1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội

91 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 685,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iv Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm cần thực hiện các giải pháp như: tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật v

Trang 1

NGUYỄN QUANG MINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ

ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đỗ Nguyên Hải

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 16 tháng 09 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Minh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Đỗ Nguyên Hải đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Quản lý Đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Gia Lâm

đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày 16 tháng 09 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ, biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.4.1 Những đóng góp mới 3

1.4.2 Ý nghĩa khoa học 3

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về tranh chấp đất đai 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Phân loại tranh chấp đất đai 7

2.1.3 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đất đai 10

2.1.4 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai 13

2.1.5 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính cấp huyện 15

2.2 Cơ sở thực tiễn của giải quyết tranh chấp đất đai của một số nước trên thế giới 16

2.2.1 Anh 17

2.2.2 Mỹ 17

2.2.3 Trung Quốc 18

2.2.4 Hàn Quốc 19

2.2.5 Bài học kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp đất đai tại các nước nghiên cứu 19

2.3 Tình hình nghiên cứu đến đề tài luận văn 21

Trang 5

2.4 Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn của cả nước và thành

phố Hà Nội 22

2.4.1 Tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn của cả nước 22

2.4.2 Tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2014 - 2018 23

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Địa điểm nghiên cứu 25

3.2 Thời gian nghiên cứu 25

3.3 Đối tượng nghiên cứu 25

3.4 Nội dung nghiên cứu 25

3.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 25

3.4.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 25

3.4.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018 25

3.4.4 Đánh giá những vấn đề tồn tại về thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018 26

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 26

3.5 Phương pháp nghiên cứu 26

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 26

3.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 26

3.5.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu 27

3.5.4 Phương pháp chuyên khảo 28

3.5.5 Phương pháp minh họa bằng sơ đồ, đồ thị 28

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 29

4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 29

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

4.1.2 Điều kiện lịch sử 31

4.1.3 Điều kiện kinh tế 31

4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Gia Lâm 34

Trang 6

4.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành

phố Hà Nội 35

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018 38

4.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai huyện gia Lâm Giai đoạn 2014 - 2018 43

4.3.1 Tình hình tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm 43

4.3.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp về đất đai huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018 45

4.4 Đánh giá những vấn đề tồn tại về thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018 58

4.4.1 Những kết quả đạt được 58

4.4.2 Những mặt tồn tại, hạn chế 60

4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 62

4.5.1 Giải pháp tổ chức cán bộ về công tác xử lý, giải quyết đơn thư về tranh chấp đất đai để nâng cao hiệu quả của hoạt động tiếp dân, giải quyết kịp thời những thắc mắc khiếu nại về tranh chấp đất đai 62

4.5.2 Phân định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân 63

4.5.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, tăng cường công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 64

4.5.4 Giải pháp tăng cường công tác hòa giải cấp cơ sở 64

4.5.5 Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về Luật đất đai nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của nhân dân về pháp luật và Luật đất đai qua đó hạn chế những vấn đề về tranh chấp đất đai 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 67

Tài liệu tham khảo 68

Phụ lục 71

Trang 8

2014 - 2018 43 Bảng 4.4 Tổng hợp số lượt tiếp dân, số đơn thư về tranh chấp đất đai của cơ

quan hành chính huyện Gia Lâm tiếp nhận từ 2014 - 2018 45 Bảng 4.5 Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai giai đoạn 2014 - 2018 49 Bảng 4.6 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm giai đoạn

2014 - 2018 50 Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai và ý kiến của người

dân về tranh chấp đất đai 52 Bảng 4.8 Tổng hợp ý kiến của cán bộ, công chức về công tác giải quyết tranh

chấp đất đai 56

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ vị trí địa lý của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 29 Biểu đồ 4.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Gia Lâm năm 2018 42

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Quang Minh

Tên luận văn: Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện

Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá, phân tích, trình bày giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện

Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp đất

đai trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Nhằm thu thập các tài liệu, số liệu tại các cơ quan, đơn vị có liên quan đến đề tài tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội;

- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra 45 hộ dân tại huyện Gia Lâm có đơn thư tranh chấp về đất đai và điều tra 15 cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện giải quyết tranh chấp đất đai;

- Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu: các số liệu được xử lý, tổng hợp

và phân tích bằng phần mềm Excel;

- Phương pháp chuyên khảo;

- Phương pháp minh họa bằng sơ đồ, đồ thị

Kết quả chính và kết luận

(i) Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2014 - 2018 đã có những chuyển biến tích cực Công tác ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai được thực hiện thường xuyên; công tác lập và công khai lấy ý kiến đóng góp của người dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện theo đúng quy định; trong giai đoạn 2014 -

2018, toàn huyện đã thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất 9.56 ha đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định làm nảy sinh trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn huyện

(ii) Trong giai đoạn 2014 - 2018, việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm đã dần đi vào nề nếp Trong đó, đã giải quyết được 145/152 vụ tranh chấp về đất đai (chiếm 95%) Phần lớn số vụ tranh chấp

Trang 11

đất đai liên quan đến việc tranh chấp ranh giới sử dụng giữa các chủ sử dụng đất liền kề, còn lại là tranh chấp ngõ đi chung và việc thừa kế quyền sử dụng đất Dù vẫn còn những

vụ tranh chấp đất đai tồn tại, chưa giải quyết được dứt điểm nhưng nhìn chung công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra của Huyện ủy - HĐND - UBND huyện

(iii) Trong giai đoạn 2014 - 2018 đã giải quyết xong 95% vụ tranh chấp đất đai Bên cạnh đó, có trên 85% người dân được hỏi trả lời trình tự và thời hạn giải quyết đúng quy định; 95.6% người dân được hỏi trả lợi hài lòng về kết quả giải quyết tranh chấp đất đai Có 95.60% ý kiến đánh giá về sự nhiệt tình và 97.8% đánh giá không sách nhiễu với dân, làm đúng chức trách Ngoài ra, có trên 95% ý kiến đánh giá về sự chuyên nghiệp của người tiếp công dân Tuy nhiên, một số xã, thị trấn chưa chú trọng đến việc giáo dục, thuyết phục hoà giải, có biểu hiện ngại va trạm, làm qua loa đại khái rồi đùn đẩy vụ việc lên cấp trên Sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể còn chưa thực hiện tốt

(iv) Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm cần thực hiện các giải pháp như: tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tranh chấp đất đai; nâng cao vai trò của công tác hòa giải cấp

cơ sở; hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, tăng cường công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, tranh chấp kéo dài

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author name: Nguyen Quang Minh

Official thesis title: Assessing the situation of land dispute resolution in Gia Lam

district, Hanoi

Name of training institution: Vietnam National University of Agriculture

- Method of processing, aggregating and analyzing data: data are processed, aggregated and analyzed by Excel software;

- Monograph method;

