1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu kinh tế ruộng đất các triều đại lý trần, lê sơ

71 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 780,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nói đến chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất, người ta dễ nghĩ rằng chỉ có một hình thức duy nhất và hình thức đó trùng với quyền sở hữu tối cao của Nhà nươc, hay thông thường hơn trù

Trang 1

thuộc và chống Bắc thuộc) 11

CHƯƠNG 2 Kinh tế ruộng đất thời kỳ Lý- Trần, Lê sơ 14 2.1 Kinh tế ruộng đất thời kỳ Lý – Trần 14 2.1.1 Các hình thức sở hữu Nhà nước 14 2.1.1.1 Bộ phận ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý 15 2.1.1.2 Bộ phận ruộng đất các làng xã quản lý (ruộng đất Công làng xã) 19 2.1.1.3 Ruộng đất được Nhà nước phong cấp cho quan lại quản lý 27 2.1.2 Các hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân 33 2.1.2.1 Ruộng đất thuộc nông dân tư hữu quản lý 35 2.1.2.2 Ruộng đất thuộc địa chủ quản lý 35 2.1.2.3 Ruộng điền trang 36 2.1.2.4 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà chùa 38 2.2 Kinh tế ruộng đất thời kỳ Lê - Sơ (thế kỷ XV) 43 2.2.1 Các hình thức sở hữu ruộng đất Nhà nước 44 2.2.1.1 Ruộng đất Nhà nước trực tiếp quản lý 44 2.2.1.2 Bộ phận ruộng đất ban cấp cho quan lại cao cấp và thân thuộc

Trang 3

Lời cảm ơn.

Luận văn này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân, còn được

sự giúp đỡ, chỉ bảo, và góp ý một cách chân thành của các thầy giáo, cô giáo Khoa Lịch sử – Trường Đại học Vinh, đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức nhiệt tình của thầy giáo Phan Trọng Sung Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy các cô và tất cả các bạn

Trong quá trình thực hiện đề tài, do sự hiếm hoi của tài liệu, sự hạn chế của thời gian, cũng như năng lực bản thân có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý của Quý thầy,

cô giáo cùngcác bạn đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 4

Đối với lịch sử nước ta, dân tộc ta, thế kỷ XI – XV(thời kỳ Lý – Trần, Lê Sơ) có một vị trí đặc biệt Đó là những thế kỷ đánh đấu sự hình thành, phát triển và thịnh vượng của chế độ phong kiến Việt Nam Nghiên cứu giai đoạn lịch sử này để hiểu biết chế độ phong kiến Việt Nam thời kỳ phát triển và thịnh đạt, đồng thời xác định được vai trò và vị trí của Nhà nước phong kiến Lý – Trần, Lê Sơ trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Nghiên cứu chế độ ruộng đất thế kỷ XI – XV sẽ góp phần vào công việc nói trên, hơn nữa còn đem lại những kinh nghiệm, bài học quý báu cho việc quản lý ruộng đất trong thời

kỳ hiện nay và tương lai

Ruộng đất bao giờ cũng chỉ tồn tại với tư cách là tư liệu sản xuất nếu nó gắn liền với con người và xã hội loài người Vì vậy, ruộng đất luôn luôn đặt dưới các quan hệ nhất định Đó là các quan hệ sở hữu , quan hệ chiếm hữu, quan hệ phân phối sản phẩm hay gọi chung là chế độ ruộng đất Chế độ ruộng đất khác nhau theo không gian và thời gian Vì vậy, nghiên cứu chế độ ruộng đất là nghiên cứu quan hệ sản xuất chủ đạo của mỗi thời kỳ lịch sử Do

Trang 5

đó nghiên cứu chế độ ruộng đất có thể cho phép định rõ tính chất cơ bản của Nhà nước, của chế độ xã hội thiết lập trên đó, cúng như bản chất của giai cấp cầm quyền Nghiên cứu chế độ ruộng đất thời kỳ Lý-Trần, Lê sơ góp phần làm sáng tỏ thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội của thời kỳ đó

Việc nghiên cứu toàn bộ chế độ ruộng đất trong quá khứ giúp ta hiểu thêm

vị trí của vấn đề ruộng đất và vấn đề nông dân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giúp ta hiểu thêm ý nghĩa cách mạng to lớn của cuộc cải cách ruộng đất trong những năm 1954 – 1955 Hơn nữa, sự tồn tại của mỗi một triều đại trong lịch sử dân tộc bao giờ cũng gắn liền với việc giải quyết những vấn đề ruộng đất do xã hội trước đó đặt ra Vì vậy, lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học bổ ích trong giai đoạn Cách mạng hiện nay Ngày nay trên bước đường cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, dưỡi sự lãnh đạo của Đảng, dĩ nhiên, vấn

đề ruộng đất được dặt ra trên một bình diện khác: Đó là vai trò chủ động của con người và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp Nhưng then chốt của vấn đề vẫn là quyền sở hữu về ruộng đất

Tóm lại, việc nghiên cứu về chế độ ruộng đất trong thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam nói riêng, và trong lịch sử Việt Nam nói chung có một tầm quan trọng đặc biệt như vậy, vừa có ý nghĩa về khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Chính vì ý nghĩa to lớn đó mà tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:

“Bước đầu tìm hiểu kinh tế ruộng đất các triều đại Lý – Trần, Lê Sơ”

đó, sang thời nhà Lê Sơ thì “đại khái ruộng đất trong nước đều là của nhà vua”,

“trừ một số ít đã do tư nhân chiếm hữu làm tư điền, tư thổ, còn thì phần lớn

Trang 6

ruộng đất đều là của công” Hai giai đoạn lịch sử Lý – Trần (thế kỷ XI - XIV)

và Lê Sơ (thế kỷ XV), do đó, khác hẳn nhau về chất

Hoà bình lập lại, Minh Tranh trong cuốn “Sơ thảo lược sử Việt Nam” đã viết thêm một vài nét về vấn đề ruộng đất trong lịch sử Việt Nam và sự phát triển của chế độ phong kiến nước ta, vai trò của Hồ Quý Ly trong cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ Xô viết Trong bài viết của mình, Minh Tranh đã chỉ ra sự khác nhau về chất giữa hai thời kỳ lịch sử Lý – Trần và Lê Sơ, đồng thời nêu lên nguồn gốc, quá trình hình thành và tính chất của chế độ đại điền trang thời Trần

Năm 1959, Phan Huy Lê đã có một bài viết về “ Chế độ ruộng đất và kinh

tế nông nghiệp thời Lê Sơ” (thế kỷ XV) Nxb Văn – Sử - Địa,T3, năm 1959 Năm 1976, Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm đã đi sâu nghiên cứu chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất nước ta thời Lý – Trần Bài viết “ Vài nhận xét về ruộng đất tư hữu thời Lý – Trần” của hai tác giả được đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3 năm1976

Sau 1975, với yêu cầu nghiên cứu lại hình thái kinh tế – xã hội Việt Nam thời Lý – Trần, vấn đề chế độ ruộng đất lại được đưa ra xem xét một cách cụ thể hơn Đến năm 1979, Vũ Huy Phúc viết cuốn “ Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nữa đầu thế kỷ XIX” Nxb- Khoa học xã hội, Hà Nội-1979 Để làm tiền đề và hiểu được một cách hệ thống vấn đề ruộng đất nữa đầu thế kỷ XIX tác giả đã giành chương 1 để khái quát lại vấn đề ruộng đất trong lịch sử Việt Nam từ thời Nguyên thuỷ cho đến đầu thế kỷ XIX, trong đó tác giả đã dừng lại phân tích khá sâu cùng với những lời bình, kết luận vấn đề ruộng đất ở thời kỳ

Lý – Trần, Lê Sơ

Năm 1982, vấn đề ruộng đất thế kỷ XI – XV lại được đặt ra thông qua bài viết của Trương Hữu Quýnh về: “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI - XVIII”, tập 1, thế kỷ XI – XV

Như vậy là, vấn đề kinh tế ruộng đất ở nước ta các thế kỷ XI – XV (dưới thời Lý – Trần và Lê Sơ) đã có một quá trình nghiên cứu lâu dài, với sự tham gia và chung sức của các nhà khoa học có tên tuổi Nhiều nhà nghiên cứu,

Trang 7

nhiều nhà địa phương học đã góp phần mình vào việc dựng lên bức tranh về chế độ ruộng đất ở các thế kỷ này, làm cơ sở cho việc trình bày một cách đầy

đủ các mặt hoạt động của nhân dân về kinh tế nông nghiệp đương thời Tuy nhiên, có thể do thiếu nguồn sử liệu cụ thể mà nhiều vấn đề vẫn còn chưa được sáng tỏ, đặc biệt là xu thế phát triển của chế độ ruộng đất và tính chất kinh tế –

xã hội của nó ở các thế kỷ đó cũng chưa được nêu lên một cách hệ thống và chưa được giải thích đầy đủ Mặt khác, thông qua kinh tế ruộng đất, các bài viết chưa đề cập đến sự giống nhau và khác nhau về tính chất cũng như bản chất của Nhà nước Lý – Trần so với Nhà nước Lê Sơ

Nhìn chung, vấn đề ruộng đất trong bốn thế kỹ này chỉ mới được đặt ra ở mức độ bộ phận, nhằm làm nền cho việc giải thích và chứng minh các hoạt động xã hội khác, chứ chưa được đặt thành một vấn đề riêng để nghiên cứu một cách hệ thống và từ đó có thể góp phần lý giải một cách khách quan theo những quy luật khách quan các vấn đề khác của lịch sử dân tộc

Mặc dù là đề tài không mới mẽ, nhưng vẫn có sức hấp dẫn, lôi cuốn nhiều người, đặc biệt là những người đam mê khoa học, đam mê tìm hiểu một vấn đề lớn nếu không muốn nói là cơ bản trong lịch sử dân tộc Việt Nam – vấn đề kinh

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để xây dựng và hoàn thiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Quán triệt phương pháp luận Mác xít – Lê nin nít thể hiện ở việc kết hợp hai phương pháp là phương pháp logic và phương pháp lịch sử, trong đó luận văn chủ yếu được trình bày theo phương pháp của bộ môn – phương pháp lịch

Trang 8

sử để phân tích đánh giá các loại hình sở hữu ruộng đất một cách thực chất và khách quan

Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài, luận văn này còn sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và suy luận logic để giải quyết vấn đề

mà luận văn đặt ra

4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài: “Bước đầu tìm hiểu kinh tế ruộng đất các triều đại Lý – Trần, Lê Sơ” đã giới hạn phạm vi của luận văn là từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI Thế kỷ XI, với việc định đô ở Thăng Long của nhà Lý (1010), lịch

sử dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới trong hoàn cảnh thống nhất lâu dài Thế kỷ XV là giai đoạn phát triển cao nhất của Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền, đầu thế kỷ XVI, với sự sụp đổ của nhà Lê

