Các khu công nghiệp của Việt Nam đã đạt được một số thành công trong thu hút vốn FDI, khuyến khích xuất khẩu tạo công ăn việc làm.Thu hút nhiều nhà đầu tư lớn nhất đến từ Châu Á như Đài
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH TUYỂN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
( 2008 – 2012 )
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ NGA
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN TIẾN LỰC
Trang 2BIÊN HÒA 12/ 2012
LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Lạc Hồng - khoa Đông phương – nghành Nhật Bản học, em đã nhận được sự chỉ bảo và sự giúp đỡ tận tình của cha mẹ, thầy cô, anh chị em, bạn bè
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Tiến Lực đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho em tham khảo,những tài liệu quí báu làm nên luận văn này.Trong suốt thời gian qua thầy vẫn luôn dành thời gian và tâm huyết để chỉ bảo và động viên em hoàn thành bài nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn quý ban Giám hiệu các thầy cô khoa Đông phương và các thầy cô giảng dạy bộ môn tiếng Nhật trường Đại học Lạc Hồng những người đã dạy dỗ
em trong suốt quãng thời gian sinh viên của mình.Các thầy cô không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn cung cấp cho em rất nhiều kiến thức xã hội ,là nền tảng vững chắc cho em bước vào đời
Xin cám ơn các tổ chức đoàn thể đã giúp đỡ cung cấp tài liệu em trong quá trình làm bài nghiên cứu
Cám ơn các bạn đã luôn ở bên động viên em hoàn thành bài nghiên cứu
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới gia đình em, những người luôn bên cạnh tạo điều kiện tốt nhất về vật chất cũng như tinh thần cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trần Thị Nga
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 L ý do chọn đề tài 1
2 T ổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 M ục đích và nhiệm vụ của đề tài 3
4 P hạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 P hương pháp nghiên cứu 4
6 N hững đóng góp mới của đề tài 4
7 C ấu trúc đề tài 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG TÌNH HÌNH MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 6
1.1 Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai 6
1.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế chính trị xã hội Đồng Nai 7
1.3 Một số khu công nghiệp ở Đồng Nai 8
1.3.1 Một số Khu công nghiệp trên địa bàn TP Biên Hòa 8
1.3.2 Các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch 12
1.4 Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp vốn đấu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp tại Đồng Nai 15
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở ĐỒNG NAI 20
2.1 Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 2008 đến 2012 20
2.2 Tình hình tuyển dụng của doanh nghiệp Nhật Bản 22
Trang 42.2.1 Tiêu chuẩn tuyển dụng tại doanh nghiệp Nhật Bản 22
2.2.2 Thực trạng tuyển dụng của doanh nghiệp Nhật Bản 32
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 39
3.1 Những động thái xúc tiến tuyển dụng cuối năm 2012 39
3.2 Đề xuất ý kiến xây dựng nguồn nhân lực 43
3.2.1.Về phía trường Đại học Lạc Hồng 43
3.2.2.Về phía những nhân viên đang hoặc sẽ làm việc trong doanh nghiệp Nhật Bản 44
KẾT LUẬN 47
Tài Liệu Tham Khảo 48
Phụ lục 51
Phần tóm tắt luận văn bằng tiếng Nhật
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Nhắc tới Nhật Bản, người ta hay nghĩ đến một đất nước phát triển kinh tế từ đống tro tàn chiến tranh, đất nước đứng thứ 3 về tổng thu nhập quốc nội năm 2011 Trước đây Nhật Bản luôn đứng ở vị trí thứ 2 về kinh tế và mới bị Trung Quốc vượt qua vào năm 2011 Nhật Bản là một nước có nguồn vốn cho vay viện trợ và đầu tư ra nước ngoài lớn bậc nhất thế giới
Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ năn 1973 Năm
1992, Nhật Bản đã nối lại viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam Đặc biệt, ngày 1/10/2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) chính thức
có hiệu lực, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ hợp tác kinh tế hai nước Cùng các hiệp định đã kí kết trước đó, VJEPA tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Về đầu tư tính đến 20/04/2010, Nhật Bản có 1.211 dự án đầu tư trực tiếp (FDI) còn hiệu lực ở Việt Nam với tổng vốn đầu
tư đăng ký 19,34 tỷ USD đứng vị trí thứ 3/84 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam (sau Đài Loan và Hàn Quốc) Đầu năm 2011 Nhật Bản đứng hàng thứ 4/42 quốc gia và lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, với tổng số vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm 844,4 triệu USD chiếm 8,8% tổng vốn đầu tư Về viện trợ phát triển chính thức (ODA) tính đến năm 2009 khoản vay Nhật bản dành cho Việt Nam đạt 145,613
tỷ yên, với mức giải ngân là 13,8% Nhật Bản chính là nhà viện trợ phát triển chính thức lớn nhất Việt Nam
Các dự án có vốn đầu tư quốc tế đóng góp quan trọng trong tạo công ăn việc làm cho người lao đông Việt Nam Tính đến năm 2011, Việt Nam với dân số 87,5 triệu người hàng năm tăng thêm gần 1,5 triệu, đã đưa Việt Nam trở thành nước đứng thứ
13 thế giới về đông dân, gần 13000 dự án đầu tư FDI đã thu hút hơn một triệu bảy trăm ngàn lao động trực tiếp và gần 3,5 triệu lao động gián tiếp (vì theo chuyên gia lao động của Liên hiệp quốc, một người lao động trực tiếp tạo thêm việc làm cho 2 lao động gián tiếp có liên quan đến dịch vụ, cung ứng, vận tải, sản xuất sản phẩm hỗ trợ, thương mại…) Ngoài ra, hàng vạn lao động đang làm việc tại các dự án ODA, các chuyên gia cao cấp đang làm trong các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư
Trang 6nước ngoài…Tóm lại, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm nạn thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động Việt Nam Các dự án đầu tư nước ngoài không chỉ giải quyết vấn đề về số lượng lao động, mà còn góp phần nâng cao chất lượng lao động thông qua việc đào tạo nghề, huấn luyện và trình độ quản lý Nhật Bản một nước đứng thứ 4/42 nước và khu vực lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam (2011) là nhà viện trợ phát triển chính thức lớn nhất Việt Nam đã thu hút và sử dụng một lượng không nhỏ nguồn lao động tai Việt Nam Nếu chúng ta đáp ứng được nhu cầu về lao động của các công ty Nhật Bản có mặt tại địa phương sẽ góp phần rất lớn về giải quyết việc làm cho lao động thất nghiệp trong vùng Tuy nhiên
có một thực tế là trong khi các doanh nghiệp thiếu hụt lao động thì một lượng lớn lao động đang trong tình trạng thất nghiệp Nguyên nhân là do nguồn cung lao động không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng về chuyên môn, kỹ thuật hay sự lành nghề Vậy thực tế tuyển các nhà tuyển dụng Nhật Bản cần nguồn lao động như thế nào ?