- Method of illustration by diagrams and graphs

Main results and conclusions

(i) The situation of land management in Gia Lam district in recent years, especially in the period of 2014 - 2018 has made positive changes The promulgation and implementation of legal documents in the field of land are carried out regularly; the work of making and publicizing people's opinions on land use plannings and plans complies with regulations; In the period of 2014 - 2018, the district has changed the purpose of using 9.56 hectares of land to use for economic development, infrastructure However, the state management of land the land in the district area still reveals certain limitations and inadequacies that arise directly or indirectly to the land dispute of citizens in the district area

(ii) In the period of 2014 - 2018, the application of laws in resolving land disputes in Gia Lam district has gradually gone into order In particular, 145/152 land disputes have been resolved (accounting for 95%) The majority of land disputes

Trang 13

involve disputes over the boundaries of use between adjacent land users, the remaining were disputes of common lane and inheritance of land use rights Although there were still land disputes that had not been resolved yet, in general, the land dispute resolution

in Gia Lam district had basically met the requirements of District Party Committee - People's Council, District People's Committee

(iii) In the period of 2014 - 2018, 95% of land disputes had been completely resolved In addition, more than 85% of the people answered the order and time limit for settlement according to regulations; 95.6% of the respondents were satisfied with the benefits of land dispute resolution There were 95.60% of the respondents appreciate the enthusiasm and 97.8% of the reviews did not harass the people and did their jobs properly In addition, more than 95% of the opinions assessed the professionalism of the citizen reception However, some communes and towns had not focused on education, persuading conciliation, showing signs of hesitation and overtaking, through the speakers and then pushing the case to higher levels The coordination among departments and unions had not been well implemented

(iv) In order to improve the effectiveness of land dispute resolution in Gia Lam district, measures need to be implemented such as: strengthening the propaganda and popularization of law on land disputes; enhance the role of grassroots conciliation; complete the cadastral file system, enhance the work of granting land use right certificates; deal with cases of backlog, complicated and prolonged disputes

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại phổ biến Đó là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ về đất đai Tranh chấp đất đai để lại các hệ lụy xấu, phá vỡ sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, là nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và là điều kiện để các thế lực thù địch tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Để ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trì khối đại đoàn kết toàn dân, vấn đề giải quyết tranh chấp về đất đai được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Trong các đạo luật về đất đai được ban hành như Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 đều có các quy định về giải quyết tranh chấp về đất đai

Những năm gần đây, tình hình tranh chấp về đất đai ngày càng gia tăng về

số lượng và phức tạp về tính chất, nhất là ở những vùng đang đô thị hóa Các dạng tranh chấp về đất đai phổ biến trong thực tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp do lấn chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp

về đất đai trong các vụ án ly hôn Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp

về đất đai như: Việc quản lý về đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất

và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm về đất đai diễn ra ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn và

xử lý kịp thời; về đất đai từ chỗ chưa được thừa nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc giá đất tăng đột biến

Hiện nay, tranh chấp đất đai luôn là vấn đề mang tính thời sự, có những diễn biến ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất của nhà nước và gây bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội Thực tiễn cho thấy không ít trường hợp tranh chấp đất đai làm cho vụ việc trở nên gay gắt, kéo dài là do việc áp dụng pháp luật chưa đúng, chưa phù hợp Điều này không những chưa bảo đảm tính đúng đắn, nghiêm minh của pháp luật mà còn chưa bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp đất đai diễn ra phức tạp ở một số thành phố như: thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Vấn đề cơ bản hiện nay là phải từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp về đất đai cho phù

Trang 15

hợp với xu thế phát triển xã hội; khắc phục những điểm bất hợp lý, những bất cập

về cơ chế, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp dẫn đến việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tế gặp những khó khăn, vướng mắc; nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp bằng các giải pháp hữu hiệu

Chính vì vậy, nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội Liên quan đến vấn đề tranh chấp đất đai, hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện như quy định việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND) và Tòa án nhân dân (TAND) Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mới chỉ "dừng lại" ở mức độ chung chung, nên trên thực tế dẫn đến sự chồng chéo Để khắc phục những nhược điểm này, Luật về đất đai năm 2013 đã quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai tương đối cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết các tranh chấp đất đai có hiệu quả hơn

Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở phía đông thành phố Hà Nội, chủ yếu là phát triển nhờ đất nông nghiệp nhưng thời gian gần đây với sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đất đai trở nên có giá trị kinh tế cao, với sự quản lý và sử dụng đất của huyện Gia Lâm trong giai đoạn hiện nay còn những bất cập, chưa đồng nhất từ huyện xuống cơ sở, sử dụng và quy hoạch xây dựng đất ở, đất nông nghiệp cho người dân còn những mặt tồn tại, chưa thống nhất đã làm cho việc giải quyết tranh chấp trở nên khá phức tạp như ở một số xã:

xã Ninh Hiệp, xã Bát Tràng, xã Đình Xuyên…

Xuất phát từ thực tế trên, học viên thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá

tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội"

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá, phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp đất đai trên địa bàn nghiên cứu

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 16

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới

Luận văn chỉ ra những ưu điểm và những tồn tại, nguyên nhân của công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội qua đó đã đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai cũng như các huyện có điều kiện tương đồng trên địa bàn nghiên cứu

1.4.2 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đất đai tại một số nước trên thế giới và xác định được những tồn tại thực tế trong giải quyết tranh chấp trên một địa bàn huyện ven đô của vùng Đồng bằng sông Hồng

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ quan tâm đến công tác giải quyết tranh chấp đất đai Xác định được những vấn đề tồn tại chính trong hoạt động quản lý giải quyết tranh chấp đất đai ở huyện Gia Lâm và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở địa bàn nghiên cứu

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về tranh chấp đất đai

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết vấn đề trên Vậy tranh chấp đất đai là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong việc phân định thẩm quyền, xác định nội dung cần giải quyết đối với các tranh chấp đất đai

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Như Ý (2001): “Tranh chấp: 1 Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào 2 Bất đồng, trái ngược nhau”

Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất Lần đầu tiên Luật Đất đai 2003 đã định nghĩa “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” (Khoản 26, Điều 4 Luật đất đai 2003)

Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai là

quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các

quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng: chỉ bao gồm người sử dụng đất hay là tất cả các chủ thể

có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh

Trang 18

chấp đất đai Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của tranh chấp đất đai nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể

Dẫn chiếu tới quy định của Luật Đất đai năm 2003 về giải quyết tranh chấp đất đai có thể thấy, các chủ thể tham gia tranh chấp đất đai chỉ bao gồm những người sử dụng đất Chính do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam nên nội dung chính của quan hệ tranh chấp đất đai chỉ bó hẹp lại là tranh chấp về quyền sử dụng đất Nhà nước không thừa nhận và đứng ra là một bên chủ thể ngang hàng với người sử dụng đất trong các vụ tranh chấp đất đai Theo

đó, nếu người sử dụng đất thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng bởi các quyết định của cơ quan nhà nước, hành vi hành chính của cán bộ công chức thì có quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại, tố cáo

