1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế do biến đổi khí hậu tại xã cồn thoi, huyện kim sơn, tỉnh ninh bình và đề xuất các giải pháp thích ứng

102 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế và những đặc điểm rút ra trong quá trình nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện sinh kế của người dân như tuyên truyền, vận động nhân dân t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THỊ HÒA

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VỀ SINH KẾ

DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ CỒN THOI, HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận văn

Bùi Thị Hòa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Thị Bích Yên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh thái nông nghiệp, Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Ủy ban nhân dân xã Cồn Thoi, ban lãnh đạo, cán bộ phòng tài nguyên môi trường, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Kim Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận văn

Bùi Thị Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thuyết khoa học 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3.1 Mục tiêu chung 2

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu 4

2.1.1 Một số định nghĩa về BĐKH 4

2.1.2 Biểu hiện của BĐKH 5

2.1.3 Nguyên nhân gây nên BĐKH 6

2.1.4 Thực trạng và xu hướng BĐKH trên thế giới 7

2.1.5 Thực trạng và xu hướng BĐKH ở Việt Nam 9

2.2 Tính dễ bị tổn thương bới BĐKH 14

2.2.1 Những khái niệm về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH 14

2.2.2 Sinh kế và tính dễ bị tổn thương về sinh kế do BĐKH 16

2.2.3 Khái niệm về khung sinh kế 16

2.2.4 Các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương bới BĐKH 18

2.3 Thích ứng với BĐKH 25

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30

Trang 5

3.1 Địa điểm nghiên cứu 30

3.2 Thời gian nghiên cứu 30

3.3 Đối tượng/ vật liệu nghiên cứu 30

3.4 Nội dung nghiên cứu 30

3.5 Phương pháp nghiên cứu 30

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 30

3.5.2 Phương pháp phân tích số liệu 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 35

4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Cồn Thoi 35

4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Cồn Thoi 35

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

4.2 Đánh giá biểu hiện BĐKH trên địa bàn nghiên cứu những năm gần đây 44

4.3 Đánh giá sự tổn thương do BĐKH tác động đến sinh kế cộng đồng dân cư theo chỉ số lvi 46

4.4 Đánh giá sự tổn thương do BĐKH tác động đến sinh kế cộng đồng dân cư theo chỉ số LVI - IPCC 55

4.5 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện sinh kế 57

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 60

Tài liệu tham khảo 62

Phụ lục 65

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt

AMS Hiệp hội Khí tượng Mỹ

BĐKH Biến đổi khí hậu

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

IPPC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

UBND Ủy ban nhân dân

UNDP Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Sự đóng góp của các yếu tố theo IPCC đến các yếu tố tổn thương chính 33Bảng 4 1 Cơ cấu sử dụng đất của xã Cồn Thoi 39Bảng 4 2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp xã Cồn Thoi 40Bảng 4 3 Xu hướng thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trên từng thập kỉ giai đoạn từ

1964-2016 44Bảng 4 4 Giá trị các yếu tố chính, yếu tố phụ và chỉ số LVI xóm 8B và xóm 7C, xã

Cồn Thoi 47Bảng 4 5 Chỉ số các yếu tố đóng góp tính dễ bị tổn thương theo IPCC và chỉ số dễ bị

tổn thương LVI-IPCC ở Xóm 8B và 7C, xã Cồn Thoi 56

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2 1 Số lượng các đợt nắng nóng hàng năm trên cả nước 10

Hình 2 2 Số đợt mưa lớn diện rộng ở Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 11

Hình 2 3 Xu thế biến đổi số ngày sương muối trung bình khu vực Tây Bắc 13

Hình 2 4 Khung sinh kế theo DFID 17

Hình 3 1 Mô hình sự đóng góp của các yếu tố theo IPCC đến các yếu tố tổn thương chính 34

Hình 4 1 Vị trí địa lý xã Cồn Thoi (xóm 7C và 8B là 2 xóm được chọn theo vị xa và gần biển để điều tra) 36

Hình 4 2 Trung bình nhiệt độ tối cao, trung bình nhiệt độ tối thấp và trung bình lượng mưa theo tháng giai đoạn 1964-2016 37

Hình 4 3 Cơ cấu giống lúa theo vụ năm 2016 41

Hình 4 4 Xu hướng thay đổi số ngày có lượng mưa >=100mm trong vụ mùa, giai đoạn 1964 – 2016 46

Hình 4 5 So sánh các yếu tố chính LVI của xóm 8B và xóm 7C, xã Cồn Thoi (LVI=0 cho biết mức tổn thương thấp nhất; LVI=1 cho biết mức tổn thương cao nhất) 55

Hình 4 6 Phân bố các yếu tố của LVI – IPCC 56

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Bùi Thị Hòa

Tên luận văn: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế do biến đổi khí hậu tại xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và đề xuất các giải pháp thích ứng”

Ngành: Khoa học môi trường Mã Số: 60 44 03 01

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm nghiên cứu tính dễ bị tổn thương về sinh kế của cộng đồng xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trước BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng

Phương pháp nghiên cứu

Số liệu khí tượng từ năm 1964-2016 được thu thập tại trạm Khí tượng thủy văn gần điểm nghiên cứu nhằm đánh giá sự BĐKH thông qua phân tích thống kê tương quan và ANOVA Phương pháp phỏng vấn hộ dân sử dụng bảng hỏi có cấu trúc được

áp dụng nhằm đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế

Kết quả chính và kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung nhiệt độ trung bình năm tăng cũng khá cao, nhiệt độ tối thấp tăng 0,16 độ C/thập kỉ (P<0,05), nhiệt độ tối cao tăng 0,11 độ C/thập kỉ (P>0,1) Nền nhiệt vụ xuân có xu hướng tăng mạnh hơn vụ mùa khi tăng từ 0,19 (nhiệt độ tối cao) – 0,20 độ C/thập kỉ (nhiệt độ tối thấp), trong khi vụ mùa tăng từ 0,13 (nhiệt độ tối cao) - 0,20 độ C/thập kỉ (nhiệt độ tối thấp) Lượng mưa có sự suy giảm mạnh mẽ nhất là từ giai đoạn 1980 trở đi Trong khi trước năm 1980, số ngày có lượng mưa ≥100 mm vào vụ mùa dao động trong khoảng 20 – 35 ngày thì từ sau năm

1980 trở đi, con số đó chỉ cao nhất là khoảng 7 ngày (năm 1985 và năm 2015), có năm không có ngày nào lượng mưa đạt mức 100 mm ( năm 1995, 1997, 1999 và 2004) Giá trị chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) của xóm 8B (bằng 0,464) cao hơn xóm 7C (bằng 0,402), cho thấy tính dễ tổn thương của xóm 8B cao hơn so với xóm 7C Sự phô bày (sự thể hiện của tác động) ở xóm 8B cao hơn xóm 7C là 0,046; khả năng thích ứng của xóm 8B (bằng 0,598) thấp hơn xóm 7C (bằng 0,639) Do đó, tính dễ bị tổn thương của xóm 8B (bằng 0,489) cao hơn xóm 7C (bằng 0,401)

Người dân đã áp dụng một số biện pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu như: thay đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, thay đổi lịch thời vụ gieo trồng, thay đổi giống cây trồng, sử dụng các loại giống lai năng suất cao, ngắn

