Xuất phát từ mục tiêu chiến lược đó, trong sự biển đổi của tình hình thế giới hiện nay, Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với các nước Đông Nam Á, điều này đã đ
Trang 1TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC
ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY
Trong sự biến chuyển của tình hình quốc tế thập kỷ qua, xu thế nhất cực hay đa cực vẫn chưa được xác định, nhưng đối với Trung Quốc thì một thế giới đa cực là mong muốn và là mục tiêu của họ trong đó họ muốn mình
sẽ là một cực với vị trí nhất định trên trường quốc tế
Xuất phát từ mục tiêu chiến lược đó, trong sự biển đổi của tình hình thế giới hiện nay, Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với các nước Đông Nam Á, điều này đã đưa đến những tác động không nhỏ tới khu vực trong những năm qua
Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay được các nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định những mục tiêu trên kinh tế, vì môi trường hoà bình nhưng vấn đề đặt ra là, trên thực tế thì những mục tiêu đó chỉ là một mặt trong chính sách của Trung Quốc ở Đông Nam Á Những tranh chấp vẫn thường xuyên diễn ra và ngày càng có phần căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á với thái
Trang 2môi trường hoà bình của Đông Nam Á được gia tăng được xuất phát từ mục tiêu nào trong chính sách của Trung Quốc? Phải chăng đó là sự ngẫu nhiên, bột phát hay là những phép tính chiến lược của Trung Quốc?
Một câu hỏi lớn không dể giải đáp đang đặt ra với tất cả chúng ta là sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay đã diễn ra như thế nào? Nội dung và thực chất của
nó là gì? Trong sự điều chỉnh đó, cái gì bất biến cái gì là khả biến? Đó là những vấn đề quan trọng và hết sức cấp thiết đang được đặt ra đối với giới nghiên cứu các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng!
Chính sách chính trị - ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á trong thập kỷ qua đã và đang tác động trực tiếp và phức tạp đến khu vực Vì vậy xét trên bình diện: chính trị - ngoại giao, việc nghiên cứu đề tài này là một nhu cầu thực tiễn và khoa học Trên cơ sở đó sẽ góp phần tích cực giúp cho việc xác định đối sách đúng đắn của các nước Đông Nam Á với Trung Quốc Nhất là Việt Nam, một nước đã từng có bề dày quan hệ với Trung Quốc từ trong lịch sử, đã từng có không ít những biến cố phức tạp qua những lần "điều chỉnh" chính sách của Trung Quốc, thì hơn bao giờ hết, chúng ta càng cần thiết phải nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á trong thời kỳ hiện nay
II - LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
"Chính sách của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh" là một vấn đề mới với những sự kiện lịch sử vẫn còn đang trong quá trình tiếp diễn
Đã có không ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm đến vấn đề này, song mới chỉ là bước đầu với những bài viết, bài bình luận, thường là nghiêng về mặt này hoặc mặt khác của vấn đề
Trang 3Các nhà nghiên cứu Trung Quốc trên cơ sở nhìn nhận về bình diện thế giới đã khẳng định chính sách mở cửa đối ngoại để phát triển của Trung Quốc từ thời Đặng Tiểu Bình là một sự hoà nhập hợp quy luật vì "Sự phát triển của Trung Quốc không thể tích khỏi thế giới" Lưu Vĩnh Đoạn trong" Kinh tế Châu Á bước vào thế kỹ XXI" cũng đã đề cập đến một phần nhưng không nhiều về hướng phát triển kinh tế, chính trị của Trung Quốc hiện tại và tương lai
Các nhà nghiên cứu phương Tây có sự chú ý đặc biệt đến Trung Quốc
từ sau chiến tranh lạnh đến nay, nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở mặt này hay mặt khác của vấn đề như: Những biến đổi kinh tế và xu hướng địa chính trị qua tình hình thế giới năm 1993 - 1994 - 1996 và việc đánh giá " Trung Quốc trên bàn cân Gần đây nhất, G.Klinworth trong" Đông Nam Á - Trung Quốc mối quan hệ đang mở ra" đã nói đến sự tiến triển trong quan hệ Trung Quốc
- Đông Nam Á Nhưng tất cả cũng mới chỉ là những bài viết phục vụ cho quân sự, nên nó thiên về chính sách quân sự của Trung Quốc
Hiện nay, trên các tài liệu đặc biệt phục vụ nghiên cứu đã có những bài biết ngắn như: "Những ưu tiên chính sách và quan hệ gần đây nhất của Trung Quốc với Đông Nam Á" của Robert Sutter và "Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á " của Ross Munrô, đã khái quát được xu hướng điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với Đông Nam Á nhưng trên quan điểm của các nhà nghiên cứu phương Tây,
ít nhiều có những đánh giá xa với phương pháp luận mác xít
Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về vấn đề này khá phong phú, nhưng nhìn chung cũng chỉ mới hướng mũi nhọn nghiên cứu vào quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước ASEAN Đó là Nguyễn Minh Hằng với "Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc thời mở cửa" Lê Hồng Phục - Đỗ Đức Thịnh với: "Một số vấn đề về kinh tế đối ngoại của các nước
Trang 4đang phát triển Châu Á" đã khái quát được quan hệ đối ngoại của Trung Quốc hiện nay với các nước về kinh tế, trong đó đề cập đến quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với ASEAN nhưng chỉ mới là hệ thống dữ liệu khái quát
Năm 1999 ở nước ta đã tiến hành một số cuộc hội thảo như: "Chính sách của Trung Quốc với các nước ASEAN và Việt Nam" tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Về "Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc " tại Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và đặc biệt là cuộc hội thảo quốc tế: "ASEAN hôm nay và ngày mai" tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á có cả sự tham gia của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và phương Tây Qua các cuộc hội thảo
đó, vấn đề chính sách đối ngoại, quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với ASEAN một lần nữa được quan tâm, song cũng mới chỉ dừng lại ở những bài tham luận ngắn có tính chất lướt qua một cách khái quát và cũng chủ yêú thiên về quan hệ kinh tế
Nhìn chung, vấn đề chính sách chính trị - ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay vẫn đang là một vấn đề mới
mẻ vã lại nó là vấn đề khá nhạy cảm Chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách chuyên sâu, do tính phức tạp của những sự kiện đang diễn ra từ nó Vìi vậy chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này với hy vọng nghiên cứu một cách có giới hạn vào vấn đề còn nhiều bở ngỡ đó là "Tìm hiểu chính sách chính trị - ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay", trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước và trên những sự kiện lịch sử thực tế đã và đang diễn ra
III - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay (từ 1989 - 2000) trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Trang 5*Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu nội dung chính đó, đề tài đi vào nghiên cứu các vấn đề như: Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á trước 1989; những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh Bên cạnh đó, để có cái nhìn tổng thể, sâu sắc về chính sách này của Trung Quốc, đề tài đã nghiên cứu về chính sách chính trị - ngoại giao của Trung Quốc với các nước lớn và các nước láng giềng (Nam Á, Trung Á) Qua cái nhìn tổng thể, toàn diện đó, đề tài sẽ rút ra được nội dung và thực chất chính sách này của Trung Quốc đối với Đông Nam Á một cách chính xác và khoa học hơn, song song với nó là sẽ thấy được khác biệt trong sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc thời kỳ mới này với từng khu vực
- Về thời gian: Trên cơ sở tìm hiểu quá trình vận động của chính sách
Trung Quốc đối với Đông Nam Á trước chiến tranh lạnh, lấy mốc từ năm 1949,
đề tài giành trọng tâm nghiên cứu phạm vi thời gian từ sau chiến tranh lạnh đến nay (1989 - 2000)