Với lợi thế nhân công rẻ Việt Nam và đặc biệt các khu công nghiệp đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Các khu công nghiệp của Việt Nam đã đạt được một số thành công trong thu hút vốn FDI, khuyến khích xuất khẩu tạo công ăn việc làm.Thu hút nhiều nhà đầu tư lớn nhất đến từ Châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Hồng Kông Tạo ra một nhu cầu lớn về nhân sự Năm 2000 khoảng 200.000 người đến năm 2006 có khoảng 918.000 lần lượt chiếm khoảng 12,5% và 27% tổng số lao động trong khu vực sản xuất của cả nước
Để tìm hiểu sâu hơn về việc sử dụng lao động của công ty Nhật Bản vào các khu công nghiệp tôi dự định tiến hành điều tra thực địa tại Đồng Nai Đồng Nai được chọn cho việc tiến hành điều tra bởi vì, khu công nghiệp tại Biên Hòa – Đồng Nai có lịch sử ra đời sớm nhất nước (khu công nghiệp biên hòa 1 thành lập năm 1963 với tên gọi khu kỹ nghệ Biên Hòa – TP Biên Hòa – Đồng Nai), tính đến nay đã có 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trên địa bàn, với tỷ lệ sử dụng đất lên tới khoảng 70% – 90% Trong đó có khoảng 100 doanh nghiệp Nhật Bản đã được cấp phép kinh doanh, đứng thứ 4/32 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trên địa bàn
Với những lý do trên tôi chọn đề tài : “Tìm hiểu tình hình tuyển dụng của doanh
nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại một số khu công nghiệp trên địa bàn Đồng Nai 2008-2012”
Trang 72 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài:
Trần Thị Linh (2005) với đề tài “Sự thay đổi trong tuyển dụng của các công ty
Nhật Bản”đã nêu được khái quát về cơ chế tuyển dụng tại các công ty Nhật Bản và
các thay đổi trong các năm gần đây
Jago Penrose và Đinh Minh Tuấn, Đánh giá vai trò của khu công nghiệp trong
phát triển kinh tế Việt Nam, trong Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam
2010,Nguyễn Đức Thành (chủ biên), Hà Nội, Nhà xuất bản tri thức, 281-310 Đề tài
đã đưa ra đánh giá vai trò của các khu công nghiệp trong sự phát triển nền kinh tế, cũng như có nhận định về tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với các khu công nghiệp
Tuy nhiên các đề tài chưa đi sâu vào vấn đề các công ty Nhật Bản đã sử dụng nguồn nhân lực tại Việt Nam nói chung Đồng Nai nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Trình bày một cách có hệ thống thực trạng tuyển dụng nhân viên tại các công ty Nhật Bản ở khu công nghiệp Biên Hòa 2008- 2012cũng như các chính sách xúc tiến đầu tư của Nhật Bản tại khu công nghiệp Biên Hòa – Đồng Nai đặc biệt là các chính sách của Đồng Nai dành cho các doanh nghiệp tại khu công nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhật Bản.Từ đó đưa ra các ý kiến nhằm góp ý về vấn đề xây dựng chế độ đào tạo nguồn nhân lực cho vùng
4 Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng là các công ty Nhật, hay công ty có vốn đầu tư của Nhật Bản tại khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Tìm hiểu về thực trạng sử dụng lao động của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Đổng Nai với mong muốn hiểu rõ hơn về tình hình tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp Nhật Bản đồng thời góp phần làm cho khu công nghiệp ngày càng phát triển giúp ích cho nền kinh tế nước nhà
Đề tài giới hạn phạm vi tìm hiểu doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại một số khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai Trong đó đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tuyển dụng của các doanh nghiệp Nếu có cơ hội nghiên cứu sâu
Trang 8hơn người viết muốn phác họa một cách rõ nét hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng lao động trong doanh nghiệp Nhật Bản, cách sử dụng nhân tài, quá trình học tập nâng cao tay nghề cải tiến phương thức sản xuất, các vấn đề liên quan đến người lao động tại các doanh nghiệp Nhật Bản…một cách chi tiết và đầy đủ
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để có thể hoàn thành bài nghiên cứu này người viết đã sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích, so sánh dựa trên các nguồn tài liệu về các vấn đề tuyển dụng nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản Đồng thời tiến hành khảo sát tại các buổi phỏng vấn tuyển dụng cũng như các phiên làm việc của trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
6 Những đóng góp mới của đề tài:
Trình bày một cách có hệ thống thực trạng tuyển dụng các công ty Nhật Bản ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai 2008-2012 và nhu cầu tuyển dụng trong những năm tới
Chỉ rõ những bất cập trong công tác đào tạo nguồn nhân lực so với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Nhật Bản
Đề xuất các giải pháp đào tạo nhằm nâng cao khả năng ra trường có việc làm của sinh viên, nhất là sinh viên Trường Đại học Lạc Hồng
7 Cấu trúc đề tài:
Tên đề tài: “Tìm hiểu tình hình tuyển dụng nhân sự của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại một số khu công nghiệp trên địa bàn TP.Biên Hòa - Đồng Nai”
Cấu trúc đề tài:
Chương 1: Khái quát chung khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Chương 2 : Thực trạng tuyển dụng tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản tại Đồng Nai
Chương 3 : các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Trang 9PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI
1.1 Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam, có diện tích 5.903.940
km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Dân số khoảng 2,56 triệu người, trong đó: dân số khu vực thành thị 33,23%, khu vực nông thôn 66,73%;Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh tiếp giáp với các vùng sau: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Đồng Nai có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến giao thông huyết mạch quốc gia đi qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cụm Cảng Thị Vải - Vũng Tàu
… đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên
Hiện tại chính phủ đã khởi công xây dựng các dự án giao thông liên kết vùng: Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây; Nâng cấp Quốc Lộ 51 Biên Hòa
- Vũng Tàu; và đang có kế hoạch triển khai đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng :
- Sân bay quốc tế Long Thành 100 triệu khách/năm và 5 triệu tấn hàng /năm
- Cảng nước sâu Phước An, trọng tải tàu 60.000 DWT Cụm cảng biển nhóm V huyện Nhơn Trạch trọng tải tàu 30.000 DWT
- Tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu
Trang 10- Đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu
- Dự án cầu đường từ Quận 9 TP.HCM sang Nhơn Trạch, Đồng Nai
- Các tuyến đường Vành đai 3, 4 nối các địa phương vùng kinh tế trọng điểm
1.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế chính trị xã hội Đồng Nai
- Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác,
có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc Nam, chủ yếu là địa hình đồng bằng, địa hình đồi lượn sóng, địa hình núi thấp, tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 80, kết cấu đất có độ cứng chịu nén tốt (trên 2kg/cm2), thuận lợi cho việc đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng công trình với chi phí thấp
Nguồn nhân lực:
- Đồng Nai có tháp dân số trẻ, dân số trong độ tuổi lao động 65,54% (Khoảng 1,63 triệu lao động), lực lượng lao động có trình độ văn hoá khá, quen với tác
Trang 11phong công nghiệp, cần cù và cầu tiến Tỷ lệ lao động được đào tạo trên tổng số lao động đang làm việc khoảng 53%
- Năm 2010, tổng số học sinh toàn tỉnh đang theo học tại các bậc giáo dục phổ thông là 523.500 học sinh; Số sinh viên Đại học, cao đẳng đạt tỷ lệ 220 người /vạn dân