Trang 10

ngày có khả năng chịu hạn, chịu rét Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu bệnh, một số biện pháp kỹ thuật như: phủ nilon, làm luống, che phủ để tránh rét, tránh úng

Từ thực tế và những đặc điểm rút ra trong quá trình nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện sinh kế của người dân như tuyên truyền, vận động nhân dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm và mạnh dạn trong sản xuất, kinh doanh;

tổ chức các lớp tập huấn cho người dân về phòng, tránh và biện pháp giảm thiểu thiệt hại do ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống…

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Bui Thi Hoa

Thesis title: "Livelihood vulnerability assessment to climate change in Con Thoi Commune, Kim Son district, Ninh Binh province"

Major: Environment Code number: 60 44 03 01

Educational organization: Viet Nam National University of Agriculture

Research Objectives

This project aims to study the vulnerability of the livelihoods to climate change in Con Thoi commune, Kim Son district, Ninh Binh province, and propose adaptation measures

Research Methods

Meteorological data from 1964 to 2016 were collected at the meteorological station near the study site to assess climate change through correlative statistical analysis and ANOVA Household interviewing method using a structured questionnaire was used to assess livelihood vulnerability

hydro-Main findings and conclusions

The research results show that the average annual temperature increase is quite high, low temperature increases 0.160C/decade (P <0.05), the maximum temperature increases 0.110C/decade (P>0,1) The spring crop heat tended to increase more strongly than the summer crop when it increased from 0.19 (maximum temperature) - 0.20 degrees Celsius/ decade (minimum temperature), while the summer crop increased from 0.13 maximum temperature) - 0.20 degrees Celsius/decade (minimum temperature) Rainfall has the strongest decline from the 1980s onwards While before 1980, the number of days with rainfall ≥100 mm in the season ranged from 20 to 35 days, then after 1980, that number was only about 7 days (1985 and 2015) There are no days where rainfall reaches 100 mm (1995, 1997, 1999 and 2004)

The value of the livelihood vulnerability index (LVI) of hamlet 8B (equal to 0,464) was higher than that of hamlet 7C (equal to 0,402), indicating that the vulnerability of hamlet 8B was higher than that of hamlet 7C; the adaptability of hamlet 8B (0.598) was lower than that of hamlet 7C (equal to 0.639) So, the vulnerability of hamlet 8B (0.489) is higher than that of hamlet 7C (0.401)

The people have applied some measures to adapt to climate change such as changing the crop structure from rice cultivation to aquaculture, changing cropping

Trang 12

calendar, Plant varieties, using high-yield, short-term hybrids with drought tolerance and cold tolerance Use of pesticides to eradicate pests and diseases, some technical measures such as plastic cover, bedding, cover to avoid cold, avoid waterlogging From reality and characteristics drawn in the process of research, propose solutions to improve the capacity of adaptation and improvement of people's livelihoods such as propagandizing and mobilizing people to change their thinking, boldly in production and business; Organize training courses for people on preventive measures and mitigation measures due to the impact of climate change on life

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện đang là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm, nó đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu

Bộ Tài nguyên Môi trường cho rằng hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam

là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2012) Mặt khác nước ta có dân số sinh sống phần lớn ở vùng nông thôn, miền núi, ven biển Nguồn sinh kế của họ đặc biệt là nguồn sinh kế của hộ nghèo từ nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp là chủ yếu và nó phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên BĐKH đã đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì nguồn sinh kế bền vững

Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp tăng từng năm, đây cũng là nơi có vị trí hội tụ giao thông liên vùng rất thuận lợi trong việc lưu thông hàng hóa với các địa phương khác trong cả nước Tuy nhiên, trong những năm gần đây, BĐKH ngày càng tác động sâu rộng trên địa bàn tỉnh, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cũng như đời sống người dân

Sự tác động rõ nét nhất phải kể đến huyện Kim Sơn, thuộc tỉnh Ninh Bình Kim Sơn là huyện đồng bằng ven biển, mặc dù là một vùng đất đặc biệt, được sự bồi tụ hàng năm của sông Càn và sông Đáy giúp nơi đây lấn ra biển 80-100m mỗi năm, nhưng do là một vùng đất thấp ven biển nên Kim Sơn vẫn nằm trong các khu vực dễ bị tổn thương, tác động nhất bởi BĐKH Xã Cồn Thoi thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, nằm cách biển tầm 7km về phía bắc, nhiều năm gần đây phải hứng chịu nhiều các loại hình thời tiết cực đoan, thiên tai do ảnh hưởng của BĐKH với tần suất ngày càng tăng, ảnh hưởng rất lớn tới sinh kế người dân trong xã

Do đó, đề tài: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế do biến đổi khí hậu tại xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và đề xuất các giải pháp

Trang 14

thích ứng” được thực hiện nhằm tạo cơ sở bước đầu cho việc cung cấp các khuyến nghị và đề xuất giải pháp cho các hoạt động sinh kế và quản lý tài nguyên hỗ trợ tăng cường khả năng thích ứng của người dân địa phương trước những tác động của BĐKH

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

 Tình hình thời tiết tại địa phương trong những năm gần đây diễn biến thất thường, ảnh hưởng nhiều đến đời sống người dân

 Khu vực gần biển hơn sẽ dễ bị tổn thương trước những tác động của BĐKH hơn những khu vực sâu trong đất liền

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3.1 Mục tiêu chung

Đề tài nhằm nghiên cứu tính dễ bị tổn thương về sinh kế của cộng đồng xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trước BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng

- Đánh giá sự tổn thương do BĐKH tác động đến sinh kế cộng đồng dân

cư theo chỉ số LVI – IPCC (chỉ số LVI được tính bằng cách sử dụng khung sinh kế IPCC)

- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện sinh kế người dân trước những tác động của BĐKH

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi thời gian: 1/6/2016 – 1/10/2017

- Phạm vi không gian: xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN

 Những đóng góp mới:

Đề tài thực hiện sẽ đóng góp vào kho tài liệu của trường Học viện nông nghiệp Việt Nam và của tỉnh Ninh Bình nói riêng, của nước ta nói chung một

Trang 15

nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương bới BĐKH đến sinh kế người dân xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

 Ý nghĩa khoa học:

Luận văn sử dụng phương pháp điều tra bằng phiểu câu hỏi để đánh giá mức độ dễ bị tổn thương bởi BĐKH đối với sinh kế của người dân địa phương; bên cạnh đó luận văn cũng sử dụng cách tiếp cận được đánh giá cao để tính các chỉ số về tính dễ bị tổn thương của Hahn và cộng sự

 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, luận văn hy vọng mô tả được đầy đủ những tác động cũng như mức độ dễ bị tổn thương bởi BĐKH của người dân xã Cồn Thoi, nhận biết được yếu tố nào dễ bị tổn thương nhất, qua

đó có cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện sinh kế người dân

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2.1.1 Một số định nghĩa về BĐKH

Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởi các trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và

nó thường có tính chất ổn định, ít thay đổi Tuy nhiên, ngày càng nhiều những nghiên cứu khoa học, những công trình cấp quốc tế đã chỉ ra khí hậu thực chất đang dần biến đổi

Theo Điều 1, điểm 2, công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (UNFCCC) năm 1992: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được” (United Nations, 1992)

Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự BĐKH có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn cầu

