Nghiên cứu cũng xem xét, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông cho phát triển sản xuất chè ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, qua đó cho thấy các yếu tố ảnh hưởng như: 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về các hoạt động khuyến nông cho phát triển sản xuất chè
Cơ sở lý luận để các hoạt động khuyến nông cho phát triển sản xuất chè
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xác, vì vậy khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi Do đó có nhiều quan niệm và định nghĩa về khuyến nông, dưới đây là một số quan niệm và khái niệm về khuyến nông
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm
1866 có nghĩa là “mở rộng, triển khai” Từ “Extension” ghép với từ
“Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì được dịch là “khuyến nông”
Theo nghĩa chữ Hán, “khuyến” có nghĩa là khuyên người ta cố gắng sức trong công việc, còn “khuyến nông” nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp (Nguyễn Duy Hoan và cs., 2013)
“Khuyến nông là phương pháp hành động, nhận thông tin có lợi tới người dân và giúp họ thu được những kiến thức, kỹ năng và những quan điểm cần thiết nhằm sử dụng một cách có hiệu quả thông tin hoặc kỹ thuật này.” (Nguyễn Duy Hoan, 2013)
“Khuyến nông là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn.” (Nguyễn Duy Hoan và cs., 2013)
“Khuyến nông được xem như một tiến trình của sự hòa nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự giúp đỡ từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải.” (Nguyễn Duy Hoan, 2013)
“Khuyến nông là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định, giải quyết các vấn đề của chính họ.”
“Khuyến nông là một quá trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa khuyến nông với các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo” (Nguyễn Duy Hoan, 2013)
“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành.” (Nguyễn Duy Hoan và cs., 2013)
Theo định nghĩa Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Khuyến nông là quá trình hỗ trợ nông dân nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin về kinh tế, kỹ thuật, tổ chức và quản lý, cung cấp các dịch vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, giúp nông dân tăng thu nhập và cải thiện đời sống, giúp nông nghiệp và nông thôn phát triển toàn diện và bền vững
Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới (Chính phủ, 2010)
Qua rất nhiều định nghĩa, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:
Khuyến nông theo nghĩa rộng: Là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn nông dân tiến bộ kỹ thật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau chống lại thiên tai, dịch bệnh, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ của Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào ngày càng tốt hơn (Đỗ Kim Chung, 2010)
Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này mang đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông lâm ngư nghiệp, các trung tâm khoa học nông lâm ngư nghiệp để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn (Đỗ Kim Chung, 2010)
Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa về khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để có khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn
Nguyên tắc hoạt động khuyến nông
Nguyên tắc hoạt động khuyến nông được quy định tại Điều 4 Nghị định 83/2018/NĐ-CP về khuyến nông, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/7/2018, cụ thể như sau:
(1) Xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, thị trường và định hướng phát triển nông nghiệp của Nhà nước
(2) Phát huy vai trò chủ động, tích cực, tự nguyện và trách nhiệm giải trình của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động khuyến nông
(3) Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng và sự quản lý của Nhà nước
(4) Nội dung, hình thức, phương thức hoạt động khuyến nông phù hợp với từng địa bàn và nhóm đối tượng người sản xuất, cộng đồng dân tộc khác nhau
(5) Các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ chuyển giao phải được cấp có thẩm quyền công nhận hoặc chấp thuận (Chính phủ, 2018)
(6) Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các công ty, doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân
(7) Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động khuyến nông
(8) Ưu tiên hoạt động khuyến nông ở địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo
Cơ sở thực tiễn các hoạt động khuyến nông cho phát triển sản xuất chè