IV - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
"Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh" là một vấn đề lịch sử Để hoàn thành đề tài này chúng tôi dựa vào quan điểm của Đảng từ về những vấn đề quốc tế, về chính sách đối ngoại, để nghiên cứu và làm cơ sở cho việc đánh giá và kết luận vấn đề Trong phương pháp, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic để nghiên cứu những sự kiện hiện tượng lịch sử Trên
cơ sở sưu tầm, phân loại và chọn lọc nguồn tư liệu phong phú và xác thực
để tìm ra nội dung và thực chất của chính sách đối ngoại Trung Quốc ở Đông Nam Á từ 1989 đến nay
Trang 6Ngoài ra để làm rõ hơn nội dung, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác: phương pháp giả định chứng minh
V - CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo, và mục lục, luận văn gồm 3 chương
Chương I: Vài nét về chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam
Á trước năm 1989 và sự chuyển hướng của nó sau chiến tranh lạnh:
Chương II: Chính sách của Trung Quốcđối với Đông Nam Á từ 1989 đến nay
Chương III: Đông Nam Á trước tác động của chính sách đối ngoại của Trung Quốc
Phần nội dung:
Trang 7CHƯƠNG I VÀI NÉT VỀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á TRƯỚC NĂM 1989 VÀ SỰ CHUYỂN HƯỚNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH
I - VÀI NÉT VỀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM
Á TRƯỚC NĂM 1989:
Từ sau năm 1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước, cũng là thời kỳ Trung Quốc phải bảo vệ sự tồn tại của mình trong bối cảnh thù địch được tạo ra bởi cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã lan rộng ở Châu Á Vì vậy, chính sách của Trung Quốc ở giai đoạn này luôn có hai mục tiêu hàng đầu là củng cố an ninh quốc gia và nâng cao địa vị trên trường quốc tế với tư cách là một nước lớn
Do những tác động của sự phân chia quyền lực chính trị trong chiến tranh lạnh và việc theo đuổi những mục tiêu chiến lược của mình, nên chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á thời kỳ này rất phức tạp, tạo nên mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á đầy quanh co, uốn khúc
1/ Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Dương:
Vào đầu những năm 50, Trung Quốc đứng trước mối nguy cơ an ninh
cả từ phía bắc và phía nam Ở phía Bắc, Trung Quốc phải đối phó với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Triều Tiên và ở phía Nam là cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Mặt khác, đây là thời kỳ Mỹ thi hành chính sách thù địch với Trung Quốc và tiến hành kế hoạch bao vây cô lập Trung Quốc Trong bối cảnh đó, để đảm bảo an ninh cho mình, Trung Quốc
đã chi viện cung cấp vũ khí cho ba nước Đông Dương vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp với mong muốn Trung Quốc sẽ đứng ra làm người chi phối cuộc thương lượng với Pháp Thực hiện kế hoạch này, Trung Quốc nhằm đạt hai mục đích: Thứ nhất là nhằm đảm bảo an ninh cho Trung Quốc ở phía
Trang 8Nam, thứ hai là nhằm thực hiện mưu đồ nắm Đông Dương để có vai trò của nước lớn trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế mà trước hết là ở Châu
Á Đặc biệt trong giai đoạn này, Trung Quốc đã bắt tay với Liên Xô, coi Liên
Xô là đồng minh lớn nhất để chống lại Mỹ và Phương Tây Cho nên, mặc dù chính sách đối ngoại của Trung Quốc theo thuyết của Mao Thạch Đông, muốn thực hiện mưu đồ "nước lớn", nhưng quan hệ của Trung Quốc với Đông Dương lại đầy khả quan và triển vọng
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Đông Dương, nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á Vào cuối những năm 60, việc sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, một mặt làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội của nước Mỹ, mặt khác đã làm suy yếu thêm vị trí của Mỹ trên trường quốc tế Trước tình thế tuyệt vọng đó, sau khi lên cầm quyền, Nich Xơn đã đề ra một chiến lược mới đối với Đông Dương Ních Xơn đã tìm cách khai thác những bất đồng trong quan hệ hai nước Liên Xô - Trung Quốc, tiến hành thương lượng với Liên Xô, thoả hiệp với Trung Quốc nhằm cô lập Đông Dương
Xuất phát từ bối cảnh đó, Trung Quốc đã đi từ chính sách chống Mỹ công khai đến thoả hiệp với Mỹ để chống lại Liên Xô Đỉnh cao của sự thoả hiệp trên giữa Trung Quốc với Mỹ là việc ký kết "Thông cáo Thượng Hải" tháng 12/1972 Một trong những nội dung của "Thông cáo Thượng Hải" là:
Mỹ và Trung Quốc công nhận quyền lợi của nhau ở vùng Châu Á- Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á Trung Quốc chấp nhận sẽ giúp đỡ Mỹ trong chiến lược của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương Trung Quốc sẽ liên minh với Mỹ nhằm chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Sự thoả hiệp với Mỹ của Trung Quốc là một bước có ý nghĩa quyết định đối với việc triển khai âm mưu bành trướng của Trung Quốc, trước hết
là ở Đông Dương
Trang 9Sau khi ký "Thông cáo Thượng Hải", Trung Quốc đã ngừng viện trợ, ngừng giúp đỡ Việt Nam, đồng thời tìm mọi cách kiềm chế Việt Nam thống nhất đất nước, cản trở việc thi hành hiệp định Pari, âm mưu thi hành chính sách giữ cho Việt Nam không thắng không bại, bị chia cắt lâu dài lệ thuộc vào Trung Quốc
Sau hiệp định Pari tháng 1/1973, Trung Quốc đã từng bước đẩy mạnh hơn nữa những hành động nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa để khống chế Việt Nam từ mặt biển; đồng thời tăng cường những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam nhằm duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt - Trung để phân tán lực lượng của Cách mạng Việt Nam Mặt khác, Trung Quốc
"nuôi dưỡng" và sử dụng bè lũ Pôn Pốt -Iêng Xary để thi hành chính sách chống Việt Nam, từng bước nắm trọn Campuchia dưới chế độ Pôn pốt - Iêng Xari để chuẩn bị bàn đạp tấn công Việt Nam từ phía Tây nam
Thắng lợi của nhân dân Việt Nam năm 1975 đã đánh đổ hoàn toàn chính quyền tay sai của Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Đây không chỉ là thất bại nặng nề của Mỹ mà còn là một thất bại lớn của Trung Quốc trong việc thực hiện mưu đồ bành trướng của mình Chính vì vậy mà Trung Quốc đã tiến tới công khai thi hành chính sách thù địch chống Việt Nam Sau khi đã có một quá trình thực hiện những kế hoạch ngấm ngầm tạo nên sự chuẩn bị khá kỹ lưỡng Trung Quốc đã thực hiện cuộc tấn công quy mô vào biên giới Việt Nam theo hai hướng từ phía Tây Nam ngày 22/12/1978 và từ phía Bắc ngày17/2/1979, tạo nên cuộc chiến tranh biên giới vô cùng căng thẳng Trung Quốc còn dùng Hoa kiều làm "đạo quân thứ năm" gây ra vụ "nạn kiều", xúi giục người Hoa ở Việt Nam trở về Trung Quốc nhằm phá rối an ninh của Việt Nam sau giải phóng, đã đưa đến không ít khó khăn cho cách mạng Việt Nam
Trang 10Hai nước Lào và Campuchia cũng ở tầm nhìn truyền thống trong chiến lược "chủ nghĩa đại dân tộc" của Trung Quốc, nhưng với Campuchia, tình hình có nhiều phức tạp hơn, tạo cho Trung Quốc nhiều thời cơ hơn
Từ 1960, Trung Quốc đã tìm cách nắm các lực lượng Campuchia, thi hành chính sách rất phức tạp đối với Campuchia, Đến năm 1970, Trung Quốc từng bước từ chỗ tiến hành hậu thuẫn cho các lực lượng chống đối trong Chính phủ lật đổ Nôrôđôn Xihanuc, đưa Lonnon lên cầm quyền, biến đảng Khmer thành một đảng phụ thuộc vào Trung Quốc, đến chỗ dùng bọn Pôn pốt
- Iêng Xari để phá hoại cách mạng ba nước Đông Dương, nhằm biến Campuchia, thành một căn cứ, một bàn đạp để khống chế Đông Dương Sau năm 1975, khi Campuchia đã giải phóng, Trung Quốc đã xây dựng nên một chế độ diệt chủng có một không hai trong lịch sử loài người, nhằm thông qua
đó để hoàn toàn kiểm soát Campuchia và chống Việt Nam từ phía Tây Nam