Định nghĩa BĐKH của Hiệp hội Khí tượng Mỹ (American Meteorological Society – AMS): “Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất hoặc gió), qua hàng chục năm hoặc lâu hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên, như các thay đổi trong quá trình phát năng lượng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay trái đất, hoặc

do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khí hậu, hoặc do các tác động từ từ của con người”

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) định nghĩa BĐKH “là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”

Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, BĐKH thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu

Trang 17

Theo báo cáo tổng hợp của IPCC về biến đổi khí hậu năm 2014, biến đổi khí hậu là sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu có thể được xác định (ví dụ như sử dụng các kiểm tra thống kê) bởi những thay đổi trong giá trị trung bình và/hoặc sự thay đổi thuộc tính của nó, và trong thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc lâu hơn (IPCC, 2014) BĐKH có thể là do quá trình tự nhiên bên trong hoặc do tác động từ bên ngoài, hoặc thay đổi liên tục do con người đến các thành phần của khí quyển hay trong sử dụng đất (IMHEN và UNDP, 2015)

2.1.2 Biểu hiện của BĐKH

Theo Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007), các biểu hiện của BĐKH bao gồm:

• Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu

• Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan

• Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển

• Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất

• Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

• Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển

Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của BĐKH

Theo Nguyễn Ðức Ngữ (2008), các biểu hiện của BĐKH là:

- Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thuờng của thời tiết

và khí hậu tăng

- Nuớc biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao

- Các hiện tuợng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cuờng độ và độ khác thuờng lớn hơn

 Khí hậu cực đoan

Định nghĩa của IPCC (2007) về “hiện tuợng thời tiết cực đoan” và “hiện tuợng khí hậu cực đoan” như sau:

Trang 18

Hiện tuợng thời tiết cực đoan: là hiện tuợng hiếm ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Hiếm có thể hiểu là các hiện tuợng thời tiết cực đoan thông thuờng có tần suất xuất hiện nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự nhiên, bức xạ, địa hình…

Hiện tuợng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tuợng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung bình tự nó đã là cực đoan Hiện tuợng khí hậu cực đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu Nói cách khác, hiện tuợng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không

2.1.3 Nguyên nhân gây nên BĐKH

BĐKH hiện đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm Nhiều dự án, công trình nghiên cứu khoa học đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của khí hậu Theo đó, có 2 nhóm nguyên nhân:

 Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí

và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển

 Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ

sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước, sự gia tăng lượng phát thải khí

CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người

Ngoài các nguyên nhân tự nhiên và tính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu, các nhà khoa học về môi trường hàng đầu thế giới đều nhận định rằng nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Mặc dù trái đất có thể tạo ra hiệu ứng nhà kính tự nhiên để duy trì sự sống của trái đất, nhưng sự thay đổi khí hậu do con người gây ra được coi là hiệu ứng nhà kính nhân tạo và làm cho bầu khí quyển đang ngày càng nóng lên Nhằm hạn chế sự BĐKH, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

Trang 19

 CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh

ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

 CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

 N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

 HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22

 PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

 SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê

Có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc biệt trong kỷ nguyên công nghiệp (UNDP, 2008) Trong suốt gần 1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 đến 280 phần triệu (ppm) Hiện tại, con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387ppm và sẽ còn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa (Ngân hàng Thế giới, 2010) Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân chính của vấn đề BĐKH là do trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008)

2.1.4 Thực trạng và xu hướng BĐKH trên thế giới

Nếu như trước đây BĐKH vẫn còn đang được cả thế giới đặt một dấu chấm hỏi rằng liệu BĐKH trên thực tế có xảy ra hay không và có phải do con người gây ra hay không, thì ngày nay những tác động ngày càng rõ rệt của BĐKH tới trái đất đã phá tan sự hoài nghi đó và vào những năm đầu thế kỷ XXI, với những bằng chứng xác thực, các nhà khoa học đã chứng minh được sự can thiệp thô bạo của con người vào môi trường trái đất, đó là việc sử dụng các chất hóa thạch như than đá, dầu lửa, khí đốt; là việc tàn phá các cánh rừng; việc phát triển công nghiệp hóa đã và đang thải ra bầu khí quyển nhiều loại khí gây hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên từng ngày BĐKH trở thành chủ đề nóng của nhiều hội nghị cấp cao trên thế giới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon cho rằng: “BĐKH cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những

đe dọa to lớn như chiến tranh”; “BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường, mà

Trang 20

còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến tình hình cung cấp lương thực toàn cầu, vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình, an ninh thế giới” Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã thành lập các tổ chức để chỉ đạo

và điều phối các hoạt động ứng phó với tình hình BĐKH, xây dựng các chương trình, chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với BĐKH (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2010)

Mặc dù hiện vẫn còn nhiều điều chưa biết chắc chắn về tốc độ nóng lên, thời gian chính xác và các hình thức tác động, nhưng những nguy cơ gắn liền với thực trạng các lớp băng lớn trên trái đất đang tan ra ngày một nhanh, nhiệt độ các đại dương tăng lên, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới bị hủy hoại… và những hậu quả khác có thể xảy ra là hoàn toàn có thật (UNDP, 2008)

Nhiệt độ trung bình toàn cầu đã trở thành thước đo phổ biến về thực trạng khí hậu toàn cầu Trong khoảng 100 năm qua (giai đoạn 1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,70C (1,30F) (UNDP, 2008) Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), năm 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử Ngoài ra, trong mười năm qua (2001-2010), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất đối với bất kì giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết

bị đo đạc (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vực khác nhau đang thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các cực đang tan ra và mực nước biển đang dâng lên (UNDP, 2008) Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961-

2003 đã dâng với tốc độ 1,8 ± 0,5mm/năm, trong đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và băng tan khoảng 0,70 ± 0,50mm/năm Tuy nhiên, mực nước biển thay đổi không đồng đều trên toàn bộ đại dương: ở một số vùng, mực nước biển dâng gấp một vài lần so với tốc độ dâng trung bình toàn cầu, trong khi ở một số vùng khác, mực nước biển đã hạ thấp hơn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

Trang 21

Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con người cũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan Hạn hán

và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn; các cơn bão trở nên mạnh hơn; nhiều đợt nắng nóng hơn; số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm đi, trong khi các đợt nắng nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ của những cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn Hàng loạt các tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như: đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá mùa đông khốc liệt Những trận bão lớn vừa xảy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân

từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất (Ngô Huyền, 2015)

2.1.5 Thực trạng và xu hướng BĐKH ở Việt Nam

BĐKH đang gây ra những biến động mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nắng nóng, hạn hán, mưa lớn, lũ lụt, nước biển dâng cao…

 Nắng nóng

Tác động của các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ ở Việt Nam được thể hiện qua những ảnh hưởng của các hiện tượng nắng nóng (nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35 ºC), khô nóng (nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35ºC

và độ ẩm tương đối RH ≤ 55 %) Các nghiên cứu gần đây từ số liệu quan trắc cho thấy, ở Việt Nam, số ngày và số đợt nắng nóng hàng năm có xu thế tăng lên trên hầu khắp toàn quốc, nhất là khu vực miền Trung (Phan Văn Tân, 2010) Một số nơi đã quan trắc được giá trị nhiệt độ cao kỷ lục

Theo thống kê của TT KTTVQG (1998-2013), trong 16 năm gần đây, số đợt nắng nóng hàng năm có xu thế tăng khá mạnh (Đồ thị 2.1) (IMHEN và UNDP, 2015)