2.2.1 Kinh nghiệm về khuyến nông cho phát triển chè của một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm trên thế gới về khuyến nông cho phát triển chè Cây chè là cây trồng có lịch sử lâu đời, nó được phát hiện, truyền bá và phát triển đến nay đã 5.000 năm Do đặc tính sinh trưởng của cây chè cùng với sự giao lưu văn hoá của loài người, sự hoạt động chính trị xã hội, sự buôn bán sự giao lưu thương mại và cả sự truyền bá tôn giáo cho nên cây chè đã lan truyền và phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới Và là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng xuất hiện từ lâu đời, được trồng khá phổ biến trên thế giới Đặc biệt là một số quốc gia khu vực châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hoá và chữa được một số bệnh đường ruột Đặc biệt chất Tanin trong chè có khả năng hút chất phóng xạ, do đó nó còn chống được một số bệnh do các chất phóng xạ gây ra Chính vì các đặc tính ưu việt đó, chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới Hiện nay mới có khoảng 40 nước trên thế giới sản xuất chè, trong khi đó trên 200 nước tiêu thụ chè Đây chính là một lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Cây chè có khoảng 5.000 năm lịch sử gắn với đời sống con người thì có 3.500 năm được độc quyền ở Trung Quốc Sử sách ghi lại rằng, sự phát hiện và sử dụng chè đầu tiên cách đây 2.700 năm trước Công nguyên, tại tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc Sau đó chè được lan tỏa theo lưu vực sông Dương Tử (Trường Giang ngày nay) và mãi đến đầu Thế kỷ Thứ Chín (năm 805) sau Công nguyên chè mới được nhân trồng và sử dụng ngoài lãnh thổ này (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Hoạt động khuyến nông đã xuất hiện từ khá sớm Năm 1923 ở Trường Đại học Kim Lăng đã đảm nhiệm công tác khuyến nông và đã có khoa khuyến nông Năm 1928 Học Viện Nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập khoa khuyến nông đảm nhiệm triển khai công tác khuyến nông Ở Trung Quốc, có 1.200 loại danh trà, chủng loại đa dạng Sản lượng chè ngon chiếm khoảng 40% tổng sản lượng chè, nhưng giá trị sản lượng loại chè này chiếm tới 70% tổng giá trị sản lượng Để đạt được kết quả đó, từ khi tiến hành cải cách mở đến nay, chính phủ Trung Quốc rất chú trọng phát triển cây chè, điều này đã làm cho chè của Trung Quốc không ngừng tăng lên, chủ yếu thể hiện ở một số điểm sau: Sản xuất chè được quán triệt thực hiện phương châm phát triển “một ổn định, ba nâng cao”
Tức là ổn định diện tích, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sản lượng trên một đơn vị canh tác; nỗ lực mở rộng và xây dựng vườn chè tiêu chuẩn dẫn đến mở rộng nhân giống hệ vô tính cây chè tốt và cải tạo vườn chè già cỗi và kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh tổng hợp bằng thuốc sinh học, không có độc như vật lý, sinh vật, tăng cường hơn nữa sự an toàn tin cậy của cơ sở sản xuất chè và nỗ lực nâng cao trình độ sản xuất, chất lượng chè của Trung Quốc, dần hòa nhập với quốc tế; ứng dụng khoa học kỹ thuật để thúc đẩy nâng cấp ngành sản xuất chè, mở rộng phát triển quảng bá kỹ thuật chăm sóc, kỹ thuật sản xuất chè, cơ giới hoá máy móc chế biến gia công chè và kỹ thuật sản xuất tự động hóa và gia công chè; tăng cường giám sát chất lượng, định kỳ kiểm tra đối với thị trường chè; nâng cao nhận thức nhãn hiệu của doanh nghiệp, tăng cường nhãn hiệu hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh; thông qua việc tăng cường tuyên truyền văn hóa chè và tác dụng của chè đối với sức khỏe, bao gồm phát triển mạnh mẽ triển lãm chè trên toàn quốc, để nâng cao nhận thức cho người dân một cách hiệu quả về tác dụng uống chè sẽ có lợi cho sức khỏe, từ đó làm cho mọi người thích uống chè, và như vậy khả năng tiêu thụ chè sẽ không ngừng nâng lên, để phát triển cả về quy mô diện tích, chất lượng chè có phần đóng góp to lớn của hệ thống khuyến nông (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc quyết định áp dụng những chính sách tập chung hỗ trợ nông nghiệp và người làm công tác khuyến nông Các chương trình khuyến nông chuyển giao giống chè xuất khẩu kết hợp cải tạo đất, dự án sản xuất chè được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân trồng chè Đặc biệt là sự quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ khuyến nông Nhờ chính sách đúng đắn của Nhà nước và hoạt động khuyến nông hiệu quả, phát triển sản xuất chè Trung Quốc đã đạt được kết quả không ngờ sau thời gian vài năm