Ở một khía cạnh khác, khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2003 cũng có thể được hiểu ở phạm vi khác Cụ thể, tranh chấp đất đai là tranh chấp về “quyền” và tranh chấp về “nghĩa vụ” liên quan đến đất đai của người hiện đang quản lý, sử dụng đất với những người có liên quan trong quan hệ đất đai Theo đó, tất cả các giao dịch dân sự giữa các chủ thể mà đối tượng của giao dịch đó là đất đai, quyền

và nghĩa vụ về đất đều được hiểu là quan hệ đất đai Và theo cách hiểu này, các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng về đất đai sẽ được hiểu là tranh chấp đất đai, chẳng hạn tranh chấp về nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên tham gia quan hệ chuyển nhượng - nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hay tranh chấp về quyền yêu cầu trả công trong hợp đồng ủy quyền quản lý, sử dụng đất… Rõ ràng, các tranh chấp dạng này là những tranh chấp dân sự thuần túy, và thực tiễn các vụ việc này đều không được các cơ quan hành chính thụ lý mà được Tòa án nhân dân thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Định nghĩa tranh chấp đất đai theo Khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai 2003; Khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013 do có nội hàm rất rộng nên đã gây nhiều cách hiểu không chính xác Nhiều quan điểm đã đồng tình với cách hiểu rằng, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất của người sử dụng đất cũng đã từng được quy định cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến những vấn đề quyền sử dụng đất cụ thể chứ không phải tranh chấp đất

Trang 19

đai một cách chung chung Vì vậy, tranh chấp đất đai cần được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý,

sử dụng đất Các dạng tranh chấp khác đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự

Như vậy, nên hiểu tranh chấp đất đai ở nước ta chính là tranh chấp quyền

sử dụng đất hay bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, vì làm rõ khái niệm tranh chấp đất đai có thể giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai, góp phần áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất, góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai, tránh được trường hợp quy định của luật này chồng chéo lên quy định của luật kia Hiện nay, ngành tòa án ở nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất vào mục tranh chấp đất đai nói chung Vì vậy, tranh chấp đất đai là bao gồm tranh chấp quyền sử dụng đất và tất cả các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và trong điều kiện của nước ta hiện nay, cũng nên hiểu tranh chấp đất đai chính là tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất thì phù hợp hơn

Như vậy để làm rõ khái niệm về tranh chấp đất đai có thể hiểu như sau:

“Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”

2.1.1.2 Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Nguyễn Ngọc Hòa (1999),

"Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai"

Theo Trần Minh Hương (2007), việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm

ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân Trên cơ sở đó, phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm phạm đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra

Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Trang 20

Theo điều 202 Luật Đất đai 2013: “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở

Xét về bản chất thì đây là những tranh chấp dân sự phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau trong quá trình sử dụng đất, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Nguyên tắc tự do, bình đẳng, thỏa thuận ý chí chi phối các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất Vì vậy, khi loại tranh chấp này phát sinh thì việc hòa giải được ưu tiên và khuyến khích áp dụng Hơn nữa, các tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau ban đầu thường là những bất đồng, mâu thuẫn nhỏ, tính chất đơn giản nên chỉ cần tiến hành hòa giải

là có thể hóa giải các mâu thuẫn này mà chưa phải đưa đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết

2.1.2 Phân loại tranh chấp đất đai

Việc phân loại tranh chấp đất đai rất quan trọng, nó giúp cho các cơ quan

có thẩm quyền xác định kịp thời, chính xác các quan hệ pháp luật cần giải quyết

và đưa ra các quyết định đúng đắn, hợp tình, hợp lý khi giải quyết tranh chấp đất đai Việc phân loại có thể dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau như:

- Căn cứ theo mốc thời gian hoặc theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, các tranh chấp đất đai có thể phân theo tiêu chí về sở hữu tư nhân hay công hữu

- Phân loại theo tiêu chí hành chính hay tranh chấp về kinh tế; dân sự hay hôn nhân gia đình

- Dựa theo tính chất vụ việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất

- Căn cứ vào tính chất pháp lý và quan hệ pháp luật của tranh chấp đất đai Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu việc phân loại tranh

Trang 21

chấp đất đai dựa trên tiêu chí tính chất pháp lý và quan hệ pháp luật của tranh chấp đất đai

Xuất phát từ yếu tố đất đai là một loại tài sản đặc biệt, không thuộc quyền

sở hữu của các bên tranh chấp; căn cứ vào tính chất pháp lý và quan hệ pháp luật của tranh chấp đất đai, chúng ta có thể chia tranh chấp đất đai thành các loại sau (Mai Thị Tú Oanh, 2013):

Một là, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Là việc

các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện các giao dịch về đất đai Loại tranh chấp này thường là do các bên thực hiện việc chuyển nhượng khi chưa có đầy đủ điều kiện pháp luật cho phép; thực hiện không đúng hoặc không thực hiện đầy đủ các điều khoản quy định trong hợp đồng; không tuân thủ các quy định của pháp luật trong khi giao dịch Hiện nay đây là loại tranh chấp phổ biến và có số lượng nhiều nhất, mức độ phức tạp lớn nhất trong các vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai

Hai là, các bên tranh chấp về ranh giới giữa những thửa đất được phép

quản lý và sử dụng Loại tranh chấp này thường là do các bên sử dụng đất không thoả thuận được với nhau hoặc là do một bên tự ý thay đổi ranh giới sử dụng trong quá trình đất đai được chuyển nhượng qua tay nhiều người, cho thuê, cho thuê lại, cũng có thể là do sai sót từ phía cơ quan nhà nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ba là, tranh chấp quyền sử dụng đất trong quan hệ thừa kế Loại tranh

chấp này phát sinh trong trường hợp người chết có quyền sử dụng đất đai nhưng khi chết không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp một phần hay toàn bộ mà các đồng thừa kế lại không tự thoả thuận được với nhau nên khởi kiện ra toà Loại tranh chấp này có trường hợp có tài sản gắn liền với đất, có trường hợp trên đất tranh chấp không có tài sản

Bốn là, tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Quyền sử dụng

đất có được trong thời kỳ hôn nhân do nhận chuyển nhượng, được Nhà nước giao đất, được tặng cho, khai hoang được Nhà nước thừa nhận hoặc được thừa kế Khi

ly hôn hai người không tự thoả thuận được với nhau nên phát sinh tranh chấp

Năm là, tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất Loại tranh chấp này phát

sinh trong trường hợp trước đây người có quyền sử dụng đất đã cho mượn, cho thuê nhà đất, cho ở nhờ nhưng nay những người mượn, thuê, ở nhờ không chịu

Trang 22

trả, hoặc do theo chính sách pháp luật của Nhà nước đất đã được chia, cấp cho người khác nên nay họ khởi kiện để đòi lại, hoặc đất đã được tặng cho nhưng nay

vì nhiều lý do khác nhau, người đã tặng cho đòi lại đất Loại tranh chấp này gồm có các dạng sau:

- Tranh chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp đất đã đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã mà sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xã đã bị giải thể: Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người được tập đoàn sản xuất, hợp tác xã giao đất (không phải chủ đã giao đất cho tập đoàn sản xuất, hợp tác xã trước đây) được cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên chủ cũ kiện đòi lại

- Tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa của Nhà nước: Là loại tranh chấp mà nhà, đất của họ trước đây vì nhiều lý do khác nhau, bị Nhà nước cải tạo xã hội chủ nghĩa và theo chính sách pháp luật của Nhà nước đất đã được chia, cấp cho người khác sử dụng nên nay

họ khởi kiện để đòi lại Loại tranh chấp này thường có tài sản gắn liền trên đất

- Tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua đất nhưng nhờ người khác đứng tên hộ: Nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài do không đủ điều kiện được đứng tên nhà đất ở Việt Nam nhưng lại muốn có nhà đất ở Việt Nam nên mua đất và nhờ người thân đứng tên hộ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người đứng tên hộ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nảy lòng tham, tự ý chuyển nhượng đất mà mình đứng tên hộ hoặc khi người nhờ đứng tên hộ đã đủ diều kiện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu người đứng tên hộ trả lại thì họ không chịu trả nên phải khởi kiện

để đòi lại

- Tranh chấp quyền sử dụng đất liên quan đến việc tặng cho quyền sử dụng đất: Trong giao dịch tặng cho, nhất là tặng cho nhà đất, thường thì người tặng cho có điều kiện đi kèm Song song với việc được nhận nhà đất thì người được tặng cho phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định nào đó, ví dụ như nuôi dưỡng cha mẹ cho đến khi chết chẳng hạn Hoặc cha mẹ tặng cho con khi con lập gia đình với mong muốn vợ chồng con chung sống hòa thuận, hạnh phúc Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người được tặng cho không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người tặng cho nên người tặng cho kiện đòi lại hoặc khi vợ chồng con ly hôn, cha mẹ không cho nữa mà đòi lại

Trang 23

- Tranh chấp đất đai trong trường hợp đòi lại đất cho mượn, cho ở nhờ: Loại tranh chấp này phát sinh trong trường hợp trước đây người có quyền sử dụng đất đã cho mượn, cho thuê nhà đất, cho ở nhờ nhưng nay những người mượn, thuê, ở nhờ không chịu trả

- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền trên đất của dòng họ, nhà thờ, thánh thất, chùa chiền Do hoàn cảnh đất nước, do yếu tố lịch

sử để lại, các cơ sở này được Nhà nước mượn, trưng dụng vào các mục đích khác nhau không trả, nay họ đòi lại

Sáu là, tranh chấp giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã với

nhau Đây thường là những tranh chấp diễn ra ở các khu vực có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương nhưng tại đây sự phân chia ranh giới hành chính chưa rõ ràng dẫn đến tranh chấp phát sinh Đây là tranh chấp giữa những người được Nhà nước giao quản lý đất đai

Bảy là, tranh chấp do việc thực hiện quyền sử dụng đất bị cản trở Loại

tranh chấp này phát sinh khi một bên được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nhưng lại không thể sử dụng được do bị người khác cản trở

Tám là, tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi

Nhà nước thu hồi đất Thông thường đây là các tranh chấp liên quan đến mức độ

và diện tích được bồi thường do người sử dụng đất không thoả mãn với mức bồi thường Đây là tranh chấp giữa người đại diện chủ sở hữu (Nhà nước), người được giao quản lý với người sử dụng đất Loại tranh chấp này cũng là loại tranh chấp điển hình và gay gắt

cũng diễn ra khá phổ biến, đó là tranh chấp giữa việc sử dụng đất vào việc trồng lúa với việc dùng đất vào việc nuôi trồng thuỷ sản, giữa dùng đất đất trồng cây hàng năm với dùng đất trồng cây lâu năm, giữa sử dụng đất nông nghiệp hoặc đất trồng cây lâu năm với đất thổ cư trong quá trình phân bổ và sử dụng đất Đây là tranh chấp giữa người được Nhà nước giao quản lý với người được giao đất

2.1.3 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đất đai

2.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do quan hệ đất đai ở nước ta có nhiều xáo trộn qua các thời kỳ

Ở miền Bắc, sau Cách mạng tháng tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thực hiện cải cách ruộng đất tịch thu ruộng đất của thực dân,

Trang 24

địa chủ, phong kiến chia cho nông dân nhằm xác lập quyền sở hữu tư nhân về đất đai cho họ Tiếp đó, những năm 1960 của Thế kỷ XX, Đảng ta phát động phong trào “hợp tác hóa” vận động nông dân tự nguyện đóng góp ruộng đất, trâu bò và các loại tư liệu sản xuất khác vào làm ăn tập thể trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp Theo điều 19 Hiến pháp năm 1980 được ban hành với quy định đất đai là của Nhà nước thuộc quyền sở hữu toàn dân đã đánh dấu việc hoàn thành quốc hữu hóa đất đai trong phạm vi cả nước

Ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến, tình hình sử dụng đất đai có nhiều biến động phức tạp hơn Trong chín năm kháng chiến (từ năm 1945 - năm 1954), Chính quyền cách mạng đã tiến hành chia ruộng đất cho nông dân vào các năm

1949 - 1950 và năm 1954 Sau đó, Mỹ hất cẳng Pháp ở miền Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành việc cải cách điền địa, thực hiện việc “truất hữu” ruộng đất của nông dân nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng về ruộng đất, gây ra những xáo trộn lớn

về quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân Sau khi thống đất nước (tháng 4/1975), Nhà nước tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp cùng với việc xây dựng các nông, lâm trường quốc doanh Những tổ chức này bao chiếm nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lãng phí, kém hiệu quả Đặc biệt qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1978 - 1979 và năm 1982 - 1983; cùng với chính sách chia cấp theo kiểu bình quân đã dẫn đến những xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất

Thứ hai, trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng có giá

Trước đây trong thời kỳ nền kinh tế được quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ; đất đai không được thừa nhận có giá Nó chỉ được coi là một thứ “phúc lợi xã hội” được Nhà nước thay mặt xã hội thực hiện việc phân phối cho các nhu cầu sử dụng Khi người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất Mọi hành vi mua bán, chuyển nhượng đất đai, “phát canh thu tô” dưới mọi hình thức bị pháp luật nghiêm cấm Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động, Nhà nước thực hiện giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất) Người sử dụng đất được chuyển QSDĐ trong thời hạn giao đất, cho thuê đất Đất đai từ chỗ không được thừa nhận có giá

đã được pháp luật xác định khung giá đất và được đem thế chấp hoặc góp vốn

Trang 25

trong sản xuất - kinh doanh… Người sử dụng đất ngày càng nhận thức được giá trị của đất đai Đây cũng là một nguyên nhân khách quan làm nảy sinh tranh chấp đất đai