Trang 22

Hình 2.1 Số lượng các đợt nắng nóng hàng năm trên cả nước

Nguồn: IMHEN và UNDP (2015)

Năm 2012 có tới 18 đợt nắng nóng, nhiều nhất trong giai đoạn này Năm ít nhất là năm 1998 (6 đợt) Tuy nhiên, đây lại là năm có tổng số ngày nắng nóng lớn nhất giai đoạn, lên tới 132 ngày (trong 6 đợt) Trong các đợt nắng nóng mạnh, nhiệt độ ở một số nơi lên tới trên 40ºC

 Hạn hán

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đợt hạn nặng đã xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi trên lãnh thổ nước ta; trong đó, tần suất hạn cao chủ yếu tập trung vào các tháng thuộc vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) (Bộ TN&MT, 2012) Hạn vào mùa đông chủ yếu xảy ra ở khu vực Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên; hạn mùa hè thịnh thành ở Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Hạn mùa đông tần suất cao hơn hạn mùa hè và tần suất hạn mùa đông có thể lên đến 100% ở một số nơi thuộc Tây Nguyên và Nam

Bộ (Nguyễn Trọng Hiệu, Phạm Thị Thanh Hương, 2002; Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu, 2004) Nguyễn Trọng Hiệu và Phạm Thị Thanh Hương (2002) cho rằng hạn chỉ xảy ra vào các tháng mùa đông, mùa xuân, mùa hè và không có tình trạng hạn vào các tháng mùa thu; trong đó, ở khu vực Tây Bắc xảy

ra hạn cả trong mùa đông và mùa xuân; vùng Đông Bắc xảy ra hạn trong mùa đông; vùng Đồng bằng Bắc bộ xảy ra hạn trong mùa đông; vùng Bắc Trung Bộ xảy ra hạn vào nửa cuối mùa đông; vùng Nam Trung Bộ xảy ra hạn vào cuối mùa

Trang 23

đông và kéo dài đến giữa mùa hè; vùng cực Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên

và vùng Nam Bộ xảy ra hạn nặng trong cả mùa đông và mùa xuân (Nguyễn Trọng Hiệu và Phạm Thị Thanh Hương, 2002) Một số năm hạn điển hình gây thiệt hại lớn đối với kinh tế - xã hội có thể kể đến như hạn hán năm 1997-1998, hạn hán năm 2004-2005 và hạn hán năm 2010 Giai đoạn 2000-2007 được xem là

có sự biến động mạnh của hạn hán, thường là thể hiện xu thế tăng lên của hiện tượng này trên cả nước Xét trong cả thời đoạn dài từ trong quá khứ đến năm

2007 thì xu thế tăng/giảm thể hiện không rõ (Phan Văn Tân, 2010)

 Mưa lớn

Diễn biến mưa lớn trong quá khứ cho thấy độ dài của các đợt mưa và số lượng các đợt mưa lớn tăng lên đáng kể Trong giai đoạn 1950-2000, mưa lớn tăng lên ở khu vực phía Nam, giảm ở các khu vực phía bắc Việt Nam (Endo et al., 2009) Phan Văn Tân (2010) cho rằng số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Bắc có xu thế giảm; ngược lại xu thế tăng nhẹ ở vùng Nam Bộ; tăng khá mạnh ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên Các tác giả cũng cho rằng, tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông Thái Bình dương xích đạo với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam

Hình 2.2 Số đợt mưa lớn diện rộng ở Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012

Nguồn: IMHEN và UNDP (2015)

Trang 24

Tổng hợp từ các báo cáo hàng năm về đặc điểm khí tượng thuỷ văn ở Việt Nam cho thấy, hiện tượng mưa lớn diện rộng có xu thế tăng mạnh, chủ yếu gây

ra bởi sự xuất hiện của XTNĐ, dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ), không khí lạnh, gió mùa Tây Nam và sự kết hợp giữa các loại hình thế này Trong 20 năm gần đây (1993-2012), số đợt mưa lớn diện rộng xảy ra nhiều nhất vào năm 2008 (56 đợt),

ít nhất vào năm 1996 (12 đợt) (IMHEN và UNDP, 2015)

 Lũ lụt

Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy, BĐKH có khả năng làm gia tăng mức độ nguy hiểm của lũ lụt trong tương lai, thể hiện ở lưu lượng đỉnh lũ và tổng lượng lũ tăng lên Trần Thanh Xuân và cs.(2011) dự tính mức biến đổi của lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm tương ứng với tần suất 1% và 5% theo 2 kịch bản trung bình (B2) và cao (A2) tại một số trạm thủy văn trên một số sông Kết quả cho thấy, giá trị lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm (Qmax) tương ứng với các tần suất trên phần lớn các sông đều có xu thế tăng, mức tăng nhiều hơn ứng với các tần suất nhỏ, chỉ riêng một số nhánh sông của sông Đồng Nai, Qmax lại có xu thế giảm Với kịch bản B2, vào thời kỳ 2040-2059, giá trị Qmax tương ứng với tần suất 1% (Qmax 1%) trên phần lớn các sông đều tăng vào khoảng 1,0-5,0% so với thời kỳ 1980-1999, tăng mạnh ở một số nhánh sông thuộc hệ thống sông Hồng (khoảng 10,0% ở sông Thao tại Yên Bái và sông Lô tại Vụ Quang), nhưng lại có

xu thế giảm ở sông La Ngà (-0,29% tại Tà Pao) và thượng lưu sông Bé (-1,0% tại Phước Long) Vào thời kỳ 2080-2099, mức gia tăng của Qmax 1% trên phần lớn các sông khoảng 0-15,0%, tăng mạnh ở hạ lưu sông Ba (18,5% tại Củng Sơn), sông Thao (21,7% tại Yên Bái), sông Lô (19,0% tại Ghềnh Gà) Ở sông La Ngà

và thượng lưu sông Bé, giá trị Qmax 1% của hầu hết các sông vào thời kỳ

2080-2099 đều giảm khoảng 0,5-2,5% Với kịch bản A2, giá trị Qmax tương ứng với các tần suất của hầu hết các sông đều có xu thế tăng so với thời kỳ 1980-1999, nhưng giảm ở sông La Ngà và thượng lưu sông Bé; mức biến đổi của Qmax lớn hơn so với kịch bản B2 Ngoài ra, mức biến đổi của Qmax tương ứng tần suất 1% lớn hơn so với tần suất 5% Từ đó có thể cho rằng, mức biến đổi của các trận

lũ nhỏ ít hơn so với các trận lũ lớn và đặc biệt lớn (Trần Thanh Xuân và cs., 2011) Trên sông Mê Công, lưu lượng trung bình ngày lớn nhất (Qmax,ng) tại Kratie trong từng thời kỳ 10 năm từ 2010 đến 2050 đều tăng theo các kịch bản BĐKH Tuy nhiên, tăng rõ rệt và tách bạch giữa 2 kịch bản A2, B2 chỉ sau năm

Trang 25

2030 Đến giữa thế kỷ 21, Qmax,ng có thể tăng khoảng 60-70% so với đỉnh lũ năm 2000 (Thanh Xuân và cs., 2011)