- Số lượng các trường, đơn vị dạy nghề trên địa bàn tỉnh trên 100 cơ sở, trong đó
4 trường Đại học, 8 trường Cao đẳng, 16 Trường Trung cấp nghề, 73 Trung tâm và đơn vị dạy nghề Nhiều trường mới đang được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao của xã hội và doanh nghiệp
Tình hình phát triển kinh tế: tăng trưởng kinh tếTốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Đồng Nai giai đoạn giai đoạn 2006-2010 là 13,2%; và giai đoạn 2011-2015 dự kiến tăng từ 13-14%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 tương đương 1.630 USD.Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, đến năm 2010 ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57,2%; ngành dịch
vụ chiếm 34,1%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 8,7%.[20]
1.3 Một số khu công nghiệp ở Đồng Nai
1.3.1 Khu công nghiệp trên địa bàn TP Biên Hòa
1.3.1.1 Khu công nghiệp Amata
Khu công nghiệp Amata thuộc tỉnh Đồng Nai Nằm trên đầu mối giao thông quan trọng của khu vực kinh tế trọng điểm phía nam có nhiều điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy và hàng không để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội Khu công nghiệp Amata Biên Hòa là liên doanh giữa tập đoàn Amata của Thái Lan với doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp Biên Hòa(sonadezi) của tỉnh Đồng Nai,
đi vào hoạt động từ năm 1995, với vốn đầu tư ban đầu là 17 triệu dollars Mỹ, Việt Nam góp 30% vốn, chuyên xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các doanh nghiệp thuê cơ sở
hạ tầng.Được chính phủ phê duyệt xây dựng cơ sở hạ tầng trên 129ha
Khu công nghiệp Amata là một trong số ít các khu công nghiệp được chính phủ cấp phép mở rộng quy mô lần 2 Hiện nay quy mô, diện tích điều chỉnh và mở rộng quy hoạch: 494.68ha bao gồm:Giai đoạn I và II 393,12ha; Giai đoạn II mở rộng lần 1: 46,12ha và Giai đoạn II mở rộng lần 2: 55,44ha
Trang 12Hiện nay, với tổng diện tích 361ha, khu công nghiệp Amata, tỉnh Đồng Nai đang thu hút đầu tư nhiều ngành nghề như: Máy vi tính và phụ kiện; Thực phẩm, chế biến thực phẩm; chế tạo, lắp ráp điện, cơ khí, điện tử; Sản phẩm da, dệt, may mặc, len,giầy dép; Hàng nữ trang, mỹ nghệ, mỹ phẩm; dụng cụ thể thao, đồ chơi; Sản phẩm nhựa, bao bì; Sản phẩm từ cao su, gốm sứ, thủy tinh; Kết cấu kim loại; Vật liệu xây dựng; Sản xuất phụ tùng, chế tạo ô tô; Dược phẩm nông dược thuốc diệt côn trùng; Hóa chất, sợi Pe, hạt nhựa, bột màu công nghiệp,…
Đây là khu công nghiệp có hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại, đồng bộ nhất hiện nay ở Đồng Nai Cụ thể là trong nhiều năm qua ngành Giao thông Vận tải đã không ngừng phấn đấu, từng bước xây dựng hệ thống giao thông, phục vụ kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực Ban quản lý khu công nghiệp Amata Biên Hòa vừa quyết định đầu tư thêm 25 triệu USD để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, các công trình tiện ích Đây là 1 trong 10 khu công nghiệp đầu tiên của Đồng Nai được phép mở rộng giai đoạn 2 nhằm thu hút và đáp ứng tốt hơn nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp nước ngòai Và hiện tại đã có hơn
100 dự án FDI thuê đất của khu công nghiệp Amata Biên Hòa với tổng số vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD thu hút hơn 16.000 lao động Phần lớn các dự án FDI thuê đất đến từ Nhật Bản và cộng Hòa Pháp có trình độ công nghệ cao ít gây ô nhiễm môi trường Sau gần 10 năm đi vào hoạt động, khu công nghiệp amata Biên Hòa đã thu hút 40 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn hơn 300 triệu USD Doanh thu của khu công nghiệp amata Biên Hòa thời gian qua đã đạt hơn 20 triệu USD, lãi 2,3 triệu USD, nộp vào ngân sách nhà nước 22,5 tỷ đồng Và hiện nay đang có rất nhiều dự án chuẩn bị đầu tư vào khu công nghiệp này
1.3.1.2 Khu công nghiệp Biên Hòa II:
Khu công nghiệp Biên Hòa II thụôc tỉnh Đồng Nai Được thành lập năm 1995, Khu công nghiệp Biên Hòa II là một trong những bước đi tiên phong trong việc phát triển khu công nghiệp ở khu vực Đồng Nai cũng như ở Việt Nam của doanh nghiệp Phát triển Khu công nghiệp Biên Hòa (sonadezi Biên Hòa)
Khu công nghiệp Biên Hòa II nằm trên quốc lộ 1A thuộc phường Long Bình- TP Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai Nằm giáp trung tâm siêu thị Big C Nằm tại vị trí thuận lợi như phía tây bắc giáp quốc lộ 1, Phía đông bắc giáp quốc lộ 15A, phía tây nam giáp
Trang 13quốc lộ 51 (điểm giao lộ giữa Đồng Nai – TP Hồ Chí Minh – Vũng Tàu) và được trang
bị hệ thống đồng bộ Khu công nghiệp Biên Hòa II đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư đến Đồng Nai Kết quả là khu công nghiệp này đã được lấp đầy năm 2002 với 116 dự
án đầu tư với tổng số vốn đầu tư trị giá lên đến 1,3 tỷ USD
Hiện nay, khu công nghiệp Biên Hòa II, tỉnh Đồng Nai đang thu hút đầu tư nhiều ngành nghề như: Cơ khí; Điện, điện tử; Gia công may mặc, dệt; Giày da, chế biến cao su; Đồ gỗ gia dụng; Thực phẩm; sản xuất lắp ráp các thiết bị phụ tùng thay thế; Vật liệu Xây dựng; Chế tác đồ trang sức; Hóa Dược, hóa chất và liên quan đến hóa chất; Kinh doanh dịch vụ kho bãi …
1.3.1.3 Khu công nghiệp LOTECO:
Doanh nghiệp phát triển Khu Công Nghiệp Long Bình (LOTECO) là một Liên
Doanh giữa tập đoàn thương mại và đầu tư Nhật Bản (SOJITZ) và Doanh nghiệp Thái Sơn, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh Bất Động Sản trực thuộc Bộ Quốc Phòng (THASIMEX) Tổng vốn đầu tư ban đầu cuả Liên Doanh là 41 triệu USD với vốn pháp định là 12,5 triệu USD, trong đó đối tác Nhật Bản góp 60% và đối tác Việt Nam góp 40%
Khu Công Nghiệp Long Bình (LOTECO) được thành lập vào ngày 10 tháng 4 năm
1996 với mục đích phát triển Khu công nghiệp và khu chế xuất tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam Hiện nay 100% diện tích đất đã được lấp kín (cho thuê) Tổng diện tích phát triển là 200ha ( bao gồm 13 ha khu chế xuất) được chia làm
2 giai đoạn bao gồm: giai đoạn 1: 100ha trong đó 43,75ha thụôc về Khu Chế Xuất và giai đoạn 2: 100ha được triển khai vào cuối năm 2007
Đường giao thông nội bộ và hệ thống cấp thoát nước hoàn chỉnh Có nhà máy cấp phát điện từ Nhà máy điện công suất 3,2 MW và từ điện lưới quốc gia qua trạm biến
áp 40 MVA
Hiện nay, với diện tích 200ha, Khu công nghiệp Long Bình (LOTECO) tỉnh Đồng
Nai đang thu hút đầu tư nhiều ngành nghề như:Cơ khí, Điện, Điện tử;Dệt; May mặc; Da; Giày; Thực phẩm; Dược phẩm; Hóa chất; Mỹ nghệ, Mỹ phẩm; Dụng cụ thể thao; Thiết bị y tế; Sản phẩm nhựa; Sản phẩm gốm, sứ, thủy tinh, pha lê; Vật liệu xây dựng;
Bao bì; Công nghiệp giấy (không có công đoạn sản xuất bột giấy) Khu Công Nghiệp
Trang 14Long Bình (LOTECO) là một điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư không chỉ vì nơi
đây có điều kiện thuận lợi về giao thông
1.3.1.4 Khu công nghiệp Biên Hòa 1:
Được chính phủ cấp phép xây dựng từ năm 2000, do Doanh nghiệp Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi) tiến hành đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Với tổng diện tích 335 ha Hiện đã cho thuê tỉ lệ đất đạt 100%
Hệ thống đường giao thông nội bộ và hệ thống cấp thoát nước đang được xây dụng hoàn chỉnh Hiện nay hệ thống cấp nước của khu công nghiệp đáp ứng đủ nhu cầu (hiện tại 25.000 m3/ngày) Có hệ thống cấp điện từ điện lưới quốc gia qua trạm biến
áp 2x40 MVA Nước thải được xử lý tại Nhà máy xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp Biên Hòa II với công suất hiện tại 4.000 m3/ngày (công suất thiết kế
8.000m3/ngày).Hiện nay, với diện tích hơn 300ha, Khu Công Nghiệp Biên Hòa I tỉnh
Đồng Nai đang thu hút đầu tư nhiều ngành nghề như :Vật liệu xây dựng; Điện, Điện tử; Kim khí; Dệt may; Thuỷ tinh; Ván ép; Cao su chất dẻo; Thực phẩm; Hóa phẩm; Giấy; Sơn