2.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh nguyên nhân khách quan, tranh chấp đất đai còn phát sinh từ các

nguyên nhân chủ quan chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, việc buông lỏng công tác thống nhất quản lý đất đai của Nhà

nước.Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đối với đất đai, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ và còn nhiều sơ hở Có thời kỳ, mỗi loại đất được giao cho một ngành quản lý: Đất nông nghiệp do ngành nông nghiệp quản lý; đất lâm nghiệp do ngành lâm nghiệp quản lý; đất chuyên dùng thuộc ngành nào, ngành ấy quản lý Điều này dẫn đến tranh chấp giữa đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp cũng như với đất chuyên dùng; xảy ra tình trạng có loại đất do nhiều cơ quan quản lý song cũng có loại đất không do cơ quan nào quản lý

Nghị định số 404-CP ngày 09/11/1979 của Hội đồng Chính phủ đã quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất, giúp Chính phủ làm cơ sở thống nhất quản lý đất đai trong cả nước Tuy có nhiều cố gắng nhưng công tác quản lý đất đai vẫn còn lỏng lẻo, có khi sai phạm Hồ sơ địa chính được xây dựng nhưng chưa được “số hóa” hoàn toàn và có không ít trường hợp không chỉnh lý kịp thời với những biến động của hiện trạng sử dụng đất Trước đây, việc đo vẽ bản đồ địa chính chủ yếu dựa vào máy móc, thiết bị lạc hậu (thậm chí có nơi đo vẽ thủ công) nên có sự khác nhau giữa số liệu địa chính với số liệu đất đai thực tế sử dụng; chất lượng công tác quy hoạch sử dụng đất còn thấp… nên những trường hợp vi phạm đất đai xảy ra thiếu cơ sở pháp lý để

xử lý

Thứ hai, chính sách, pháp luật đất đai có một số nội dung chưa phù hợp

với thực tiễn; đặc biệt là các quy định về xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; quy định về thời hạn sử dụng đất; quy định về hạn mức giao nộp đất nông nghiệp Việc thực hiện chính sách bảo vệ đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa ổn định) với chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị mới… còn bộc lộ sự mâu thuẫn, không tương thích Hơn nữa, chính sách, pháp luật đất đai thường xuyên sửa đổi, bổ sung

Trang 26

nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp phát triển đất nước Tuy nhiên, việc làm này cũng gây sự mâu thuẫn về nội dung của một số quy định của pháp luật đất đai

Thứ ba, việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa đơn vị hành chính xã,

huyện ở một số địa phương song nội dung xác định địa giới hành chính thực hiện không kịp thời hoặc không rõ ràng, cụ thể đã làm cho tình hình tranh chấp đất đai phức tạp thêm

quan như cán bộ thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền để tham nhũng, tiêu cực

về đất đai Công tác giải quyết tranh chấp đất đai có trường hợp chưa đúng pháp luật mà chủ yếu dựa vào cảm tính chủ quan của người có thẩm quyền hoặc hữu khuynh mất cảnh giác để kẻ xấu lợi dụng kích động, xúi giục quần chúng nhân dân gây mất ổn định chính trị - xã hội

Thứ năm, công tác tuyên truyền phổ biến, pháp luật đất đai đạt hiệu quả

thấp Mặt khác, một bộ phận quần chúng nhân dân có ý thức pháp luật chưa cao, chưa tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật đất đai, chuyển QSDĐ trái pháp luật hoặc

vi phạm các quy định về thủ tục chuyển QSDĐ… làm phát sinh các tranh chấp đất đai

2.1.4 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Theo điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm quyền giải quyết tranh

chấp đất đai như sau:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không

có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 101 Luật đất đai 2013 thì đương

sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền; + Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Trang 27

- Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

+ Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

- Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành

Theo quy định là vậy, tuy nhiên nhiều vụ việc tranh chấp Quyền sử dụng đất các cơ quan Tòa án khi tiếp nhận vụ việc thuộc thẩm quyền đã hướng dẫn cho công dân khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất hoặc trong việc ban hành các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 (vụ việc tranh chấp dân sự chuyển sang khiếu nại hành chính) Trong khi đó, các cơ quan hành chính khi tiếp nhận cho rằng: Vụ việc về bản chất là tranh chấp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án nhân dân Như vậy, quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tưởng rằng đã rõ ràng, nhưng trong thực tế áp dụng lại nảy sinh nhiều bất cập, còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau của các cơ quan có thẩm quyền khi tiếp nhận xử lý đơn thư Từ đó công dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần và ít nhiều gây bức xúc, giảm niềm tin của nhân dân và cơ quan Nhà nước Do đó, thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai cần phải quy định một cách rõ ràng hơn,

để khi các cơ quan có thẩm quyền giải quyết áp dụng không có “cơ sở, căn cứ”

để đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, tạo hiệu ứng không tốt trong việc vận hành bộ máy Nhà nước

Trang 28

Nói chung, giải quyết tốt, có kết quả một vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất là sự hội tụ đầy đủ nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Trong nhiều yếu tố đó, chính sách, pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp đất đai nằm trong hệ thống thượng tầng là rất quan trọng, cần phải được sửa đổi kịp thời, đầy

đủ Như thế, mới góp phần giải quyết tốt một trong những quan hệ đất đai đang được xem là nhạy cảm trong thời điểm hiện nay

2.1.5 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính cấp huyện

Thông thường các hoạt động trong xã hội cần phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định Trình tự, thủ tục của một hoạt động được hình thành trên cơ sở đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đó, nhằm hướng tới bảo đảm cho hoạt động đó tuân theo một trật tự nhất định và đạt được mục đích đề ra

Trên thực tế, khi giải quyết một công việc nhất định, các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện theo những nguyên tắc pháp lý được xác định một cách cụ thể - các quy phạm thủ tục Cho nên, thủ tục có thể được hiểu là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm những việc nhất định

Như vậy, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai là chương trình

tiến hành một cuộc giải quyết tranh chấp, bao gồm các quy định về thứ tự các bước tiến hành, thẩm quyền, thời hạn, cách thức thực hiện hoạt động này, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành bằng một văn bản quy phạm pháp luật

Căn cứ Điều 89 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15 tháng 05 năm

2014 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai quy định thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện như sau:

1 Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại UBND cấp có thẩm quyền

Thành phần hồ sơ gồm: Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; biên bản hòa giải tại UBND cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp; trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết

Trang 29

tranh chấp; báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành

2 Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết

3 Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch UBND cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai Hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:

a) Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;

b) Biên bản hòa giải tại UBND cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;

c) Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;

d) Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành

4 Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

Trong quá trình thực hiện các bên tham gia giải quyết tranh chấp đất đai phải tuân thủ các bước trên theo quy định của pháp luật

