1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện thường tín TP hà nội

125 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 4,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tác giả: Đào Anh Tùng Tên Luận văn: Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Phươ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thị Bình

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên

cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Đào Anh Tùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Bình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ UBND xã Thống Nhất, UBND xã Vân Tảo huyện Thường Tín, Phòng Kinh Tế huyện Thường Tín, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thường Tín, phòng quản lý đô thị, phòng tài chính - kế hoạch, BCĐ xây dựng nông thôn mới huyện Thường Tín đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Đào Anh Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.3.1 Những đóng góp mới 3

1.3.2 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.3 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan nghiên cứu 5

2.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 5

2.1.1 Khái niệm xây dựng nông thôn mới 5

2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới ở nước ta 6

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 8

2.1.4 Cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng nông thôn mới 10

2.1.5 Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới 12

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quy hoạch xây dựng nông thôn mới 16

2.2 Cơ sở thực tiễn của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 18

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 18

2.2.2 Tình hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 26

2.3 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu của đề tài 31

2.3.1 Nhân xét chung 31

2.3.2 Hướng nghiên cứu của đề tài 32

Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 33

Trang 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Phạm vi nghiên cứu 33

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Thường Tín 33

3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín từ năm 2011 - 2017 33

3.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã điểm 34

3.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiện thành công quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín 34

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

3.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu tài liệu 35

3.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu 36

3.4.4 Phương pháp so sánh 36

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 37

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thường Tín 37

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 42

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Thường Tín 49

4.2 Đánh giá tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín từ năm 2011 – 2017 50

4.2.1 Tình hình lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới tại các xã 50

4.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện các tiêu chí NTM tại các xã trên địa bàn huyện 51

4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã điểm: xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 61

4.3.1 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Vân Tảo 61

4.3.2 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Thống Nhất 76

Trang 6

4.3.3 Đánh giá chung về công tác thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn

mới trên địa bàn xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 89

4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện hiệu quả quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín 96

4.4.1 Xác định quan điểm xây dựng Nông thôn mới đối với những xã đạt chuẩn NTM 96

4.4.2 Cần làm tốt công tác huy động vốn và thu hút đầu tư vào nông nghiệp trong thực hiện xây dựng NTM ở các xã chưa đạt chuẩn 97

4.4.3 Tiến hành điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch trong xây dựng NTM ở các xã chưa đạt chuẩn để phù hợp với thực tiễn sản xuất và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 98

4.4.4 Giải quyết tốt các mối quan hệ trong tiến trình xây dựng nông thôn mới thông qua việc tuyên truyền, phổ biến thực hiện xây dựng NTM 99

4.4.5 Xây dựng kế hoạch khoa học và phù hợp để xây dựng NTM đối với từng xã chưa đạt chuẩn 99

4.4.6 Kiện toàn bộ máy quản lý, điều hành xây dựng Nông thôn mới nhằm tạo ra đột phá trong kế hoạch xây dựng Nông thôn mới tại các xã chưa đạt chuẩn 100

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 101

5.1 Kết luận 101

5.2 Kiến nghị 102

Tài liệu tham khảo 103

Phụ lục 105

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TTATGT Trật tự an toàn giao thông

VH - TT – DL Văn hóa – Thể thao - Du lịch

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 GTSX và GRDP các ngành kinh tế của huyện 43

Bảng 4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện 45

Bảng 4.3 Dân số và biến động dân số 46

Bảng 4.4 Tổng hợp các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới trước khi thực hiện chương trình nông thôn mới tại huyện Thường Tín (trước năm 2011) 58

Bảng 4.5 Tổng hợp các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín đến hết năm 2017 59

Bảng 4.6 Tình hình thực hiện quy hoạch giao thông xã Vân Tảo 63

Bảng 4.7 Tình hình thực hiện quy hoạch điện nông thôn xã Vân Tảo 66

Bảng 4.8 Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục, đào tạo xã Vân Tảo 68

Bảng 4.9 Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất xã Vân Tảo 71

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Vân Tảo đến

năm 2017 72

Bảng 4.11 Kết quả thực hiện theo 19 tiêu chí xã Vân Tảo 74

Bảng 4.12 Tình hình thực hiện quy hoạch giao thông xã Thống Nhất 77

Bảng 4.13 Tình hình thực hiện quy hoạch điện nông thôn xã Thống Nhất 80

Bảng 4.14 Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục, đào tạo xã Thống Nhất 82

Bảng 4.15 Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất xã Thống Nhất 84

Bảng 4.16 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Thống Nhất đến

năm 2017 85

Bảng 4.17 Kết quả thực hiện theo 19 tiêu chí xã Thống Nhất 88

Bảng 4.18 Kết quả huy động vốn thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn hai xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 90

Bảng 4.19 Tổng hợp ý kiến đánh giá của người dân và cán bộ đối với việc thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới 93

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Bản đồ vị trí huyện Thường Tín 37

Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín năm 2016 44

Hình 4.3 Kết quả thực hiện các nhóm tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín giai đoạn 2011-2017 61

Hình 4.4 Hình ảnh đại diện hệ thống đường trục thôn, xóm của xã Vân Tảo 64

Hình 4.5 Hình ảnh đại diện hệ thống kênh mương của xã Vân Tảo 65

Hình 4.6 Hình ảnh trạm biến áp của xã Vân Tảo 66

Hình 4.7 Hình ảnh trạm y tế xã Vân Tảo 67

Hình 4.8 Hình ảnh nhà văn hóa thôn Xâm Động - xã Vân Tảo 68

Hình 4.9 Hình ảnh trường Trung học cơ sở xã Vân Tảo 69

Hình 4.10 Hình ảnh trường Tiểu học xã Vân Tảo 69

Hình 4.11 Hình ảnh trường Mầm non xã Vân Tảo 70

Hình 4.12 So sánh chỉ tiêu sử dụng đất theo quy hoạch và kết quả thực hiện đến năm 2017 73

