêu trên
Trang 30Bảng 2.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại,
tố cáo
STT
Tên văn bản, số hiệu,
ngày tháng năm ban
hành
Cơ quan ban hành Trích yếu nội dung
I Một số Luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo
về giải quyết KNTC về đất đai
Có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2014
về quản lý đất đai Đang có hiệu lực thi hành
Luật Tố cáo: quy định về tố cáo và giải quyết
tố cáo đối với hành vi VPPL của cán bộ công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và đối với hành vi VPPL của cơ
Trang 31STT
Tên văn bản, số hiệu,
ngày tháng năm ban
hành
Cơ quan ban hành Trích yếu nội dung
quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Đang có hiệu lực thi hành
Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014
II Một số Nghị định về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2014
vi phạm bị tố cáo, bảo vệ người tố cáo và chế
độ khen thưởng đối với người có thành tích trong tố cáo Đang có hiệu lực thi hành
Trang 322.3.3 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay
Trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp này, chỉ đề cập đến việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai tại các cơ quan HCNN có thẩm quyền tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội theo quy định của Luật Đất đai
2003, Luật đất đai 2013, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Điều 264 của Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan Đối với việc khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo thuộc lĩnh vực của Tòa án không đi sâu nghiên cứu mà chỉ đề cập đến như một kết quả tất yếu để bổ sung và làm rõ việc giải quyết khiếu nại tố cáo của các cơ quan HCNN
Giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Mục 2, Chương VI, Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 nay là mục 2, Điều 204, 205 Luật đất đai năm 2013
* Về giải quyết khiếu nại:
Theo quy định của pháp luật, một vụ việc khiếu nại có thể được giải quyết hai lần ở cơ quan hành chính và người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ việc ra toà án bất kể lần một hoặc lần hai khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền của cơ quan hành chính
Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, pháp luật hiện hành quy định thủ trưởng các cơ quan HCNN có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với QĐHC, HVHC của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; đồng thời giải quyết khiếu nại (lần hai) đối với QĐHC, HVHC của thủ trưởng cơ quan HCNN cấp dưới trực tiếp đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (Mục 1 Chương III, Luật Khiếu nại, 2011)
Từ những quy định trên đây cho thấy thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có QĐHC, HVHC; thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai
do thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết Việc quy định thẩm quyền giải quyết lần đầu như vậy là phù hợp với cơ chế quản lý hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được nhanh chóng, kịp thời hơn Việc quy định Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có QĐHC, HVHC giải quyết lần hai đối với QĐHC đã được người có QĐHC, HVHC giải quyết lần đầu còn khiếu nại là phù
Trang 33hợp, tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được chính xác, khách quan và minh bạch hơn
Trong lĩnh vực đất đai, theo quy định tại Điều 63 và Điều 64 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với các QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai quy định tại Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP thuộc về Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp tỉnh Ngoài hai trường hợp nêu trên, việc giải quyết khiếu nại đối với QĐHC, HVHC trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại tố cáo (Chính phủ, 2007)
Đối với việc giải quyết khiếu nại về giá đất bồi thường, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất thực hiện theo quy định tại Điều 138 của Luật Đất đai, Điều 63 và Điều 64 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và quy định giải quyết khiếu nại tại Nghị định số 136/2006/NĐ-
CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo (Chính phủ, 2006) mà sau này được bổ sung trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo 2011 Trường hợp người khiếu nại khởi kiện
vụ án hành chính tại Toà án thì Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định của Luật Tố tụng hành chính
Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại QĐHC, HVHC về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện QĐHC, HVHC về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính Khi có căn cứ cho rằng QĐHC, HVHC là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra QĐHC hoặc cơ quan có người có HVHC hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (Khoản 1, Điều
7, Luật Khiếu nại, 2011)
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án
Trang 34theo quy định của Luật tố tụng hành chính Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định
mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (Khoản 3, Điều 7, Luật Khiếu nại, 2011)
Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp Việc giải quyết khiếu nại bao gồm các bước thủ tục: Thụ lý giải quyết khiếu nại; Xác minh nội dung khiếu nại; Tổ chức đối thoại; Quyết định giải quyết khiếu nại
* Về giải quyết tố cáo:
Việc giải quyết tố cáo đối với hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc: Tố cáo hành vi VPPL trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết Tố cáo hành vi VPPL trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết Tố cáo hành vi VPPL trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết Tố cáo hành vi VPPL trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự Đối với hành vi VPPL về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định như sau:
- Tố cáo hành vi VPPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi VPPL thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều
cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một
Trang 35cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết
Theo Luật Tố cáo năm 2011: Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết
tố cáo Đối tượng cần làm rõ trong quá trình giải quyết tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo có phạm vi rất rộng, bao gồm các hành vi ở nhiều lĩnh vực khác nhau và không nhất thiết phải có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người tố cáo Xét về mức độ của hành vi vi phạm pháp luật có thể phân làm hai dạng: tội phạm và các vi phạm pháp luật khác Đối với tố cáo hành vi phạm tội được giải quyết theo quy định tại Bộ luật
Tố tụng hình sự Đối với tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải là tội phạm) được giải quyết theo thủ tục quy định tại Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong khuôn khổ của luận văn này, chỉ đề cập đến giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của Luật Tố cáo và gọi là giải quyết tố cáo (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2011)
Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự: Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo (qua hình thức gửi đơn tố cáo hoặc công dân tố cáo trực tiếp); Xác minh nội dung tố cáo; Kết luận nội dung tố cáo; Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo; Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2011)
2.3.4 Khái quát thực trạng tình hình khiếu nại tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay
Theo số liệu tổng hợp các năm gần đây thì khiếu nại tố cáo về đất đai vẫn chiếm trên 70% tổng số các vụ việc khiếu nại tố cáo trong cả nước; nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài nhiều năm (có vụ việc kéo dài hơn 10 năm) nhưng chưa dứt điểm, nhiều điểm nóng công dân kéo đông người lên cơ quan Trung ương ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội Riêng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường từ năm 2009 đến năm 2013 đã tiếp nhận được 60.751 lượt đơn của 9.671
vụ việc khiếu nại tố cáo về đất đai, trong đó khiếu nại hành chính trong quản lý đất đai là 17.711 vụ (chiếm 58,59%), đòi lại đất cũ 4.639 vụ (chiếm 15,63%) và 1.355 vụ việc tố cáo (chiếm 4,57%) (Thanh tra Chính phủ năm 2013)
Tình hình khiếu nại tố cáo của công dân trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước, nhiều nơi đã trở thành
Trang 36điểm nóng Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giải quyết của chính quyền địa phương Số lượng công dân đến khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan ở Trung ương hàng năm cao Khiếu nại, tố cáo có xu hướng tăng lên (từ 197.037 vụ việc năm 2009 tăng lên 237.466 vụ việc năm 2013), tính chất khiếu nại tố cáo rất phức tạp, gay gắt, thái
độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, tình trạng gửi đơn vượt cấp tràn lan, mang tính phổ biến, nhất là trong thời gian diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, các kỳ họp Quốc hội, bầu cử Các đoàn khiếu nại tố cáo đông người tăng mạnh, xuất hiện ở nhiều địa phương, tập trung chủ yếu ở những địa bàn có tốc độ tăng trưởng cao, các khu vực đô thị (những nơi triển khai nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng, giao thông, khu đô thị, khu công nghiệp, các trung tâm thương mại, các công trình, dự án có vốn đầu tư lớn, phải thu hồi nhiều đất, di dời nhiều hộ dân)
Kết quả của việc giải quyết khiếu nại tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 4.817,8 ha đất, trả lại cho công dân gần 1.850 tỷ đồng; khôi phục quyền lợi cho 6.921 công dân; kiến nghị xử lý hành chính 6.650 người; chuyển cơ quan điều tra 380 vụ với 665 đối tượng Từ năm 2009 - 2013, qua phân tích 166.906 đơn khiếu nại đã giải quyết cho thấy, số vụ khiếu nại đúng chiếm 19,8%; số vụ khiếu nại có đúng, có sai chiếm 28%; khiếu nại sai chiếm 52,2% Qua phân tích 28.256 đơn tố cáo đã giải quyết cho thấy, có 16,2% đơn tố cáo đúng, 29,6% đơn