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới và một số quốc gia trong khu vực đã xử lý tốt vấn đề về giải quyết tranh chấp đất đai, không chỉ hạn chế được những xung đột xã hội về đất đai mà còn góp phần tích cực vào sự ổn định xã hội, tập trung sức người, sức của cho việc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội Kinh nghiệm của các nước sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn những ưu điểm và hạn chế của mình và trên cơ sở đó, gợi mở những giải pháp để hạn chế và giải tỏa tranh chấp một cách hiệu quả hơn

Trang 30

2.2.1 Anh

Ở Vương quốc Anh, việc giải quyết tranh chấp hành chính bằng cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan tài phán hành chính chiếm tỉ lệ đa số Bên cạnh

đó, một số cơ quan khác cũng tham gia thực hiện công việc này để giải quyết một

số loại khiếu kiện hành chính hoặc giải quyết theo trình tự, thủ tục khác biệt với trình tự, thủ tục thông thường hoặc nhằm bổ sung cho thiết chế chính làm nhiệm

vụ giải quyết khiếu kiện hành chính, bao gồm (Nguyễn Văn Quang, 2012):

- Cơ quan thanh tra (Ombudsman): Cơ quan này độc lập tiến hành giải quyết tranh chấp và là cấp giải quyết tranh chấp cuối cùng sau khi người tranh chấp không thoả mãn với kết quả kiểm tra, xem xét lại quyết định đã ban hành của cơ quan có thẩm quyền Khi giải quyết tranh chấp, cơ quan thanh tra đưa ra báo cáo và kiến nghị đề xuất đối với cơ quan đã ban hành quyết định bị tranh chấp Mặc dù về nguyên tắc, cơ quan đã ban hành quyết định bị tranh chấp không bắt buộc phải thực hiện theo kiến nghị, đề xuất của cơ quan thanh tra nhưng trên thực tế những đề xuất, kiến nghị này luôn được các cơ quan tôn trọng thực hiện

- Cơ quan giải quyết tranh chấp và trung gian độc lập: Ngoài các cơ quan thanh tra, gần đây ở Vương quốc Anh còn thành lập một số thiết chế khác làm nhiệm vụ giải quyết tranh chấp trong một số lĩnh vực, được gọi là cơ quan giải quyết tranh chấp và trung gian độc lập Những thiết chế này chủ yếu thực hiện việc điều tra, xem xét và đưa ra cách thức giải quyết các tranh chấp; trong nhiều trường hợp, cơ quan này cũng sử dụng các biện pháp trung gian, hoà giải để quyết khiếu nại hành chính giữa người tranh chấp và người bị tranh chấp

- Toà án: Ở Vương quốc Anh, dù có nhiều thiết chế giải quyết tranh chấp

và người ta thường tìm đến toà án với tư cách là phương thức cuối cùng để giải quyết tranh chấp nhưng toà án luôn đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống bảo vệ công lí hành chính Trên thực tế, số lượng tranh chấp được giải quyết bởi các thiết chế ngoài toà án là tương đối lớn nhưng con số tranh chấp được xét xử tại toà án ở Vương quốc Anh ngày càng gia tăng

2.2.2 Mỹ

Mỹ là nhà nước liên bang, do vậy việc tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính cũng có những nét đặc thù so với các quốc gia khác Theo báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính tại Mỹ của Ủy ban pháp luật Quốc hội thì việc tổ chức các cơ quan

Trang 31

giải quyết khiếu kiện hành chính ở Mỹ chia làm ba loại: (1) là cơ quan giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính độc lập và chúng ta vẫn thường gọi là cơ quan Tài phán hành chính Hiện nay có 26 trên tổng số 53 bang của Mỹ có cơ quan này; (2) là cơ quan giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính được tổ chức trong chính cơ quan hành chính, nhưng chuyên trách hóa- tức là những người trong cơ quan này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý của cơ quan mình Chẳng hạn như cơ quan giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về phát minh sáng chế và đãng ký nhăn hiệu hàng hóa (patent & trademark) nằm trong Ủy ban phát minh sáng chế

và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Trong trường hợp bị từ chối thì đương sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp để giải quyết tranh chấp khiếu kiện; (3) trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyên trách giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó - điển hình là Hải quan Mỹ Trong lĩnh vực hải quan, pháp luật Mỹ cho phép đương sự có thể kiện ra Tòa án hoặc khiếu nại bằng con đường hành chính Trên thực tế 90% vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nại hành chính vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án Ngoài ra, ở Mỹ còn có cơ quan độc lập chuyên giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức, (Merit Systems Protection Board)

Pháp luật Mỹ quy định trường hợp tranh chấp hành chính đã được cơ quan hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó (Đinh Văn Minh, 2010)

2.2.3 Trung Quốc

Trung Quốc là nước thành lập hệ thống Tòa hành chính từ những năm

1990 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quan đến tranh chấp hành chính Tranh chấp hành chính không phải là một trình tự bắt buộc Người tranh chấp không buộc phải khiếu kiện tới cơ quan hành chính trước khi khởi kiện ra toà án Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản pháp quy có quy định thì nó trở thành điều kiện bắt buộc Cơ quan hành chính phải giải quyết tranh chấp trong thời gian hai tháng kề từ ngày nhận được khiếu kiện Trường hợp

Trang 32

không có sự thống nhất quá trình tranh chấp hành chính, người tranh chấp có thể kiện ra Toà án hành chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trả lời của cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)

2.2.4 Hàn Quốc

Cơ chế giải quyết tranh chấp ở Hàn Quốc khá mềm dẻo và linh hoạt Hàn Quốc cũng có các hình thức tiếp nhận và xử lý như ở Việt Nam nhưng hiện nay tranh chấp ngày càng nhiều và có hình thức tiếp nhận các vụ việc tranh chấp lưu động tại các vùng sâu vùng xa và coi trọng việc đến tận nơi để lắng nghe và xử lý tại chỗ bằng cách trao đổi với các bên trong tranh chấp Công việc này mang tính chất hoà giải và được làm ngay tại địa phương cơ sở Uỷ ban chống tham nhũng

và bảo vệ quyền công dân (ACRC) là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong công tác này Tại cơ quan thanh tra, kiểm toán Hàn quốc cũng có vụ chuyên trách về tiếp nhận và xử lý tranh chấp hành chính, ở các địa phương dần dần cũng hình thành các bộ phận chuyên trách giúp chính quyền giải quyết các tranh chấp của

người dân

Điểm nổi bật trong giải quyết tranh chấp hành chính là coi trọng công tác hoà giải và tư vấn tranh chấp Đặc biệt, Hàn Quốc sử dụng đội ngũ tình nguyện viên là những công chức về hưu hoặc những luật sư còn đang hành nghề nhưng dành thời gian nhất định cho công việc này một cách tự nguyện với khoản thù lao nhỏ bé (chủ yếu là bù đắp chi phí đi lại) tham gia vào hoạt động tư vấn, tiếp và trao đổi với người có tranh chấp Ngoài ra, Hàn Quốc cũng xây dựng Trung tâm tích hợp thông tin hành chính để giúp người dân thuận tiện hơn khi tiến hành các thủ tục hành chính Tại đây, người dân có thể truy cập mọi thông tin cần thiết và cũng có thể được tư vấn trực tiếp về những vấn đề mà họ quan tâm Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa để người dân có thể vượt qua các khó khăn khi thực hiện các quyền của mình và cũng giảm đi một số lượng đáng kể các khiếu nại không cần thiết do thiếu thông tin (Đinh Văn Minh, 2009)