Hình 4.13 Hình ảnh đường ngõ xóm của xã Thống Nhất 78

Hình 4.14 Hình ảnh đường nội đồng của xã Thống Nhất 79

Hình 4.15 Hình ảnh hệ thống điện của xã Thống Nhất 80

Hình 4.16 Hình ảnh khuôn viên trạm y tế xã Thống Nhất 81

Hình 4.17 Hiện trạng trường mầm non xã Thống Nhất 82

Hình 4.18 Hiện trạng trường tiểu học của xã đặt tại thôn Thượng Giáp 83

Hình 4.19 Hiện trạng trường trường Trung học cơ sở Thống Nhất 83

Hình 4.20 So sánh chỉ tiêu sử dụng đất theo quy hoạch và kết quả thực hiện đến năm 2017 87

Hình 4.21 Kết quả huy động vốn quy hoạch Nông thôn mới trên địa bàn xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 91

Hình 4.22 Đánh giá của người dân đối với chính sách Nông thôn mới trên địa bàn xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 94

Hình 4.23 Đánh giá sự tham gia đóng của người dân đối với việc xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn xã Vân Tảo và xã Thống Nhất 95

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tác giả: Đào Anh Tùng

Tên Luận văn: Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu tài liệu

Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Phương pháp so sánh

Kết quả chính và kết luận

Thường Tín là huyện mới của thủ đô Hà Nội nên còn nhiều hạn chế về kinh tế -

xã hội, cần nhiều sự hỗ trợ của các cấp chính quyền tỉnh, Trung ương để phát triển

Tiến độ thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Thường Tín nhìn chung chưa cao Đến cuối năm 2017, toàn huyện có 15 xã đã được UBND thành phố công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới gồm các xã: Chương Dương, Duyên Thái,

Hà Hồi, Khánh Hà, Hồng Vân, Liên Phương, Minh Cường, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Thắng Lợi, Thống Nhất, Vạn Điểm, Văn Bình, Văn Phú Huyện Thường Tín cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua ”Chung tay xây dựng nông thôn mới” Phấn đấu năm 2019 có thêm 13 xã gồm Dũng Tiến, Hiền Giang, Hòa Bình, Lê Lợi, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Tân Minh, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên Văn Tự và Vân Tảo hoàn thành xây dựng nông thôn mới và các xã còn lại hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch đã đề ra

Những kết quả thực hiện công tác NTM nói trên tại huyện Thường Tín rất có ý nghĩa, đem lại những hiệu quả thiết thực và tăng lợi ích cho nông dân Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như: quy hoạch chưa theo kịp và đáp ứng tình hình sản xuất,

Trang 11

cơ sở hạ tầng và bố trí lại sản xuất vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, một số xã thực hiện mang tính hình thức, chưa được sự đồng thuận cao của người dân

Việc thực hiện xây dựng quy hoạch NTM trên địa bàn huyện Thường là cần thiết nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần phát triển kinh tế của huyện nhà theo kịp sự phát triển chung của thành phố Hà Nội.Để làm tốt công tác xây dựng NTM trong giai đoạn tới, huyện Thường Tín cũng như các xã trên địa bàn huyện cần phải xác định được các mục tiêu cụ thể và tiếp thu được những bài học kinh nghiệm quý giá trong quá trình thực hiện xây dựng quy hoạch NTM giai đoạn 2011-2017

Trong việc thực hiện xây dựng quy hoạch NTM giai đoạn mới vẫn cần phải xác định vai trò chỉ đạo của người dân nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân để hoàn thành mục tiêu NTM của các xã chưa đạt chuẩn Do đó việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến cán bộ Đảng viên và quần chúng có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu xây dựng NTM Vận động nhân dân cùng chung tay góp sức để thực hiện xây dựng quy hoạch Nông thôn mới Mọi nội dung thực hiện xây dựng NTM cần được dân chủ, công khai để người dân có thể tham gia theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

Song song với việc thực hiện các mục tiêu NTM, nhiệm vụ quan trọng cần phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân bằng các biện pháp đồng bộ như

hỗ trợ tín dụng, đào tạo nghề, đẩy mạnh xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung và tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Dao Anh Tung

Thesis title: Assessment the implementation of new rural construction planning in

Thuong Tin district - Hanoi

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Materials and Methods

- Method of selecting study sites

- Method of data collection

- Methods of data aggregatopm and processing

- Comparative method

Main findings and conclusions

Thuong Tin is a new district of Hanoi capital, so there are many socio-economic constraints and needs support from provincial and central authorities for development

The progress of the new rural construction planning in Thuong Tin district is not high in general By the end of 2017, the whole district had 15 communes have been recognized by the city People's Committee to meet standard of new rural communes including Chuong Duong, Duyen Thai, Ha Hoi, Khanh Ha, Hong Van, Lien Phuong, Minh Cuong, Nhi Khe , Ninh So, Quat Dong, Thang Loi, Thong Nhat, Van Diem, Van Binh, Van Phu Thuong Tin district should continue to promote emulation movement