Sang thập kỹ 80, cách mạng các nước Đông Dương đã giành được thắng lợi quyết định, Trung Quốc thực hiện đường lối cải cách mở cửa, đưa quan hệ Trung Quốc và ba nước Đông Dương đến chỗ có phần dịu hơn, nhưng trên thực tế, chính sách "nước lớn" tư tưởng "đại dân tộc" của Trung Quốc vẫn được thể hiện rõ ràng qua quá trình đàm phán với Việt Nam, quá trình lợi dụng tình hình phức tạp ở Campuchia đề tăng cường ảnh hưởng đối Đông Dương cũng như khu vực Đông Nam Á
2/ Chính sách của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á khác:
Mặc dù có những nét khác biệt, nhưng chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á khác cũng cùng chung một điểm xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo chủ nghĩa đại dân tộc và chiến lược chủ nghĩa nước lớn của những nhà cầm quyền Trung Quốc trong thời kỳ này Cụ thể là trước hết Trung Quốc muốn thôn tính ba nước Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp, bành trướng xuống các nước Đông Nam Á khác Điều này được thể hiện rõ qua khẳng định của Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc họp của Bộ chính trị,
Trang 11Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8/1965:
"Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á bao gồm cả Thái Lan, Miến Điện, Malaixia và Singapore "
Trong những năm 50, 60, do chính sách "nhất biên đảo" và chính sách
"hai tuyến", nên Trung Quốc rất hạn chế quan hệ đối ngoại với các nước Đông Nam Á ngoài Đông Dương, nhất là với hai nước Thái Lan và Philippin thuộc khối liên minh quân sự SEATO có tính chất xâm lược của Mỹ Với Inđônêxia thì sự kiện 30/9/1965 đã tạo ra một khoảng cách vô cùng lớn giữa Inđônêxia và Trung Quốc Nhìn chung trong thời kỳ này, Trung Quốc hầu như không có quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á ngoài Đông Dương, có chăng thì mới chỉ là quan hệ với cộng đồng người Hoa ở các nước này để phục vụ mục đích chiến lược của họ là sử dụng lực lượng Hoa Kiều để làm công cụ nội lực ở Châu Á - Thái Bình Dương
Từ thập niên 70 Mỹ ngày càng lúc sâu vào thất bại trong chiến tranh Việt Nam và cuối cùng là sự thất bại hoàn toàn, buộc Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, chấm dứt vai trò dùng sức mạnh của Mỹ ở Đông Nam Á Cùng với sự rút lui của Mỹ, là sự giải thể của khối liên minh quân sự SEATO năm 1996 Từ 1971 Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thay Đài Loan đại diện ở Liên hiệp quốc Trong tình hình đó, Trung Quốc thực hiện điều chỉnh chính sách của mình: một mặt, chuyển từ chính sách "hai tuyến" sang chính sách "một tuyến", bắt tay hợp tác với Mỹ nhằm mục đích thay Mỹ lấp khoảng trống quyền lực ở Đông Nam Á; mặt khác thực hiện thiết lập quan hệ ngoại giao với, với Malaixia năm 1975, với các ASEAN, Thái Lan và Philippin, năm 1990 với Inđônêxia và Singapore Nhưng ở thời kỳ này do mục đích chiến lược của Trung Quốc là nhằm xây dựng quan hệ với các nước ASEAN để cô lập Đông Dương, lợi dụng tình hình căng thẳng ở Campuchia
để khắc sâu thêm mâu thuẩn đối đầu giữa các nước trong ASEAN và Đông Dương Nên quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN chưa thực sự cởi mở các
Trang 12nước ASEAN vẫn còn cảnh giác với Trung Quốc Song có một số nước lại có quan hệ chặt chẽ đặc biệt với Trung Quốc như Thái Lan, Malaixia trên cơ sở cùng đứng về phía lực lượng Pônpốt - Iêng Xari để cùng với Trung Quốc chống lại cách mạng Việt Nam và Đông Dương
Đến thập kỷ 80, Trung Quốc thấy không thực hiện được mục tiêu chiến lược của mình ở Đông Dương Bên cạnh đó, do việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, Trung Quốc rất cần thu hút vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý Đó chính là động cơ để Trung Quốc hướng tới tăng cường cải hiện quan
hệ hợp tác với các nước ASEAN, coi đây là hướng mở cửa quan trọng của Trung Quốc ở Châu Á - Thái Bình Dương Tuy vậy, trong thời kỳ này, quan
hệ giữa Trung Quốc và các nước ASEAN vẫn chỉ là bước đầu, rất dè dặt và mang tính chất quan hệ kinh tế đơn thuần
Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á trong những năm trước 1989 là xuất phát từ những mục tiêu chiến lược của Trung Quốc, thực hiện tư tưởng chủ nghĩa nước lớn, bành trướng, bá quyền bằng mọi hình thức Chính vì vậy mà chính sách đối ngoại của Trung Quốc như những nước
cờ lắt léo, đầy quanh co và phức tạp, điều chỉnh theo những biến đổi của tình hình quốc tế Sự xoay vần ấy đã tạo nên sự thất thường trong chính sách của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á
II - NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC SAU CHIẾN TRANH LẠNH:
1/ Tình hình quốc tế:
Sự kết thúc của chiến tranh lạnh vào cuối thập kỷ 80 đã khiến cho tình hình thế giới chuyển sang một thời kỳ mới Sự thay đổi lớn đó đã làm cho mục tiêu, phương hướng, sách lược, chiến lược phát triển của nhiều nước bị đảo lộn
Trang 13Trong bối cảnh đó, các nước đều ra sức tìm cho mình một con đường mới để
có thể tiếp tục phát triển trong thế giới đầy biến động sau "chiến tranh lạnh"
Cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh đã thay đổi rất nhanh chóng Xu thế đối đầu về chính trị, quân sự trên phạm vi toàn cầu tạm thời dịu đi thay vào đó là một thế giới với nhu cầu đối thoại củng cố hoà bình phát triển kinh
tế, để khẳng định mình Đặc biệt là thành quả của cuộc Cách mạng khoa học
kỹ thuật mở ra một cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế Trong điều kiện đó, không một nước nào
có thể tự vận động phát triển mà không có sự giao lưu, liên minh, liên kết với thế giới bên ngoài Chính nhu cầu đó đã tạo nên xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá và phát triển các tổ chức liên minh quốc tế trên toàn thế giới như: Khối thị trường Châu Âu, khối ASEAN, Khối liên minh kinh tế Mỹ - Canađa Tình hình và xu thế phát triển mới của thế giới như vậy đã buộc các nước muốn tồn tại và phát triển thì tất yếu phải điều chỉnh chính sách của mình, đặt sự phát triển kinh tế lên mục tiêu hàng đầu, trong đó hợp tác là cách thức chủ yếu, là điều kiện quan trọng
Mặt khác trong xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, các quốc gia ngày càng lệ thuộc nhiều hơn vào nhau, an ninh của mỗi nước nằm trong nền an ninh chung và có ổn định thì mới phát triển lên được Tuy vậy, hoà bình ở nhiều khu vực vẫn bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi, xung đột quân sự vẫn diễn ra vô cùng ác liệt Đó là những mâu thuẩn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ Đặc biệt trong các cuộc xung đột, mâu thuẩn đó, ít nhiều luôn
có sự tham gia của các thế lực thể hiện xu thế của việc hình thành cán cân thế giới mới Vì vậy mà vấn đề càng phức tạp hơn Xuất phát từ tình hình đó, các nước buộc phải xác định cho mình hướng và khu vực để hợp tác nhằm phát triển, đảm bảo an ninh và tạo sự ảnh hưởng của mình
Như vậy sau chiến tranh lạnh, những chuyển biến trong tình hình quốc tế đã tạo nên những nhân tố cơ bản buộc các quốc gia, nhất là những
Trang 14nước đang nổi lên, ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển của mình, đặc biệt là điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại để hoà nhập với xu thế mới của thế giới
2/ Những chuyển biến ở Châu Á - TBD sau chiến tranh lạnh:
2.1/ Tình hình Châu Á - Thái Bình Dương:
Sau chiến tranh lạnh, Châu Á -Thái Bình Dương được coi là nơi yên bình nhất, năng động nhất và ổn định nhất của thế giới hiện nay
Về kinh tế: Sự sôi động và thần kỳ của Châu Á - Thái Bình Dương
trước hết là ở lĩnh vực kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế Qua thống kê của các nhà nghiên cứu kinh tế, Châu Á -Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới sau chiến tranh lạnh Mức tăng GDP của Châu Á -Thái Bình Dương bình quân mỗi năm đạt trên dưới 6%, trong khi tốc
độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Mỹ là 2,4% và Tây Âu 1,5% năm Theo dự báo của tổ chức kinh tế thế giới năm 1990 thì tổng sản phẩm của Châu Á -Thái Bình Dương chiếm 1/4 tổng sản phẩm của toàn thế giới và đang tiếp tục phát triển
Sự xuất hiện và vươn lên của những "con rồng" Châu Á như Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Sinhgapore đã là biểu hiện cho sự phát triển thần kỳ của kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Đặc biệt sự kết thúc của chiến tranh lạnh đã tạo ra môi trường hoà nhập trong dòng phát triển và hợp tác của Châu Á -Thái Bình Dương với thế giới, tạo điều kiện cho Châu Á -Thái Bình Dương hình thành những tiểu khu vực kinh tế: Tiểu khu vực kinh tế Đông Bắc Á, tiểu khu vực kinh tế Hoa Nam, khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN (APTA) Đặc biệt để đi sâu vào phát triển hợp tác khu vực Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC) đã ra đời vào năm 1989 là
sự biểu hiện cho sự phát triển của quá trình nhất thể hoá nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
Trang 15-Sự phát triển kinh tế của Châu Á -Thái Bình Dương trong những năm qua đã làm tăng vai trò quốc tế của khu vực Điều này đã tác động lớn đến chính sách của các nước nhất là những nước lớn ở Châu Á -Thái Bình Dương Trung Quốc đang cố gắng chớp thời cơ, tích cực tham gia hoà nhập vào sự phát triển của thế giới, điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại của mình nhằm một mặt, phát triển nền kinh tế trong nước, mặt khác tích cực tham gia vào việc hoạch định các nguyên tắc hoạt động để khẳng định
vị trí của mình, bên cạnh đó chủ động mở rộng thị trường để thu hút tốt hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài hoà nhập vào những thành tựu khoa học tiên tiến, tiếp cận nhanh với nền kinh tế quốc tế
Vì an ninh - chính trị: Ổn định chính trị và an ninh khu vực là nét nổi
bật tạo nền móng cho sự phát triển về kinh tế của Châu Á -Thái Bình Dương Sau chiến tranh lạnh những bất ổn định, như vấn đề bán đảo Triều Tiên, vấn
đề eo biển Đài Loan, vấn đề Biển Đông, vấn đề Đông Timor vẫn tiếp diễn, song nhìn chung hoà bình và phát triển vẫn là xu thế chung của Châu Á -Thái Bình Dương
Sự tranh giành bá quyền giữa các nước lớn vẫn đang diễn ra một cách
âm thầm Nổi bật là sự cạnh tranh quyền lực giữa Nhật Bản và Trung Quốc,
và quá trình hai bên tập hợp lực lượng vẫn diễn ra từng ngày với một hình thức kín đáo Nhật một mặt đẩy mạnh đầu tư buôn bán ở Châu Á -Thái Bình Dương và xem đó như một phương tiện để giành quyền lãnh đạo trên thực tế, mặt khác tiếp tục tìm kiếm vai trò chính trị lớn hơn thông qua ảnh hưởng kinh
tế và nâng cao vị trí của mình ở Liên Hiệp Quốc Đồng thời việc duy trì Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật cũng tạo nên sức mạnh cho Nhật Đây thực sự là vấn
đề có ý nghĩa không nhỏ tác động đến Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải chú ý đến sự điều chỉnh chính sách của mình
Đáng chú ý hơn là sau chiến tranh lạnh, sự sụp đổ của Liên Xô đã làm cho quan hệ hợp tác Mỹ - Trung trong việc chống Liên Xô không còn cần
Trang 16thiết nữa Song song với nó là sự cải thiện quan hệ Trung - Nga cho phép Trung Quốc hướng trọng tâm chú ý đến nơi khác Và hiện nay, sự rút đi của Mỹ và Nga đã tạo nên "khoảng trống quyền lực" và tình trạng mất cân bằng sức mạnh ở Châu Á -Thái Bình Dương Những yếu tố đó trở thành
cơ hội quyết định để Trung Quốc điều chỉnh chính sách của mình với hy vọng sẽ là người lấp khoảng trống đó bắt đầu bằng sự tạo ảnh hưởng lớn và khẳng định vai trò của mình ở Châu Á -Thái Bình Dương
2.2/ Khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh:
Nằm trong sự chi phí phối chung của tình hình thế giới, Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh đã có sự chuyển mình về mọi mặt Sự ổn định của chính trường đã loại trừ những đối kháng, những căng thẳng trong khu vực, tạo điều kiện cho Đông Nam Á đẩy mạnh sự tăng cường hợp tác và phát triển trong khối ASEAN ngày càng đem lại nhiều triển vọng, nhất là về tốc độ tăng trưởng kinh tế
Về kinh tế, sau chiến tranh lạnh, Đông Nam Á được đánh giá là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu thế giới Sự mở rộng liên kết của khu vực, sự mở rộng quan hệ đối ngoại thu hút đầu tư, tích cực phát triển kinh tế công nghiệp đã tạo điều kiện cho Đông Nam Á phát triển kinh tế một cách nhanh chóng Trong đó Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia là ba nước
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất được ngân hàng thế giới xếp vào hàng các nước công nghiệp hoá trổi dậy, trở thành "Ba con hổ" tiếp sau" Bốn con rồng" Châu Á
Trên bán đảo Đông Dương, trong bối cảnh hoà bình, kinh tế đã phát triển nhanh chóng Việt Nam sau khi tiến hành mở cửa và đổi mới cơ chế, kinh tế liên tục tăng với tốc độ cao, đầu tư nước ngoài liên tiếp hướng vào Việt Nam như một thị trường hấp dẫn
Trang 17Lào cũng bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, nền kinh tế Lào tăng trưởng tương đối nhanh Campuchia cũng bắt đầu xây dựng lại đất nước cùng với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, đưa nền kinh tế từng bước phát triển
Myanmar là nước từng bế quan toả cảng và bị cô lập song do sự tác động mạnh mẽ của trào lưu mở cửa ở Đông Nam Á, cũng mở cửa, hoà nhập với khu vực
Sự phát triển nhanh của nền kinh tế Đông Nam Á đã thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác kinh tế, hợp tác chính trị của khu vực ASEAN mở rộng từ ASEAN 6 lên 10 đã tăng cường thực lực cho Đông Nam Á trong các lĩnh vực, đặc biệt là địa vị chính trị, kinh tế của khu vực Đông Nam Á tại Châu Á -Thái Bình Dương Quá trình liên kết có tính khu vực đã được ASEAN quyết định tại Hội nghị cấp cao ASEAN tổ chức lần thứ 4 ở Singapore 1992, xây dựng một thị trường thống nhất phi thuế quan: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA: ASEAN Free Trade Area), đã làm tăng thêm sức hấp dẫn mạnh mẽ của khu vực
Hiện nay khu vực Đông Nam Á được coi là thị trường đầu tư của các nước do sự ổn định và hấp dẫn của nó Nguồn đầu từ bên ngoài và khu vực ngày càng tăng đã có tác động lớn đối với sự phát triển của Đông Nam Á cả
về kinh tế và giao lưu về khoa học kỹ thuật
Sự phát triển kinh tế của các nước Đông Nam Á hiện nay được đánh giá rất cao cả về quy mô và thực lực Vai trò độc đáo của khu vực với Châu Á -Thái Bình Dương, ý thức độc lập tự chủ và cùng chung tiếng nói đã ngày càng nâng cao uy tín và ảnh hưởng quốc tế của Đông Nam Á, đặc biệt là Đông Nam Á ngày càng tạo nên sức hấp dẫn với thế giới Tất cả những điều
đó đã có tác động không nhỏ đến chính sách của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh Trung Quốc với tư cách là một nước lớn đã hướng trọng tâm hợp tác với Đông Nam Á Đó sẽ là trọng tâm chú ý của thế giới
Trang 18Về an ninh chính trị: Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, gần nửa thế kỷ
Đông Nam Á là một trọng điểm trong chiến lược của Mỹ và bên cạnh đó là hàng loạt các vấn đề bất ổn như: Vấn đề Campuchia, sự đối đầu ASEAN Đông Dương tình hình đó đã ảnh hưởng đến quan hệ hoà bình trong khu vực
Sau chiến tranh lạnh, tình trạng căng thẳng trong khu vực từng bước được giải quyết, tạo thời cơ lịch sử cho Đông Nam Á mà hạt nhân là ASEAN với những thành tựu lớn lao trong quá trình phát triển về chính trị Những ý tưởng xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực tự do, hòa bình và trung lập (ZOPFAN) (A Zone của Peace, Freedom and neutrality) thực chất là nhằm đảm bảo nền an ninh của khu vực Đông Nam Á - đã ra đời từ năm 1971, nay mới có điều kiện để thực thi
Để từng bước đưa ZOPFAN trở thành hiện thực, các nước ASEAN đã tiến hành ký kết hiệp ước biến Đông Nam Á thành khu vực không có vũ khí hạt nhân vào năm 1995 (SEAN WFZ) Đây thực sự là một bước tiến tạo nên