1.3.1.5 Khu công nghiệp Agtex Long Bình:
Khu công nghiệp Agtex Long Bình do Doanh nghiệp 28 chịu trách nhiệm xây dựng,
đi vào hoạt động từ 26/06/2007, với vốn đầu tư ban đầu là 17 triệu dollars Mỹ, Việt Nam góp 30% vốn, chuyên xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các doanh nghiệp thuê cơ sở
hạ tầng.Được chính phủ phê duyệt xây dựng cơ sở hạ tầng trên 43ha Đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển hạ tầng (88%)
Các ngành nghề thu hút đầu tư: Vật liệu xây dựng (bêtông đúc, gạch, tấm lợp); Đóng giày; Dệt (không nhuộm); Cơ khí; Điện tử; Sản xuất đồ gỗ; Thiết bị nội thất;
Bao bì các loại
1.3.2 Các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch
Tính đến năm 2012 trên địa bàn tỉnh Nhơ Trạch đã được chính phủ cấp phép xây dựng 8 khu công nghiệp bao gồm: Khu công nghiệp Nhơn Trạch I; Khu công nghiệp Nhơn Trạch II; Khu công nghiệp Nhơn Trạch III; Khu công nghiệp Nhơn Trạch V; Khu công nghiệp Nhơn Trạch II – Nhơn Phú; Khu công nghiệp Nhơn Trạch II Lộc
Trang 15Khang; Khu công nghiệp Dệt may Nhơn Trạch; Khu công nghiệp Nhơn Trạch Ông Kèo Các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch với tổng diện tích đất được cấp phép xây dựng trên 1400ha từ 1997-2003, tuy nhiên hiện nay các khu công nghiệp này còn đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng Các khu công nghiệp có vị trí địa lý khá thuận lợi phù hợp cho việc phát triển Tuy nhiên hiện nay tỷ
lệ đất đã cho thuê tại khu vực còn thấp, cơ sở vật chất hạ tầng còn chưa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp muốn đến địa bàn đầu tư
Điều kiện thuận lợi của các khu công nghiệp trên địa bàn Nhơn Trạch:
- Cảng Phú Mỹ khoảng 22km (Đảm bảo cho tàu 72.000 tấn cập bến và bốc dỡ container và các thiết bị máy móc quá khổ, quá tải) Cảng Gò Dầu khoảng 15km (Đảm bảo cho tàu 15.000 tấn cập bến và bốc dỡ container, hàng hóa và các thiết bị máy móc)
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch 1 nằm ở trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh-Biên Hòa-Vũng Tàu Đây là địa điểm rất thuận lợi với chi phí thấp nhất để cung cấp hàng hóa cho 3 khu vực tiêu thụ lớn của Việt Nam là: Thành phố Vũng Tàu có dân số 2.000.000 người (cách 60km), Thành phố Biên Hòa có dân số 900.000 người (cách 40km), Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 5.000.000 người (cách 60km) và đây cũng là vị trí thuận lợi để cung cấp hàng hóa đi mọi nơi trên đất nước Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới.Do Khu công nghiệp nằm trong thành phố mới đang hình thành và phát triển nên lực lượng lao động ở đây rất dồi dào với mức lương trung bình đối với lao động phổ thông từ 70- 100USD/ tháng
- Ngoài ra khu vực dân cư xung quanh Khu công nghiệp Nhơn Trạch hoàn toàn có thể đáp ứng đầy đủ công nhân cho các dự án đầu tư vào khu công nghiệp.Các doanh nghiệp khu công nghiệp áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp là 20% trong
10 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất kinh doanh và 28% trong các năm tiếp theo Các doanh nghiệp Khu công nghiệp được miễn thuế 02 năm và giảm 50% cho 03 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Lợi nhuận
mà nhà đầu tư nước ngoài thu được do đầu tư tại VN, nếu chuyển ra nước ngoài hoặc giữ lại ngoài Việt Nam đều không phải nộp thuế cho phần lợi nhuận này (Thông tư số 26/2004/TT-BTC ngày 31/03/2004 của Bộ Tài Chính) Doanh nghiệp được miễn thuế nhập khẩu và thuế VAT đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định gồm: Thiết
bị máy móc, vật tư XD mà trong nước chưa sản xuất được; Phương tiện vận tải chuyên
Trang 16dùng nằm trong dây chuyền công nghệ; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên và các linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ kiện, phụ tùng… đi kèm; Nguyên liệu vật tư nhập khầu dùng để chế tạo thiết bị, máy móc trong dây chuyền sản xuất hoặc chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời…đi kèm với thiết bị máy móc Dự án Sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất
Đối với nguyên liệu, vật tư, bộ phận rời phục vụ gia công hàng xuất khẩu cho phía nước ngòai theo hợp đồng gia công đã ký kết thì được miễn thuế nhập khẩu Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được tạm chưa nộp thuế nhập khẩu trong thời gian quy định tại luật Thuế nhập khẩu và khi xuất khẩu thành phẩm được hoàn thuế nhập khẩu số nguyên liệu, vật tư đã nhập theo tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ thành phẩm xuất khẩu Trong thời gian tạm chưa nộp thuế nhập khẩu được tạm chưa nộp thuế VAT
Bán sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất từ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu bán cho các doanh nghiệp khác để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu được hoàn thuế nhập khẩu, thuế VAT tương ứng với số sản phẩm đã xuất khẩu
Vị trí địa lý Khu công nghiệp trên địa bàn Nhơn Trạch bao gồm: Đường bộ là khu công nghiệp Nhơn Trạch nằm ở trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu, thuận lợi về vận chuyển đường bộ và đường thủy Khoảng cách từ Khu công nghiệp Nhơn Trạch I tới TP Hồ Chí Minh là khoảng 60 Km, tới Thành phố Biên Hoà là 40km, tới Thành phố Vũng Tàu là 60km Trong tương lai khi dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đi vào hoạt động thì khoảng cách từ Khu công nghiệp Nhơn Trạch tới Thành phố
Hồ Chí Minh được rút ngắn chỉ còn khoảng 25km.; Đường thủy: Huyện Nhơn Trạch 1 cách: Cảng Sài Gòn 48 km; Cảng Vũng Tàu 60km; Cảng Phú Mỹ 22km (Đảm bảo cho tàu 72.000 tấn cập bến và bốc dỡ container và các thiết bị máy móc quá khổ, quá tải); Cảng Gò Dầu 15km (Đảm bảo cho tàu 15.000 tấn cập bến và bốc dỡ container, hàng hóa và các thiết bị máy móc)
Trong tương lai hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như trục đường bộ các nước khu vực Đông Nam Á, đường cao tốc nối TP Hồ Chí Minh với Bà Rịa - Vũng Tàu, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng
Trang 17Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore - Côn Minh (Trung quốc) có 50 km chạy qua Đồng Nai để hòa vào mạng lưới đường sắt Bắc - Nam được cải tạo theo tiêu chuẩn quốc tế
1.4 Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp vốn đấu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp tại Đồng Nai
Tỉnh Đồng Nai là địa phương đi đầu trong cả nước về xây dựng và phát triển Khu công nghiệp Các Khu công nghiệp của Đồng Nai phát triển mạnh cả về số lượng, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài lẫn diện tích đất cho thuê Đồng Nai, nơi thu hút FDI hàng đầu của cả nước Từ nhiều năm nay, Đồng Nai là địa phương nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Trong giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn FDI vào Đồng Nai tiếp tục tăng mạnh, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn phát triển nhanh Đồng Nai cũng là một trong số ít địa phương thu hút được nhiều dự án có qui mô vốn trên 100 triệu USD (Formosa – Đài Loan, Vedan – Singapore & Đài Loan, Hualon – Malaysia & Đài Loan, Fujitsu – Nhật Bản …) Vốn đầu tư nước ngoài
đã thật sự trở thành nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển sản xuất, tạo nguồn thu ngân sách lớn, góp phần phát triển kinh tế địa phương, nhất là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Nhiều chương trình xúc tiến thương mại, đầu
tư trong và ngoài nước đã được lãnh đạo tỉnh Đồng Nai tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, tạo tiền đề thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế Bên cạnh đó, các loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải, du lịch, tài chính – tín dụng, … cũng được đầu tư kịp thời