 Sương muối, rét đậm

Trong khi khí hậu miền Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ấm quanh năm, Miền Bắc lại có mùa đông lạnh do bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi khối không khí lạnh cực đới ở phía bắc bán cầu (Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc, 1975) Vào mùa đông và đầu mùa xuân, các đợt rét đậm (nhiệt độ trung bình ngày T2m

≤ 15 ºC) và rét hại (T2m ≤ 13 ºC) xảy ra liên tiếp, kéo dài Hệ quả là sương giá, sương muối xuất hiện ở một số vùng, ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế

Hình 2 3 Xu thế biến đổi số ngày sương muối trung bình khu vực Tây Bắc

Nguồn: Dương Văn Khảm (2012)

 Mực nước biển cực trị

Theo số liệu quan trắc từ các trạm hải văn ven biển Việt Nam, mực nước biển ở hầu hết các trạm có xu thế tăng Do sự nóng lên toàn cầu và các hiệu ứng khác, mực nước biển gần bờ Việt Nam tăng khoảng từ 1-3 mm/năm (Phạm Văn Huấn và Nguyễn Tài Hợi, 2007) Nghiên cứu gần đây cho thấy, xu thế tăng của mực nước biển trung bình dọc bờ biển Việt Nam khoảng 2,8 mm/năm (Bộ

Trang 26

TN&MT, 2012) Nghiên cứu từ số liệu vệ tinh cho thấy, mực nước trung bình trên khu vực biển Việt Nam từ năm 1993 đến 2010 tăng khoảng 4,7 mm/năm Mực nước biển trung bình tại khu vực ven biển Trung Trung Bộ và khu vực ven biển Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn các khu vực khác trong dải ven biển Việt Nam Mực nước biển trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9 mm/năm (Nguyễn Xuân Hiển và cs., 2010)

2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG BỚI BĐKH

2.2.1 Những khái niệm về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH

Có nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói, vv…Gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức

độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của BĐKH Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau:

Theo Adger (1999), TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH Nó được coi là một hàm của hai thành phần: ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng như vậy có thể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure)

Kasperson et al (2000) định nghĩa TDBTT như mức độ mà một hệ thống

dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thẳng và thiếu năng lực hoặc các biện pháp để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng một cách cơ bản để trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ bị mất đi vĩnh viễn

Moss et al (2001) đã xác định mười đại diện cho năm lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến khí hậu đó là mức độ nhạy cảm về định cư, an ninh lương thực, sức khỏe con người, hệ sinh thái và nguồn nước và bảy đại diện cho ba lĩnh vực đối phó và năng lực thích ứng, năng lực kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực tài nguyên môi trường hay tự nhiên Các đại diện đã được tổng hợp thành các chỉ

số ngành, các chỉ số về mức độ nhạy cảm và các chỉ số đối phó hoặc năng lực thích ứng và cuối cùng là xây dựng các chỉ số về khả năng chống chịu TDBTT đối với BĐKH

Trang 27

Dolan and Walker (2003) đã thảo luận các khái niệm về TDBTT

và trình bày một khung tích hợp đa cấp để đánh giá TDBTT và năng lực thích ứng Những yếu tố quyết định năng lực thích ứng bao gồm khả năng tiếp cận và phân phối của cải, công nghệ, và thông tin, nhận thức và quan điềm về rủi ro, vốn

xã hội và các khung thể chế quan trọng để giải quyết các nguy cơ của BĐKH Chúng được xác định ở cấp độ cá nhân và cộng đồng và nằm trong phạm vi khu vực thiết lập, quốc gia và quốc tế Kiến thức truyền thống và địa phương là chìa khóa để thiết kế và thực hiện nghiên cứu và cho phép kết quả có liên quan tại địa phương có thể hỗ trợ trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và quản lý hiệu quả hơn tại các khu vực ven biển xa xôi hẻo lánh

Tính dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính nội bộ của các yếu tố ảnh hưởng Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này bao gồm các đặc tính của một người hoặc một nhóm và tình hình của họ có ảnh hưởng đến khả năng để dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ các tác động có hại của các hiện tượng vật lý (Wisner et al., 2004)

USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (United State Environment Protection Agency, 2006) định nghĩa tính tổn thương của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống

Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ Trên thực tế, IPCC

đã đưa ra các khái niệm khác nhau về TDBTT đối với BĐKH qua các năm Năm

1992, TDBTT được định nghĩa như mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 (SAR) của IPCC đã định nghĩa TDBTT là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của

hệ thống mà còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Định nghĩa này bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH Năm 2001, báo cáo lần thứ 3 (TAR) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm với các thiệt hại do BĐKH gây ra TDBTT là một hàm của mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những thay đổi của khí hậu (mức độ mà một hệ thống sẽ ứng phó

Trang 28

với một sự thay đổi của khí hậu, bao gồm những tác động có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức độ mà sự điều chỉnh trong thực tiễn, quá trình thực hiện, hoặc

cơ cấu có thể giảm nhẹ hoặc bù lại được những thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo ra từ sự thay đổi khí hậu đó), và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơ khí hậu Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống

bị nhạy cảm hoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan TDBTT là một hàm của các đặc tính, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao dộng khí hậu mà hệ thống đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó Theo định nghĩa mới nhất này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường thì TDBTT theo đó sẽ giảm đi Năm 2012, IPCC nêu tính dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình (IPCC, 2012 trang 31)

2.2.2 Sinh kế và tính dễ bị tổn thương về sinh kế do BĐKH

Sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường sá, ) và các hoạt động cần có để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phát huy được tiềm năng con người để từ đó thực hiện sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Đặc biệt, một sinh kế bền vững phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (dự án IMOLA, 2006) Theo đó, tổn thương sinh kế do BĐKH được đặc trưng như là sự “không bảo đảm” đối với đời sống của các cá nhân, hộ gia đình

và cộng đồng khi đối mặt với những thay đổi của môi trường bên ngoài Bối cảnh gây tổn thương đối với sinh kế là những thay đổi đột ngột có khả năng ảnh hưởng đến cơ sở nguồn lực và các hoạt động kiếm sống như là dịch bệnh, tai biến, lũ lụt, hạn hán, Các áp lực như những xu hướng dài hạn có khả năng làm xói mòn tiềm năng sinh kế bao gồm các vấn đề về dân số, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, lạm phát,…cũng được xem là bối cảnh gây tổn thương đối với sinh kế (Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều, 2012)

2.2.3 Khái niệm về khung sinh kế

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người

Trang 29

Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt con người làm trung tâm trong quá trình phân tích Mặc dầu có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức thì có mức độ vận dụng khác nhau nhất định, khung phân tích sinh kế có những thành phần cơ bản giống nhau sau:

Hình 2.4 Khung sinh kế theo DFID

Nguồn: DFID (2003)

Khung sinh kế bền vững có 5 yếu tố chính là 5 loại vốn sinh kế: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính; trong đó lấy vốn con người làm trung tâm nhằm giải thích mối quan hệ giữa con người, sinh kế của họ, các môi trường và các loại thiết chế Sinh kế được hiểu là các phương tiện để kiếm sống, bao gồm năng lực sinh kế và các tài sản hữu hình, vô hình Trong khung sinh kế bền vững, khái niệm tính bền vững có quan hệ chặt chẽ với khả năng ứng phó và phục hồi sau các căng thẳng, chấn động (các cú sốc) cũng như duy trì các nguồn lực tự nhiên (Nguyễn Thị Vĩnh Hà, 2016)