tổ chức có tính chất quốc tế tại khu vực với một lực lượng chính trị quan trọng tại Châu Á - Thái Bình Dương Nó khiến cho cục diện Châu Á - Thái Bình Dương, vốn lấy quan hệ với các nước lớn làm chủ đạo, nay đã có biến đổi quan trọng ASEAN một mặt, xác lập địa vị chủ đạo của mình tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khiến các nước lớn khó lòng can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực, cụ thể việc kết nạp Mianmar tuy bị các nước phương Tây và Mỹ phản đối nhưng ASEAN vẫn quyết tâm kết nạp Mianmar, đảm bảo tính liên kết khu vực Mặt khác, ASEAN luôn tìm cách cân bằng lợi ích giữa các nước lớn đối với khu vực, tạo nên vai trò hoà hoãn xung đột, cân bằng và điều hoà lợi ích giữa các nước lớn với nhau
Để xác lập địa vị chủ đạo trong an ninh khu vực sau chiến tranh lạnh, khi mà các nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật, Ôxtrâylia liên tiếp đưa ra các phương án khung nhằm khống chế an ninh ở Đông Nam Á, các nước ASEAN
Trang 19đã thành lập một cơ chế an ninh mới, để vừa có thể chống lại sự đe dọa của các nước lớn, vừa phát huy vai trò chủ đạo của mình Bắt đầu từ 1990, qua 4 năm chuẩn bị, đến 25/7/1994 các nước ASEAN đã thành lập chính thức "Diễn đàn khu vực ASEAN" (ARF) Thông qua "diễn đàn ARF" ASEAN đã giành được thế chủ động trong việc điều hoà an ninh khu vực
Như vậy, Đông Nam Á đã đi từng bước từ tính liên kết khu vực, tạo môi trường hòa bình, ổn định an ninh, phát triển chính trị, đến chổ khẳng định vị trí
và vai trò độc đáo của mình ở Châu Á - Thái Bình Dương dưới hình thức tổ chức quốc tế có tính khu vực Tất cả những nhân tố nội tại và tích cực của Đông Nam Á chính là nhân tố quyết định để Đông Nam Á ngày càng nâng cao địa vị quốc tế của mình và Đông Nam Á ngày càng trở thành một trọng tâm trong hướng đặt quan hệ ngoại giao của các nước đặc biệt là với Trung Quốc
3/ Tình hình Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh:
3.1/ Những chuyển biến về chính trị:
Mọi sự chuyển biến trong xã hội đều được xuất phát từ những biến đổi
về lực lượng sản xuất, nhưng nếu không có những chuyển biến cách mạng trong đường lối chính trị, hệ thống tư tưởng cho phù hợp với lực lượng sản xuất, thì không thể gặt hái được những thành tựu kỳ diệu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Về đường lối đối nội năm 1992, quan điểm của Đặng Tiểu Bình về
"Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa " đã thắng quan điểm"Kinh tế hàng hoá
xã hội chủ nghĩa có kế hoạch", dẫn tới đường lối đại hội XIV của Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 10/1992 là: "Mục tiêu cải cách thế chế kinh tế và thiết lập nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa " Đến tháng 9/1997, đại hội
XV của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa ra vấn đề cải cách "Kinh tế quốc hữu" {4- Tr15}Đây được coi là bước đột phá mới về quan điểm lý luận và đường lối cải cách Nhưng ta thấy rằng trên thực tế, kể từ 1978, Trung Quốc
Trang 20đã từng bước chuyển từ "Nền kinh tế kế hoạch tập trung" sang "Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa", với mục tiêu kinh tế chiến lược là: Phát triển sức sản xuất, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Gắn liền với kinh tế thị trường, chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng có sự chuyển biến cơ bản
Đường lối đối ngoại của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh được xây dựng trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lê Nin với tư tưởng mới của Đặng Tiểu Bình Cụ thể là Trung Quốc lấy tư tưởng nền tảng: " Chủ nghĩa xã hội mang tính mở cửa" của C.Mác để xây dựng" Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc" trong đó đề cao việc giao lưu giữa các nước để thúc đẩy sự phát triển của sức sản xuất Lý luận "Chủ nghĩa xã hội mang tính mở cửa" của C.Mác khẳng định": Bất kỳ một xã hội nào muốn phát triển cũng không thể đóng kín mà phải mở cửa với bên ngoài, thông qua giao lưu với bên ngoài bằng nhiều hình thức thì mới có thể kế thừa và phát huy được những thành quả sức sản xuất và khoa học kỹ thuật của thế giới Xây dựng chủ nghĩa xã hội càng cần thiết phải mở cửa hơn"{25-Tr89}
Trên cơ sở nền tảng tư tưởng đó, trong thời đại ngày nay, việc giao lưu trên thế giới đã phát triển chưa từng có cả về bề rộng lẫn chiều sâu, lý luận" chủ nghĩa xã hội mang tính mở cửa" của C.Mác đã trở thành sự gợi mở quan trọng và hết sức đặc biệt với Trung Quốc Trung Quốc là một nước đi từ xã hội phong kiến nữa thuộc địa vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng trên
cơ sở nền kinh tế tự nhiên theo kiểu sản xuất nhỏ, lạc hậu và mang tính tự cấp, tự túc, mà chủ nghĩa xã hội phải được dựa trên cơ sở phát triển lớn, tốc
độ tăng trưởng cao của sức sản xuất và nền kinh tế hàng hoá Chính vì vậy Trung Quốc tất yếu phải mở cửa đối ngoại để phát triển, khắc phục những điều kiện lịch sử thì mới có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội và hiện đại hoá đất nước Vì vậy từ hội nghị Trung ương III khoá XI tháng 12/1978, Đảng cộng
Trang 21sản Trung Quốc đã khẳng định "chính sách mở cửa đối ngoại là quốc sách cơ bản và lâu dài của Trung Quốc" {25-Tr36}
Có thể nói, những chuyển biến trong hệ tư tưởng, trong đường lối chính trị của Trung Quốc đã đưa đến những biến đổi cơ bản về chính sách đối nội
và chính sách đối ngoại, đây sẽ là xuất phát điểm, là nền móng cho mọi biến chuyển trong xã hội Trung Quốc và biểu hiện của nó trước hết là trên lĩnh vực kinh tế
3.2/ Những chuyển biến về kinh tế:
Trong những năm trước 1978, những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bất chấp các quan hệ kinh tế Trung Quốc và thực trạng tình trạng tình hình đất nước, muốn nhanh chóng đưa Trung Quốc đuổi kịp và vượt các nước khác,
từ đó tiến lên Chủ nghĩa xã hội Song chính sách và sự chỉ đạo sai lầm đó đã làm cho nền kinh tế Trung Quốc bị rối loạn và sa rút nặng nề Việc thực hiện chính sách "Ba ngọn cờ hồng" và cuộc " Đại cách mạng văn hoá vô sản" cùng với những vấn đề phức tạp trong nền chính trị Trung Quốc đã tạo nên sự cản trở vô cùng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc Thực tế
đó đã trở thành mối lo ngại, sự thách thức với Trung Quốc khi họ đối mặt với tình hình thế giới Đòi hỏi cấp bách cải cách đất nước
Từ sau 1978 với việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, hiện đại hoá đất nước, Trung Quốc đã từng bước đưa nền kinh tế của mình biến đổi về chất Công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc đã đem đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ chưa từng có, mở ra thời kỳ huy hoàng và thịnh vượng nhất trong lịch sử, đưa đất nước cùng hoà nhập với thế giới hiện đại
Thành tựu phát triển kinh tế được biểu hiện một cách toàn diện trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, cùng với việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại Đặc biệt với chính sách "mở cửa", nền kinh tế của Trung Quốc đã được thúc đẩy phát triển nhanh hơn qua quá trình
Trang 22phát triển giao lưu kỹ thuật, kinh tế đối ngoại Năm 1990 so với 1980, tổng kim nghạch xuất khẩu của Trung Quốc từ 38,1 tỷ USD tăng lên 115,4 tỷ USD, tăng trưởng gấp ba lần Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1991 so với 1990 tăng trưởng 17,5%, năm 1990, thực tế thu hút đầu tư trực tiếp ngoại thương là 18,98
tỷ USD {9- tr 474} Bên cạnh đó việc thu hút một loạt kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, đã thúc đẩy sự nâng cao của trình độ kỹ thuật sản xuất trong nước
Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đã nâng cao thực lực của đất nước một cách rõ rệt Tổng giá trị sản xuất quốc dân từ 447 tỷ nhân dân tệ năm 1980 tăng lên 1740 tỷ nhân dân tệ năm 1990, bình quân mỗi năm tăng trưởng 9% Thu nhập quốc dân từ 368,8tỷ nhân dân tệ 447 tỷ nhân dân tệ, bình quân mỗi năm tăng 8,7% Tổng giá trị sản xuất quốc dân năm 1991 đạt
1958 tỷ nhân dân tệ, đứng hàng thứ 3 thế giới, sức tổng hợp của đất nước đã bước lên hàng thứ 6 của thế giới (9- tr 476)
Nổi lên trong sự phát triển của Trung Quốc là những trung tâm kinh tế mới do chính sách hình thành và phát triển kinh tế khu vực, mở cửa ven biển của Nhà nước Những trung tâm kinh tế như Thẩm Quyến, vùng kinh
tế Miền Đông, miền Trung và Miền Tây đang từng ngày nổi lên mới mẽ và đầy hứa hẹn
Cùng với sự tiến triển của chính sách mở cửa cải cách, một mặt Trung Quốc đã thúc đẩy những nhân tố tiềm tàng nội tại của đất nước, đưa nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, mặt khác gắn liền với cải cách kinh tế để phát triển, đòi hỏi Trung Quốc phải mở cửa đối ngoại Đây là một trong những yếu tố cốt lõi để Trung Quốc điều chỉnh chính sách của mình nói chung và với khu vực Đông Nam Á nói riêng, nhằm giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật và tạo phạm vi ảnh hưởng để phát triển và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế
III - SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á SAU CHIẾN TRANH LẠNH:
Trang 231/ Quan điểm của Trung Quốc về cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh:
1.1/ Về cục diện thế giới:
Để định ra chính sách của mình, vấn đề trước hết là Trung Quốc phân tích một cách rõ ràng, chính xác về sự biến đổi của cục diện thế giới Sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc nhận định rằng trật tự thế giới đã thay đổi, cục diện thế giới có xu hướng phát triển theo chiều đa cực hoá với biểu hiện
"nhất siêu, đa cường" Cái gọi là" nhất siêu" là chỉ nước Mỹ, còn "đa cường" chỉ các nước, các khu vực như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga Trong
đó, Trung Quốc muốn xây dựng một thế giới đa cực Hiện nay thực lực của
"đa cường" tuy tạm thời chưa sánh ngang với Mỹ, nhưng khoảng cách thì đang dẫn rút ngắn lại và xu hướng đa cực vẫn có nhiều ưu thế hơn với tổng lực của "đa cường" Ngoài ra Trung Quốc còn nhận định hệ thống quốc tế hiện nay đang phát triển theo hướng đa cực hoá và trong cục diện biến động
đó, các nước đang ra sức tìm kiếm vị trí quốc tế mới của mình Trong điều kiện đó, Trung Quốc luôn nhấn mạnh và ủng hộ thế giới đa cực để từ đó tìm kiếm vị trí xứng đáng của mình trên trường quốc tế
Vấn đề thứ hai trong nhìn nhận thế giới, theo Trung Quốc, quan hệ giữa các nước lên trên thế giới sau chiến tranh lạnh là vừa cạnh tranh, vừa hợp tác Giữa các nước đã xây dựng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau, hình thành cơ cấu quyền lực vừa xem trọng nhau, vừa kiềm chế lẫn nhau
Và trong đó sự cân bằng chiến lược của năm lực lượng: Mỹ - Trung - Nga - Nhật - Tây Âu sẽ có ảnh hưởng lớn đến hoà bình và ổn định của thế giới
Trong sự phát triển của thế giới hiện nay, môi trường hoà bình là một vấn đề thiết yếu Trung Quốc trong vấn đề nhìn nhận về an ninh cho rằng sau chiến tranh lạnh, thế giới tuy vẫn còn tồn tại không ít mâu thuẩn tiềm tàng, song về cơ bản tình hình quốc tế đang diễn biến trong sự hoà dịu, ít căng thẳng Có thể nói là "tổng thể hoà dịu, cục bộ xáo động" Các nước vẫn đang
Trang 24chỉ là cạnh tranh quân sự, mà là cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia Vũ lực không còn là điều kiện duy nhất bảo vệ an ninh của một nước, mà chỉ là thủ đoạn cuối cùng, và thực tế chạy đua vũ trang lại lại thường tạo nên sự khốn quẫn về an ninh, tạo tình thế căng thẳng gây tổn hại đến lợi ích quốc gia Chính vì vậy, Trung Quốc chủ trương dùng phương thức hòa bình để giải quyết các vấn đề tranh chấp, sử dụng đối thoại và thương lượng để thúc đẩy
sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, thông qua các kênh song phương và đa phương để tìm kiếm hoà bình và an ninh
Về phía mình, từ sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc cũng nhận thấy sức mạnh của mình trong chiến lược địa chính trị và trên trường quốc tế tăng lên Trung Quốc đã trở thành một trong những chủ thể cạnh tranh trên trường quốc tế Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997 đến nay, Trung Quốc cũng khẳng định được vị thế của mình hơn ở Châu Á - Thái Bình Dương
Với mục tiêu khẳng định mình, tìm kiếm sự tham gia quốc tế tăng cường sức mạnh quốc gia, Trung Quốc đã nhìn nhận một cách toàn diện về cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh Song bên cạnh đó, hiển nhiên việc nhìn nhận và đánh giá về cục diện khu vực cũng là một vấn đề hết sức quan trọng
1.2/ Về Cục diện Châu Á - Thái Bình Dương:
Với cục diện Châu Á - Thái Bình Dương, Trung Quốc dễ dàng nhận thấy sức mạnh của mình trong lĩnh vực địa chính trị cũng như trong lĩnh vực địa - kinh tế Nền kinh tế của Trung Quốc đã vươn lên cùng với quá trình tiến hành "Cải cách mở cửa" Điều đó thể hiện rõ trong năm 1998, mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt khoảng 2%, trong khi đó Trung Quốc vẫn đảm bảo mức tắc trưởng 7,8% theo tính toán, tổng sản phẩm quốc dân GDP của Trung Quốc đạt 1.000 tỷ USD đứng thứ 7 thế giới Nếu tính sản phẩm quốc dân GNP thì đạt 4.700 tỷ USD, chiếm khoảng 60% của Mỹ và đứng thứ hai
Trang 25thế giới [17-Tr 28,29]Vì vậy có thể khẳng định rằng, Trung Quốc ngày càng khẳng định được vị trí của mình, nhất là ở Châu Á - Thái Bình Dương
Ở Châu Á - Thái Bình Dương, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nước này có vị trí là trung tâm sức mạnh chủ yếu, tính theo giá hối đoái thì GNP của nước này chỉ kém Nhật Bản, cao hơn ASEAN, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc Tính theo sức mua của GNP ở Trung Quốc gấp 2,5 lần GNP của 8 nước: Thái Lan, Philippin, Malaixia,Lào, Việt Nam, Campuchia và Singapore cộng lại, gấp 7 lần Hàn Quốc, gấp 1,5 lần Nhật Bản và 2,7 lần so với Ấn Độ Trung Quốc thực sự có thể trở thành một siêu cường ở Châu Á - Thái Bình Dương {24 - Tr 2}
Với nhìn nhận đó, cùng với sự tăng cường thực lực kinh tế và quân sự, triển vọng trở thành một cường quốc khu vực và thế giới đã thúc đẩy tham vọng bành trướng cũng như ảnh hưởng kinh tế, chính trị của Trung Quốc ra nước ngoài nhất là khu vực Đông Nam Á
Trong khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc thấy nổi lên sự cạnh tranh của 4 nước là Mỹ, Nga, Nhật và Trung Quốc Trong đó Mỹ lại muốn kiềm chế không để đối thủ nào cạnh tranh được để vươn lên vị trí
bá chủ toàn cầu Trung Quốc cũng nhận thấy, Nhật Bản là một cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ), vốn đã có tham vọng thâu tóm Châu Á với chiến lược xây dựng "Khu vực thịnh vượng chung", nay càng tăng cường quan hệ với Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á, đồng thời quan hệ chặt chẽ với Mỹ để đảm bảo lợi ích an ninh Còn Nga, tuy có khó khăn về kinh tế do khủng hoảng kéo dài, những vấn nắm lực lượng vũ khí hạt nhân rất mạnh, không thua kém Mỹ và đang phục hồi về kinh tế, hiện nay Nga đang hướng tới khai thác vùng Biển Đông song sự sa sút nặng nề về kinh
tế khiến Nga trở nên"lực bất tòng tâm"
Với Trung Quốc, qua tốc độ phát triển kinh tế, qua ảnhhưởng lớn về chính trị sau khi thu hồi Hồng Kông, Ma Cao, sắp tới là Đài Loan và việc gia
Trang 26nhập WTO dù hiện nay Mỹ tuy còn mạnh hơn Trung Quốc, nhưng do Mỹ không chỉ đặt trọng tâm chiến lược ở Châu Á mà còn rất nhiều khu vực khác với những vấn đề đáng quan tâm hơn, trong khi Trung Quốc vì là nước gần hơn, có lực lượng hoa kiều đông đảo ở các nước khu vực này nên rõ ràng là nước có nhiều thuận lợi hơn cả Sự nhìn nhận đó đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc xác định và điều chỉnh chính sách của Trung Quốc nói chung và chính sách với khu vực Đông Nam Á nói riêng, nhất là trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