Sơ, đất nước chuyển sang giai đoạn phân liệt Luận văn này có nhiệm vụ tiềm hiểu kinh tế ruộng đất trong những thế kỷ nói trên Tuy nhiên, luận văn vẫn giành một chương để khái quát tình hình ruộng đất từ thế kỷ X trở về trước nhằm tạo một cái nhìn liên tục, một cái nền chi phối tình hình ruộng đất trong lịch sử dân tộc Việt Nam

5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần đặt vấn đề và phần kết luận, nội dung luận văn gồm những chương sau:

Chương 1: Vài nét về kinh tế ruộng đất trước thế kỷ XI

Chương 2: Kinh tế ruộng đất thời kỳ Lý – Trần, Lê Sơ

Trang 9

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ KINH TẾ RUỘNG ĐẤT TRƯỚC THẾ

KỶ XI

Ruộng đất không chỉ là tư liệu sản xuất chủ yếu của các triều đại tiền tư bản mà còn là tư liệu sản xuất quan trọng của các xã hội tư bản và xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu vấn đề ruộng đất là nghiên cứu tư liệu sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với quan hệ sản xuất, để góp phần vạch ra quá trình phát triển của lịch sử xã hội, phân kỳ các giai đoạn lịch sử, bởi vì "Nhân tố quyết định trong lịch sử quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp " [4 ,7]

Xác định vấn đề ruộng đất trong lịch sử chính là xác định các hình thức sở hữu và chiếm hữu tư liệu sản xuất ruộng đất, trên đó đã quy định nên các mối quan hệ sản xuất khác Nghiên cứu chế độ sở hữu các tư liệu sản xuất nói chung hay chế độ sở hữu ruộng đất nói riêng là đi vào vấn đề then chốt của lịch

sử xã hội Việt Nam

Trước khi nghiên cứu kinh tế ruộng đất Nhà nước Lý - Trần, Lê cần có một sự nhìn nhận chung về vấn đề này trong suốt thời kỳ trước thế kỷ thứ I và

từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ X (thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc )

1.1.SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT THỜI KỲ NGUYÊN THUỶ VÀ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

Cũng như hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một nước nông nghiệp Do đó, ruộng đất sớm trở thành tư liệu sản xuất chung của

các thành viên Công xã lúc bấy giờ Sở hữu chung về tư liệu sản xuất là một

trong những đặc trưng cơ bản nhất của thời kỳ Công xã nguyên thuỷ Thành viên công xã trong từng thị tộc giao cho Trưởng lão và Hội đồng Thị tộc nắm quyền điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm Trong tình hình như vậy thì

chế độ sở hữu công xã về ruộng đất tất phải chiếm địa vị thống trị và có thể nói

là chiếm địa vị duy nhất

Càng về sau này, cách ngày nay khoảng 5 ngàn năm, quan hệ huyết thống trong từng công xã càng lỏng lẽo, nhường chỗ cho Công xã láng giềng, công xã

Trang 10

nông thôn, công xã lớn phát triển dần Đây là những hình thức công xã qúa độ tiến tới xã hội có giai cấp

Có thể nói, nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi bộ mặt Công xã Thị tộc là

do sự phát triển kinh tế Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất, mà còn vì nhu cầu trị thuỷ cho kinh tế nông nghiệp lúa nước (chế độ sông nứơc ở Việt Nam ác liệt và càng ngặt nghèo hơn trong thời đại xa xưa), vì nạn ngoại xâm là nguy cơ thường trực và trực tiếp Cho nên, thời đại Hùng Vương, với nước Văn Lang - Âu Lạc thừa nhận một hình thức chính quyền tập trung cao

hơn tổ chức Hội đồng Thị tộc để quản lý ruộng đất

Kể từ đó chế độ sở hữu Công xã Thị tộc về ruộng đất có sự thay đổi Nếu

trước đây ruộng đất giao cho Hội đồng Thị tộc quản lí thì nay Hùng Vương và

An Dương Vương đại diện cao nhất cho quyền lợi các công xã quản lý Các

Lạc Vương, Lạc Hâù, Lạc Tướng v v là sự nối tiếp và mở rộng quản lí của chức năng Hội đồng Thị tộc trước đây về ruộng đất trên phạm vi liên minh bộ lạc, bộ tộc, tiến tới quản lý trên phạm vi một Quốc gia

Vấn đề chế độ sở hữu và vai trò lịch sử vô cùng quan trọng của nó được Enghen nêu lên dưới một quy luật lịch sử như sau : "Từ trước tới nay, tất cả mọi cuộc cách mạng đều là những cuộc cách mạng nhằm bảo hộ một loại chế

độ sở hữu này chống lại một loại chế độ sở hữu khác Những cuộc cách mạng

đó không thể bảo hộ chế độ sở hữu này mà không làm thiệt hại đến loại chế độ

sở hữu khác" [4, 170]

Từ đây chế độ sở hữu công xã Thị tộc về ruộng đất đã bị "thiệt hại" Công

xã không còn là người sở hữu chân chính nữa Sở hữu ruộng đất được giao cho Hùng Vương , An Dương Vương và các Lạc Hầu, Lạc Tướng Nhưng hình

thức sở hữu ruộng đất này không phải là sở hữu tư nhân như các triều đại

phong kiến sau này mà được giới hạn bởi nhiều công xã giao quyền quản lý

cho chính quyền tập trung (không phải tập quyền) Kiểu sở hữu ruộng đất này

còn mang ý chí và quyền lực của Công xã và thành viên công xã Cho nên, có

thể nói rằng, tính sở hữu ruộng đất của các Lạc Vương thực chất chỉ là sự

chiếm hữu

Trang 11

Trên cơ sở đó, các Lạc Vương giao ruộng cho từng Công xã và đồng thời giao quyền quản lý cho Công xã, đó là quyền chiếm hữu ruộng đất Các Công

xã lần lượt chia ruộng đất cho từng thành viên hoặc từng gia đình và cũng chỉ giao quyền chiếm hữu cho họ cày cấy Trước đây Công xã Thị tộc cùng làm chung, hưởng chung và không lệ thuộc vào một hệ thống quản lý nào thì nay có

sự biến đổi Sản phẩm làm ra còn phải nộp cho chính quyền tập trung và thành viên Công xã còn phải đi lao dịch, làm công ích cho chính quyền đó

Diễn biến cho thấy Công xã lúc đó phải là Công xã gia đình, gia trưởng (mẫu hệ chuyển sang phụ hệ) , Công xã nông thôn hoặc Công xã láng giềng Các Công xã qúa độ này đang trên bước đường giải thể

Hình thức sở hữu và chiếm hữu ruộng đất và các tên gọi Công xã như trên

là một hình thức quá độ Hình thức quá độ đó tất yếu dẫn đến sở hữu tư nhân sau này Cơ sở kinh tế - xã hội mang tính chất quá độ thì đương nhiên chính quyền tập trung thời đại Hùng Vương sản sinh trên cơ sở đó cũng mang tính chất quá độ

Vậy là, cùng với nhu cầu thuỷ lợi, chống ngoại xâm, chế độ chiếm hữu ruộng đất là nguyên nhân và là điều kiện để hình thành một hình thái chính quyền tập trung sơ khai trong thời đại Hùng Vương

Hệ quả này tới lượt nó lại tác động trở lại chính cái nguyên nhân đã sản sinh ra nó Chế độ chính trị thời các Vua Hùng, Vua Thục đã củng cố, thúc đẩy chế độ chiếm hữu ruộng đất

Thực tế thì chính quyền tập trung này với bộ máy quản lý của nó tồn tại

quá dài, đến gần 500 năm, cũng chỉ là bộ máy quá độ đang thai nghén một

kiểu Nhà nước mà chưa định hình một kiểu Nhà nước nào cả

Mặc dù vậy, bộ máy dần dần tiến tới xu thế bóc lột, có thể đã thoát ly sản xuất trong một chừng mực nhất định và đã mang tính chất ăn bám Đây là bước đầu tiên trên con đường phân hoá thành các giai cấp đối kháng làm cơ sở cho việc biến bộ máy quản lý tập trung của Công xã thành Nhà nước thực sự Tóm lại , tôi muốn nhấn mạnh rằng, khi nói chính quyền tập trung được giao quyền sở hữu về ruộng đất, nhưng thực quyền thì Công xã là người đại

Trang 12

diện chân chính nhất Do vậy, thực chất bộ máy quản lý của các Lạc Vương cũng chỉ giữ cái quyền chiếm hữu về ruộng đất.Và khi nói Công xã nông thôn chỉ được giữ quyền chiếm hữu nhưng thực chất và thực tế họ vẫn giữ quyền sở hữu về ruộng đất Có thể nói cách khác là trong một giai đoạn lịch sử nhất định thì bộ máy quản lý của Lạc Vương và của Công xã nông thôn, cả hai đều là đồng sỡ hữu Cho nên giai đoạn trước công nguyên, thời đại Hùng Vương về ruộng đất là chế độ chiếm hữu ruộng đất, trong đó sở hữu bao trùm, chủ đạo vẫn là sở hữu Công xã mở rộng trên phạm vi nhiều bộ tộc, tiến tới phạm vi Quốc gia Mác gọi đây là kiểu sở hữu châu Á hay phương thức sản xuất châu

Á

1.2 SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TỪ THẾ KỶ I ĐẾN THẾ KỈ X (THỜI

KÌ NGÀN NĂM BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC)

Năm 179 trước công nguyên, Triệu Đà xâm lược Âu Lạc.Năm111 trước công nguyên triều đình phong kiến Trung Quốc chính thức đô hộ nước ta Đây

là thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, thời kỳ đồng hoá và chống đồng hoá Do vậy, tính chất bao trùm về mặt kinh tế và cả các mặt khác là quan

hệ bóc lột siêu kinh tế giã man của kẻ đi xâm lược với người bị xâm lược; là quan hệ sở hữu cướp đoạt của bọn đô hộ với toàn bộ ruộng đất Âu Lạc Nhưng trên thực tế, chính quyền đô hộ muốn duy trì Công xã nông thôn để dễ bề bóc lột nhân dân ta Mặt khác, công xã nông thôn là điểm tựa, là cộng đồng cố kết vững chắc để nhân dân ta chống lại phong kiến phương Bắc Cho nên, sở hữu ruộng đất công xã lớn tồn tại một cách khách quan