"Together to build new countryside" To strive for 2019, there will be 13 additional communes, including Dung Tien, Hien Giang, Hoa Binh, Le Loi, Nghiem Xuyen, Nguyen Trai, Tan Minh, Thu Phu, Tien Phong, To Hieu, Tu Nhien, Van Tu, and Van Tao, complete the new rural construction areas and the remaining communes completed the criteria for new rural construction as planned

The results of the above mentioned new rural work in Thuong Tin district are very meaningful, bringing practical effects and increasing benefits for farmers

Trang 13

However, there are still many shortcomings such as planning doesn’t keep up and meet the production situation, infrastructure and rearrange of production are still inadequate, not synchronized, some communes carry out formally, not high consensus of the people

The implementation of new rural planning in Thuong Tin district is necessary to improve the people living standards, to contribute to economic development of the district to keep up with the general development of Hanoi In order to do good new rural work in the next period, Thuong Tin district as well as the communes in the district need

to identify specific objectives and learn valuable lessons during the implementation of new rural planning in period 2011-2017

In the implementation of new rural construction planning in new stage, it is still necessary to define the guiding role of the people in order to bring into full play the integrated strength of the entire population in order to fulfill the targets of new rural of communes under the standard Therefore, the promotion of propaganda to Communist party members and the masses is of great significance and importance in organizing the implementation of the objectives of new rural construction Mobilize the people to give hands to contribute to the new rural construction planning All contents of new rural construction should be democratic, open for people to participate under the motto

"people know, people discuss, people do, people check."

In parallel with the implementation of new rural targets, important tasks need to improve the material and spiritual life of the people by synchronous solutions such as credit support, vocational training, strengthen in the construction of commodity production area and strengthen environmental protection measures

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia đang phát triển Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X; Nghị quyết số 24/2008/NQ-

CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số NQ/TW, trong đó có ghi lập Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

26-thôn mới (NTM) xác định quan điểm chỉ đạo là: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng

và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then chốt”

Như vậy, chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thân cho

cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó, chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn Xây dựng nông thôn mới (NTM) là nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam Đó là một nông thôn hiện đại hàm chứa những giá trị kinh

tế mới trên cơ sở hạ tầng hiện đại, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh

tế hàng hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, dân chủ, công bằng và văn minh

Để triển khai mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm

2020 theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã

Trang 15

ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện xây dựng NTM như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020", Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch về quản lý quy hoạch xây dựng xã NTM; với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt được chuẩn NTM Như vậy, quy hoạch NTM là nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cấp ủy đảng, chính quyền

và toàn thể nhân dân Quy hoạch xây dựng NTM là một trong 11 nội dung của Chương trình MTQG về xây dựng NTM, với mục tiêu đặt ra là đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM

Chương trình xây dựng NTM đã đạt được kết quả đáng khích lệ: về cơ bản các xã đã thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; tính đến thời điểm 01/7/2016 cả nước đã có 2.060 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 23,1% tổng số xã thực hiện Nông thôn mới Mặc dù số xã chưa đạt chuẩn NTM còn nhiều (6.851 xã) nhưng cho đến nay kết quả thực hiện các tiêu chí NTM tương đối khả quan, biểu hiện qua số lượng xã chưa đạt NTM được đánh giá đạt từ 10 tiêu chí trở lên chiếm 50% tổng

số xã của cả nước, tương ứng gần hai phần ba (64,3%) tổng số xã chưa đạt chuẩn NTM Tỷ lệ xã chỉ đạt dưới 5 tiêu chí chỉ chiếm 3,5% tổng số xã cả nước, tương

ứng 4,5% tổng số xã chưa đạt NTM (Ban Chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản trung ương, 2016) Bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi

mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu được nâng cấp, hệ thống chính trị cơ

sở tiếp tục được củng cố, thu nhập và điều kiện sống của nhân dân được cải thiện

và nâng cao Tuy nhiên quá trình thực hiện đang gặp rất nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn sửa đổi một số tiêu chí, ban hành cơ chế quản lý đầu tư đặc thù , vấn đề huy động nguồn lực; việc nhân rộng mô hình sản xuất mới còn chậm, chủ yếu tập trung ở các tỉnh vùng đồng bằng, chất lượng công tác quy hoạch còn bất cập Vì vậy, việc xây dựng mô hình NTM và tổng kết việc thực hiện các mô hình xã NTM đã thành công ở các địa phương là rất cần thiết nhằm tìm ra những giải pháp để nhân rộng mô hình sang các vùng có điều kiện tương tự

Trang 16

Huyện Thường Tín đã triển khai chương trình xây dựng NTM từ năm 2011 Đến nay tất cả các xã trong huyện đã hoàn thành công tác quy hoạch và đang triển khai thực hiện quy hoạch Sau 06 năm triển khai thực hiện, cơ bản Huyện đã đạt được mục đích, yêu cầu của Chương trình xây dựng nông thôn mới Từ những xã hoàn thành xây dựng NTM sớm, huyện Thường Tín đã có kinh nghiệm, bài học về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện xây dựng NTM ở những xã còn lại

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và triển khai đã gặp một số vướng mắc

đó là: việc thu hồi đất để xây dựng các công trình gặp nhiều khó khăn do bị khống chế bởi chỉ tiêu phân khai khi quy hoạch sử dụng đất, người dân có đất bị thu hồi không ủng hộ do giá bồi thường và hỗ trợ thấp, việc thực hiện các hạng mục công trình đòi hỏi phải huy động một nguồn vốn rất lớn, một số tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia về NTM không phù hợp với đặc thù của vùng… Xuất phát từ nhu cầu

thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 – 2017

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện thành công quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