Trang 30

2.2.4 Các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương bới BĐKH

 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, TDBTT đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo ), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người vv trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH Tính dễ bị tổn thương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh và nguyên nhân rất đa dạng như sự BĐKH toàn cầu, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi

tổ chức và thể chế, chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường vv

Lịch sử nghiên cứu TDBTT được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặc biệt được quan tâm nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX, thể hiện trong các công trình của Watts, M.J và Bohle, H.G (1993); Blaikie và nkk (1994); Adams, R.H (1995); Adger, W.N 91996); Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ – NOAA (1999); Sander Evan der Leeuw and Chr Aschan-Leygonie (2000); Adger, W.N and Kelly, P.M (2001); Poul Mathieu (2001); Holger Hoff (2001) Vào cuối thế kỷ XX, một số mô hình về tổn thương và phương pháp đánh giá TDBTT dựa trên các thông số được lượng hóa có hệ thống đã được định hình trên thế giới như phương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter Các mô hình này tập trung vào nghiên cứu xây dựng các bản đồ về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ phân bố các đối tượng dễ bị tổn thương, từ đó thành lập bản đồ đánh giá TDBTT Để làm được điều đó phải có một cơ sở dữ liệu tin cậy, chi tiết, và được thu thập một cách có hệ thống nhờ sự phối hợp của rất nhiều

cơ quan khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội) Các phương pháp này đã chứng tỏ được tính ưu việt của chúng trong việc dự báo TDBTT do những tai biến tiềm tàng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hạn chế, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại và là cơ sở quan trọng trong nghiên cứu TDBTT Các công trình nghiên cứu TDBTT do BĐKH của IPCC (2007) đã chỉ ra 7 yếu tố quan trọng khi đánh giá TDBTT, đó là: 1) Cường độ tác động; 2) Thời gian tác động; 3) Mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động; 4) Mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và TDBTT; 5) Năng lực thích ứng; 6) Sự phân bố các khía cạnh của tác động và TDBTT; và 7) Tầm quan trọng của hệ thống khi gặp

Trang 31

nguy hiểm Các yếu tố này có thể được sử dụng kết hợp với việc đánh giá những

hệ thống có mức độ nhạy cảm cao với các điều kiện về khí hậu như đới ven biển,

hệ sinh thái, các chuỗi thức ăn Kết quả của nghiên cứu này có giá trị rất cao trong điều kiện hiện nay do phù hợp với xu thế của BĐKH đang diễn ra trên toàn cầu và có thể áp dụng được tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

 Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam

Khái niệm và những nghiên cứu về TDBTT mới được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây, bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX

Vào các năm 1994-1996, lần đầu tiên Tom G et al đã nghiên cứu về TDBTT của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và BĐKH, đã chỉ ra được khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu người dân ở các đồng bằng ven biển Năm 1999, Adger et al đã nghiên cứu TDBTT ở khía cạnh xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập

kỷ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với

cả sự thay đổi về thể chế tổ chức và những ảnh hưởng của sự BĐKH

Năm 2005, nghiên cứu về TDBTT tại đới ven biển Hải Phòng do Lê Thị Thu Hiền thực hiện đã thành lập được bản đồ TDBTT Trong công trình nghiên cứu này, khu vực có TDBTT cao tập trung ở khu vực khu nội thành cũ, khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồn san hô Kết quả của nghiên cứu này đã góp phần vào việc quản lý tổng hợp và phát triển bền vững đới ven biển Hải Phòng

Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững” đã được GS Mai Trọng Nhuận và nhóm nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2001 - 2002 Trong công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xây dựng được phương pháp luận và quy trình đánh giá TDBTT cho đới duyên hải Qua

đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản đồ TDBTT của tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại do tai biến, bảo vệ tài nguyên

và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung

Trang 32

Cùng với đó, trong bối cảnh BĐKH đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội, GS.Mai Trọng Nhuận đã cùng các cộng sự có những nghiên cứu tổn thương

do BĐKH (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - Lăng Cô,…) Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên môi trường (với các mô hình phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản sạch,…), giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do BĐKH

và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng

Một số nghiên cứu khác như đánh giá TDBTT do lũ lụt, chủ yếu tập trung vào đánh giá sự mất mát trong lĩnh vực nông nghiệp (FAO, 2004); Giảm thiểu TDBTT do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi; và khả năng phục hồi của cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên (chính phủ Úc hỗ trợ thực hiện năm 2004-2009), vv…

Năm 2008, tại hội thảo ở Quảng Ninh về “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững” nhóm công tác của Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Thị Minh Ngọc và cs đã trình bày báo cáo “Đánh giá mức độ tổn thương của vịnh Tiên Yên – Hà Cối (tỉnh Quảng Ninh), phục vụ quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường”

Năm 2009, Tổng cục Môi trường, Bộ TN &MT đã triển khai dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô nhiễm môi trường tại các vùng biển” gồm nhiều hợp phần, trong đó có “Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp quản lý phát triển bền vững” Gần đây các yếu tố gây tổn thương (các yếu

tố tự nhiên và các hoạt động nhân sinh), các đối tượng bị tổn thương (dân cư, cơ

sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị, các loại tài nguyên…) và khả năng ứng phó của hệ thống kinh tế xã hội đối với BĐKH cũng được đề cập đến trong một

số công trình nghiên cứu khác Có thể nhận thấy rằng trong thời gian qua chủ đề của những nghiên cứu về tổn thương do BĐKH chủ yếu nhằm vào các đối tượng

ở vùng đồng bằng và biển ven bờ Rất ít gặp những nghiên cứu về tổn thương ở miền trung du và đồi núi của Việt Nam

Trang 33

Nghiên cứu “Đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động của BĐKH tại Cần Thơ” do quỹ Rokefeller tài trợ năm 2009 Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định những khu vực, những lĩnh vực và nhóm người dễ bị tổn thương nhất do BĐKH và nguyên nhân

Năm 2009, tại Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã Hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH Từ đó, các tỉnh thành trong cả nước, cũng như một số bộ, ngành

đã tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cho từng địa phương và từng ngành

Năm 2010, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã thực hiện

và xuất bản “Các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai tại Việt Nam” Những phát hiện chính của nghiên cứu này đó là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu về các kịch bản nước biển dâng, tác động của nước biển dâng

và xác định tính dễ bị tổn thương do nước biển dâng

Năm 2011, với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế UNDP, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã triển khai dự án “Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với BĐKH ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính” trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Bình Thuận và Cần Thơ, trong đó nhiệm vụ đánh giá tác động, TDBTT do BĐKH ở huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất biện pháp thích ứng là một hợp phần của dự án trên

“Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực nước và vệ sinh môi trường tại tỉnh Bến Tre” thực hiện bởi AECOM Asia và kết thúc năm 2011 Nghiên cứu này nêu tổng quan về TDBTT do BĐKH tại tỉnh Bến Tre, và xác định những huyện dễ bị tổn thương nhất đối với các lĩnh vực như tài nguyên nước, nghèo đói, các hệ thống sinh kế và cơ sở hạ tầng và dịch vụ cấp nước sạch

và vệ sinh môi trường

“Nghiên cứu tác động của BĐKH đến Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp thích ứng”, dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB tài trợ với 2 giai đoạn, giai đoạn 1 tập trung vào việc đánh giá các tác động và TDBTT do BĐKH đối với 3 lĩnh vực chính tại 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, đó là: Năng lượng và Công nghiệp, Giao thông vận thải và Quy hoạch đô thị, và Nông nghiệp và Nuôi trồng Thủy sản Giai đoạn 1 kết thúc năm 2011 Giai đoạn