Nhà Triệu và nhà Hán bóc lột nhân dân dân ta dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất Công xã lớn như thời Văn Lang - Âu lạc Chỉ có khác là kẻ ăn bám

và kẻ bóc lột, thống trị lúc này không còn là các Lạc Hầu, Lạc Tướng vv nữa,

mà là bọn vua quan nước ngoài và bọn tay sai trong nước Đây là sự thay đổi căn bản trong quan hệ sản xuất Kể từ khi Triệu Đà đặt ách đô hộ nước ta bọn

đô hộ không dễ gì phá vỡ quan hệ sở hữu ruộng đất công xã.Bởi vì ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang, văn hoá ,tư

Trang 13

tưởng và trên cơ sở cuộc kháng cự mạnh mẽ của quan hệ sở hữu Công xã chống lại sự áp đặt và mở rộng quan hệ sở hữu phong kiến phương Bắc

Có thể nói, các cuộc khởi nghiã Hai Bà Trưng giành được thắng lợi năm 43; Lý Bí lập nước Vạn Xuân năm 554; Họ Khúc giành quyền tự chủ năm 905 vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân cho việc khẳng định và duy trì sở hữu Công xã

Trải qua một ngàn năm cầm cự quyết liệt, rút cục sở hữu ruộng đất Công

xã vẫn được bảo lưu tồn tại Thắng lợi của sở hữu Công xã lớn, đối với việc áp đặt và mở rộng sở hữu phong kiến (bao hồm cả sở hữu Nhà nước phong kiến )

là một nét tiến bộ của lịch sử Việt Nam, vì nó là cơ sở và xuất phát điểm cho cuộc đấu tranh chính nghĩa giành độc lập dân tộc, dù rằng nó không phải là sở hữu mới phát triển hơn sở hữu phong kiến

Nhưng kể từ sau công nguyên, quan hệ sở hữu Công xã mặc dù vậy, đã có những biến đổi Nó vẫn đóng vai trò chủ đạo, cơ bản, nhưng không ở trong trạng thái tĩnh, mà ở trong trạng thái động, để từ đó chuẩn bị cho khả năng biến chuyển sang một hình thái sở hữu khác

Mười thế kỷ bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, quan hệ sản xuất phong kiến Việt Nam được hình thành và phát triển dần thì quan hệ sở hữu Công xã hay là kiểu sở hữu Châu Á như Mác nói cũng chuyển biến theo hướng phát triển tích cực

Những thắng lợi của Nhà nước Vạn Xuân, nhất là thắng lợi của họ Khúc

và một loạt cải cách của chính quyền này đã chứng tỏ chính quyền đó đã vươn tới làng xã Chính quyền họ Khúc đã bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch , lập

sổ hộ khẩu, và đặt các chức Chánh lệnh Trưởng, Phó lệnh Trưởng, cùng quản giáp để cai quản các địa phương, cho nên thời kỳ này không thể là thời kỳ

"đồng sở hữu " như trước đó nữa Những chính quyền này tất yếu muốn trở thành chủ sở hữu một phần hay toàn bộ ruộng đất

Những kẻ quyền thế trong xã hội ngày một nhiều Họ cũng mong muốn trở thành chủ sở hữu Họ chiếm cho mình một ít ruộng đất Những mảnh ruộng này có thể đã tách khỏi ruộng đất Công xã Một bộ phận thành viên Công xã

Trang 14

không còn là thành viên nữa mà xu hướng sẽ trở thành nô tỳ làm việc trong nhà quyền quý hay trở thành nông nô sau này

Đến thế kỷ X , vấn đề là ở chỗ xác lập sự thắng lợi cho sở hữu Nhà nước ở Trung ương hay sở hữu về ruộng đất của các hào trưởng ở địa phương Hai xu hướng này giằng xé nhau và diễn ra cuộc nội chiến và đấu tranh chính trị trong thế kỷ X Qua cuộc đấu tranh này đã làm biến động mạnh mẽ, nhưng không dễ

gì phá vỡ được sở hữu Công xã

Mặc dầu vậy, nếu xu hướng tập trung chiến thắng, sở hữu Nhà nước chiến thắng, thì sở hữu Công xã, sớm muộn sẽ từ đây kết hợp và thống nhất với sở hữu Nhà nước, sự kết hợp đó có tính tất yếu, vì sở hữu Công xã về tính chất gần gũi với sở hữu Nhà nước hơn

Đinh Bộ Lĩnh đã giương cao ngọn cờ thống nhất Quốc gia và đã giành được thắng lợi, đó là chiến thắng tất yếu của xu hướng tập trung, xu hướng sở hữu Nhà nước được thiết lập và phát triển

Như vậy, kinh tế ruộng đất trước thế kỷ X, chủ yếu phát triển dựa trên nền tảng của kinh tế Công xã nông thôn Đó vừa là một yêu cầu, vừa là một tất yếu của xã hôị Việt Nam lúc bấy giờ Chính trên cái nền tảng kinh tế đó mà dân tộc

ta đã hội tụ đủ sức mạnh để chiến thắng bọn ngoại bang về tất cả các mặt

Mần mống của ruộng đất tư hữu tuy đã xuất hiện nhưng chưa thực sự phát triển Có thể nói, kinh tế ruộng đất trước thế kỷ XI là "cha đẻ ", là"bà đỡ" cho kinh tế ruộng đất thời kỳ Lý - Trần, Lê Nói cách khác, kinh tế ruộng đất thời

kỳ Lý – Trần, Lê sơ đã “thoát thai” từ kinh tế ruộng đất của thời kỳ nguyên thuỷ và thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

Trang 15

CHƯƠNG 2 : KINH TẾ RUỘNG ĐẤT THỜI KỲ LÝ – TRẦN,LÊ

2.1 - KINH TẾ RUỘNG ĐẤT THỜI KÌ LÝ - TRẦN

Thời kỳ Lý - Trần là thời kỳ thiết lập, xây dựng, củng cố và phát triển Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền Thời kỳ này được bắt đầu năm 1010 khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình)

về thành Đại La rồi đổi tên là Thăng Long - nơi có cái thế của "đế vương muôn đời" và kết thúc năm 1399, khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần

Nhà nước Lý - Trần là sự tiếp nối của các triều đại Ngô - Đinh - Tiền lê, quản lý ruộng đất không phải với tư cách môt chính quyền tập trung như thời Hùng Vương mà bằng một bộ máy Nhà nước tập quyền Cho nên ngoài việc tổ chức, quản lý sở hữu ruộng đất, các triều đại này còn chiếm hữu luôn ý chí của người khác Bời vì chỉ chiếm hữu ruộng đất thì không thể đem lại một quan hệ thống trị nào cả Cho nên, Nhà nước Lý - Trần đã biến sở hữ ruộng đất công trước đây thành ruộng đất của Nhà nước bằng các văn bản pháp luật và bằng các bộ luật

Trên lãnh thổ Đại việt thời Lý - Trần đã sớm tồn tại hai hình thức sở hữu chính về ruộng đất: sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân, thừa hưởng của giai đoạn lịch sử trước Hai hình thức sở hữu đó diễn biến và phát triển theo những con đường khác nhau

2.1.1 CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT NHÀ NƯỚC

So với sở hữu công cộng tối cao của Thi tộc hay Bộ lạc, thì sở hữu Nhà nước cũng là một thứ sở hữu công cộng Nhưng vì theo con đường thông thường, Nhà nước chỉ xuất hiện khi đã có sở hữu tư nhân và phân chia giai cấp, cho nên, sở hữu Nhà nước trước hết chỉ có thể hình thành hay áp đặt trên những loại ruộng đất chưa thuộc quyền sở hữu hoặc chiếm hữu của các cá nhân hay tập thể nào cả

Đề cập tới sở hữu Nhà nước về ruộng đất, trước hết và chủ yếu phải xem xét bộ phận ruộng đất trực tiếp trong tay Nhà nước Bởi vì làm như vậy là đi

Trang 16

thẳng vào nội dung của sở hữu Nhà nước Vả chăng, qua đó tính chất của Nhà nước cũng như bản chất của chế độ xã hội mà nó thống trị đã bộc lộ ra rõ ràng

Sự thống trị của một chính quyền Trung ương vững mạnh, duy nhất trên lãnh thổ quốc gia thống nhất mà những hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất chưa có điều kiện và thời gian phát triển đã làm cho tư tưởng công hữu xem vua là người chúa đất tối cao trở nên phổ biến và tồn tại khá bền vững Quan niệm "đất của vua, chùa của bụt" hay "đất vua, chùa làng" đã góp phần xác nhận sự tồn tại và thống trị của chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất của triều đại Lý - Trần

Khi nói đến chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất, người ta dễ nghĩ rằng chỉ có một hình thức duy nhất và hình thức đó trùng với quyền sở hữu tối cao của Nhà nươc, hay thông thường hơn trùng với quyền sở hữu tối cao của Nhà nước đối với toàn bộ lãnh thổ quốc gia

Đúng vậy, sự tồn tại của một Nhà nước Trung ương duy nhất trong một quốc gia trung đại thống nhất đã giả định quyền sở hữu tối cao về lãnh thổ đó Nhà nước có thể nhân danh quốc gia mà tịch thu ruộng đất của những tên phản quốc Do sự đồng nhất Nhà nước của một dòng họ với bản thân quốc gia mà Nhà nước cũng có thể nhân danh lợi ích quốc gia mà tịch thu ruộng đất của những người chống lại mình Cũng như vậy, Nhà nước có thể nhân danh quốc gia mà đánh thuế toàn bộ ruộng đất trong nước hoặc làm những việc khác cùng loại Nhưng ở thời Lý -Trần, nếu như chúng ta chỉ thấy có hình thức sở hữu duy nhất đó thì thực là không thực tế

Mặc dù, chế độ sở hữu Nhà nước bao trùm toàn bộ các loại ruộng công, chúng ta vẫn có thể chia bộ phận này thành ba loại:ruộng đất Nhà nước trực tiếp quản lý, ruộng đất do Công xã quản lý và ruộng đất được Nhà nước phong cấp do quan lại quản lý

2.1.1.1 Bộ phận ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý

Với tư cách giai cấp thống trị, nhà Lý hay nhà Trần đều sử dụng quyền sở hữu ruộng đất của mình để cắt đất, đặt ruộng phù hợp với triều đại quân chủ

Trang 17

Nhà nước Lý - Trần được thừa hưởng di sản kinh tế của các triều đại trước

và với quyền lực vô thượng của nhà vua đã cho phép hình thành một bộ phận ruộng đất do Nhà nước Trung ương trực tiếp quản lý Bộ phận ruộng đất này bao gồm các hình thức: ruộng Sơn Lăng, ruộng tịch điền, ruộng quốc khố và ruộng đồn điền

- Ruộng Sơn Lăng:

Đây là đất ruộng phần mộ Theo sử cũ, năm 1010, đời Lý Thái Tổ '' xa giá nhà vua đến châu Cổ Pháp yết lăng thái hậu và sai các quan đo đất vài mươi dặm làm cấm địa thuộc Sơn lăng'' [2, 41] Các vua nhà Lý đều được chôn ở địa phận làng Cổ Pháp này Tại đây có 8 lăng vua, mỗi lăng chiếm 4 mẫu do đó, ở làng này có 32 mẫu ruộng mộ các vua và một số ruộng thờ khá lớn Những khu ruộng này về nguyên tắc được giao cho nông dân địa phương cày cấy nộp một

ít hoa lợi để chi phí vào việc sửa sang bảo vệ lăng tẩm của nhà vua

Ở thời Trần, do các vua được chôn ở nhiều nơi khác nhau, cho nên ruộng Sơn Lăng cũng được đặt rải rác ở các làng Thái Đường, Long Hưng (thuộc Thái Bình), Tức Mặc (thuộc Hà Nam), An Sinh (thuộc Quảng Ninh) Trong nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, ruộng đất Sơn Lăng nói chung không bị tư hữu hoá, hay nói cách khác là tính chất quốc hữu của ruộng Sơn Lăng được nhân dân địa phương tôn trọng Bởi vì cư dân địa phương cày cấy trên ruộng đất đó, vẫn được hưởng hoa lợi Theo bia "Đình Bảng điện bi", số ruộng đất nói trên được đem “ chia cho các giáp lĩnh canh, mỗi mẫu nộp một quan tiền cổ” Còn dân làng Đình Băng thì được đặt làm "dân thủ lệ chuyên việc phụng thờ " được miễn mọi sưu dịch, mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước để có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc lăng miếu các vua Những điều kiện có tích chất ưu đãi đó

đã làm cho cư dân ở đây không nghĩ đến việc chiếm chiếm công vi tư Hơn nữa, các triều đại sau thường biến loại ruộng đất Sơn Lăng này làm ruộng thờ

tự, do đó góp phần bảo vệ tính chất quốc hữu của nó

Tuy nhiên, tổng diện tích ruộng Sơn Lăng không lớn và mang những tính chất cơ bản của loại ruộng thờ rải rác ở các địa phương Do đó, loại ruộng này

Trang 18

không có tác dụng gì đáng kể đối với sự phát triển của chế độ ruộng đất nói chung

-Ruộng tịch điền:

Bên cạnh ruộng Sơn Lăng, thời Lý - Trần vẫn tồn tại một số khu ruộng tịch điền do Nhà nước trực tiếp quản lý Nghi lễ cày tịch điền đựơc tiến hành đều đặn và liên tục qua các triều đại Lý - Trần Sử cũ đã ghi lại lần cày tịch điền đầu tiên dưới thời Tiền lê và đến năm 1028 "mùa xuân - vua (Lý Thái Tông ) ngự ra Bố Hải khẩu cày cấy ruộng tịch điền Sai quan dọn cỏ, đắp đàn Vua thân tế thần nông xong cầm cày muốn làm lễ tự cày, các quan tả hữu có người can rằng : "Đó là công việc của nông phục, bệ hạ cần gì làm thế " Vua nói : "Trẫm không tự cày thì lấy gì mà làm xôi cúng , lấy gì để xướng suất thiên

hạ ", thế rồi đẩy cày 3 lần rồi thôi" [9, 214]

Cày tịch điền là một hình thức nghi lễ vay mượn của các triều đại phương Bắc thời cổ , nhưng phù hợp với hoàn cảnh một nước nông nghiệp như nước ta

Về mặt ý nghĩa thì "Tịch điền là một loại ruộng cày, lấy hoa lợi chi phí vào việc tế tự , còn nữa thì dùng để chẩn cấp cho dân nghèo, hoặc để tiếp khách Đây cũng là một loại ruộng nghi lễ nông nghiệp tàn dư của mạt kì chế độ Công

xã nguyên thuỷ” [6 ]

Khuyến khích sản xuất nông nghiệp là một yêu cầu hết sức quan trọng của các triều đại ở nước ta buổi đầu độc lập Nông nghiệp không ổn định, không phát triển thì giai cấp thống trị không có điều kiện để củng cố và phát triển Nhà nước quân chủ Trung ương của mình Trong bối cảnh đó, mượn nghi lễ cày tịch điền của các triều đại phong kiến phương Bắc là một điều thiết thực có lợi Và do đó, việc đặt một số mảnh ruộng làm tịch điền trở thành một yêu cầu Các triều đại Lý - Trần thường sử dụng những khu ruộng công ở các địa điểm trọng yếu đối với nông nghiệp làm ruộng tịch điền Chúng ta có thể điểm thấy ruộng tịch điền thời Lý - Trần nằm ở Đọi Sơn (Thanh Liêm - Hà Nam), Đỗ Động Giang (Thanh Oai - Hà Sơn Bình), Bố Hải khẩu (Thái Bình), Ứng Phong (Nghĩa Hưng - Hà Nam Ninh )

Trang 19

Ruộng tịch điền thực sự là một loại ruộng của Nhà nước, các nhà sử học xưa gọi là loại ruộng quan Sau khi vua làm lễ hạ cày xong, ruộng tịch điền được giao cho cư dân địa phương cày cấy theo nghĩa vụ lao dịch, thu hoạch hoàn toàn thuộc về Nhà nước

Tịch điền là một loại ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý, nhưng do tổng diện tích của nó quá hẹp, không đủ gây một ảnh hưởng gì quan trọng đến sự phát triển của nông nghiệp và thu nhập của Nhà nước ở bộ phận tịch điền không thể là nguồn thu nhập chính của nhà vua

-Ruộng đồn điền:

Dưới thời Lý - Trần, việc tổ chức khai hoang của Nhà nước và việc lập đồn điền đã đựơc tiến hành Theo sử cũ thì những tù binh bị bắt trong các trận đánh nhau với nhà Tống, nhà Nguyên hay Chăm pa đều được đưa đi khẩn hoang lập làng Từ thời Lý, trên đất nước ta nảy sinh một số làng do tù binh khẩn hoang lập thành và phụ thuộc Nhà nước Việc sử dụng tù binh vào công việc khẩn hoàng, mở rộng diện tích canh tác có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp đương thời Tuy nhiên, ở thời Lý chính sách đồn điền chưa được đặt ra Đến thời Trần, ngoài việc cho tù binh đi khẩn hoang lập làng, Nhà nước bắt đầu thực hiện chính sách đồn điền Việc nhà Trần cho đặt các chức " đồn điền chánh phó sứ ở ty khuyến nông "… chuyên về việc mộ dân khai hoang chứng tỏ điều đó Một số sử liệu địa phương cho phép chúng ta suy nghĩ rằng làng Quán La (Từ Liêm - Hà Nội) là một đồn điền của nhà Trần Đồn điền này được duy trì cho đến cuối thế kỷ XVIII Thần tích làng Vũ Xá, huyện Kim Thành (Hải Hưng) cho biết đây là một đồn điền thời Trần do Đại An phủ

sủ kinh sư là Nguyễn Dũ điều khiển việc thành lập

Như vậy, xuất phát từ nhu cầu mở rộng diện tích canh tác, nhà Trần thành lập các sở đồn điền , bên cạch việc khuyến khích các vương hầu khai hoang thành lập điền trang Đồn điền trở thành một loại ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý, Nhà nước sử dụng nô lệ để cày cấy trên ruộng đất ấy, thu hoạch hoa lợi do nhà vua nắm

-Ruộng Quốc khố:

Trang 20

Dưới thời Lý - Trần, Nhà nước còn quản lý loại ruộng Quốc khố Đây là loại ruộng mà hoa lợi thu hoạch được dự trữ trong kho triều đình để dùng riêng cho vua và hoàng cung Cày cấy ruộng Quốc khố là những người bị tù tội, dùng trâu bò của Nhà nước và nộp tô cho Nhà nước Sử cũ của ta ghi lại một vài địa điểm có loại ruộng này Chẳng hạn năm 1150 "tháng 9, đày (Đỗ) Anh Vũ làm cảo điền nhi" [9, 282] và năm 1230 "những người bị đồ làm Cảo điền hoành, bị thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo Xã, cày ruộng công, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm thu thóc 300 thăng "[9, 10 ] Điều đó chứng tỏ rằng làng Cảo là một khu ruộng Quốc khố chuyên dùng để cho những người bị tù tôị cày cấy

Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên, diện tích ruộng Quốc khố tăng lên đáng kể, do số việt gian theo giặc bị tịch thu tài sản ngày càng nhiều Những người trực tiếp cày cấy trên ruộng Quốc khố được coi là nô lệ, họ giữ thân phận

là "Cảo điền hoành" hay "Cảo điền nhi." Họ có thể trở lại địa vị thường dân khi hết hạn tù tội

Tóm lại, dưới thời Lý - Trần, Nhà nước Trung ương nắm trực tiếp trong tay một số ruộng đất chủ yếu nhằm phục vụ các nghi lễ nông nghiệp và làm nơi

tù đày những người bị tội Đây là bộ phận ruộng công được duy trì lâu dài và sang các triều đại sau phát triển thành những loại "ruộng công giải" (của cơ quan) hay ruộng riêng của dòng họ nhà vua Về cơ bản, các loại ruộng Nhà nước trực tiếp quản lý thường có diện tích không lớn lắm, nhưng mọi hoa lợi thu hoạch được trên các loại ruộng đó đều thuộc về nhà vua, là nguồn thu nhập đáng kể của triều đình

Qua việc trình bày trên, chúng ta thấy rằng chế độ sở hữu trực tiếp của Nhà nước về ruộng đất hoàn toàn có ý nghĩa thực tế, thậm chí mang đậm tính chất cá nhân, điều này không có gì quá đáng khi chúng ta đặt chế độ sở hữu đó trong khung cảnh chung của chế độ ruộng đất đương thời, khi mà chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đang ngày càng phát triển mạnh

2.1.1.2 Bộ phận ruộng đất các làng xã quản lý (hay ruộng đất công làng xã)

Trang 21

Bộ phận lớn nhất ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước là loại ruộng đất công làng xã Đơn vị cơ sở ở những thế kỷ này không còn là những tổ chức Công xã như trước đây nữa mà là làng và xã Về thực chất, đây vẫn là ruộng của Nhà nước và Nhà nước giao cho các làng xã quản lý Vì vậy, trong các nguồn sử liệu địa phương, loại ruộng này được ghi là "Quan điền bản xã" hay "Quan điền bản thôn"

Ruộng đất Công làng xã đã xuất hiện từ thời Công xã nguyên thuỷ Từ sở hữu công cộng nguyên thuỷ tiến tới sở hữu tư nhân có một bước quá độ, đó là

sự phân chia định kỳ ruộng đất công cho các thành viên Công xã có quyền chiếm hữu tư nhân Tình trạng qúa độ này đã được biểu hiện ở các Công xã quá