1.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.3.1 Những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định rõ những kết quả đạt được trong xây dựng NTM huyện Thường Tín, đồng thời chỉ ra được những nguyên nhân tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch NTM trên địa bàn các xã và đề xuất được các giải pháp góp phần thực hiện thành công xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thường Tín

1.3.2 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả thu được thông qua việc thực hiện đề tài sẽ đóng góp về cơ

sở khoa học cho việc tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là vấn đề quản lý và sử dụng đất đai để thực hiện các nội dung của quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ tiếp theo

Trang 17

1.3.3 Ý nghĩa thực tiễn

Việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Thường Tín sẽ giúp Ban chỉ đạo, các tổ chức cơ quan đoàn thể, các cấp chính quyền… thấy được những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, để chương trình này ngày càng phổ biến, sâu rộng và thiết thực hơn

Trang 18

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Khái niệm nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới

Chưa có văn bản nào định nghĩa NTM một cách rõ ràng, nhưng các đặc trưng của NTM được xác định tương đối rõ Quyết định 491-QĐ/TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM” chia nhỏ NTM theo các cấp hành chính: xã NTM, huyện NTM và tỉnh NTM Trong đó, để đạt xã NTM, một địa phương phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn từ 5 lĩnh vực lớn, bao gồm 19 tiêu chí lớn và 39 tiêu chí nhỏ Năm lĩnh vực lớn của một xã NTM là: quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, và hệ thống chính trị Trong mỗi lĩnh vực lớn này, NTM được

cụ thể hóa bằng các tiêu chí nhỏ hơn Ví dụ lĩnh vực văn hóa - xã hội - môi trường có 4 tiêu chí lớn cần đạt là giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường Trong mỗi tiêu chí lớn, có thể có những tiêu chí hay chỉ báo nhỏ hơn, có thể đo lường

và đánh giá được Ví dụ, để được công nhận đạt chuẩn tiêu chí về y tế, một xã cần đạt được hai chỉ báo là tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế

và y tế xã đạt chuẩn quốc gia Để một huyện đạt chuẩn huyện NTM, thì cần có 75% số xã trong huyện đạt NTM, và để một tỉnh đạt chuẩn tỉnh NTM thì cần có 80% số huyện trong tỉnh đạt NTM

Thực tế, định nghĩa NTM cần gắn với khái niệm XDNTM, trong đó, khái niệm đầu là mục tiêu, đích đến, khái niệm sau là hành động cần thực hiện Nghị quyết 24/2008/NQ-CP về Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày 28 tháng 10 năm 2008, tóm lược nội dung XDNTM là “xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hoá và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ” Như vậy, NTM là một trạng thái phát triển cao, toàn diện của xã hội nông thôn, kết hợp đầy đủ các khía cạnh từ kinh tế, sản xuất tới phát triển văn hóa, giáo dục, môi trường, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội

và hệ thống chính trị

Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng, cuộc vận động lớn, phong trào rộng khắp trong cả nước để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng

Trang 19

xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường

và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Xây dựng nông thôn mới đòi hỏi sự chung tay góp sức của cả nhân dân cũng như hệ thống chính trị Thiếu một trong hai yếu tố, xây dưng nông thôn mới sẽ không thực hiện được Nông thôn mới không chỉ là vấn

đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh (Bùi Quang Dũng và cs, 2015)

2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới ở nước ta

Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền nông nghịêp hàng hoá

Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:

Thứ nhất: Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát

– Hiện nay nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23%

xã có quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn chất lượng chưa cao

– Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu

Trang 20

– Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống dần bị mai một (Lê Tâm, 2015)

Thứ hai: Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài

Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25% Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22-25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về cơ sở vật chất thấp (32,7%), còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; Mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu thể thao xã mới đạt 29,6%, hầu hết các thôn không có khu thể thao theo quy định Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, có 77,6% số xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu chuẩn, 22,5% số thôn có điểm truy cập Intenet Cả nước hiện còn hơn 400 nghìn nhà ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn (Lê Tâm, 2015)

Thứ ba: Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp

– Kinh tế hộ phổ biến quy mô nhỏ (36% số hộ có dưới 0,2 ha đất)

– kinh tế trang trại chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông – lâm – ngư nghiệp trong cả nước

– Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã đã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác nhưng hoạt động còn hình thức, có trên 54% số hợp tác xã ở mức trung bình và yếu

– Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao, thu nhập bình quân đạt 16 triệu đồng/hộ (năm 2008) nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần)

– Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao (16,2%) (Lê Tâm, 2015)

Thứ tư: Các vấn đề về văn hóa – môi trường – giáo dục – y tế

– Giáo dục mầm non: Còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo

Trang 21

– Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (khoảng 12,8%)

– Mức hưởng thụ về văn hóa của người dân thấp, những vấn đề xã hội ở nông thôn vẫn phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc ngày bị mai một, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng

– Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển

– Môi trường sống ô nhiễm

– Số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia thấp, vai trò y tế dự phòng của trạm y

tế còn hạn chế (Lê Tâm, 2015)

Thứ năm: Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ và năng lực điều hành)

– Trong hơn 81 nghìn công chức xã: 0.1% chưa biết chữ, 2.4% tiểu học, 21,5 trung học cơ sở, 75,5% trung học phổ thông

– Về trình độ chuyên môn: Chỉ có 9% có trình độ đại học, cao đẳng, 32,4% trung cấp, 9,8% sơ cấp, 48,7% chưa qua đào tạo

– Về trình độ quản lý nhà nước: Chưa qua đào tạo là 44%, chưa qua đào tạo tin học là 87% (3)

Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập nền kinh tế thế giới

Xây dựng nông thôn mới là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa

đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí (Lê Tâm, 2015)

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

2.1.3.1 Chức năng

Nông thôn mới có các chức năng cơ bản là:

a Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại

Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông phụ chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất

Trang 22

nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hướng, 2006)

b Chức năng giữ gìn văn hoá truyền thống

Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn, việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống

(Cù Ngọc Hướng, 2006)

c Chức năng sinh thái

Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn.Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước

và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường

tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên, phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất, Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn (Cù Ngọc Hướng, 2006)

2.1.3.2 Nhiệm vụ

Xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an

Trang 23

ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân - nông dân - trí thức

2.1.4 Cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng nông thôn mới

2.1.4.1 Các văn bản pháp quy của Nhà nước về phát triển nông thôn và xây dựng NTM

- Nghị Quyết số 26/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

- Nghị quyết số 24/2008/NQ- CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung Ưowng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Quyết định số 491/TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư số 54/2009/TT – BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư số 07/2010/TT –BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ nông nghiệp phát triển và nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp

xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT – BXD – BNNPTNT – BTN&MT ngày 30/11/2011 quy định về việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng

xã nông thôn mới

- Quyết định số 800/ QĐ – TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020

- Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

- Thông tư liên tịch số 26 /2011/TTLB-BNNPTNT- BKHDT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định

số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020

Trang 24

- Quyết định số 315/QĐ-BGTVT ngày 23/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về việc ban hành hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020

- Thông tư số 06 /2011/TT-BVHTTDL ngày 8 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của nhà văn hoá – khu thể thao thôn;

- Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31/03/2008 của Bộ Xây Dựng về việc ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ

và Đồ án quy hoạch Xây dựng

- Thông tư 17/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;

- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ Xây Dựng, Bộ nông nghiệp và phát trển nông thôn, Bộ Tài nguyên và môi trường quy định việc lập nhiệm vụ, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới

2.1.4.2 Các văn bản pháp quy của thành phố Hà Nội về phát triển nông thôn

và xây dựng NTM

- Chương trình 02/CTr - TU ngày 31/10/2008 của Thành uỷ Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (Khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 của HĐND Thành phố

Hà Nội về việc xây dựng nông thôn mới Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030;

- Công văn số 3491/UBND-NN ngày 19/5/2010 của UBND Thành phố Hà Nội triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND Thành phố về xây dựng nông thôn mới;

- Quyết định số 6330/QĐ-UBND ngày 23/12/2010 của UBND Thành phố

Hà Nội ban hành quy định về trình tự, thủ tục lập, thẩm định, trình duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới cấp huyện và Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020

- Quyết định số 2333/QĐ/UBND ngày 24/05/2010 của thành phố Hà Nội phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới TP Hà Nội giai đoạn 2010 – 2020, định hướng 2030

Trang 25

- Công văn số 5255 TB/QHKT – NT ngày 08 tháng 12 năm 2011 của Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội về việc triển khai thực hiện công tác Quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Căn cứ công văn số 381/QHKT-TH ngày 27/7/2011 của Sở quy hoạch kiến trúc Hà Nội hướng dẫn công tác quy hoạch nông thôn mới các huyện, thị xã trên địa bàn TP Hà Nội;

- Công văn số 403/QHKT-NT ngày 17 tháng 02 năm 2012 của Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội về việc công tác thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch

và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới tại thành phố Hà Nội

2.1.5 Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới

2.1.5.1 Nguyên tắc

Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày

13 tháng 4 năm 2011 (liên Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng NTM như sau:

- Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

- Phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động

cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự

Trang 26

án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá

- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp

ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM

2.1.5.2 Nội dung

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng (Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010), gồm 11 nội dung sau:

Thứ nhất: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới bao gồm:

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường, phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trong xã

Thứ hai: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội với mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí

số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Hoàn thiện hệ thống đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống đường giao thông trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã

- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ

- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã

Thứ ba: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm đạt

tiêu chí số 10; 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

Trang 27

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hang hóa, có hiệu quả kinh tế cao

- Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp

- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

Thứ tư: Giảm nghèo và an sinh xã hội nhằm mục tiêu đạt tiêu chí số 11 của

Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

- Thực hiện có hiệu quả các chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 64 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao

- Tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo

Thứ năm: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở

nông thôn nhằm mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

Thứ sáu: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn nhằm đạt yêu cầu tiêu

chí số 5 và 14 của bộ tiêu chí quốc gia về NTM Với nội dung tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực về giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu bộ tiêu chí quốc gia NTM

Thứ bảy: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn nhằm đạt yêu

cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Với nội dung tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực y tế, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

Thứ tám: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

nhằm đạt tiêu chí số 6 và 16

Trang 28

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM về văn hoá, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia NTM

Thứ chín: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm đạt yêu cầu tiêu chí

số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;

- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân

cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng

Thứ mười: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính

trị xã hội trên địa bàn

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong

hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

Thứ mười một: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn nhằm mục tiêu

đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các

tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

- Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

2.1.5.3 Tiêu chí

Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới cũng được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 với 19 tiêu chí được chia thành

5 nhóm, cụ thể:

Trang 29

Nhóm 1: Quy hoạch gồm tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch; Nhóm 2: Hạ tầng - kinh tế - xã hội, gồm các tiêu chí: Giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư;

Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm các tiêu chí: Thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; hình thức tổ chức sản xuất;