Thông qua chương trình khuyến nông quốc gia, giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt động tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người dân nắm bắt được kỹ thuật mới Nhờ những quyết sách đúng đắn của Nhà nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông cho phát triển chè ở Trung Quốc đã đạt được kết quả cao Từng bước, qua các năm khuyến nông viên trên khắp các vùng miền Trung Quốc đã giúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ đối với sự phát triển chung của nông nghiệp, xây dựng những hoạt động làng xã, tập đoàn thông qua các nhóm nông dân Các khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao trình độ canh tác giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như thế nào, cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng để chính họ trở thành chủ nhân - chuyên gia, kỹ thuật viên (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Hai mươi năm gần đây nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ về cả hệ thống tổ chức, cơ sở thiết bị nghiên cứu cho khuyến nông, nhờ vậy điều kiện làm việc và mức sống của khuyến nông viên được nâng cao Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức khuyến nông, với hơn 317 nghìn khuyến nông viên (từ Trung ương tới các bản làng) Khuyến nông viên phối hợp hoạt động cùng khoảng 400 nghìn tổ chức nông dân (chiếm 20% số làng ở Trung Quốc) với hơn một triệu nông dân là kỹ thuật viên với 6,6 triệu mô hình trình diễn của nông dân Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông nói chung và khuyến nông cho phát triển chè nói riêng Hiện nay, khuyến nông Trung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm không ngừng củng cố (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Ba trong số bốn hòn đảo tại Nhật Bản có khí hậu và điều kiện tự nhiên thuận lợi để sản xuất chè
Nhật Bản sản xuất 85.900 tấn chè/năm, và với số lượng người uống trà đông đảo, mặc dù sản lượng cao nhưng lượng xuất khẩu của Nhật Bản chỉ chiếm 2% trong số hàng nghìn tấn họ sản xuất ra 99,9% giống trà của Nhật được trồng và sản xuất là trà xanh, không chỉ phổ biến mà nó trở thành lựa chọn mặc định trong nước Các loại trà xanh Nhật Bản chủ yếu được lên men và hấp, với bancha là phiên bản cơ bản nhất ngoài ra còn có sencha, genmaicha, và hojicha (Nguyễn Công Cường, 2014)
Nhật Bản là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân Nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân (Nguyễn Công Cường, 2014)
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông
Nhật Bản là quốc gia có 8% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Nhật Bản được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Nhật Bản chiếm lĩnh thị trường thế giới như chè, đậu tương… Để đạt được kết quả đó thì công tác khuyến nông cho phát triển chè ở Nhật Bản được rất phát triển (Nguyễn Công Cường, 2014)
Malaysia cũng là một quốc gia thành công trong sản xuất chè Để đẩy mạnh phát triển ngành chè, năm 1955, Hiệp hội Thương mại trà Malaysia được thành lập Hiệp hội được thành lập với mục đích phấn đấu bảo vệ lợi ích chung hợp pháp của các thành viên, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thương mại chè và giải quyết các vấn đề mà ngành công nghiệp đang phải đối mặt Hiện nay, Hiệp hội có khoảng 100 thành viên phân phối trên toàn Malaysia (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
Malaysia tập trung chủ yếu sản xuất trà đen, và một lượng nhỏ trà xanh khác Tại Malaysia, giống trà rất đa dạng vì thế sản phẩm được sản xuất ra được pha trộn các loại khác nhau Hiện nay, sản phẩm chè Malaysia đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới Có được kết quả trên cũng là do Cục khuyến nông trực thuộc Bộ nông ngiệp Malaysia đã triển khai nhiêu chương trình khuyến nông phát triển chè cho nông dân Malaysia (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014) Để nâng cao hiệu quả sản xuất chè, Malaysia đẩy mạnh khuyến khích người dân của các dân tộc uống chè bằng cách tư vấn cho mọi người cố gắng sử dụng những loại chè có lợi cho sức khoẻ; tổ chức các hoạt động liên quan đến chè trên cơ sở có sự phối hợp với các thương gia chè để giúp người dân hiểu rõ hơn về hiệu quả của chè và lợi ích của việc uống chè Malaysia cũng hướng tới hỗ trợ các thương gia chè về mặt tài chính để giúp họ vượt qua những khó khăn, hạn chế và hỗ trợ họ quảng bá thương hiệu của riêng họ Điều này đã giúp họ dễ dàng xâm nhập vào được thị trường quốc tế và tăng thu nhập ngoại tệ cho Malaysia Malaysia cũng đẩy mạnh các hoạt động triển lãm chè quốc tế hoặc tổ chức các chuyến đi thăm quan triển lãm chè quốc tế nhằm mục đích tương tác với các thương gia chè quốc tế để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chè Điểm đáng chú ý, để nâng cao cấp bậc thương hiệu quốc tế quan điểm của ngành chè Malaysia là không tự mãn hay bảo thủ đối với sản phẩm chè và hình dáng, đóng gói là một phần không thể thiếu để nâng cao thương hiệu sản phẩm
Ra sức tìm hiểu về thương hiệu quốc tế cũng như những công nghệ tiên tiến trên thế giới để rút kinh nghiệm hay ứng dụng để khắc phục những điểm yếu còn hiện hữu của ngành chè Malaysia (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2014)
2.2.2 Kinh nghiệm về khuyến nông cho phát triển chè ở Việt Nam
Việt Nam là một trong 5 quốc gia sản xuất chè lớn nhất thế giới Hiện cả nước có 131.487ha chè, sản lượng gần 824 nghìn tấn búp tươi Chè Việt Nam được xuất khẩu sang 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, giá trị xuất khẩu đạt gần 200 triệu USD/năm