độ như Mác - Cơ Ở Việt Nam, cho đến thế kỷ XVIII, vẫn còn tình trạng chiếm hữu định kỳ ruộng đất công này, do đó, hẳn là nó đã tồn tại và ngự trị ở các làng xã thời Hùng Vương, An Dương Vương trở đi Thế kỷ XI - XIV không thể không còn đậm nét hình thức ruộng đất quá độ này

Nếu như vào đầu thế kỷ thứ XIX (theo các địa bộ Gia Long ), bộ phận ruộng đất Công làng xã, sau khi trải qua rất nhiều cuộc biến động xã hội, vẫn còn giữ được một tỉ lệ đáng kể (trên dưới 50% ) trong tổng diện tích ruộng đất trong nước thì chắc chắn rằng ở thời Lý - Trần nó còn đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều Tác động của nó như vậy không phải là nhỏ đối với những hoạt động kinh tế của Nhà nước Trung ương

Bộ phận ruộng đất này trong thời Lý - Trần thuộc sở hữu của ai và được

sử dụng như thế nào là một vấn đề rất quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua hay xem nhẹ khi nói đến chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất Dĩ nhiên, ở đây chúng tôi xem xét nó ở khía cạnh quan hệ với Nhà nước Trung ương

Về chế độ sở hữu: Đây là một vấn đề rất phức tạp vừa vì bản thân nó vừa

vì thiếu những tư liệu trực tiếp giải thích nó Ruộng đất Công làng xã ở thời Lý -Trần là một sản phẩm lịch sử Từ thời đại Hùng Vương, do yêu cầu nuôi dưỡng một bộ máy Nhà nước- dù là rất sơ khai - ruộng đất Công làng xã đã có những quan hệ kinh tế nhất định với Nhà nước Chuyển sang thời kỳ Bắc thuộc chính quyền đô hộ dĩ nhiên tăng cường thêm tính chất bóc lột trong quan hệ

Trang 22

kinh tế có sẵn đó Cho đến thời Đường, với chính sách tô, dung, điệu và lưỡng thuế của nó, ruộng đất Công làng xã ở nước ta rơi vào quỹ đạo bóc lột tô thuế của nhà nước đô hộ Tất nhiên, do cuộc đấu tranh của nhân dân ta, lấy làng xã làm pháo đài, chính quyền đô hộ không thể trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế của làng xã Tuy phải nộp tô thuế, làng xã vẫn giữ được nguyên vẹn những quyền hạn khác có tính chất cổ truyền của mình Nhà nước Trung ương dân tộc đã ra đời trên cơ sở những làng xã cổ truyền đó,đồng thời tiếp thu những di sản cần thiết cho sự thống trị của mình mà chính quyền đô hộ để lại Chế độ tô thuế không thể bị bãi bỏ.Trái lại, trên bước đường phát triển của mình, Nhà nước Trung ương ngày càng can thiệp sâu hơn vào bộ phận ruộng đất Công làng xã

Một khía cạnh có liên quan mật thiết đến việc xác định chế độ sở hữu này

là quan hệ chính trị giữa Nhà nước và làng xã Người ta thường nghĩ rằng, đến thời Trần, Nhà nước mới phần nào với tay tới làng xã; và, nói chung ,làng xã thời Trần vẫn còn giữ được quyền tự trị của mình Sự thực, có những sử liệu chứng tỏ rằng, cách suy đoán như vậy không phù hợp với thực tế Ngay từ thời

Lý, muộn nhất là vào năm 1117, Nhà nước Trung ương đã có những hành động xiết chặt nền thống trị của mình đối với làng xã Sáu năm sau (1123), nhân việc cấm giết trộm trâu, Nhà nước Lý đã quy định : " từ nay về sau ba nhà làm một bảo, không được giết trâu ăn thịt, ai làm trái thì trị tội theo pháp luật [9, 253] Cách đặt ba nhà làm một bảo này thường được sử gọi là phép bảo liên hoàn Đó là một hình thức kiểm soát của Nhà nước, hay tên lãnh chúa phong kiến đối với mọi hoạt động của làng xã

Một hành động rất đáng kể khác của Nhà nước là việc lập sổ đinh Nhà nước Trung ương cần nắm được số đinh nam trong nước để thu thuế, lấy phu dịch và chọn lính Hoạt động này chắc đã được tiến hành đều đặn ở thời Lý (trong dư địa chí của Nguyễn Trãi thế kỹ XV- chúng ta thấy có ghi một con số

về số đinh thời Lý), do đó, đầu thời Trần, năm 1228, Nhà nước đã cho đại thần

đi '' xét định số đinh phủ Thanh Hoá'' Sử cũ còn ghi rõ :'' Theo lệ cũ, hàng năm đầu mùa xuân, xã quan khai báo số nhân khẩu, gọi là đơn số, rồi sau cứ theo sổ

Trang 23

mà định, kê rõ các hạng tôn thất, quan văn giai, quan võ giai, quan theo hầu, quân nhân, tạp hưu, hoàng nam, già yếu, phụ tịch, xiêu tán” [9 , 9]

Nói chung thì Nhà nước dựa chủ yếu vào các báo cáo của xã quan - cái gọi

là đơn số, song không phải lúc nào cũng vậy Sử cũ có viết: "Trần Thủ Độ từng duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin cho riêng một người làm câu đương Thủ

Độ gật đầu và biên lấy họ tên, quê quán người ấy Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi rằng, tên người ấy đâu " [9, 34]

Các sự kiện trên chứng tỏ rằng, ngay từ đầu thời Trần, Nhà nước đã kiểm soát khá chặt chẽ dân số của các làng xã Không những thế, Nhà nước Trung ương còn trực tiếp với tay xuống tổ chức cai quản làng xã Năm 1242,Nhà Trần đặt ra 2 chức: đại tư xã và tiểu tư xã để cho trông nom các làng xã, thậm chí còn quy định tư cách của những người được bầu giữ các chức đó, (đại tư xã : từ ngũ phẩm trở lên; tiểu tư xã: từ lục phẩm trở xuống ) và nếu thiếu người thì một đại tư xã hay tiểu tư xã có thể trong nom cả 2, 3 xã Các viên tư xã này cùng với các chức xã chính, xã sử, xã giám đều được gọi là xã quan Với quy định

đó, ban quản trị xã trở thành khâu cuối cùng trong cấu trúc Nhà nước của giai cấp thống trị, còn các xã quan chủ yếu thì lại là người có tước phẩm của Nhà nước Làng xã biến thành một đơn vị hành chính thực sự của Nhà nước và điều

đó ảnh hưởng đến cả vị trí của ruộng đất Công làng xã

Nếu chúng ta hiểu rằng, xu thế chung của chế độ ruộng đất là sự phát triển của ruộng đất tư hữu thì có thể khẳng định rằng ở thời Lý - Trần, ruộng Công làng xã còn giữ một tỷ lệ lớn về tổng diện tích và chiếm ưu thế Đây là bộ phận ruộng đất cơ sở của Nhà nước Trung ương chuyên chế Lý Trần

Dưới thời Lý Trần, ruộng đất Công làng xã tuy có thể bị Nhà nước cắt chỗ này xén chỗ kia, song về mặt thiết chế nó vẫn khá mạnh mẽ, khá độc lập Về danh nghĩa ruộng đất Công làng xã bắt đầu bị đặt vào quỹ đạo của sở hữu Nhà nước, nhưng trong thực tế và nhìn toàn cục ruộng đất Công làng xã vẫn là thuộc sở hữu tập thể làng xã Suy cho cùng quyền chiếm hữu thực tế vẫn có tác động mạnh mẽ hơn quyền sở hữu danh nghĩa Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, ruộng đất Công làng xã vẫn tồn tại phổ biến và trong thực tiễn vẫn có thể xếp

Trang 24

nó vào loại sở hữu tập thể làng xã Hay nói gọn lại là ruộng đất thuộc sở hữu làng xã Sở hữu làng xã nằm giữa sự phát triển từ sở hữu công xã qúa độ của thời Hùng Vương, An Dương Vương lên sở hữu làng xã phong kiến của thế kỷ

XI đến thế kỷ XV Sở hữu làng xã chính là sở hữu công xã quá độ trong điều kiện một Nhà nước quân chủ tập trung đang trên đường phong kiến hoá Đó là

về mặt sở hữu

Về mặt quan hệ sản xuất: Có thể nói, phần chủ yếu của bộ phận ruộng

đất này được giao cho làng xã quản lý

Xã dân nhận ruộng do làng chia và trực tiếp cày cấy Sau khi gặt hái, xã dân phải nộp thuế cho Nhà nước bằng hiện vật đồng thời phải có nghĩa vụ đóng góp cho làng xã dưới hình thức nào đó của tô hiện vật hay tô lao dịch Để có thể thu được tô thuế một cách tương đối đều đặn, hàng năm Nhà nước Trung ương Lý - Trần buộc phải nắm số lượng ruộng đất trong nước Chúng ta có thể ghi nhận được ở sử cũ hai lần làm sổ ruộng: một lần vào thời Lý, năm 1092 và một lần vào cuối thời Trần, năm 1398 Người đại diện hợp pháp thay mặt Nhà nước quản lý loại ruộng đất này là các Xã trưởng Quyền lực của Xã trưởng không phải từ dưới lên, không phải do toàn thể thành viên công xã giao cho như trước mà quyền lực đó do từ trên xuống, từ bộ máy mang tính tập quyền của Nhà nước Lý - Trần

Bộ máy tập quyền từ Trung ương xuống địa phương hoạt động không phải mang ý chí của tất cả cá nhân trong xã hội cộng lại mà mang ý chí của một giai cấp, đó là giai cấp thống trị Cho nên đến giai điểm này thì Công xã đã biến đổi một cách sâu sắc, ruộng đất Công xã trở thành ruộng đất Công làng - xã

Nhà nước Lý -Trần nắm toàn bộ loại ruộng đất Công làng xã và chiếm hữu luôn cả ý chí của thành viên làng xã, thông qua Xã trưởng để điều chỉnh quan hệ xung quanh loại ruộng đất này Quyền sở hữu ruộng đất của Công xã không còn nữa Công xã lúc này chỉ được trao quyền chiếm hữu Xã quan giao quyền chiếm hữu này cho toàn thể các thành viên công xã canh tác Thân phận người xã dân này không phải là người dân công xã nữa, mà đang trên đường quá độ tiến tới thân phận hoặc nông nô hoặc nông dân tự do lĩnh canh Tình