Năm 2007 Việt Nam gia nhập tổ chức WTO kết quả là năm 2008 là năm các doanh nghiệp ồ ạt đầu tư vào Việt Nam các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp Việt Nam
đã tăng từ mức vài triệu USD năm 1991 lên khoảng 10 tỷ vào năm 2000 và 41 tỷ vào năm 2008 Các nhà đầu tư dần chú trọng đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên vào những năm gần đây sự đầu tư đang có dấu hiệu chững lại Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ
Kế hoạch và đầu tư), ước tính tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cả nước trong 6 tháng đầu năm nay đạt gần 6,4 tỷ USD, giảm hơn 27% so với cùng kỳ năm trước Vốn FDI cũng giảm cả về số lượng dự án lẫn vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước (giảm 25%)
Trang 18Trong báo cáo kết quả khảo sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp của Nhật Bản tại Việt Nam của ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, các dự
án đầu tư vào Việt Nam được phân bổ trên 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam, trong đó tập trung số lượng dự án và tổng vốn đầu tư lớn vào thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương Trong số các nhà đầu tư tại Việt Nam, Nhật Bản đang là đối tác dẫn đầu cả về số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư tiếp theo
là Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.[1]
Về lĩnh vực hoạt động, số lượng lớn dự án chủ yếu thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, thông tin và truyền thông, nông lâm nghiệp, thủy sản, khoa học công nghệ
Tình hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tính đến ngày 20 tháng 9 năm 2012, Nhật Bản có 1.758 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 28,6 tỷ USD đứng thứ nhất trên 96 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Riêng 9 tháng đầu năm 2012, tổng số dự án đầu tư đăng ký của Nhật Bản tại Việt Nam là 203 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới là 3,7 tỷ USD Bên cạnh đó có 82 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm gần 955 triệu USD Như vậy tính
cả vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm của các dự án đầu tư Nhật Bản là 4,67 tỷ USD Tại Đồng Nai trong 06 tháng đầu năm 2012 tại 31 khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
có thêm 30 dự án vốn đầu tư mới, trong đó có 25 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đăng ký 565,8 triệu USD,điều chỉnh tăng vốn của 31 dự án với tổng số vốn tăng là 317,19 triệu USD và 616,51 tỷ đồng Kết quả thu hút đầu tư FDI trong 06 tháng đầu năm 2012 đạt 882,99 triệu USD đạt 103% so với kế hoạch năm.(850 triệu USD) Dự án lớn nhất có tổng vốn đầu tư lên đến 441 triệu USD trên diện tích 55 hécta của Doanh nghiệp TNHH sản xuất toàn cầu Lixil Việt Nam (Nhật Bản) chuyên sản xuất sản phẩm phục vụ trong ngành xây dựng tại khu công nghiệp Long Đức (Long Thành) Ngoài ra, còn có các dự án quy mô tương đối lớn từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hà Lan… như dự án của Doanh nghiệp cổ phần Quang Hưng Plus (Liên doanh Việt - Nhật) có vốn 10 triệu USD; dự án của Doanh nghiệp TNHH thực phẩm House Việt Nam (Nhật Bản) có vốn 14 triệu USD; dự án của Doanh nghiệp TNHH công nghiệp thực phẩm Viễn Dương (Cộng hòa Seychelles nằm ở châu Phi) có vốn 5 triệu USD, Hisamitsu (Nhật Bản) với gần 18 triệu USD, Akzo Nobel (Hà Lan) với vốn đầu tư 12 triệu USD…
Trang 19Tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 1.000 dự án còn hiệu lực của các nhà đầu tư đến từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký trên 18,29 tỷ USD Các dự án FDI đã tạo việc làm cho khoảng 350.000 lao động Trong giai đoạn từ 2006 - 2010, Đồng Nai cấp mới 470 giấy chứng nhận FDI có tổng vốn đăng ký lên đến hàng tỷ USD, tăng bình quân hàng năm 32% Hiện nay, Đồng Nai có 30 khu công nghiệp được cấp phép hoạt động và đã cho thuê trên 60% diện tích đất Tính đến 2012 tại Đồng Nai có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tư với tổng số 1.177 dự án còn hiệu lực trong
đó có 858 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tỏng số vốn đầu tư 14.426,80 triệu USD Với tỷ lệ triển khai thực hiện khá tốt 707 dự án hoạt động với tổng số vốn hơn 12.000 triệu USD; 22 dự án đang xây dựng với tổng số vốn hơn 500,00 triệu USD; 63
dự án chưa triển khai xây dựng ; 66 dự án ngưng hoạt động Hiện tại, các doanh nghiệp có vốn FDI đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, chiếm 41% cơ cấu kinh tế, 60% giá trị sản lượng công nghiệp và 90% kim ngạch xuất khẩu Thu hút vốn FDI đã bổ sung nguồn vốn và công nghệ rất quan trọng cho phát triển, tạo điều kiện tiếp cận thị trường thế giới, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, góp phần tăng trưởng GDP, tăng thu ngân sách nhà nước Trong thu hút vốn FDI của Đồng Nai 5 năm qua là sự dịch chuyển về ngành nghề và loại hình Đồng Nai đã chủ trương nâng một bước về chất lượng thu hút các dự án FDI, tập trung thu hút những dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ, dự án có công nghệ cao và thân thiện với môi trường Cụ thể, năm 2006, thu hút dự án nhà ở, dịch vụ, công nghệ cao chiếm 29% tổng vốn đăng ký mới; đến năm 2008, số dự án này chiếm 84% và năm 2009 chiếm 87,6%
Trong 5 năm qua, nhiều doanh nghiệp FDI cũng đánh giá cao sự hỗ trợ của chính quyền tỉnh Đồng Nai trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh, nhất là về các lĩnh vực: cấp phép đầu tư, hỗ trợ triển khai thực hiện dự án,
hỗ trợ triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Với khẩu hiệu hành động: “Chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp” và “Chính quyền đối thoại với doanh nghiệp”, tỉnh đã thể hiện ý chí trong thu hút và nuôi dưỡng sự phát triển các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Chủ trương “Chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp” được thể hiện rõ qua việc rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính, như việc cấp giấy phép đầu tư từ 15 ngày được rút ngắn chỉ còn 3 - 5 ngày, cá biệt có một số dự án được cấp phép trong 1 ngày; cấp giấy chứng chỉ C/O Form D
Trang 20trong 2 giờ Theo ý kiến chung của các nhà đầu tư, phần lớn các doanh nghiệp FDI có
kế hoạch kinh doanh lâu dài tại Đồng Nai, trong quá trình hoạt động có trên 90% doanh nghiệp tăng vốn Điều này cho thấy, các nhà đầu tư thật sự tin tưởng chính sách thu hút vốn FDI của Đồng Nai.[20]
Qua các số liệu trên cho ta thấy tuy nền kinh tế thế giới đang gặp phải nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế thì nền kinh tế Việt Nam nhất là tại Đồng Nai vẫn là một điểm đến lý tưởng được nhiều nhà đầu tư lựa chọn Hiện nay, việc mở rộng sản xuất hay phát triển đầu tư trong nền kinh tế còn nhiều biến động là điều làm các nhà đầu tư phải trăn trở rất lớn Nhận xét về nguyên nhân việc các doanh nghiệp nước ngoài quyết định đầu tư vào các Khu công nghiệp Đồng Nai dù tình hình kinh tế thế giới vẫn còn nhiều khó khăn, khách quan là do kinh tế thế giới đã khó khăn mấy năm qua, hoạt động đầu tư của DN nước ngoài cũng đã chựng lại khá lâu và giai đoạn này, họ nghĩ đến việc tái đầu tư mở rộng, đặc biệt với nhiều quốc gia châu Á như Nhật hay Hàn Quốc…Về phía chủ quan, Đồng Nai ngày càng làm tốt hơn công tác xúc tiến đầu tư và cung cấp thông tin, thể hiện qua sự chủ động, linh hoạt thông qua các hoạt động xúc tiến trực tiếp trong và ngoài nước Mới đây nhất, chuyến đi xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản của tỉnh cũng gặt hái khá nhiều thành công
Theo Diza (Ban quản lý khu công nghiệp), thời điểm này và về sau là lúc thay đổi quyết liệt về quan điểm xúc tiến đầu tư và định hướng thu hút vốn FDI của tỉnh Theo