Nhóm 4: Văn hóa - xã hội và môi trường, gồm có: Giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường;

Nhóm 5: Hệ thống chính trị gồm tiêu chí hệ thống tổ chức - chính trị - xã hội và an ninh, trật tự xã hội

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quy hoạch xây dựng nông thôn mới

2.1.6.1 Yếu tố bên trong

- Các yếu tố nguồn lực trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới

+ Cơ cấu đất đai: ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách dồn điền đổi thửa, công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng gây ảnh hưởng tới công tác quy hoạch, gây ảnh hưởng đồng bộ tới việc hoàn thiện các tiêu chí xây dựng NTM

+ Nguồn lao động: có vai trò lớn trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM Góp phần đẩy nhanh hoàn thành tiêu chí Địa phương có nguồn lao động dồi dào tham gia vào xây dựng NTM thì sẽ tiết kiệm được nguồn kinh phí

do không phải thuê từ bên ngoài, hơn nữa tạo nên sự đoàn kết trong dân, cùng nhau đóng góp xây dựng NTM

+ Nguồn vốn: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự thành công của mô hình Nguồn vốn đáp ứng được cho công tác thực hiện xây dựng góp phần hoàn thiện các tiêu chí do đây là yếu tố tiên quyết Nguồn kinh phí này được đầu tư từ nhiều nguồn như ngân sách của nhà nước, của thành phố, huyện và của xã; sự đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn và đặc biệt là nguồn huy động từ trong dân Nguồn vốn tự lực của địa phương thường là nguồn thu từ các hoạt động đấu giá đất, cho thuê đất trên địa bàn hay bán đất giãn dân Để xây dựng NTM có hiệu quả và đúng tiến độ thì cần các cơ chế đặc thù đẩy mạnh sự tham gia, đóng góp của nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp, tăng cường nguồn vốn ngân sách, giải ngân hợp lý

- Sự tham gia của các tác nhân trong thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trang 30

+ Sự tham gia của quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành

tố chính của sự phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây Sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức

và tận dụng năng lực, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển

Nó giúp xác định nhu cầu của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Hơn nữa, quần chúng là đối tượng hưởng lợi chính, trực tiếp của mô hình NTM

+ Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng, đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác thực hiện quy hoạch xây dựng NTM “Cán bộ là gốc của mọi việc”, do đó năng lực quản lý, điều hành thực hiện quy hoạch xây dựng NTM cũng như năng lực chuyên môn của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện các tiêu chí Cán bộ có năng lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa

ra được các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện các tiêu chí và ngược lại sẽ làm mất lòng tin của nhân dân

+ Trình độ học vấn, chuyên môn của hộ, sự phát triển của kinh tế hộ, sự nhận thức về vai trò, ý nghĩa của chương trình đối với địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến các hình thức tham gia và mức độ tham gia xây dựng NTM của địa phương Các hình thức tham gia là: có quyền được biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liên quan mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ Được tham

dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề trong xây dựng NTM Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề ưu tiên; cùng đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn Người dân cùng được lập kế hoạch dự án và quản

lý điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng Mức độ tham gia vào xây dựng NTM còn ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện các tiêu chí Xây dựng NTM là quá trình phát triển, xây dựng nông thôn hiện đại có dựa vào năng lực của cộng đồng, do vậy, năng lực của người dân, sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của mô hình do người dân là đối tượng hưởng lợi trực tiếp

2.1.6.2 Yếu tố bên ngoài

* Chính sách của Đảng và Nhà nước trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quyết tâm trong xây dựng NTM thông qua các mục tiêu phấn đấu trong quá trình xây dựng NTM là xây dựng nông thôn

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình

Trang 31

thức tổ chức sản xuất hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để xây dựng NTM, Đảng

và Nhà nước đã ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoàn thiện xây dựng Các cơ chế, chính sách này có ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện trong xây dựng NTM của các địa phương Nó đem lại các tác động về kinh tế, xã hội

và môi trường ở nơi thực hiện quy hoạch xây dựng NTM Quá trình triển khai thực hiện quy hoạch xây dựng NTM cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình Cách thức tiến hành đúng tiến độ, thời điểm tạo động lực đẩy mạnh hoàn thiện, tuy nhiên nếu chủ quan, nóng vội sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của mô hình

* Bộ tiêu chí về NTM do Bộ NN & PTNT ban hành

Để xây dựng NTM, địa phương cần hoàn thiện Bộ 19 tiêu chí xây dựng NTM theo quyết định số 491/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ Các tiêu chí này là hiện thực hóa nội dung của xây dựng NTM Mức độ hoàn thiện các tiêu chí thể hiện bộ mặt NTM của địa phương Nếu chỉ tiêu trong các tiêu chí là quá cao ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, tạo áp lực đối với địa phương Nếu chỉ tiêu thấp, không phù hợp thì địa phương dễ dàng đạt được nhưng hiệu quả xây dựng NTM không phản ánh được thực tế nông thôn nơi tiến hành xây dựng NTM

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

Cùng có vị trí xuất phát điểm tương đối thấp như nước ta hiện nay, song với nhiều cách làm, nhiều phương pháp hay mà vùng nông thôn ở các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đã có sự chuyển mình rõ rệt, đáng khen ngợi

2.2.1.1 Hàn Quốc: Phong trào Làng mới (Saemaul Undong – SU)

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: Cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư

Trang 32

cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào

SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong thôn, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân Như vậy việc đẩy mạnh quy hoạch xây dựng Làng mới của Hàn Quốc đã đi sâu quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch sản xuất