Trang 25

hình đặc biệt này vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân của sự qúa độ bị kéo dài nhiều năm Như Mác và Eng ghen quan niệm: "sự quá độ từ sở hữu công cộng nguyên thuỷ sang sở hữu tư nhân thể hiện ở sự chiếm hữu tư nhân có định kỳ như Công xã Mác - Cơ chẳng hạn " [4, 149]

Trường hợp nước ta cũng vậy Nhưng điều đặc biệt hơn nữa của ta là tình trạng quá độ đó, vì nhiều nguyên nhân phức tạp, đã kéo dài mà không kết thúc sớm được Sở hữu làng xã chính là hình thành trong tình hình đó

Nhà nước Lý - Trần chỉ nắm lấy tổng diện tích ruộng đất và tổng số đinh được hưởng để thu tô thuế và bắt lực dịch Như vậy, làng xã còn giữ được một

số quyền hạn nhất định đối với ruộng đất công Hơn nữa, nói chung, Nhà nước tôn trọng khá đầy đủ những tập tục cổ truyền của làng xã như không xâm phạm nguyên tắc :"ruộng công xã nào, dân xã ấy hưởng"

Các Xã trưởng quân cấp ruộng công cho dân đinh theo định kỳ Số năm của chu kỳ không thống nhất giữa các vùng Sự tồn tại của những khái niệm

"quan điền bản xã" hay "quan điền bản thôn " trên các bia - phần ghi ranh giới các ruộng cúng - chứng tỏ rằng ruộng Công làng xã không phải chỉ chia một lần vĩnh viễn cho dân đinh Nhưng, không phải mọi người dân trong làng xã đều được chia ruộng công, cho nên vẫn tồn tại khá đông những người không có ruộng đất cày cấy phải đi làm các nghề thủ công, buôn bán, hay những công việc lao động nặng nhọc khác để sinh sống Và , đó là lý do mà phép đánh thuế của nhà Trần qui định :"Ai khng có ruộng đất thì được miễn tất cả " [9, 18] Nhà sử học Phan Huy Chú cũng viết : "Thời Minh Tông (1314 - 1329)" có người học trò dâng sớ nói là dân gian nhiều người du đãng, đến già cũng không

có tên trong sổ, không chịu thuế dịch, sai phải tạp dịch không đến nơi Vua nói: "Nếu không có người như thế thì sao thành đời thái bình " [9, 145]

Theo lệ của thời Lý - Trần, những dân đinh được chia ruộng công đều phải chịu mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước, từ nộp tô thuế đến đi sưu dịch.Và đây cũng chính là cơ sở chủ yếu để nhà Lý và nhà Trần thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" Vì vậy, khi chiếm đoạt quyền sở hữu của làng xã về ruộng đất

Trang 26

công để biến bộ phận ruộng đấy này thành một bộ phận thuộc sở hữu Nhà nước, nhà Lý, nhà Trần đã tạo cho mình nguồn thu nhập lớn nhất

Tuy nhiên, do những hạn chế chung trong sự phát triển của Nhà nước, nó buộc phải duy trì tổ chức làng xã cũ với tư cách là một đơn vị kinh tế - xã hội trực tiếp quản lý ruộng đất và dân đinh Đây cũng là lý do cắt nghĩa tại sao Nhà nước Trung ương chỉ thừa hưởng và bảo vệ cái thực trạng xã hội đã có chứ chưa thể cưỡng bức tất cả các làng xã phải theo một quy chế chung về kinh tế, tài chính

Trên bước đường phát triển, Nhà nước ngày càng củng cố được quyền thống trị về mặt chính trị và dựa vào đó mà tăng dần quyền hạn của mình đối với ruộng đất Công làng xã

Nhà nước Lý - Trần không thể quan tâm đến từng thành viên Công xã Những biện pháp hành chính của Nhà nước Lý - Trần không thể thực thi một cách khả quan, cho nên bộ máy quản lý xã thôn có quyền tự trị về nhiều mặt Chính vì vậy, quyền từ trị của Công xã về cơ bản vẫn được duy trì

Quyền sở hữu Nhà nước lúc này chưa phải là sở hữu toàn diện, triệt để và vững chắc

Tóm lại, ruộng đất Công làng xã thời Lý - Trần tồn tại phổ biến trên đất nước ta Đó là một loại sở hữu ruộng đất quá độ từ sở hữu Công xã mà ra, được kéo dài trong điều kiện một nền quân chủ tập trung tạm gọi một tên là sở hữu làng xã Vậy, sở hữu làng xã là một khối sở hữu kết hợp của sở hữu Công xã quá độ và sở hữu Nhà nước quân chủ Quyền của Nhà nước ở đây bắt đầu phát triển từ danh nghĩa thành thực tiễn: quyền của làng xã là quyền thực tiễn nhưng bắt đầu lùi dần từ mạnh xuống yếu Có thể nói, tình trạng cân bằng của hai quyền đó được biểu hiện trong cái gọi là sở hữu ruộng đất làng xã Sở hữu làng

xã này tạo ra một lực lượng sản xuất gọi là xã dân tức là thân phận một người dân công xã, đã quá độ tiến dần lên thân phận hoặc người nông nô, hoặc ngưòi nông dân tự do lĩnh canh

Từ sự phân tích trên, có thể thấy được một số đặc điểm của ruộng đất Công làng xã thời kỳ Lý - Trần như sau :

Trang 27

Ruộng Công làng xã hay có người nói là ruộng khẩu phần cũng vậy, là bộ phận ruộng đất lớn nhất thuộc sở hữu Nhà nước Theo các địa bạ Gia Long 4(1805) tổng diện tích Công làng xã ở nhiều địa phương còn chiếm tỷ lệ 50,60% tổng diện tích ruộng đất công tư Ở tất cả các trấn thuộc Đàng ngoài ruộng Công làng xã vẫn giữ được tỉ lệ đáng kể Nếu chúng ta hiểu rằng xu thế chung của chế độ ruộng đất là sự phát triển của ruộng đất tư hữu thì chúng ta

có thể khẳng định rằng ở thời Lý - Trần ruộng đất Công làng xã còn giữ một tỷ

lệ lớn về tổng diện tích và chiếm ưu thế Đây là bộ phận ruộng đất cơ sở của nhà nước Trung ương chuyên chế Lý - Trần

Ruộng đất Công làng xã do chiếm một tỷ lệ lớn về tổng diện tích ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước, cho nên bộ phận ruộng đất này thu hút lực lượng lao động đông đảo nhất Hầu hết các thành viên đến tuổi trưởng thành trong làng xã đều được nhận ruộng để cày cấy Thân phận của nông dân công xã phụ thuộc vào xã quan, vào Nhà nước Những dân đinh được chia ruộng công đều phải chịu mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước, từ nộp tô thuế đến đi sưu dịch Hàng năm sau khi thu hoạch xong, nông dân Công xã phải nộp sản phẩm lên cho xã quan, mức thu do xã quan và Nhà nước quy định Thân phận của những nông dân nhận ruộng cũng giống như thân phân một nông nô, hay là nông dân tự do lĩnh canh

Nhà nước Lý - Trần lấy bộ phận ruộng đất này làm cơ sở kinh tế , chính trị, quân sự Điều này là dễ hiểu, bởi vì thời kỳ Lý - Trần là đỉnh cao của phương thức sản xuất châu Á, ruộng đất Công làng xã chiếm ưu thế về tổng diện tích cũng như về sản lượng Nhà nước Lý - Trần không thể dựa vào nguồn thu nhập nào ngoài nguồn thu nhập từ bộ phận ruộng đất Công làng xã

Ruộng đất Công làng xã, xét về mặt tính chất có tác dụng tăng cường phía quyền sở hữu Nhà nước trong kết cấu sở hữu Nhà nước - làng xã đối với các công điền, công thổ ở các thôn xã

Ruộng đất Công làng xã là một loại sở hữu kép của cả Nhà nước lẫn xã thôn Nhà nước thì muốn chụp lên trên đó quyền sở hữu toàn vẹn của Nhà nước Làng xã thì muốn kéo lại chỉ còn là sỡ hữu xã thôn Hơn nữa bản thân kẻ

Trang 28

đại diện cho làng xã trong khối sở hữu này lại là bộ máy quản lý xã thôn, một

bộ máy bao gồm các lí dịch, kỳ hào, địa chủ và quan lại Người trực tiếp sản xuất trên ruộng công luôn luôn chỉ là người chiếm hữu có thời hạn ngắn những ruộng đất ấy Họ không muốn và không thể hứng thú sản xuất Do đó, năng suất ruộng đất Công làng xã chắc chắn là rất thấp Rõ ràng, thiết chế ruộng công dù có biến đổi ít nhiều qua lịch sử vẫn lạc hậu hơn thiết chế ruộng tư Quyền tư hữu ruộng đất trong điều kiện kinh tế hàng hoá đã phát triển một chừng mực nhất định, chắc chắn kích thích năng suất lao động, và là ước mơ của nông dân Cho nên ruộng đất Công làng xã là yếu tố đối lập và ngăn trở sự phát triển ruộng đất tư trong khi quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất là một nhân

tố phù hợp với quy luật tiến lên của xã hội

2.1.1.3 Ruộng đất được Nhà nước phong cấp cho quan lại quản

Các tập đoàn thống trị Lý - Trần trên bước đường xây dựng quốc gia và trên danh nghĩa là người chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, đã đem một bộ phận ruộng đất Công làng xã cùng một số hộ nông dân công xã (xã dân) phong cấp cho quan lại cao cấp Chế độ phong cấp đó dẫn đến sự xuất hiện một bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng do quan lại được cấp trực tiếp quản

lý Bộ phận ruộng đất này bao gồm : thực ấp, thực phong và thái ấp

Thực ấp là một hình thức phong cấp cho công thần đã có từ sớm ở nước

ta Sử cũ đã ghi : "Năm 950, Ngô Xương Văn cấp cho cậu là Dương Tam Kha thực ấp ở Chương Dương "(Hà Nội) [9, 119] Lĩnh nam chích quái cũng ghi :

"Lý Công Uẩn khi còn làm quan quản lĩnh thân binh được thực ấp ở Đằng Châu" (Kim Động - Hải Hưng ) [12, 111]

Nhưng đến thời Lý thì việc ban thực ấp đã trở nên phổ biến hơn Phần lớn các đại thần có công đều được ban thực ấp như Thái uý Tô Hiến Thành được ban thực ấp ở Cổ Am (Vĩnh Bảo - Hải Phòng), Thái uý Lý Công Bình được ban thực ấp ở An Lão (Bình Lục - Hà Nam), thậm chí ông chài Mục Thận, năm