đó, đối tượng lựa chọn để xúc tiến đầu tư trong các năm tới sẽ là các DN thuộc các nước và vùng lãnh thổ tiềm năng như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu, các nước công nghiệp mới (NICs)…
Mặt khác, cũng có sự thay đổi trong cơ cấu các ngành nghề kêu gọi đầu tư Đồng Nai sẽ không đặt mục tiêu kêu gọi các dự án có vốn lớn nhằm “lấp đầy” các Khu công nghiệp mà chú trọng vào chất lượng dự án, ưu tiên các ngành nghề thuộc nhóm công nghệ kỹ thuật cao, điện - điện tử, công nghiệp hỗ trợ…
Dù trên bình diện chung của cả nước, thu hút FDI có giảm, song ở những địa bàn nhiều lợi thế về vị trí, kinh nghiệm vận động đầu tư… như Đồng Nai, vốn FDI thu hút vào các khu công nghiệp vẫn tăng
Tiểu kết : Đồng Nai với điều kiện thuận lợi không chỉ về kinh tế văn hóa xã hội mà còn có sự chỉ đạo đúng đắn của các cấp lãnh đạo thể hiện rõ rệt qua các chính sách ủng
Trang 21hộ đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, cũng như sự thông thoáng trong cơ chế tăng cường đầu tư đối với các doanh nghiệp nước ngoài thực sự là một điểm đầu tư lý tưởng trong thời gian qua
Trang 22CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở ĐỒNG NAI
2.1 Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2008 đến 2012
Khái quát nhân tố khách quan ảnh hưởng tới sự đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam từ 2008-2012
Năm 2008 được xem là 1 năm cột mốc quan trọng trong xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược Việt NamNhật Bản Một năm sau ngày Việt Nam gia nhập tổ chức WTO (1/2007) Nhật Bản – Việt Nam đã ký hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt Nhật - 日越経済連携協定 - tiếng Anh là Japan – Viet Nam Economic Partnership Agreement (JVEPA) ký kết ngày 25-12 -2008, cùng với hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản – ASEAN đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển mối quan hệ thương mại giữa hai nước [8]
Nhật Bản là nhà đầu tư trực tiếp lớn thứ 3 vào Việt Nam tính đến năm 2009 vốn FDI của Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam là hơn 16 tỷ USD Theo điều tra hang năm vừa công bố gần đây của tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản được tiến hành trên 1.745 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Châu Á, Việt Nam được đánh giá rất cao về triển vọng đầu tư cả trung và dài hạn Về trung hạn, có 92,6 doanh nghiệp sản xuất và 88% doanh nghiệp dịch vụ dự định mở chi nhánh kinh doanh tại Việt Nam trong vòng 1 - 2 năm tới Còn về dài hạn, trong vòng 5 - 10 năm tới Việt Nam được đánh giá là địa điểm sản xuất tốt nhất ở Châu Á
Các doanh nghiệp Nhật Bản tại Đồng Nai
Hiện nay có gần 100 doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản trên các Khu công nghiệp thuộc địa bàn Tỉnh Đồng Nai, trong đó có 84 doanh nghiệp là 100% vốn đầu tư Nhật Bản Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở khu công nghiệp Amata, Biên Hòa II (thuộc TP Biên Hòa) và một số các khu công nghiệp khác Với các ngành nghề thu hút đầu tư: Điện tử; hóa chất; hóa mỹ phẩm; sản xuất linh kiện, bộ phận của máy móc thiết bị….Các dự án xây dựng tập trung chủ yếu vào hạng mục gia công chế tạo một phần công đoạn hay bộ phận của sản phẩm Vì lẽ đó mà nguồn nhân công tuyển dụng trong suốt thời gian qua của các doanh nghiệp chủ yếu là lao đông phổ thông chiếm hơn
Trang 2380% tổng số lao động tại các khu công nghiệp gần 15% là lao động chuyên môn kỹ thuật trong nước và khoảng 3% là các chuyên gia nước ngoài
Ðồng Nai cùng với sự phối hợp của Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại TP Hồ Chí Minh và Việt Nam, UBND tỉnh Ðồng Nai
đã tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư Nhật Bản vào tỉnh Ðồng Nai Hơn 160 doanh nghiệp Nhật Bản tham gia hội nghị Các doanh nghiệpNhật Bản quan tâm đến lĩnh vực đầu tư công nghiệp phụ trợ, công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, chính sách ưu đãi về thuế, cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp phép đầu tư, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế trong việc thu hút đầu tư của Ðồng Nai như: cơ sở hạ tầng giao thông chưa hoàn thiện; điện cung cấp sản xuất chưa ổn định; các quy định thủ tục hành chính tuy đã được cải thiện nhiều nhưng một số lĩnh vực vẫn còn phức tạp, mất nhiều thời gian, cần tiếp tục cải thiện thêm
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, trong 6 tháng qua, dòng vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam là 4,16 tỷ USD, chiếm đến hơn 65% tổng vốn vào Việt Nam nửa đầu năm 2012 và là nhà đầu tư lớn nhất hiện nay.[15]
Tại Đồng Nai, theo Diza, thu hút vốn FDI của dự án mới đạt khoảng 583 triệu USD trong tổng số 937 triệu USD 6 tháng qua [17] Trong đó, dòng vốn từ Nhật Bản chiếm khoảng 80% vốn thu hút mới Điều này phản ánh đúng thực tế rằng sau thảm họa động đất và sóng thần, Nhật Bản đang có xu hướng dịch chuyển nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài mà Việt Nam là một trong những lựa chọn tốt Hiện tại ở Đồng Nai, nhiều nhà kinh doanh hạ tầng lớn, như: Tổng doanh nghiệp Tín Nghĩa hay Sonadezi vẫn đang ráo riết thực hiện công tác xúc tiến đầu tư để đón làn sóng đầu tư này Một số khu công nghiệp chuyên biệt hoặc ưu tiên cho doanh nghiệp Nhật đã và đang hình thành, như: Long Đức, Giang Điền, Nhơn Trạch 3…
Có 1 thực trạng là tuy lượng vốn FDI vào Đồng Nai trong thời gian qua được đánh giá là khả quan, song thu hút vốn FDI tại Đồng Nai cũng như cả nước vẫn còn nhiều thách thức nếu muốn đạt được mục tiêu thu hút được nhiều dự án công nghệ cao Trong 27 dự án cấp mới tại các Khu công nghiệp Đồng Nai nửa đầu năm qua, chỉ có 2
dự án “nhắm chừng” có thể lọt vào danh sách dự án công nghệ cao với các ưu đãi riêng, song trước mắt, còn nhiều thủ tục xét duyện cần phải làm để xác nhận 2 dự án trên thuộc nhóm ưu tiên Nhìn rộng ra, theo đánh giá của Diza, từ năm 2006 đến nay,
Trang 24số lượng dự án được đánh giá là công nghệ cao chỉ chiếm dưới 5% các dự án nằm trong Khu công nghiệp
Tuy nhiên với xu thế đầu tư của Nhật Bản vào khu vực trong các năm vừa qua đã và đang tạo ra nhu cầu một nguồn lao động lớn Bao gồm lao đông có trình độ kỹ thuật tay nghề, lao động phổ thông và cả các lao động gián tiếp
2.2 Tình hình tuyển dụng của các doanh nghiệp Nhật Bản
2.2.1 Tiêu chuẩn tuyển dụng tại doanh nghiệp Nhật Bản
2.2.1.1 Lao động có tác phong làm việc công nghiệp
Đối với người Nhật Bản, chăm chỉ làm việc và làm hết khả năng của mình vì sự phát triển của doanh nghiệp được xem như là chuẩn mực của xã hội xuất phát từ văn hóa ngàn đời nay của người Nhật Họ say mê làm công việc được xem như là nghĩa vụ của bản thân hướng tới sự hoàn hảo và như muốn bứt phá ra những điều quá bình thường của cuộc sống
Tuy nhiên các công nhân viên người việt làm việc trong khu công nghiệp đa phần đến từ các làng quê, họ xuất than từ nông dân với thói quen làm việc tương đối tự do Nên khi vào làm việc trong các khu công nghiệp thường không chịu được sức ép dẫn đến việc trốn việc trong nhà vệ sinh, ngủ trong đống nguyên liệu…làm ảnh hưởng đến chuyền sản xuất Dẫn đến xung đột giữa chủ nước ngoài với công nhân khi họ phát hiện.Tuy nhiên các xung đột này đều được giải quyết trong hòa bình
Một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức làm việc chuyên cần của nhân viên là
tiền lương Theo quy định số 107/2010/ NĐ-CP ngày 29/10/2010 của chính phủ quy
định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài, cơ quan tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, lương đối với lao động giản đơn là 1.100.ngàn – 1.550 ngàn đồng Điều này làm các doanh