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau

8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường thôn nối với đường của xã, trung bình mỗi thôn nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi thôn là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê,

kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 thôn mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi thôn đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm

1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số thôn tự chủ về kinh tế

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình,

dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ

Trang 33

đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 thôn, mỗi thôn 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 thôn làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân thôn tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ

sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định

nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội

đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết

lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn

dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm

Trang 34

1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ

một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có (Tuấn Anh, 2012)

Từ những bài học kinh nghiệm của phong trào Làng mới của Hàn Quốc, chúng ta có thể học tập và áp dụng vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, đặc biệt là vấn đề về bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng khi mà chất lượng môi trường ở nước ta ngày càng giảm, tình trạng chặt phá rừng vẫn tiếp diễn và ngày càng khó kiểm soát, do đó, sự chung tay của cả cộng đồng để bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng là rất cần thiết

2.2.1.2 Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có 7.000 triệu nông dân chiếm 60% dân số cả nước Trung Quốc đã từng trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn đó là quá trình tích tụ ruộng đất để hiện đại hóa đã đẩy hàng triệu nông dân ra thành phố làm việc, ruộng đồng hoang hóa, các quan chức địa phương và giới thương nhân thường câu kết để chiếm ruộng đất nông nghiệp để xây cất nhà cửa hoặc biến thành khu công nghiệp Do vậy, nông thôn Trung Quốc khi yên bình mà liên tục diễn ra biểu tình, gây rối, kiện cáo, bạo lực Số liệu thống kê cho thấy hồi năm

2004 Trung Quốc có 74.000 vụ khiếu kiện tập thể thu hút gần 4 triệu người tham gia và 2005 số vụ là 84.000 và 2006 là 90.000 vụ Trước tình hình đó ông Hongyuan giám đốc TT nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ nông nghiệp Trung Quốc khẳng định: Nguyên nhân là do vi phạm quyền đất đai của người nông dân diễn ra thường xuyên khi chính quyền địa phương quyết định thay cho nông dân

và vấn đề là phải có sự cải cách sửa đổi để bảo vệ quyền lợi đầy đủ cho người nông dân Một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau:

Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp Ở

đây Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước Thực tế hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (gần bằng 10 tỷ doanh nghiệp), các doanh

Trang 35

nghiệp có số vốn từ 200 tỷ trở lên chỉ chiếm 30% Cách này đã vực dậy tình trạng thua lỗ của quá nhiều doang nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn

Để thu hút tốt chính sách này Trung Quốc đã thành lập nhiều đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư ở Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, EU,… Hiện nay Bộ Nông nghiệp đã trình cho chính phủ đề án thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đến 2015, trong đó chú trọng phát triển công nghệ sinh học để tạo ra giống cây trồng, vật nuôi có năng xuất chất lượng cao, áp dụng công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị; an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch

Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công

nghiệp công nghệ cao Đó là các công nghệ được ứng dụng tiên tiến và mới nhất; công nghệ được ghép nối trong một qui trình liên tục khép kín; công nghệ có khả năng ứng dụng trong điều kiện cụ thể và có thể nhân rộng; mô hình phải đạt hiệu quả về kinh tế và là nơi hợp tác giữa nhà Khoa học – Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhà nông trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo

Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm) Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại ; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tình và quốc gia

Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực Để thực hiện được tiêu chí trên thì chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập.” Định hướng hổ trợ tài chính cho Tam nông

ở Trung Quốc hiện nay là: “Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”

Trong chính sách tài chính tăng thu nhập cho nông dân, trung Quốc đa tăng đầu tư hỗ trợ về giá thu mua giống, hỗ trợ mua lương thực không thấp hơn

Trang 36

giá thị trường, mua máy móc thiết bị là vấn đề đi cùng với chính sách xây dựng

cơ chế hướng nghiệp Đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ

Hiện nay chính sách Tam nông ở Trung Quốc đã đạt hiệu quả khá tốt, năm

2009 thu nhập bình quân của dân cư nông thôn đạt 8.000 tệ/năm tăng 8,5% so với 2008 Năm 2009 Trung Quốc đã làm 300.000 km đường bộ nông thôn, hổ trợ

46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiếu triển khai 320 huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm dưỡng lão xã hội ở nông thôn

Chính sách tam nông ở Trung Quốc cũng gắn với chủ trương hạn chế tới

đa việc lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp ở nước này được qui định rất chặc chẽ Chuyển đổi quyền sử dụng đất đai phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng và nằm trong chỉ giới nhất định bảo đảm Trung Quốc luôn có 1,87 tỷ mẫu đất trở lên Mặt khác, những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp do lấy đất công nghiệp phải được chuyển về chính quyền nông thôn, xã

để lo cho phát triển đời sống KT-XH của nhân dân

Thứ tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và

tăng quyền cho nông dân Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại qui mô lớn với

công nghệ canh tác (Nguyễn Hoàng Sa, 2014)

Từ thành tựu trong đổi mới nông thôn ở Trung Quốc có thể thấy rằng bên cạnh việc coi trọng vấn đề “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân), Trung Quốc còn có những chính sách phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp, lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thành thị hỗ trợ nông thôn Qua đó, tạo ra một mối quan hệ tổng hòa giữa các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của đất nước

2.2.1.3 Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân

và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập,

Trang 37

nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học

và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng

Trang 38

kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi thôn một sản phẩm và chương trình Quỹ thôn

Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm

2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)

Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Thái Lan đã cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, cách làm đột phá, không đi theo lối mòn và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp -

Trang 39

tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Điểm cốt lõi của OVOP là mỗi làng phải chọn cho mình một sản phẩm đặc biệt nổi trội, có tính cạnh tranh nhất mà địa phương khác không có Chính quyền

sẽ hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật, vốn và thị trường nhằm mang lại giá trị gia tăng cao nhất Đối tượng khách hàng mục tiêu là du khách

Trên thực tế mỗi địa phương đều có nét văn hóa riêng, do vậy, tạo ra những sản phẩm đặc trưng dựa trên giá trị văn hóa đó và du khách khi tới bất cứ một địa phương nào đều luôn mong chờ được thưởng thức, chiêm ngưỡng những gì độc đáo của địa phương đó

Kênh phân phối chính của OVOP Nhật Bản là các siêu thị Liên minh HTX quyết định giá bán và trong đó, siêu thị hưởng 8%; liên minh hưởng 12%; người sản xuất hưởng 80%

Một nguyên tắc căn bản của OVOP là phát triển nguồn nhân lực Ở tỉnh Oita, người ta xây dựng 6 trường học để dạy nông dân cách làm ăn Việc đào tạo này vừa quan tâm đến phổ biến kiến thức, kỹ năng; vừa nuôi dưỡng sự sáng tạo, cùng với tinh thần, đạo đức kinh doanh, trên cơ sở duy trì giá trị văn hóa truyền thống (Phạm Thị Huyền, 2013)

Với phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" của Nhật Bản, chúng ta có thể học tập và áp dụng tùy vào điều kiện nước ta Mỗi địa phương, tùy vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng

ra thị trường quốc tế với những ưu điểm riêng biệt mà không sản phẩm nào có được

2.2.2 Tình hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên toàn quốc

Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm của Nghị quyết số 26-NQ/TW, Nghị quyết toàn diện nhất về phát triển nông nghiệp,

Trang 40

nông dân, nông thôn từ trước tới nay Sau nhiều năm thực hiện, diện mạo nhiều vùng nông thôn được đổi thay, hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dân được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được phát huy, tình thôn nghĩa xóm được vun đắp, đội ngũ cán bộ trưởng thành một bước

Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại

11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngày 08-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

Các địa phương đã quan tâm hơn và tập trung chỉ đạo thực hiện những nội dung trọng điểm, bức xúc trên địa bàn và có nhiều cơ chế, chính sách linh hoạt để huy động nguồn lực thực hiện chương trình Nhờ đó, tốc độ đạt tiêu chí của các xã tăng lên rõ rệt Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống người dân được các địa phương quan tâm xây dựng, nâng cấp; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, thu nhập của cư dân nông thôn tăng nhanh hơn

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra 2016, đến thời điểm 01/7/2016 cả nước có 2.060 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 23,1% tổng số xã thực hiện xây dựng NTM và còn 6.851 xã chưa đạt chuẩn NTM, chiếm 76,9% tổng số xã thực hiện NTM

Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM có sự khác biệt lớn giữa các vùng trong cả nước, vùng Đông Nam Bộ đạt cao nhất (47%), gấp gần 5 lần tỷ lệ của vùng Trung du miền núi phía Bắc đạt thấp nhất (9,5%) Trong thời gian tới, sốlượng xã đạt chuẩn NTM sẽ tăng lên do 139 xã (chủyếu thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ Duyên hải miền Trung) đã đạt toàn bộ 19 tiêu chí và đang chờ cấp

có thẩm quyền phê duyệt

Ngày đăng: 15/07/2021, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Phạm Thị Huyền (2013). Mô hình mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản: Phiên bản nào cho Việt Nam?, Truy cập ngày 17/5/2013 từ http://www.tapchicongthuong.vn Link
15. Tuấn Anh (2012). Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới, Truy cập ngày 9/2/2012 từ http://www.tapchicongsan.org.vn Link
1. Ban chấp hành trung ương (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008. Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản trung ương (2016). Báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 Khác
3. Ban chỉ đạo trung ương chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2012). Báo cáo kết quả thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, những vướng mắc, khó khăn cần tháo gỡ và nhiệm vụ trọng tâm năm 2012 Khác
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính (2011). Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 hướng dẫn thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Khác
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010). Thông tư số 07/2010/TT- BNNPTNT ngày 08/02/2010 hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
6. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009). Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009 hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
7. Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Thông tư liên tịch số: 13/2011/TTLT-BXD- BNNPTNT-BTN&MT ngày 28 tháng 10 năm 2011 quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới Khác
8. Bùi Quang Dũng và cs (2015).Chương trình xây dựng Nông thôn mới: một cách nhìn từ lịch sử chính sách Khác
9. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
10. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2010). Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Khác
11. Cù Ngọc Hướng (2006). Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới Trung Quốc Khác
12. Lê Tâm (2015). Sơ kết 4 năm thực hiện Chương trình 02-CTr/TU về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, Truy cập ngày 07/02/2015 từ hanoi.gov.vn Khác
13. Nguyễn Hoàng Sa (2014). Kinh nghiệm xây dựng Nông thôn mới ở Thái Lan và Trung Quốc bài học đối với Việt Nam hiện nay. Truy nhập ngày 11/06/2014 từ www.hoavang.danang.gov.vn Khác
16. UBND huyện Thường Tín (2011). Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Thường Tín giai đoạn 2010 – 2020 Khác
17. UBND huyện Thường Tín (2012). Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội Khác
18. UBND huyện Thường Tín (2015). Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Chương trình số 02 - CTr/TU của Thành ủy Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w