tố cáo có đúng, có sai, 54,2% đơn tố cáo sai
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành có liên quan thành lập 28 Tổ công tác phối hợp với UBND 47 tỉnh, thành phố tập trung rà soát, kiểm tra, để giải quyết dứt điểm 528 vụ việc khiếu nại tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài Đến nay đã rà soát được 486/528 vụ việc phức tạp, kéo dài đạt tỷ lệ trên 92% (Thanh tra Chính phủ, 2013)
Việc giải quyết các vụ việc khiếu nại tố cáo về đất đai cơ bản được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Luật KNTC, Luật Đất đai
và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, một số ít cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thật sự quan tâm, sát sao trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai; chưa thực hiện tốt việc tiếp công dân, chưa gắn công tác tiếp dân với công tác giải quyết khiếu nại tố cáo Khi
Trang 37phát sinh khiếu nại tố cáo, không tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, dẫn đến việc công dân gửi đơn, khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương Nhiều vụ việc khiếu nại tố cáo giải quyết còn chậm, để công dân khiếu nại nhiều lần, vượt cấp, một số vụ việc giải quyết không đúng chính sách, pháp luật và chưa phù hợp với thực tế nên không dứt điểm Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, các quyết định xử lý về tố cáo ở địa phương còn chậm và hạn chế
2.3.4.1.Tình hình thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trong 10 năm qua, toàn tỉnh đã tiếp nhận 5.406 đơn thư khiếu nại, tố cáo, trong đó: Khiếu nại có hơn 3.806 vụ, tố cáo gần 1.600 vụ, gần 15% số vụ tố cáo mạo danh, nặc danh, tập trung chủ yếu ở các cơ quan, đơn vị nhà nước Trong đó,
có 3.024 đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp Nội dung cơ bản của các vụ khiếu nại, tố cáo là:
- Về khiếu nại: Nội dung chủ yếu là lĩnh vực đất đai (khoảng 70% số vụ phát sinh) như khiếu nại đền bù giải phóng mặt bằng chưa đúng với chế độ, chính sách, tranh chấp đất đai giữa công dân với công dân, việc đòi lại đất thổ cư, đền chùa, nhà thờ họ Việc thực hiện chính sách xã hội không cân bằng như thực hiện, chính sách đối với người có công, khen thưởng huân chương, huy chương, chế độ hưu trí, mất sức lao động, việc khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế
- Về tố cáo: Nội dung chủ yếu là tố cáo cán bộ xã, phường, thị trấn vi phạm pháp luật về quản lý đất đai như giao đất trái thẩm quyền, bán đất trái phép, thu tiền qua giao đất cao hơn mức quy định, vi phạm luật ngân sách về chế
độ thu, chi tài chính, thất thoát lớn, thu thuế, miễn, giảm thuế cho dân sai chế độ, chấp hành quy định về xây dựng cơ bản không nghiêm, trù dập ức hiếp quần chúng, làm sai chính sách xã hội, cán bộ hợp tác xã nông nghiệp (Thanh tra tỉnh Ninh Bình)
2.3.4.2 Tình hình thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang
Từ năm 2008 đến năm 2013, Thành phố Hà Giang đã tiếp nhận: 642 đơn các loại thuộc thẩm quyền; trong đó: khiếu nại 24 đơn, tố cáo 08; kiến nghị, đề nghị 610 Đã giải quyết: 640/672 đơn thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 99,6% Việc xử
lý, giải quyết đơn thư cơ bản đảm bảo kịp thời Trong quá trình giải quyết trên
Trang 38tinh thần khách quan, công tâm, có lý, có tình, kịp thời điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót trong thực hiện nhiệm vụ, bảo vệ quyền, lợi ích Nhà nước, của nhân dân Do vậy, từ năm 2008 - 2013, trên địa bàn Thành phố không phát sinh khiếu nại tố cáo đông người, không có điểm nóng phát sinh
Cùng với việc giải quyết khiếu nại tố cáo, cấp ủy Đảng, chính quyền TPHG đã thực hiện chấn chỉnh để khắc phục những mặt yếu kém, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Theo đó lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã, phường tăng cường công tác quản lý Nhà nước thuộc phạm vi trách nhiệm của mình Tiến hành thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo đã tiến hành kiểm điểm sâu sắc rút kinh nghiệm đối với 9 tập thể và 13 cá nhân; xử lý kỷ luật về mặt nhà nước đối với 4 cán bộ, công chức vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao Củng cố kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán
bộ, công chức trực tiếp làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo Đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác tiếp dân, cơ bản đáp ứng được yêu cầu Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về khiếu nại tố cáo nói riêng đến đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người dân (Chinh phu.vn)
2.3.4.3 Tình hình thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích
tự nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị sau thành phố Hồ Chí Minh, nó cũng đứng thứ hai về dân số với 6,472 triệu người Do đặc điểm về diện tích và dân số lớn như vậy, dẫn đến công tác quản lý về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trở nên rất khó khăn và phức tạp Hệ lụy đó dẫn đến các khiếu nại và tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố thường xuyên diễn ra với số lượng lớn về số vụ và tính chất phức tạp của các vụ việc