2/ Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc:
2.1/ Chính sách với các nước ngoài Đông Nam Á:
* Đối với các nước lớn:
Sở dĩ Trung Quốc điều chỉnh chính sách với các nước lớn sau chiến tranh lạnh là vì: Trong cục diện thế giới đa cực hoá thì quan hệ nước lớn chính là cơ sở của cục diện thế giới, nếu các nước lớn chủ yếu duy trì được thế cân bằng và quan hệ hợp tác hữu nghị thì sẽ giúp cho sự ổn định quốc tế Bên cạnh đó, về mặt chiến lược, phát triển quan hệ với các nước lớn trên thế giới sẽ có thể tăng cường được sự cân bằng đa cực để kiềm chế Mỹ Đồng thời nâng cao địa vị quốc tế của Trung Quốc, giảm bớt tương đối vai trò của
Mỹ và đạt được mục tiêu đa cực hoá Mặt khác, về tính toán thương mại, quan
hệ với các nước lớn có thể thu hút được nhiền vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước, đặc biệt sự tiến bộ về khoa học công nghệ của các nước tiên tiến sẽ giúp Trung Quốc rút ngắn thời gian và khoảng cách phát triển Những nhân tố đó đã được thể hiện trong thực tế quan hệ của Trung Quốc với các nước lớn từ chiến tranh lạnh đến nay
Với Nga, Trung Quốc xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược Từ đầu thập niên 90, Trung - Nga là hai nước có lợi ích trùng hợp và bất đồng không nhiều, cả hai đều ý thức được là không thể coi nhẹ ảnh hưởng của đối phương ở Châu Á - Thái Bình Dương, vì vậy hai nước phải tăng cường hợp tác với nhau Trên cơ sở đó, Trung Quốc đã thực hiện chính sách xây dựng
Trang 27với Nga quan hệ liên minh mật thiết, nhằm cân bằng quyền lực trong cuộc đấu sức với sự kiềm chế của Mỹ - Nhật Chính vì vậy, từ đầu thập niên 90 đến nay, với chính sách của Trung Quốc, quan hệ Trung - Nga được từng bước nâng cao: Từ quan hệ láng giềng hữu nghị thân thiện (12/1992), quan hệ đối tác có tính xây dựng (9/1994), đi tới quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, đặc biệt là bước tiến triển có tính chất đột phá trong việc tăng cường tin cậy về quân sự, giảm bớt quân ở vùng biên giới và ký kết hiệp định biên giới (4/1997) {23 -Tr 17} Ngày nay, hợp tác với Nga là trọng điểm trong chính sách đối ngoại của Và trong giai đoạn hiện nay, với những mối đe dọa hiện thực, hơn bao giờ hết Trung Quốc càng tăng cường quan hệ hợp tác với Nga, coi đây là trọng điểm trong chính sách đối ngoại của mình
Với Mỹ, Trung Quốc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược mang tính xây dựng Do mục tiêu kinh tế và chiến lược chính trị của mình, từ sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc coi Mỹ là đối tác quan trọng nhất Nội dung chính sách của Trung Quốc với Mỹ chủ yếu là trao đổi kinh tế, trên cơ sở diễn biến về chính trị để kiềm chế quân sự Đồng thời kiềm chế về an ninh, nhằm giữ thế cân bằng cho xu thế đa cực hoá {23 - Tr 16}
Nhưng trên thực tế, cả Trung Quốc và Mỹ đều có những chiến lược riêng của mình Cả hai nước đều coi hợp tác là mang tính chiến lược, dùng để duy trì lợi ích cơ bản của hai phía Tuy nhiên cả hai bên đều áp dụng chính sách an toàn riêng, luôn đặt vấn đề cảnh giác lên hàng đầu Do vậy mà quan hệ hai nước nhiều lúc xuất hiện những căng thẳng tưởng chừng khó tháo gỡ tuy nhiên rồi cũng được xoa dịa để cùng nhau phát triển
Với EU; Trung Quốc thực hiện chính sách xây dựng quan hệ đối tác lâu dài và bền vững Chính sách này của Trung Quốc có nhiều thuận lợi xuất phát
từ cả hai phía, do mục đích kinh tế, chính trị và an ninh, đặc biệt cả hai bên cùng muốn liên kết để kiềm chế sự lãnh đạo bằng sức mạnh quân sự của Mỹ
Có thể nói, nhu cầu chiến lược của cả hai phía đã tạo nền móng vững chắc cho quan hệ hai bên và giúp Trung Quốc thực hiện được chính sách của mình
Trang 28Với Nhật: Trung Quốc hướng tới xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị, Tuy đây đó quan hệ hai nước còn tiềm ẩn yếu tố thiếu tin tưởng, bởi trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản là đối thủ cạnh tranh nhau việc lấp chổ trống quyền lực ở Châu Á - Thái Bình Dương Song về cơ bản, Trung Quốc vẫn muốn xây dựng mối quan hệ hợp tác Nhật để kiềm chế Nhật trong quan hệ với Mỹ vì tầm quan trọng của nước này
Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với các nước lớn sau chiến tranh lạnh được xuất hiện từ thực tế tình hình trong nước và quốc tế Một mặt Trung Quốc muốn tạo nên sự hoà nhập để phát triển, mặt khác, trên cơ sở những quan hệ song phương, Trung Quốc muốn tạo nên sự cân bằng lực lượng, nâng cao vị thế quốc tế của mình Tuy vậy, đây chỉ là bước đầu trong quá trình điều chỉnh chính sách của Trung Quốc
* Đối với Châu Á - Thái Bình Dương (ngoài Đông Nam Á):
Với Trung Quốc, đây là trọng điểm chiến lược thứ hai của mình, bên cạnh việc tăng cường quan hệ với các nước lớn
Châu Á - Thái Bình Dương, trọng tâm số một mà Trung Quốc hướng tới trong chính sách của mình là các nước Đông Bắc Á, gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga Trong đó ngoài Nhật, Nga, Trung Quốc cũng hết sức coi trọng Hàn Quốc bởi lẽ Liên minh Mỹ - Hàn Quốc cũng đem lại những vấn đề đáng lo ngại cho Trung Quốc Vì vậy Trung Quốc rất quan tâm dến chính sách của mình với Hàn Quốc, nhằm điều chỉnh cân bằng lực lượng Châu Á - Thái Bình Dương
Với các nước Nam Á: Trung Quốc cũng rất chú trọng bởi nơi đây vốn
là những người bạn láng giềng có tình hữu nghị truyền thống với Trung Quốc Trong khu vực Nam Á, chính sách của Trung Quốc hướng trọng tâm nhiều hơn cả đến Ấn Độ
Vấn đề cốt lõi trong chính sách với Ấn Độ là nhằm kiềm chế, giám sát
Ấn Độ do việc Ấn Độ có tư tưởng bá quyền ở Nam Á Một mặt tranh thủ sự ủng hộ của các nước Nam Á, mặt khác tạo nên những liên minh ngầm về
Trang 29quân sự nhằm hạn chế việc phát huy sức mạnh của Ấn Độ tiến tới khống chế nước này Chính vì vậy có thể thấy rằng, chính sách của Trung Quốc với Nam
Á nói chung và với Ấn Độ nói riêng sẽ không ổn định mà có những biến đổi cùng với chiến lược chính trị của Trung Quốc
Với Trung Á: Sau chiến tranh lạnh, những vấn đề bất ổn ở Trung Á đã tạo điều kiện cho Trung Quốc có một vị trí "vai chính" trong khu vực này, chỉ sau nước Nga Từ sau năm1991 đến nay, Trung Á là nơi Trung Quốc đã thực hiện chính sách của mình với đầy tham vọng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Trung Á vừa là nơi Nga muốn giành cho mình vị thế chủ đạo trong việc khống chế an ninh, kinh tế, vừa là khu vực Mỹ hướng tới, vì vậy hơn bao giờ hết, Khu vực này trở nên có ý nghĩa quan trọng trong dây xích chiến lược của Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh quá trình tiếp cận với các nước Trung Á để tạo nên sự chi phối với khu vực này bằng nhiều hình thức
Tóm lại có thể thấy rằng, sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với các nước lớn và các nước láng giềng theo cách "mềm nắn, rắn buông" đã thể hiện rõ ràng chiến lược chính trị và tham vọng của Trung Quốc thời "Hậu chiến tranh lạnh" Tham vọng bá quyền với tư tưởng "Chủ nghĩa nước lớn" của Trung Quốc một lần nữa còn được thể hiện rõ nét hơn qua chính sách của nước này ở Đông Nam Á - khu vực trọng điểm chiến lược của Trung Quốc từ năm 1989 đến nay
2.2/ Chính sách đối với các nước Đông Nam Á:
* Vị trí chiến lược của Đông Nam Á:
Khái niệm Đông Nam Á mới xuất hiện từ thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II (Southeast Asia) Đông Nam Á là một khu vực nằm ở phía Nam Trung Quốc, Phía đông Ấn Độ, phía Bắc Ôxtrâylia, trên vùng nhiệt đới giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Đông Nam Á bao gồm mười nước Có năm nước trên lục địa là Thái Lan, Mianmar, Lào, Việt Nam và Campuchia và năm nước quần đảo gồm Indonêxia, Maiaixia, Philippin, Brunây và Sigapore