nghiệp nước ngoài lầm tưởng trả cho nhân viên mức lương 2 triệu đến 3 triệu đồng/ tháng thì muốn ứng xử như thế nào cũng được Tuy nhiên thực tế là điều đó làm nảy sinh tâm lý thích nghỉ thì nghỉ ở công nhân vì nếu đi làm phụ hồ 1 ngày có thể có thu nhập 150 ngàn/ ngày mà không bị ràng buộc về thời gian
Trang 25Cũng có trường hợp công nhân rủ nhau đình công do lương thấp mà điều kiện làm việc khắc nghiệt Một số công nhân làm việc trong một doanh nghiệp sản xuất mô tơ
đã than rằng điều kiện làm việc nóng nực, quạt bật suốt ngày nhưng nóng hanh đến khô người, thế mà lương còn thấp nếu không tăng ca một tháng chưa đến 3 triệu Các doanh nghiệp nếu quan tâm đến đời sống của nhân viên thì chắc chắn nhân viên thì không chỉ tăng năng suất công việc mà còn có thể khiến người lao động xem công ty như mái nhà thứ hai
2.2.1.2 Chế độ tuyển dụng làm việc suốt đời
Nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao tay nghề của các kỹ sư là tìm kiếm việc làm tốt hơn Chính điều này đã cản trở việc nâng cao tay nghề (tạo tâm lý “đứng núi này trông núi nọ”) Có nhiều chuyên gia cho rằng việc thường xuyên nhảy việc nhằm tìm kiếm việc làm tốt hơn của người lao động là tự làm mất đi cơ hội nâng cao tay nghề của chính mình
Đối với sản xuất tích hợp, kỹ sư trình độ cao và chuyên sâu về quy trình sản xuất phải làm việc cho một doanh nghiệpmà thôi Tuy nhiên, sau khi được đào tạo hoặc nắm bắt được một số kỹ thuật, lao động Việt Nam thường rời bỏ doanh nghiệp để tìm kiếm việc làm mới với mức lương cao hơn hoặc điều kiện làm việc tốt hơn Chính điều này đã cản trở việc tích lũy kinh nghiệm và nâng cao tay nghề của chính bản thân họ, cũng như làm giảm động lực của các doanh nghiệp trong đào tạo lao động Thậm chí, ngay cả trong ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc và chế biến thực phẩm thì vấn đề này cũngdẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý lao động Đối với các ngành công nghiệp là những ngành rất cần lao động có kinh nghiệm và sử dụng máy móc đắt tiền thì vấn đề này trở thành cốt tử Phải thừa nhận một điều là vấn đề này không chỉ riêng có ở Việt Nam vì nhiều báo cáo cũng cho thấy mức độ thay đổi công việc ở nhiều nước đang phát triển cũng rất cao ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp khuôn mẫu của Nhật Bản đặt mục tiêu thiết lập một hệ thống sản xuất tích hợp trong một nhà máy,từ khâu thiết kế sản phẩm đến khâu marketing Họ muốn đào tạo nhân công trở thành các kỹ sư có kiến thức sâu rộng với tất cả các khâu trong quy trình.Tuy nhiên, kế hoạch của họ thường không thành công vì nhiều kỹ sư đạt đến trình độ trung bình đã
bỏ việc mà không tiếp tục đào tạo lên mức cao hơn Một chuyên gia người Nhật phê phán xu hướng này và cho rằng những kỹ sư đó đang đánh mất cơ hội của chính mình
Trang 26để trở thành những kỹ sư trình độ cao do những lợi ích thiển cận Hiện nay, dường như
có hai nguyên nhân mang tính vĩ mô của vấn đề này
Thứ nhất, sự gia tăng của dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang dẫn đến sự thiếu hụt lao động, đặc biệt ở những địa phương có mức độ tập trung FDI cao như Đồng Nai Một nhà cung cấp phụ tùng ô tô nói rằng, khi khu công nghiệp (mà doanh nghiệp đang đặt trụ sở) không còn chỗ trống thì nhu cầu lao động tăng lên sẽ khiến cho việc thay đổi công việc của lao động cũng tăng và tiếp đó sẽ là lương phải tăng
Nguyên nhân thứ hai là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tại Tp Hồ Chí Minh và khu vực lân cận, các ngành dịch vụ đang nở rộ và thu hút một khối lượng lớn lao động tham gia Một nhà sản xuất linh kiện điện tử ở Tp HCM nói rằng, trong những năm gần đây , những người tham gia thị trường lao động lần đầu đã thay đổi công việc của
họ rất nhanh, từ dưới 1% đã lên mức 40-50% như hiện nay Tuy nhiên, không phải tất
cả các doanh nghiệp đều đối mặt với tình trạng này Trong số các doanh nghiệp tại Đồng Nai, nói rằng họ vẫn giữ được lao động của mình và mức thay đổi công việc của lao động ở mức rất thấp, thậm chí dưới 1%/năm Một trong những lý do của kết quả đó
là vị trí của công ty Một nhà cung cấp phụ tùng ô-tô ở giải thích rằng doanh nghiệp của ông ta nằm trong khu vực không có sự biến động lớn về nhu cầu lao động và lao động của doanh nghiệp chủ yếu là người địa phương, không phải người nhập cư, nên
họ không có ý định chuyển đến chỗ xa hơn Một lý do khác là chính sách đối với người lao động Một nhà cung cấp sản phẩm nhựa mô tả các chương trình khuyến khích người lao động của mình như quyền lợi nhiều hơn, chi trả tiền đi lại và ăn trưa với khẩu phần rất ngon Người lao động thường trung thành với doanh nghiệp khi họ được đối xử tốt Mức lương thường không phải là nhân tố mang tính quyết định Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu các điều kiện để giữ người lao động làm việc lâu dài hơn với doanh nghiệp và cũng là để tránh xuất hiện những tư tưởng tìm kiếm việc làm tốt hơn không đáng có
2.2.1.3 Doanh nghiệp Nhật Bản nói về việc nâng cao tay nghề cho nhân viên
Khi các nhà đầu tư Nhật Bản tìm đến đầu tư tại thị trường Việt Nam thì nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển lâu dài của các ngành công nghiệp chế tạo ở Việt Nam là thúc đẩy nguồn lao động có kỹ thuật cao (thuật ngữ theo tiếng Đức dành cho
Trang 27người lao động có kỹ thuật cao trong các ngành chế tạo là Meister) Ở Việt Nam, người ta thường cho rằng những hạn chế của ngành công nghiệp chủ yếu là do thiếu nguồn tài chính để mua sắm các thiết bị hiện đại Tuy nhiên,theo quan điểm của hầu hết các doanh nghiệp Nhật Bản thì nguồn nhân lực còn quan trọng hơn nhiều máy móc hiện đại
Một nhà máy sản xuất của Việt Nam chuyên cung cấp các sản phầm nhựa cho các doanh nghiệp Nhật Bản và Mỹ đã chia sẻ rằng họ cần những công nhân có trình độ kỹ thuật cao chứ không phải máy móc thiết bị hiện đại, và công nhân có trình độ cao vận hành máy móc cũ thậm chí còn hiệu quả hơn việc công nhân không có trình độ vận hành máy móc hiện đại Cùng quan điểm đó, một chuyên gia người Nhật cho rằng việc lắp ráp hoặc vận hành máy móc đơn giản không thể tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế
vì những công việc đó thì bất kỳ ai ở bất kỳ nơi đâu cũng có thể làm được Một chuyên gia người Nhật khác lại nhấn mạnh vào thái độ làm việc chuyên nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm ở tối đa chứ không phải thỏa mãn chỉ ở mức 99% Theo chuyên gia này thì chính 1% còn lại đó thể hiện sự khác biệt giữa nhà cung cấp có vốn đầu tư nước ngoài với nhà cung cấp trong nước không có tính cạnh tranh.Với nhiều quy trình sản xuất khác nhau, chúng ta cũng có nhiều loại lao động kỹ thuật cao Đó là:
- Kỹ sư quản lý dây chuyền sản xuất: là những người có khả năng quản lý và cải tiến toàn bộ quy trình sản xuất của một nhà máy, chứ không chỉ có một kỹ năng cụ thể Theo tiếng Nhật, những người lao động này được gọi là Tantoumono
- Những kỹ sư khuôn mẫu có nhiều kinh nghiệm:là những người có thể thiết kế, sản xuất và điều chỉnh những sản phẩm khuôn mẫu đạt đến độ hoàn hảo, và những người này có thể cảm nhận sự khác biệt đến từng milimét đối với các sản phẩm
- Những người lắp ráp kỹ thuật cao: là những người có thể tự lắp ráp toàn bộ sản phẩm một cách hoàn chỉnh, và vì thế họ có thể có những gợi ý xác đáng để cải thiện từng chi tiết trong sản phẩm đó
Dù tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực thường xuyên được đề cập đến, nhưng nguyên nhân sâu xa của tầm quan trọng này lại không được nhận biết hoặc chia sẻ một cách đầy đủ Nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao là nhân tố cần thiết cho việc đưa trình độ sản xuất vượt lên mức mà Thái Lan và Malaysia đã đạt