2 bắt đầu năm 2012 và kết thúc năm 2013, tập trung vào việc xác định các biện

Trang 34

pháp thích ứng nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH và lựa chọn ra những

dự án ưu tiên để thu hút vốn đầu tư

“Nghiên cứu Đánh giá TDBTT đối với BĐKH của thành phố Cần Thơ” thuộc gói thầu Tư vấn xác định các phương án thích ứng và phòng ngừa tác động của Biến đổi khí hậu cho Thành phố Cần Thơ, dự án Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính” (thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường) Nghiên cứu này tập trung đánh giá TDBTT do BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể của TP Cần Thơ như dân cư, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ,

cơ sở hạ tầng và vấn đề vệ sinh môi trường Mức độ tổn thương ở hiện tại và tương lai (ứng với các mốc thời gian năm 2020, năm 2050 và năm 2100) sẽ được đánh giá

Dự án “Nghiên cứu thủy tai do biến đổi khí hậu và xây dựng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương ở Bắc Trung Bộ Việt Nam (CPIS)” do DANIDA, Bộ Ngoại Giao Đan Mạch tài trợ với thời gian thực hiện 36 tháng từ 2012 đến 2015 Một trong những vấn đề đặt ra của dự án là Nghiên cứu đánh giá TDBTT nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng cư dân vùng đồng bằng và ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá TDBTT của một hệ thống kinh tế - xã hội - môi trường do BĐKH và khả năng chống chịu, thích ứng của

nó được áp dụng vào Việt Nam Dù với những cách tiếp cận khác nhau nhưng cũng đều xem xét tới cả những yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống trong việc đánh giá TDBTT do BĐKH Nhìn chung hiện nay, Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu về đánh giá TDBTT do BĐKH Tuy nhiên, chúng ta cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và kinh tế-xã hội cho từng khu vực, địa phương cụ thể của Việt Nam Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai

Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cho phép đánh giá ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hay tạo ra cơ hội trong sinh kế (dự án IMOLA, 2006) Tuy nhiên, phương pháp này còn hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề nhạy cảm và chỉ

Trang 35

ra năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu Gần đây, một phương pháp tiếp cận mới cho phép giải quyết vấn đề trên là phương pháp đánh giá chỉ số tổn thương sinh kế (LVI – Livelihood Vulnerability Index) được đề xuất bởi Hahn et al (2009) Theo các tác giả, có hai cách tiếp cận đối với chỉ số tổn thương sinh kế (LVI), cách thứ nhất thể hiện LVI như là một chỉ số hỗn hợp bao gồm 7 yếu tố chính (bao gồm hồ sơ nhân khẩu (Socio-Demographic Profile), các chiến lược sinh kế (Livelihood Strategies), các mạng lưới xã hội (Social Networks), sức khỏe (Health), lương thực (Food), nguồn nước (Water), và các thảm họa thiên nhiên (Natural Disasters) và sự thay đổi khí hậu (Climate Variability) Mỗi yếu tố chính bao gồm một vài chỉ báo (indicator) hoặc yếu tố phụ (sub-component) Chỉ

số LVI cho thấy tính dễ tổn thương của một cộng đồng dựa vào các yếu tố phụ đóng góp

Trong khi đó, cách thứ hai tập hợp 7 yếu tố chính này vào trong 3 tác nhân

“đóng góp” theo định nghĩa khả năng bị tổn thương của Uỷ ban Liên chính phủ

về biến đổi khí hậu (Intergovernmental panel on climate change - IPCC) đối với khả năng tổn thương là sự “hứng chịu” (exposure), sự nhạy cảm/tính dễ bị tổn thương (sensitivity), và khả năng thích ứng (adaptive capacity) Chỉ số LVI – IPCC cho thấy khả năng bị tổn thương của một cộng đồng trước BĐKH

Cách tính LVI: Do mỗi yếu tố phụ được đo lường theo một hệ thống khác nhau nên cần thiết phải chuẩn hóa để trở thành một chỉ số theo công thức dưới đây:

Trong đó: Sd là giá trị gốc yếu tố phụ (giá trị thực) đối với địa phương (xã/xóm) d, và Smin và Smax lần lượt là các giá trị tối thiểu và tối đa Sau khi được chuẩn hóa, các yếu tố phụ được lấy trung bình để tính giá trị của mỗi yếu tố chính bằng cách áp dụng công thức sau:

Md = Với: Md là một trong 8 yếu tố chính đối với địa phương (xã/xóm) d, indexsdi thể hiện các yếu tố phụ được ghi chỉ số theo i, chúng tạo nên mỗi yếu tố chính, và n là số lượng yếu tố phụ trong mỗi yếu tố chính Khi giá trị của các yếu

tố chính được xác định, chỉ số tổn thương sinh kế cấp địa phương (xã/xóm) được tính toán theo công thức:

Trang 36

LVId =

Với: LVId là chỉ số tổn thương sinh kế địa phương (xã/xóm) d, tương ứng với trung bình có trọng số tất cả 8 yếu tố chính Trọng số của mỗi yếu tố chính

WMi được xác định bằng số lượng các yếu tố phụ tạo nên các yếu tố chính

Trong nghiên cứu này, giá trị chỉ số LVI dao động trong khoảng 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất)

Cách tính LVI – IPCC:

Bảng 2 1 Sự đóng góp của các yếu tố theo IPCC

đến các yếu tố tổn thương chính

Yếu tố chính Yếu tố phụ

Sự phô bày (sự thể hiện của tác động) (e) Thảm họa thiên nhiên và BĐKH

Khả năng thích ứng (a) Hồ sơ nhân khẩu

Chiến lược sinh kế Mạng lưới xã hội Tính dễ tổn thương (s) Sức khỏe

Vốn tài chính Nhà cửa và đất sản xuất Nguồn nước

Nguồn: Mô phỏng theo Hahn và cs (2009)

Thay vì hợp nhất các yếu tố chính vào LVI trong một bước, cách tiếp cận này kết hợp các yếu tố chính theo bảng 3.1 bằng cách sử dụng công thức:

Trong đó:

CFd là một tác nhân “đóng góp” theo IPCC;

Mdi là yếu tố chính cho địa phương (xã/xóm) d được ghi chỉ số theo i;

WMi là trọng số của mỗi yếu tố chính;

n là số yếu tố chính trong mỗi tác nhân đóng góp

Trang 37

là một nhiệm vụ cấp thiết

Thích ứng với BĐKH là “sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội

do nó mang lại” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của BĐKH, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội có lợi từ BĐKH Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu với BĐKH, do vậy thích ứng đóng vai trò rất quan trọng để đạt được các mục tiêu giảm nghèo và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Các hoạt động thích ứng được tiến hành bởi các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp, chính phủ, và trên các phương diện thích ứng về công nghệ, tài chính, thông tin và thể chế, chính sách (Smit and Wandel, 2006) Các hoạt động thích ứng được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động quản lý rủi ro và các mạng lưới an sinh tốt hơn để bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương nhất (Ngân hàng Thế giới, 2010) Sự hỗ trợ cấp quốc gia và quốc tế đóng vai trò thiết yếu để bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương nhất thông qua các chương trình trợ giúp xã hội nhằm thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro ở cấp quốc tế và thúc đẩy trao đổi kiến thức, công nghệ và thông tin