Trang 30Đông Nam Á là khu vực gồm các nước có nền kinh tế đang phát triển với nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng Nguồn dầu lửa ở khu vực này được đánh giá là một trong những trung tâm dầu lửa lớn của thế giới Tiềm năng kinh tế trên mặt đất, trong lòng biển của khu vực chỉ mới bắt đầu được khai thác Vì vậy, Đông Nam Á là nơi cung cấp những nguyên liệu quan trọng cho thế giới
Đông Nam Á là một khu vực chiến lược quân sự hết sức quan trọng, do
vị trí địa lý nối tiếp, án ngữ, làm bàn đạp tiến ra nhiều khu vực khác, là nơi giao điểm của các trục đường hành lang giao thông vận chuyển quân sự, hàng hoá nguyên liệu từ Đông sang Tây, từ Bắc Châu Á xuống châu đại Dương Khu vực này tập trung nhiều tuyến đường biển quan trọng, có 4 trong số 16
eo biển trên thế giới, đó là Malăcca, Lom bok, Sunda và Ombai - Wetar, trong
đó em biển Malaka năm giữa Malaixia và đảo Sumatra của Inđônê xia là một trong năm eo biển lớn nhất thế giới, có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình giao thông của các nước Đông Nam Á và Bắc Á
Theo ước tính hiện nay, 1/4 giá trị thương mại bằng đường biển toàn cầu đi qua khu vực này Dự tính nếu khủng hoảng xẩy ra, các loại tàu biển chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Ôxtrây lia thì cước phí vận tải sẽ tăng nă, lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Đối với
Mỹ thì trục đường này có quan hệ trực tiếp đến hoạt động quân sự qua việc triển khai lực lượng trên hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cũng như việc điều động lực lượng triển khai nhanh của Mỹ tới Châu Á - Thái
Trang 31Bình Dương và trung cận Đông Nếu đường vận chuyển này bị cắt đứt khi có chiến tranh xẩy ra thì sẽ tác động đến nền kinh tế Mỹ và Nhật Bản hạm đội
Mỹ hoạt động trên Ấn Độ Dương sẽ bị cô lập Chính vì vậy có thể nói, trục đường qua Đông Nam Á là cực kỳ quan trọng, có vị trí chiến lược cả về kinh
tế và quân sự đối với nhiều nước, không chỉ ở Châu Á - Thái Bình Dương
* Tổ chức ASEAN:
Do cóvị trí chiến lược hết sức quan trọng như vậy, Đông Nam Á sớm chịu những sức ép từ phía bên ngoài và thực tế một số nước khu vực đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
Vào giữa thập niên 60, Đông Nam Á phải đối phó với 4 nguy cơ lớn: Một là nguy cơ từ phía các nước lớn, họ lo lắng rằng rồi mai đây khi sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Đông Dương trở thành hiện thực, nước này rút
đi thì ai sẽ là người thay thế Mỹ lấp khoảng trống quyền lực ở khu vực Hai là trong nội bộ các nước thì các lực lượng chính trị đối lập luôn đe doạ lật đổ chính quyền Ba là những mâu thuẩn bất đồng giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á Và bốn là nguy cơ từ phía cách mạng Đông Dương: Những biểu hiện của sự thất bại trong cách mạng Đông Dương xu hướng đối với Mỹ
và nếu cách mạng Đông Dương thắng lợi thì chắc chắn sẽ làm thay đổi tình hình các nước trong khu vực
Tất cả những điều đó cộng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã thúc đẩy các nước trong khu vực liên kết với nhau
Có thể coi từ khi thành lập đến nay, ASEAN trải qua hai giai đoạn phát triển
Ngày 8/8/1967 tại Băng Kốc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời, ban đầu nó là kết quả của những tính toán chính trị của giới cầm quyền các nước thành viên, những mục đích phát triển kinh tế và văn hoá được đưa và tuyên bố thành lập của hiệp hội là nhằm làm giảm màu sắc chính trị của tổ chức này Và điều này cũng lí giải vì sao trong thời kỳ đầu
Trang 32tiên 1967 - 1976 hoạt động thành công nhất của ASEAN là trên lĩnh vực chính trị Sự ra đời của ASEAN biểu hiện qua hai mặt: Một mặt là biểu hiện của sự trưởng thành ý thức quốc gia dân tộc của các nước trong khu vực Phản ánh ý thức chống thực dân của nhân dân khu vực Đông Nam Á vì họ vẫn đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Mặt khác nó ra đời cũng là
để chống lại một nhóm nước trong khu vực: Nhóm cộng sản ở Đông Dương
và Mianmar, tổ chức như và một công cụ để bảo vệ các chính quyền tư sản ở Đông Nam Á Như vậy, tổ chức ra đời nhằm đoàn kết các thành viên chống lại lực lượng vũ trang đối lập và từ đó mà nó vừa có ý nghĩa chống thực dân vừa thân phương Tây
Xuất phát từ mục tiêu đó: Chính sách đối ngoại của ASEAN với các nước nói chung và với Trung Quốc nói riêng từ khi thành lập đến nay trải qua hai thời kỳ cơ bản Thời kỳ chiến tranh lạnh hầu như ASEAN chưa có quan
hệ gì lớn với Trung Quốc Thời kỳ sau chiến tranh lạnh đến nay có thể nói là thời kỳ nở rộ trong mối quan hệ hai bên Cụ thể từ chỗ là bạn đàm phán đến tháng 7/1996 tại Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) tại Băng Cốc Trung Quốc đã trở thành bạn đối thoại Đánh dấu một mốc lớn trong quan hệ hai bên, nâng quan hệ Trung Quốc - ASEAN lên một tầng cao mới
* Chính sách với các nước Đông Nam Á:
Như đã trình bày ở trên, do Đông Nam Á có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt, nên Đông Nam Á luôn là hướng nhìn truyền thống từ trong lịch sử của Trung Quốc
Sau chiến tranh lạnh, vị trí chiến lược của Đông Nam Á được nâng cao hơn bởi sự phát triển kinh tế của nó Đông Nam Á ngày càng có tiếng nói trọng lượng trong các vấn đề an ninh và hợp tác ở Châu Á - Thái Bình Dương Đặc biệt đối với các nước Đông Á, ASEAN ngày càng có vai trò quan trọng trong quan hệ giữa các nước này và trở thành đối tác quan trọng của Trung Quốc
Về an ninh - chính trị, có thể nói ASEAN chưa đạt tới vị trí là "một cực" của Châu Á - Thái Bình Dương, nhưng có vai trò rất quan trọng với tư
Trang 33cách là một yếu tố cân bằng chủ yếu trong quá trình hình thành cục diện chiến lược đa cực ở Châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay khu vực này giống như một cái van điều tiết trong hệ thống kiểm soát và vô hình trung, nó đang kiềm chế quan hệ chiến lược tạm giác: Trung Quốc - Mỹ - Nhật, không cho
nó phát triển theo hướng cực đoan Đồng thời bất cứ bên nào trong tam giác này, khi ở vào thời điểm bất lợi cũng đều có thể lợi dụng vào việc phát triển quan hệ với ASEAN để giành thêm thế chủ động
Với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng như vậy, hơn bao giờ hết, từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Đông Nam Á càng được coi trọng , là trọng điểm chiến lược trong chính sách của Trung Quốc ở Châu Á - Thái Bình Dương, bởi lẽ muốn khẳng định vị trí của mình trên thế giới trước hết phải khẳng định được sức mạnh của mình ở trong khu vực Do đó, cùng với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại nói chung, Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh chính sách của mình ở Đông Nam Á một cách rõ ràng nhất, toàn diện nhất trên mọi lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh, nhằm mở rộng phạm vi và kiểm soát xuống phía nam, chuyển hoá cả vùng đất và vùng biển phía nam thành khu vực hoàn toàn ảnh hưởng của mình, là tấm đệm ngăn chặn những tác động từ bên ngoài vào Trung Quốc
Việc Trung Quốc coi Đông Nam Á là hướng chiến lược phía nam của mình là vấn đề đã và đang hết sức rõ ràng Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, cùng với chính sách tranh thủ nền ngoại giao hết sức tích cực để phát triển lợi ích và tăng cường ảnh hưởng của mình trên khắp thế giới; Đặc biệt là các cường quốc khổng lồ, Trung Quốc cũng thực hiện bằng mọi cách tăng nhanh chóng ảnh hưởng với Đông Nam Á trên cơ sở hoà bình, phát triển kinh tế và không cưỡng chế
Trung Quốc đã xây dựng với Đông Nam Á mối quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở bạn bè láng giềng tin cậy với năm nguyên tắc:
"Chung sống hoà bình, tiếp tục phát triển quan hệ láng giềng với các nước xung quanh; Tích cực thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại bình đẳng