2.2.5 Bài học kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp đất đai tại các nước nghiên cứu

Nhìn chung, giải quyết tranh chấp đất đai của các nước nghiên cứu có rất nhiều điểm tương đồng với giải quyết tranh chấp của Việt Nam Mặc dù, ở các quốc gia khác nhau, việc tranh chấp được thực hiện thông qua các cơ quan khác nhau như: cơ quan giải quyết tranh chấp hành chính và cơ quan tài phán hành

Trang 33

chính (ở Anh), cơ quan hành chính và cơ quan tài phán hành chính (ở Mỹ), Tòa

án hành chính (ở Trung Quốc) hay Uỷ ban chống tham nhũng và bảo vệ quyền công dân (ACRC) (ở Hàn Quốc) nhưng nhờ việc quản lý hiệu quả, logic, ứng dụng công nghệ cao trong công tác giải quyết cũng như quan tâm, tư vấn cho công dân thực hiện quyền khiếu kiện một cách phù hợp, nhờ đó việc giải quyết tranh chấp được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Trong quá trình giải quyết tranh chấp, hòa giải luôn là sự lựa chọn được ưu tiên bởi tính nhanh gọn, hiệu quả bền vững, củng cố được mối quan hệ tình cảm giữa con người với con người Chính vì vậy, thể chế về hòa giải luôn được các nước quan tâm nghiên cứu theo hướng ngày càng hoàn thiện, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện tình hình mới

Quá trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai ở các nước trên cho thấy việc tổ chức thực hiện các quy định về tranh chấp của các nước có nhiều điểm ưu việt cần nghiên cứu, đó là:

- Việc thành lập những Trung tâm giải quyết tranh chấp, khiếu nại cộng đồng Về tính chất, đây là những đơn vị được tổ chức một cách tự nguyện (tổ chức xã hội) nhưng có phương thức, cách thức hoạt động được quy định cụ thể,

rõ ràng và chặt chẽ, tuân thủ theo đúng quy định pháp luật cụ thể

- Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ giải quyết tranh chấp là rất quan trọng Cần có chương trình, tài liệu cụ thể cho từng đối tượng làm công tác giải quyết tranh chấp, bảo đảm sự tương thích giữa tính chất phức tạp của các tranh chấp ngày càng tăng với trình độ của cán bộ

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận đơn thư tranh chấp đất đai

sẽ tạo ra kho dữ liệu quốc gia, mang lại nhiều lợi ích trong hoạt động quản lý, điều hành và năm bắt những bất động trong việc quản lý, sử dụng đất từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác tiếp dân giải quyết tranh chấp đất đai

- Xây dựng và áp dụng mô hình tư vấn miễn phí cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ phù hợp Qua tư vấn hành chính, người dân sẽ biết việc tranh chấp của họ không có cơ sở hoặc có cơ sở Hoạt động tư vấn hành chính trong giải quyết tranh chấp đất đai sẽ giúp làm giảm vụ tranh chấp không có căn cứ, tăng hiệu quả giải quyết sẽ giảm bớt số vụ tranh chấp không căn cứ, tăng hiệu quả giải quyết vì vụ việc được chuyển đúng đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Trang 34

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tiếp cận dưới góc độ pháp luật là một vấn đề không mới trên thế giới và ở nước ta Đây luôn là mối quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các sinh viên, vì vậy những năm gần đây đã có nhiều công trình khoa học được công bố liên quan đến lĩnh vực đất đai, được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Một số các công trình tiêu biểu sau:

Đinh Dũng Sỹ (2003), Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền

sử dụng đất của người sử dụng đất: thực trạng và kiến nghị Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10/2003), tr 55 - 64 Hồ Thị Song Quỳnh (2016), Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, Luận án tiến sĩ tâm

lý học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Lê Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Tiến Sỹ, Dương Thị Đào, Lê Văn Dũng, Phạm Văn Tỉnh và Nguyễn Phúc Bền (2012), Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất xây dựng quy trình

xử lí đơn thư tranh chấp, khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ công tác giải quyết đơn thư của ngành, Đề tài cấp Bộ Nguyễn Thắng Lợi (2014), Một số giải pháp đổi mới mô hình giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr.9 Nguyễn Tiến Sỹ và Phan Thị Thanh Huyền (2014), Hòa giải tranh chấp đất đai - Thực tiễn và kinh nghiệm Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tr 11-14…

Với những công trình khoa học đã được nghiên cứu, đề cập của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý liên quan đến đất đai nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề cả lý luận, thực tiễn về chính sách quản lý nhà nước đối với đất đai,

về hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai

Các công trình đó đã luận chứng cơ chế điều chỉnh pháp luật đất đai dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật hoặc để phản ánh, phân tích, làm

rõ về thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về quyền sử dụng đất của hệ thống cơ quan nhà nước Những công trình khoa học như đã nêu ở trên là những tư liệu sống động, có giá trị tham khảo tốt trong quá trình đầu tư nghiên cứu thực hiện hoàn thiện luận văn này

Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố về giải quyết tranh chấp đất đai xem xét dưới góc độ pháp luật, luận văn đi sâu, tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông

Trang 35

qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trên cả hai phương diện: phương diện lý luận và phương diện thực tiễn

2.4 TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN CỦA CẢ NƯỚC VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.4.1 Tình hình giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn của cả nước

Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp Tính bình quân trong cả nước tranh chấp đất đai chiếm từ 55 - 60%, thậm chí nhiều tỉnh phía Nam chiếm từ 70 - 80% các tranh chấp dân sự phát sinh (thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Bạc Liêu )

Trong lĩnh vực đất đai, nhiều vụ việc đã được giải quyết dứt điểm, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên,

từ năm 2008 đến nay, số vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai chiếm khoảng 60-70% tổng số các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong cả nước, riêng tại Bộ Tài nguyên & Môi trường, số vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thường chiếm 98% tổng số đơn nhận được hàng năm Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 5.298 đơn thư vào năm 2011 Tòa án các cấp đã thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 307.912 vụ việc, trong đó số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai là 69.806 vụ việc, chiếm 22.70%