Hà Nội là trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của cả nước Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay có diện tích 3.344,7 km², gồm một thị xã, 12 quận và 17 huyện ngoại thành Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia Việc hợp nhất Hà Nội và Hà Tây có nhiều lợi thế cũng như thách thức lớn hơn đối với Đảng bộ chính quyền thành phố Các vụ việc khiếu nại, tố cáo không chỉ tập trung vào việc giải quyết tranh chấp đất của đơn lẻ các
Trang 39hộ gia đình cá nhân mà còn tăng về số vụ việc liên quan đến đất các dự án khu
đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, sinh thái Điều này liên quan phần lớn đến
cơ chế chính sách của Hà Nội và Hà Tây có sự khác biệt tạo điều kiện cho một
số tổ chức sử dụng đất chiếm dụng đất bất hợp pháp, trốn tránh nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất bằng cách lách các kẽ hở của luật pháp… (UBND thành phố
kỷ luật 251 cán bộ công chức, chuyển cơ quan điều tra 15 vụ, chấn chỉnh nhiều vi phạm khác trong công tác quản lý từ đó tiếp tục tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương
Tiếp nhận 3.501 vụ khiếu nại, tố cáo đối với quyết định hành chính trong quản lý đất đai, đã giải quyết 3.374 vụ Các vụ còn lại liên quan chủ yếu đến các quyết định về giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án
UBND thành phố đã chỉ đạo các cấp, các ngành, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai theo đúng quy trình, khách quan, chính xác nhằm hạn chế công dân khiếu nại, tố cáo (Thanh tra Chính phủ, 2014)
Năm 2015, Thành phố Hà Nội đã giải quyết trên 85% các vụ khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền
Năm 2015, chất lượng giải quyết các vụ việc khiếu nại tố cáo đã được nâng cao; Tuy nhiên, tình hình khiếu nại tố cáo chưa có chiều hướng giảm Trong quá trình triển khai GPMB tại một số dự án phát triển giao thông, đô thị; chuyển đổi mô hình một số chợ; công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại một số huyện, một số công dân chưa đồng thuận, gửi đơn khiếu nại, tố cáo Một số địa bàn phát sinh nhiều vụ khiếu nại tố cáo như: Long Biên, Hoàng
Trang 40Mai, Bắc Từ Liêm, Sơn Tây, Gia Lâm, Hà Đông, Phú Xuyên Vẫn còn tình trạng một số công dân tập trung KNTC đông người, gây mất an ninh trật tự tại trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước của Trung ương và Thành phố Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố thường xuyên có các đoàn đông người của các tỉnh, Thành phố khác tập trung khiếu nại tố cáo tại trụ sở các cơ quan Trung ương
Thực hiện Luật Tiếp công dân, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ, UBND Thành phố đã ban hành Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 10/2/2015 quy định về việc tiếp công dân và xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh trên địa bàn thành phố Hà Nội; đã kiện toàn tổ chức bộ máy tiếp công dân, bố trí trụ sở để Ban Tiếp công dân Thành phố hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Đến nay, 100% các quận, huyện, thị xã đã kiện toàn Ban Tiếp công dân, bảo đảm cơ sở vật chất cần thiết cho trụ sở tiếp công dân và triển khai hoạt động tiếp công dân theo quy định Việc thực hiện Luật Tiếp công dân được gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra rà soát các vụ khiếu nại tố cáo tồn đọng; Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 08/3/2012 của Chủ tịch UBND Thành phố về “tăng cường, đẩy mạnh công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo”
Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, UBND Thành phố đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường tiếp, đối thoại với công dân; theo dõi, nắm chắc tình hình khiếu nại tố cáo ngay từ khi phát sinh tại cơ sở; nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại tố cáo, tập trung vào các vụ khiếu nại tố cáo có liên quan đến nhân sự Đại hội Đảng bộ các cấp Rà soát, tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, các quyết định xử lý tố cáo; kiểm tra, rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại tố cáo tồn đọng, kéo dài phức tạp, hạn chế phát sinh thành “điểm nóng” gây mất an ninh trật tự Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp tục thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thủ trưởng các đơn vị trong việc thực hiện pháp luật về khiếu nại tố cáo, qua đó kịp thời chấn chỉnh tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện công tác này Tăng cường phối hợp với Ban Tiếp công dân Trung ương trong việc tổ chức tiếp và đưa các đoàn khiếu nại tố cáo đông người của các tỉnh, thành phố khác về địa phương để đảm bảo an ninh trật
tự trên địa bàn Thủ đô, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, trong thời gian diễn ra Đại hội đồng liên minh nghị viện Thế giới lần thứ 132, Đại hội Đảng các cấp và trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn diễn ra trên địa bàn Thủ đô