Trang 38

Theo IPCC, 2012: Trong hệ thống xã hội, thích ứng là quá trình điều chỉnh theo khí hậu thực tế hoặc dự tính để hạn chế thiệt hại hoặc tận dụng các

cơ hội có lợi Trong hệ thống tự nhiên, thích ứng là quá trình điều chỉnh theo khí hậu hiện tại và theo những ảnh hưởng của khí hậu Sự can thiệp của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh theo khí hậu dự tính (IPCC, 2012 trang 36)

BĐKH là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21, ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu Con người đang phải đối diện với nhiều thay đổi bất thường và nghiêm trọng từ hệ thống tự nhiên Những thay đổi này đã và đang đe dọa cuộc sống hàng ngày của cộng đồng trên toàn thế giới và có nguy cơ đẩy con người vào tình trạng đói nghèo Các nhóm người nghèo trên thế giới được đánh giá là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của BĐKH Do

đó, thích ứng với BĐKH được nhìn nhận là một ưu tiên trong phát triển bền vững của toàn nhân loại

 Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) với BĐKH là mức độ một hệ thống có thể điều chỉnh để thích ứng với thay đổi khí hậu (bao gồm thay đổi thời tiết và các hiện tượng cực đoan) nhằm giảm thiểu các thiệt hại tiềm ẩn hoặc để ứng phó với các hậu quả của BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013)

 Các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều mô hình thích ứng với BĐKH có tính sáng tạo cao được triển khai, tập trung vào 2 loại mô hình: Mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái (HST); Mô hình tạo sinh kế thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng

- Thích ứng với BĐKH dựa vào HST

+ Mô hình sáng kiến chống mất rừng và suy thoái rừng tại Kiên Giang: Kiên Giang thực hiện mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm chia sẻ lợi ích giữa các đối tượng được hưởng lợi từ rừng và sống dựa vào rừng (REDD; REDD+) Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang được UNESCO công nhận từ năm

2006 Khu có diện tích 36,935 ha vùng lõi; 172,57 ha vùng đệm; 978,59 ha vùng chuyển tiếp bao gồm: Vườn Quốc gia U Minh Thượng, rừng phòng hộ ven biển

An Minh; Vườn Quốc gia Phú Quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương Đây là nơi điều tiết nguồn nước cho các hồ chứa, bảo vệ tuyến đê biển và cảnh quan môi trường

Trang 39

+ Mô hình trồng trọt: Mô hình chọn tạo giống lúa để thích ứng với BĐKH và an ninh lương thực Mô hình được tiến hành từ năm 2006 với sự tài trợ của Dự án Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học cộng đồng (CBDC) Mô hình này tập trung nâng cao năng lực cho nông dân về chọn giống, cải thiện giống lúa và sản xuất trao đổi hạt giống phục vụ sản xuất ở cộng đồng bằng cách huấn luyện thiết lập các tổ giống cộng đồng, tổ chức các mô hình trình diễn quy trình sản xuất giống Kỹ thuật canh tác tại ruộng nông dân Đặc biệt

là xây dựng mạng lưới sản xuất hạt giống ở cộng đồng, hướng tới xã hội hóa công tác giống ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và góp phần an ninh nguồn giống cho sản xuất nông nghiệp, cải thiện sinh kế cho nông dân nghèo

lũ về thì nhà lại không tự nổi lên được Không đảm bảo an toàn khi có gió lớn, nước chảy mạnh, nhà nổi có thể bị trôi do hoặc bị va đập, do đó nhà bị hư hỏng, nước tràn vào nhà sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của cả gia đình Không phù hợp với tập quán sinh hoạt của người dân Sống trên nhà nổi, người dân dễ bị biệt lập với cộng đồng.Việc đi lại của người dân rất khó khăn, nhất là đối với việc học hành của trẻ em và khám chữa bệnh của người lớn cao tuổi Giá thành cao, không phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số người dân nông thôn vùng ĐBSCL

- Mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng

Trong thời gian qua, những mô hình ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng bước đầu đã mang lại những thành công nhất định

+ Mô hình bảo hiểm, tín dụng vi mô: Đây là sáng kiến về bảo hiểm nông nghiệp của Chính phủ theo Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 với mục đích hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu

Trang 40

quả của thiên tai, dịch bệnh do BĐKH gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh

xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp

+ Mô hình trồng và chăm sóc rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng: Một trong những Chương trình trồng rừng ngập mặn thành công ở Việt Nam phải kể đến Chương trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng

do Hội chữ thập đỏ thực hiện Chương trình này đã góp phần phục hồi hơn 9.032

ha rừng ngập mặn ở các tỉnh ven biển phía Bắc (khoảng 23,8% diện tích rừng ngập mặn trên toàn miền Bắc) sau hơn 15 năm triển khai (1994-2010) Chương trình này đã góp phần không nhỏ trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai, nâng cao nhận thức và đem lại nguồn sinh kế bổ trợ cho người dân vùng ven biển

+ Mô hình tôn nền các cụm, tuyến dân cư vượt lũ để xây dựng nhà ở: Cho đến nay người dân ĐBSCL phải “sống chung” với lũ, bằng cách tôn nền các cụm, tuyến dân cư cao hơn mức ngập lụt để xây dựng nhà ở Trên cụm, tuyến dân cư xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục

vụ cuộc sống người dân

+ Mô hình hầm tránh bão ở các tỉnh miền Trung: Mô hình này được thực hiện ở tất cả các vùng của khu vực miền Trung vùng đồng bằng, vùng cát ven biển, vùng gò đồi với cách làm rất sáng tạo Hầm tránh bão được đào sâu khoảng 2m, xung quang chèn những bao cát, bên trên đặt ngang những thanh gỗ và tạo các mái che đậy tránh nước mưa xối vào Ở vùng gò đồi hầm được khoét sâu vào đồi hoặc núi theo hình chữ chi và tạo các lỗ thông hơi để tránh gió bão quét mạnh

+ Mô hình trồng rau trên nền đất được tôn cao:

Một số huyện ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, để có được một chỗ cao có thể tránh được lũ, mỗi năm, người dân chuyên chở đất từ nơi khác về để nâng cao dần vạt đất ở và trồng rau Kết quả tạo thành một giồng đất cao Sản xuất rau của người dân chủ yếu được thực hiện trong mùa mưa ít với 2 vụ chính đông xuân (có mưa) và hè thu (gần như không có mưa, nắng nóng)

Các hộ dân đã dùng lưới che nắng và che mưa để bảo vệ rau trong 2 vụ và cũng đảm bảo có rau xanh cho sinh hoạt gia đình khi có lũ

+ Mô hình trồng rau, hoa trên giàn vượt lũ:

Giàn trồng rau, hoa được làm từ tre, gỗ và cả cột bê tông cốt thép, dài 20 m; rộng 1,2 m, cao 0,95 m, tính từ mặt đất đến đáy luống; khoảng cách giữa các hàng cột 1m, mái lợp là nilông và lưới lan

Ngày đăng: 15/07/2021, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w