Trong số đơn mà Bộ Tài nguyên Môi trường đã nhận được có 4.858 lượt đơn của công dân khu vực phía Bắc (chiếm 19.2%) trong đó có 2.082 vụ việc thuộc lĩnh vực đất đai Các địa phương có nhiều đơn thư như Hà Nội, Hải Phòng với gần 300 lượt đơn/năm; bên cạnh đó cũng có các địa phương có ít đơn như Sơn La, Lai Châu, Bắc Cạn và Điện Biên bình quân mỗi địa phương có dưới 5 lượt đơn/năm (ít nhất toàn quốc) Nội dung các đơn thư về tranh chấp đất đai (chiếm tỷ lệ 24.6%) trong đó tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân chiếm gần 90%

số vụ việc Bộ Tài nguyên & Môi trường đã xử lý 37 vụ việc do Thủ tướng Chính phủ giao và thuộc thẩm quyền giải quyết, trong đó số vụ việc các địa phương khu vực phía Bắc cần phải điều chỉnh lại nội dung quyết định đã giải quyết chiếm tỷ lệ 56.7%, đây là tỷ lệ tương đối cao

Với tình hình như vậy, nếu không xử lý kịp thời, đúng theo các quy định của pháp luật thì sẽ gây tâm lý hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính quyền của người dân, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích của

Trang 36

Lãnh đạo Thành phố đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc phức tạp, đông người, tồn đọng; chỉ đạo và trực tiếp đối thoại với công dân, nhất là những vụ đông người, phức tạp; chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng cho phù hợp với các quy định của pháp luật và tình hình thực tế trên địa bàn Thành phố UBND Thành phố đã thành lập các Tổ công tác để rà soát và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, tồn đọng tại một số địa bàn

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp hồ sơ tiếp nhận và xử lý tranh chấp

đất đai năm 2017

STT Các cấp quản lý

Tiếp nhận hồ

sơ xử lý (hồ sơ)

Số vụ đã giải quyết (vụ việc)

Tỷ lệ đạt (%)

Nguồn: Ban tiếp công dân thành phố Hà Nội (2017)

Cụ thể năm 2016, toàn Thành phố đã tiếp nhận và thụ lý theo thẩm quyền 1.608 vụ tranh chấp, giải quyết 1.448 vụ, đạt tỷ lệ 71.4% Số còn lại đang trong thời hạn giải quyết theo quy định pháp luật Cụ thể như sau:

Trang 37

- Các xã, phường, thị trấn đã tiếp nhận và thụ lý: 231 vụ tranh chấp; đã kết luận, giải quyết được 211 vụ tranh chấp, chiếm tỷ lệ 91.3%

- Các quận, huyện, thị xã đã tiếp nhận và thụ lý: 887 vụ tranh chấp; đã kết luận, giải quyết được 809 vụ tranh chấp, chiếm tỷ lệ 93.4%

- Các sở, ngành đã tiếp nhận và thụ lý: 192 vụ tranh chấp; đã kết luận, giải quyết được 142 vụ tranh chấp, chiếm tỷ lệ 73.95%

- Các vụ Thanh tra Thành phố xem xét, kết luận: 305 vụ tranh chấp Đến nay, Thanh tra Thành phố đã kết luận, giải quyết được 294 vụ tranh chấp, chiếm

Trang 38

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu công tác giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2018 đến tháng 9/2019;

- Số liệu thứ cấp về giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội được thu thập cho giai đoạn 5 năm (từ năm 2014 đến năm 2018);

- Số liệu sơ cấp về công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội được thu thập vào tháng 9, tháng 10 năm 2018

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Việc giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn nghiên cứu

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Cán bộ, công chức liên quan trực tiếp đến công tác giải quyết tranh chấp đất đai

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện lịch sử

- Điều kiện kinh tế

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Gia Lâm

3.4.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

3.4.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai huyện Gia Lâm giai đoạn

2014 - 2018

- Tình hình tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm

- Thực trạng giải quyết tranh chấp về đất đai huyện Gia Lâm giai đoạn

2014 – 2018

Trang 39

+ Thực trạng tiếp công dân, xử lý đơn thư giải quyết tranh chấp đất đai huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018

+ Công tác hòa giải tranh chấp đất đai

+ Đánh giá của người dân về công tác giải quyết tranh chấp đất đai giai đoạn 2014 - 2018

+ Đánh giá của cán bộ, công chức giải quyết tranh chấp đất đai của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 – 2018

3.4.4 Đánh giá những vấn đề tồn tại về thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2018

- Những kết quả đạt được

- Những mặt tồn tại, hạn chế

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn, tài nguyên thiên nhiên ); điều kiện kinh tế - xã hội giai đoạn

2014 - 2018 được thu thập tại Văn phòng UBND huyện Gia Lâm;

- Tình hình quản lý đất đai của huyện Gia Lâm; biến động sử dụng đất của huyện giai đoạn 2014 - 2018 được thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm;

- Thu thập kết quả giải quyết tranh chấp đất đai được thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Thanh tra huyện, Ban Tiếp Công dân huyện

3.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Điều tra đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có tranh chấp đất đai: Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân bằng phiếu điều tra in sẵn với tổng 45 phiếu điều tra tại các xã Ninh Hiệp, xã Yên Viên, xã Yên Thường và thị trấn Yên Viên Các tiêu chí điều tra bao gồm: nội dung tranh chấp đất đai; cấp chính quyền giải quyết vụ việc; thời gian giải quyết vụ việc…

Số lượng phiếu điều tra đối với hộ gia đình, cá nhân có tranh chấp đất đai được xác định theo công thức sau:

Trang 40

n = N/(1+N.e2) (theo Lê Huy Bá, 2006)Trong đó:

- n : Số lượng phiếu điều tra;

- N : Tổng số người có đơn tranh chấp đất đai;

- e : Sai số cho phép (5-15%)

Điều tra đối với người có tranh chấp đất đai:

- Tại nghiên cứu này:

+ Tổng số người có đơn tranh chấp đất đai: 73 người;

+ Chọn: e = 10% (Giá trị trung bình)

Thay số vào công thức trên ta có:

+ Số phiếu điều tra đối với người có đơn tranh chấp:

n = 73/(1+73* 0,12) = 42 phiếu (làm tròn 45 phiếu điều tra);

- Điều tra đối với công chức, trực tiếp thực hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Gia Lâm: Phỏng vấn trực tiếp bằng 15 phiếu để tìm hiểu nguyên nhân tạo ra khó khăn trong công tác giải quyết bằng điều tra ngẫu nhiên như sau:

+ 02 phiếu tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, gồm: 01 chuyên viên trực tiếp thực hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai và 01 lãnh đạo phòng (Phó phòng phụ trách);

+ 02 Phiếu điều tra đối với 02 công chức, Thanh tra viên Thanh tra huyện; + 03 Phiếu điều tra đối với 03 công chức Ban Tiếp công dân huyện;

+ 08 Phiếu điều tra đối với 08 công chức địa chính xã, thị trấn trên địa bàn

3.5.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu

Từ các số liệu, tài liệu đã thu thập được tiến hành thống kê và tổng hợp các số liệu theo các chỉ tiêu nhất định trên phần mềm Excel để khái quát kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm

Sử dụng phương pháp phân tích để phân tích, đánh giá về kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Gia Lâm Từ đó, xác định những thuận lợi, khó khăn để làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện trong thời gian tới

Ngày đăng: 15/07/2021, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w