Trang 29

1096 nhờ có công cứu vua Lý Nhân Tông khỏi chết đuối được vua ban cho đất Tây Hồ làm thực ấp Thực ấp, thực chất là phong cho ăn tô thuế của một ấp nào đó Số hộ bị phong giờ đây không nộp tô thuế cho Nhà nước nữa mà nộp cho người được phong Tất nhiên, việc ban thực ấp này tuỳ thuộc công lao, chức vụ của người được ban và khi ban, Nhà nước cũng chú ý đến làng xã hay vùng đất đem ban là địa phương giàu hay nghèo, nhiều hay ít hộ

Điều đáng chú ý ở đây là, triều Lý cũng như triều đại trước đó, chủ yếu lấy vùng để ban làm thực ấp (chứ không phải theo hộ) Chỗ khác nhau với việc phong hộ là: số lượng hộ không được xácđịnh, trong làng ấp bên ngoài số đinh

"nội tử vi", thông thường còn có những người ngoài sổ hộ tịch; bên cạnh số ruộng công chịu thuế còn có số ruộng tư chỉ chịu thuế và đất hoang, ao, hồ Thực ấp theo vùng rõ ràng có lợi hơn thực ấp theo hộ Thực ấp theo vùng không chỉ liên quan đến bộ phận ruộng đất Công làng xã mà liên quan đến toàn

bộ chế độ sỡ hữu ruộng đất của Nhà nước

Ở thời Lý, bên cạnh việc ban cấp thực ấp, còn có một hình thức ban thưởng khác là ban thực ấp kèm thật phong Đây là hình thức ban thưởng xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối đời Đường Nhà Lý đã học hình thức phong thưởng này của các triều đại Đường, Tống Thực chất đây là một biến dạng của chế độ thực ấp Do việc phong cấp của Nhà nước quá rộng rãi và do công lao của các công thần tương đối lớn, Nhà nước không thể phong thưởng thực ấp một cách đầy đủ như trước nữa Vì vậy, nhà Lý buộc phải một mặt đánh giá cao giá trị đóng góp của người được phong bằng thực ấp, mặt khác quy định rõ

số hộ thực tế mà họ được hưởng - dĩ nhiên là nhỏ hơn so với giá trị của công lao Chẳng hạn như đối với trường hợp Lý Thường Kiệt, giá trị của công lao xứng đáng được hưởng 10.000 hộ song do Nhà nước không đủ điều kiện để cấp

cả nên phải khẳng định số phong thật là 4000 hộ Thứ tự của cách viết bây giờ cũng phải là : "thực ấp 10.000 hộ, thật phong 4000 hộ." Do đó, ở thời Lý, hình thức phong thưởng này được xem như một thứ phẩm hàm đựơc ghi kèm theo chức tước

Trang 30

Khác với hình thức thực ấp nói trên, chế độ ban thưởng thực ấp kèm thật phong tính theo đơn vị hộ Mỗi hộ tương ứng với một số tô, thuế nhất định tuỳ thực trạng tài sản Người được phong có thể tự cử người đi thu tô thuế cũng có thể nhận số tô thuế tương ứng với số hộ được phong, do một cơ quan hay viên chức của Nhà nước thu và giao Như vậy hình thức phong thưởng này không đặt ra một sự tương ứng với một diện tích ruộng đất hay một số làng xã nào đó, nghĩa là ở đây Nhà nước Trung ương vẫn giữ cho mình quyền sở hữu ruộng đất Khi người được phong chết hay vì lý do gì đó bị cách chức, Nhà nước không cần thiết phải thực hiện một hành vi sung công điền sản hay lấy lại ruộng đất Ban thực ấp là cho ăn tô thuế, còn ban thật phong là phong thực cho

cả đất lẫn người Do đó chế độ thực ấp kèm thật phong tạo điều kiện đẻ ra chế

độ thái ấp điền trang lớn đương thời

Chính sách phong thưởng thực ấp kèm thật phong chỉ được thực hiện ở thời Lý, song, cũng không phổ biến Sang thời Trần thì kiểu ban cấp này không còn nữa

Tóm lại, hình thức và chế độ phong hộ cho các quan lại cao cấp chỉ được thực hiện ở thời Lý Thực chất của nó, trước hết đó là hình thức đánh giá công lao và đóng góp của người được ban cấp đối với nhà Lý Chức, hàm, tước càng cao thì số lượng ban cấp càng nhiều Lý Thường Kiệt và sau ông là Đỗ Anh Vũ

có chức hàm gần giống nhau và đều được ban tước là Việt Quốc Công thì số lượng thực ấp và thật phong tính theo hộ như nhau : thực ấp 10.000 hộ, thật phong 4.000 hộ

Nếu như chế độ thực ấp, việc ban cấp thực ấp kèm thật phong là đặc trưng của thời Lý , thì đến Nhà nước thời Trần xuất hiện một hình thức phong cấp rất đáng lưu ý và là đặc trưng của nhà Trần, đó là thái ấp Thời Trần hầu hết các Vương hầu đều được cấp Thái ấp Các chủ thái ấp có quyền được thành lập quân đội riêng, có tổ chức cai quản riêng Do đó, thái ấp trở thành một đặc điểm của cơ sở kinh tế thời Trần, đánh dấu sự tồn tại của trạng thái phân tán trong xã hội phong kiến Có nhà nghiên cứu đã gắn liền chế độ thái ấp này với cái gọi là chế độ " đại điền trang " để nâng giai đoạn lịch sử thời Trần lên thành

Trang 31

một giai đoạn lịch sử phong kiến mang nặng tính chất phân tán Do đó, có người theo đúng quan điểm Phương Tây, xem thời Trần là giai đoạn cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam

Nếu theo đúng cách ghi của Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, thì khái niệm thái ấp chỉ xuất hiện một lần và nguồn tư liệu duy nhất của nó là bài

" Hịch Tướng Sĩ " của Trần Quốc Tuấn Trong bài Hịch nổi tiếng này, Trần Quốc Tuấn đã hai lần nhắc đến chữ thái ấp : " Chẳng những thái ấp của ta mà bổng lộc của các ngươi cũng bị người khác chiếm lấy" và "Không những thái

ấp của ta mãi mãi lưu truyền mà bổng lộc của các ngươi suốt đời được hưởng" [9, 84]

Thái ấp là một hiện tượng của đời Trần Người chủ thái ấp, về nguyên tắc được quyền tuỳ tiện thu tô thuế ở cư dân trong thái ấp Tuy nhiên về cơ bản, các chủ thái ấp vẫn giữ nguyên chế độ tô thuế vốn có của Công xã, không đặt thêm hay thay đổi hệ thống đó Ruộng đất và tục lệ sử dụng, phân phối ruộng đất ở đây vẫn không có gì thay đổi đáng kể, mặc dù về mặt chính trị, xã hội, cư dân làng xã giờ đây chịu sự chi phối trực tiếp của người chủ quản

Thái ấp không phải bắt nguồn từ ruộng phong thời Lý.Về danh nghĩa người được thái ấp giữ quyền chiếm hữu, nhưng thực chất họ giữ quyền sở hữu.Trong "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn đã chứng tỏ điều đó : " Không những thái ấp của ta mãi mãi lưu truyền mà bổng lộc các ngươi đời đời được hưởng "[9, 84] Người chủ thái ấp chủ yếu là các quan lại thuộc Hoàng tộc Trần Họ trực tiếp nắm lấy diện tích ruộng đất phải nộp thuế cho mình của làng cũng như số cư dân ở đấy

Vấn đề thừa kế thái ấp không được đặt ra Sau khi người Vương hầu chủ quản chết, làng xã trở lại trạng thái một làng xã thông thường, chịu nghĩa vụ đối với Nhà nước Nhà nước lấy một số ruộng đất ở đây để làm ruộng tế tự cho người được cấp thái ấp và giao cho làng nhiệm vụ cày cấy số ruộng đất này để

lo việc thời phụng, hương lửa Nguy cơ xâm lược của nước ngoài đã yêu cầu xây dựng một Nhà nước Trung ương ngày càng chặt chẽ, do đó, không cho phép tồn tại chế độ thừa kế thái ấp

Trang 32

Về quyền hạn của người chủ thái ấp đối với thái ấp của mình, có thể ngoài việc thu thuế, tô, vị Vương hầu này còn có thể sử dụng cả lao dịch của dân làng nữa Nhờ sức lao động đó mà họ có thể xây dựng phủ đệ riêng Khi cần thiết,

họ được phép mộ binh ở đây và các làng xung quanh, đặt thành quân ngủ và trực tiếp chỉ huy Khi bên trên thái ấp đã có một Vương hầu đứng làm chủ thì

tổ chức quản lý làng xã - bị biến thành thái ấp - buộc phải phụ thuộc người chủ

đó Tuy nhiên, về lâu dài, làng xã này vẫn thuộc quyền chi phối của Nhà nước Trung ương, cư dân làng xã vẫn là thần dân của Nhà nước

Thái ấp với quy mô nhỏ bé của nó, trong hoàn cảnh của một đất nước thống nhất vững chắc, không thể trở thành cơ sở để cát cư Chế độ cử con cái đi trấn trị các địa phương xa cũng không tạo điều kiện cho các Vương hầu này cắt đất, xây dựng những công quốc riêng Ngay từ thời Lý, những hoạt động của hoàng tử Lý Nhật Quang ở Nghệ An , như xây dựng trại Bà Hoà " trang trại rộng, chứa được 3,4 vạn quân, kho tàng, tiền lương chứa sẵn có thể dùng được

3 năm ", " mở thêm 5 châu, 22 trại, 56 sách", " đem quân dẹp yên các giặc ông Yết và Lý phủ " đều bị Lý Thánh Tông theo dõi chặt chẽ Đến lúc có người gièm với vua là ông " tự chuyện, tự tiện dùng lính đánh giặc thì lập tức Lý Thánh Tông "có ý ngờ vực " tìm cách đối phó đến mức Lý Nhật Quang phải xin từ chức” [19;26]

Thời Trần, việc kiểm soát của Nhà nước Trung ương đối với các vương hầu càng chặt chẽ hơn Những điều đó góp phần khẳng định quyền sở hữu của Nhà nước đối với các thái ấp Điều đó cũng chứng tỏ rằng, đất nước ta đương thời thực sự thống nhất Chính quyền Trung ương còn có sức mạnh và không chấp nhận một thứ quyền thành lập quân đội riêng của các vương hầu

Việc ban cấp thái ấp cho các vương hầu ở thời Trần đánh dấu một bước phát triển trên con đường phong kiến hoá của chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất Công làng xã Đồng thời, việc chiếm hữu có điều kiện các thái ấp đã làm cho các vương hầu trở thành những quý tộc Hoàng tộc có quyền lực

Tóm lại, thái ấp là một hình thức phong cấp ruộng đất và làng xã cho các quý tộc vương hầu thời trần Chủ thái ấp được quyền hưởng tô thuế và quy định

Trang 33

mức tô thuế đó, do cư dân làng xã nộp Khi cần thiết người chủ thái ấp có thể

sử dụng lao dịch của cư dân trong thái ấp Ở đây người chủ thái ấp được xây dựng phủ đệ, nuôi nô tỳ và trong một chừng mực nhất định trông nom việc cai quản thái ấp Địa vị quý tộc đại thần của họ đã làm cho quyền lực của họ đối với thái ấp có tác dụng tuyệt đối Chúng ta có thể hiểu thái ấp là một hình thức Bênêphixium vốn phổ biến ở Tây Âu cuối sơ kỳ trung đại Nó cũng mang dáng dấp của hình thức Prôni ở Bidantium trung đại, khi mà chế độ phong kiến ở đây bắt đầu phát triển Cùng với sự phát triển của điền trang tư nhân, các thái ấp thời Trần đã đánh dấu một trình độ phát triển đáng chú ý của chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất

Như vậy, chế độ ban thưởng thực ấp, thực phong , thái ấp là các hình thức

sử dụng bộ phận ruộng đất Công làng xã ở thời Lý- Trần Sự tồn tại và phổ biến của các hình thức đó vừa khẳng định chế độ sở hữu bộ phận của Nhà nước đối với bộ phận ruộng đất Công làng xã, vừa thể hiện trình độ phát triển của xã hội Đại Việt đương thời, nếu xét về góc độ cơ sở kinh tế Nhìn ở góc độ phát triển, tất nhiên, chúng ta đều nhận thấy rằng, chế độ ruộng đất – riêng trong bộ phận thuộc sở hữu Nhà nước – ở thời Trần đã tiến được một bước đáng kể so với thời Lý Cũng từ sự nghiên cứu bộ phận ruộng đất do Nhà nước ban cấp cho quan lại trực tiếp quản lý, chúng ta thấy về phương thức canh tác và quy chế làm việc trên loại ruộng phong này không có gì thay đổi so với trước đây, nghĩa là thành viên công xã vẫn là thần dân của Nhà nước Có khác chăng là, người trực tiếp thu địa tô và điều lao dịch là người được phong cấp

Tóm lại , từ thế kỷ XI, hạt nhân duy trì sự thống nhất quốc gia, cái lõi cho

sự tồn tại, đó là quan hệ hoà đồng giữa làng và nước Thực chất là quan hệ hoà đồng của ruộng đất Công làng xã Sự bóc lột của thời kỳ Lý – Trần với tư cách

là bóc lột một cộng đồng chứ không phải là từng cá nhân riêng lẻ Điều đó cho thấy đến thế kỷ XI – XII, quyền tự trị của Công xã nông thôn trong chừng mực nhất định vẫn còn có hiệu lực

Qua việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu kinh tế ruộng đất do Nhà nước quản

lý ở thời kỳ lịch sử Lý – Trần, chúng ta thấy dù Nhà nước trực tiếp hay gián

Trang 34

tiếp quản lý, dù dưới dạng hình thức này hay hình thức khác, nhưng sự tồn tại

và thống trị của chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và giai đoạn lịch sử Lý – Trần nói riêng Đúng như Mác đã viết trong chương trình bày về địa tô thời phong kiến: “Nếu như không phải những người chủ ruộng tư nhân

mà là Nhà nước trực tiếp đối lập với những người sản xuất trực tiếp, như trường hợp đã xảy ra ở châu Á - người chủ ruộng, đồng thời là quốc vương – thì tô và thuế hợp với nhau làm một, hay đúng hơn bấy giờ không tồn tại một thứ thuế nào khác hình thức đó của địa tô Nhà nước ở đây là người sở hữu tối cao về ruộng đất Chủ quyền ở đây là chế độ sở hữu ruộng đất tập trung ở quy

mô cả nước Và, trái lại trong trường hợp này, không tồn tại một hình thức sở hữu tư nhân nào về ruộng đất, mặc dù tồn tại chế độ chiếm hữu và sử dụng ruộng đất của tư nhân và công xã ”[11, 354]

Có thể nói, chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất là cơ sở tồn tại của Nhà nước Trung ương tập quyền thời Lý – Trần, là nguồn thu nhập chủ yếu của các triều đại đó, đồng thời là nhân tố chủ yếu chi phối mọi hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên, dưới thời Lý – Trần cũng như các triều đại trước và sau đó, bên cạnh kinh tế ruộng đất Nhà nước quản lý là rất lớn, rất quan trọng, còn có các hình thức sở hữu khác nhau của kinh tế ruộng đất tư nhân

2.1.2 Các hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân

Ở nước ta, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã xuất hiện từ sớm Đến thời Lý – Trần, nhất là từ thế kỷ XII, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã phát triển đáng kể.Do ruộng đất Công làng xã giữ được quyền tự trị, do sự quản

lý lỏng lẽo của bộ máy Nhà nước Trung ương, thông qua bộ máy địa phương ít phát huy hiệu quả, nên xẩy ra tình trạng biến của công thành của tư Các xã quan tìm cách khai man diện tích canh tác, biến diện tích canh tác thành diện tích đất ở, đầm áo xã quan cũng tìm cách thu hẹp số lượng nạp địa tô cho Nhà nước

Trang 35

Quyền tư hữu ruộng dất là điều kiện tiên quyết cho việc mua bán ruộng đất Chính Nhà nước quân chủ thời Lý – Trần đã tạo điều kiện và khẳng định quyền tư hữu về ruộng đất Năm1135, Lý Thần Tông xuống chiếu:“Những người bán ruộng ao không được bồi tiền lên mà chuộc lại, làm trái thì phải tội”[9, 27 ] Đây là một điều có tính chất nguyên tắc luật pháp khẳng định và ổn định quyền tư hữu về ruộng đất Bán đứt là bán hẳn không được chuộc lại, dù chuộc nhiều tiền hơn Trong thực tế, nếu tăng tiền chuộc lên cao để lấy về ruộng đã bán đoạn thì đó là một hành vi mua đắt, nhưng về nguyên tắc thì không được phép, vì không thể gọi đó là chuộc được Do đó, quyền tư hữu về ruộng đất, qua lệ này được khẳng định, thừa nhận, chính thức hoá và bảo vệ Cho nên 7 năm sau (1142), Lý Anh Tông lại xuống chiếu quy định bổ sung :

“Những người bán đoạn ruộng hoang, hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa Làm trái xử 80 trượng” [9, 278 ]

Nhà nước phong kiến Lý – Trần, một mặt khẳng định và bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất, mặt khác còn tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp quyền thế chiếm đoạt ruộng đất của dân thường làm của riêng Quyền tư hữu ruộng đất được phát triển và khẳng định trước hết vì lợi ích của tầng lớp thống trị

Ở thời Trần, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển lên một bước cao hơn Nhà nước không những khuyến khích mà đã ban hành nhiều văn bản

để chuyển nhượng ruộng công sang ruộng tư Việc mua bán ruộng đất được quy thức hoá trong luật về thủ tục làm văn khế: “Phàm làm chúc thư , văn khế, nếu là giấy tờ về ruộng đất vay mượn, thì người làm chứng in tay ở ba dòng trước, người bán in tay ở bốn dòng sau” [9, 15]

Như vậy là việc mua bán, chuyển nhượng đất đai đã được cụ thể hoá bằng khế ước, bằng chúc thư, bằng văn bản của Nhà nước Kể từ năm 1248, chính Nhà nước đã thực hiện một chủ trương chưa từng có trong lịch sử trung đại Việt nam là đã cho phép bán ruộng công thành ruộng tư, mỗi diện là năm quan (một diện = 1 mẫu ) Điều đó là trái với ý chí Nhà nước Lý – Trần Nhưng buộc

họ phải thực hiện và thừa nhận vì sự quản lí lỏng lẻo và là hệ quả đương nhiên

Ngày đăng: 15/07/2021, 07:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Đào Duy Anh. “Việt Nam lịch sử giáo trình”. NXB KHXH, HN, 1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam lịch sử giáo trình”
Nhà XB: NXB KHXH
2. Lê Quý Đôn. “Khâm Định việt sử thông giám Cương mục”. NXB Văn- Sử – Địa, tập 3, HN,1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm Định việt sử thông giám Cương mục”
Nhà XB: NXB Văn- Sử – Địa
3. Lê Quý Đôn. “Tam Tổ thực lục”. Bản dịch của Đại học tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tam Tổ thực lục”
4. Enghen. “Nguồn gốc của gia đình, Nhà nước và chế độ tư hữu”. NXB Sự thật, HN,1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn gốc của gia đình, Nhà nước và chế độ tư hữu”
Nhà XB: NXB Sự thật
7. Đinh Xuân Lâm (CB). “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 1, NXB Giáo dục 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại cương lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: NXB Giáodục 2000
8. Phan Huy Lê. “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ” (thế kỷ XV). NXB Văn – Sử - Địa,tập 3, 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ”
Nhà XB: NXB Văn – Sử - Địa
9. Ngô Sĩ Liên. “Đại Việt sử ký toàn thư” , NXB KH, HN, 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư”
Nhà XB: NXB KH
10. Mác. “Bàn về các xã hội tiền tư bản”. NXB KH XH, HN, 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các xã hội tiền tư bản
Nhà XB: NXB KH XH
11. Mác – Enghen. Toàn tập, tập 25, P 2 . Mát cơ va, 1962 (Nga văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
12. Nguyễn Quang Ngọc (CB). “Tiến trình lịch sử Việt Nam”. NXB GD, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiến trình lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: NXB GD
13. Trần Thế Pháp. “Lĩnh nam chích quái”. NXB VH, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lĩnh nam chích quái”
Nhà XB: NXB VH
14. Vũ Huy Phúc. “Tìm hiểu chế đô ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”. NXB KHXH, HN,1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu chế đô ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”
Nhà XB: NXB KHXH
15. Trương Hữu Quýnh- Nguyễn Đức Nghinh. “Lịch sử Việt Nam” (từ thế kỉ X - 1427). Q 2 , T 1 , NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: NXB GD
16. Trương Hữu Quýnh. “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI- XVIII”, tập 1, thế kỷ XI – XV. NXB KHXH, HN, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI- XVIII”
Nhà XB: NXB KHXH
17. Cao Hùng Trƣng. “An nam chí nguyên”. Bản dịch của Viện sử học, 1931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An nam chí nguyên
18. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học. “Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần”. NXBKHXH, HN, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu xã hội ViệtNam thời Lý – Trần”
Nhà XB: NXBKHXH
19.Lý Tế Xuyên. “Việt điện U Linh”. HN, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt điện U Linh”

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w