Trang 28được (hay còn gọi là “phá vỡ trần thủy tinh”), Cũng như giải quyết hiệu quả những thách thức từ Trung Quốc
Nhật Bản là nước sản xuất theo kiểu tích hợp, nhưng đang phải đối mặt với mức lương cao và dân số già hóa Vào năm 2007, nhiều lao động có kinh nghiệmsẽ nghỉ hưu (người ta gọi đây là “vấnn đề năm 2007”) Nhật Bản rất mong muốn tìm kiếm được một quốc gia đối tác đang phát triển với dân số trẻ để thực hiện quá trình sản xuất này, nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được Một mặt, các nước ASEAN rất cần xây dựng nguồn lao động trình độ cao hơn mức yêu cầu của việc lắp ráp đơn giản nhằm tăng trưởng bền vững và cạnh tranh với Trung Quốc Nếu Việt Nam tìm cách trở thành đối tác nêu trên với tầm nhìn dài hạn và khát vọng mạnh mẽ để đạt chất lượng cao thì Nhật Bản và Việt Nam có thể trở thành liên minh chiến lược trong quá trình sản xuất tích hợp Trong trường hợp đó, chính phủ và cộng đồng kinh doanh Nhật Bản chắc chắn sẽ hỗ trợ Việt Nam thông qua ODA hoặc hỗ trợ kỹ thuật Những nước ASEAN khác đã đặt vấn
đề này với Nhật Bản Để có được số lượng lớn kỹ sư có chất lượng cao, bản thân cá nhân
và cả cộng đồng phải nỗ lực để thúc đẩy các chương trình hiện có và xây dựng những chương trình mới Các chuyên gia và doanh nghiệpcủa Nhật Bản đã gợi ý một số biện pháp sau
Thứ nhất, các chương trình hiện có cần phải được thực hiện một cách có hiệu quả nhất Ví dụ, một nhà cung cấp các sản phẩm khuôn mẫu đã gửi 5 lao động người Việt Nam sang Nhật Bản để đào tạo dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Đào tạo Kỹ thuật Hải ngoại (AOTS) - một tổ chức của chính phủ Nhật Bản Một nhà cung cấp linh kiện ô tô cũng gửi hầu hết kỹ sư có trình độ trung bình và các nhà quản lý đến nhóm các nhà máy của mình tại ASEAN theo chương trình đào tạo riêng có thời gian đào tạo từ 1 đến 3 năm Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp của Nhật Bản đã tổ chức cuộc thi nội bộ, ví dụ như Thi kiểm tra chất lượng hoặc Thi tay nghề, để lao động cùng nhóm kinh doanh ở các nước có thể tham gia thi
Thứ hai, chính phủ Việt Nam cần hỗ trợ các chương trình đào tạo do các doanh nghiệp tổ chức Bản thảo quy hoạch các ngành phụ trợ đề xuất mức hỗ trợ 50% các chi phí liên quan đến hoạt động đào tạo của các doanh nghiệp Rất nhiều doanh nghiệp của Nhật Bản ủng hộ đề xuất này
Trang 29Thứ ba, cần thành lập một hệ thống khuyến khích và chứng nhận lao độngk ỹ thuật cao theo kiểu Meister Nhật Bản đã có hệ thống này ở cấp quốc gia,tỉnh/thành phố và doanh nghiệp, và các cấp này phối hợp với nhau để khuyến khích lao động có trình độ
kỹ thuật tốt ngày càng cải thiện chất lượng và họ được xã hội thừa nhận Ví dụ, một trong số 10 doanh nghiệp hàng đầu của Nhật Bản (một nhà sản xuất thiết bị điện tử) có
hệ thống nội bộ để đánh giá trình độ lao động trong việc rửa ống kính, sơn, và lắp điện Các ứng cử viên tham gia quá trình đánh giá do các bộ phận này đề xuất và sẽ được phân loại theo thứ hạng A, B, và C Sau đó, doanh nghiệpnày sẽ gửi những lao động được xếp hạng A đến các văn phòng chứng nhận lao động kỹ thuật cao ở cấp trung ương và địa phương Nếu những người này nhận được chứng nhận từ chính phủ, doanh nghiệpnày sẽ thưởng cho họ một chức danh trình độ mang tính nội bộ cùng với một khoản tiền thưởng đồng thời sẽ yêu cầu những lao động đó tham gia việc đào tạo lớp lao động kế cận trongvòng hai năm
Thứ tư, các chương trình đào tạo phối hợp giữa doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài với các nhà cung cấp trong nước Các chương trình này nhằm mục tiêu chuyển giao kỹ thuật chocác doanh nghiệptrong nước,và cũng là tạo cơ hội để hai bên hiểu biết và làm việc với nhau Một trong những chương trình thành công nhất là chương trình đào tạo phối hợp ở Trung tâm Nâng cao tay nghề Penang ở Malaysia Chuyến khảo sát của chúng tôi ở Đồng Nai cho thấy rất nhiều doanh nghiệpcủa Nhật Bản mong muốn được thực hiện các chương trình như thế này Họ hy vọng rằng, nếu các chương trình được thực hiện tốt thì việc đào tạo nghề sẽ tăng được số lượng lao động
có kỹ thuật và giảm được vấn đề lạm phát lương Rất nhiều doanh nghiệp của Nhật Bản nói rằng, nếu chính phủ thực sự quan tâm đến các chương trình này,họsẽ gửi kỹ
sư nhiều kinh nghiệm sang đào tạo hoặc họ sẽ cung cấp thiết bị cần thiết cho các chương trình đào tạo
Thứ năm, việc giáo dục dạy nghề cần được tăng cường ở các trường phổ thông, các trường cao đẳng công nghiệp, và các trường đại học Một nhà cung cấp linh kiện
xe máy phàn nàn rằng kết quả của việc gửi lao động sang Nhật Bản để đào tạo đã không như ý muốn bởi lao động Việt Nam thiếu nhữngkỹ năng và kiến thức cơ bản
để có thể tiếp nhận công nghệ hiện đại Một nhà lắp ráp thiết bị máy tính đề xuất rằng chính phủ cần chú trọng hơn nữa đến đào tạo nguồn lao động có kỹ năng cơ bản nhưng lại có nhu cầu rất cao như kỹ sư sản xuất hoặc quản lý nhà máy, thay vì dùng
Trang 30những mỹ từ như IT, công nghệ cao, công nghệ sinh học… Một nhà sản xuất thiết bị điện tử cũng gợi ý việc thúc đẩy kiến thức và kỹ năng thực hành trong việc đúc khuôn hoặc ép với độ chính xác cao
2.2.1.4 Cách thức tuyển dụng của doanh nghiệp Nhật Bản
Như đã nêu ở trên các doanh nghiệp Nhật Bản tại Đồng Nai đang phát triển hứa hẹn 1 tương lai về công việc tốt đẹp cho những người hiện đang sinh sống và làm việc tại khu vực Tuy nhiên nhà tuyển dụng Nhật Bản cần tuyển những nhân viên như thế nào là một câu hỏi mà chúng ta cần tìm hiểu
Con đường tuyển dụng theo nhận xét từ phòng Nhân sự của các doanh nghiệpNhật Bản đóng trên địa bàn khu vực thì hơn 90% các doanh nghiệp đã và đang sử dụng các doanh nghiệptư vấn nguồn nhân lực để xây dựng đội ngũ nhân viên (shiseido, Shirai, Fuji carbon ) Ngoài ra họ cũng tiến hành đăng tin tuyển dụng tại các bảng thông báo, web tìm việc như tìm việc nhanh, mywork, creelink.vn… Một số doanh nghiệp như Fujitsu, Sanyo thì sử dụng phương thức tuyển dụng dựa vào web của doanh nghiệphay tuyển dụng nội bộ Đó là khi các tuyển dụng là nhân viên văn phòng Hơn 70% doanh nghiệp phải dựa vào các trung tâm môi giới để đáp ứng như cầu lao động phổ thông Phần dưới sẽ trình bày kỹ hơn về các yêu cầu tuyển dụng của các nhân viên có yêu cầu về chuyên môn Ngoài ra theo thống kê trên mạng tại các trang web tìm kiếm việc làm thì có 45 % là tìm việc qua trung tâm, 30% tự nộp
hồ sơ trực tiếp vào doanh nghiệp, 10% qua bạn bè hay người thân giới thiệu,15% làm tất cả biện pháp trên Có thể thấy các trung tâm môi giới đã và đang đóng 1 vai trò không nhỏ trong quá trình tuyển dụng nhân tài cùa doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhật Bản
Trong quá trình làm luận văn riêng cá nhân tôi có tiến hành thực tế làm việc tại một doanh nghiệp môi giới việc làm Khi có cơ hội làm việc tiếp xúc với các doanh nghiệp Nhật Bản tôi tự rút ra một số điều Một là các doanh nghiệp không chỉ sử dụng một trung tâm giới thiệu việc làm để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng Hai là nhằm giản triệt bộ máy quản lý nên các doanh nghiệp nhỏ thường ít có bộ phận tuyển dụng
Ba là với tuyển dụng nhân viên văn phòng hay chuyên môn dù nhỏ hay lớn thì trước khi được tiếp nhận vào làm đều phải trải qua phỏng vấn với những quản lý cấp cao
Trang 31trong doanh nghiệp có thể sử dụng tiếng Anh tiếng Nhật hoặc có thêm phiên dịch trong cuộc phỏng vấn đối với những kỹ sư có chuyên môn như đã trình bày ở mục 1 Nói thêm là hiện nay ngoài tuyển dụng nhân viên chính thức các doanh nghiệp Nhất là Nhật Bản càng chú trọng và sử dụng nhân viên thời vụ với lao đông phổ thông và thuê chuyên viên với lao đông kỹ thuật Là những nhân viên được dùng khi cần tăng năng xuất công việc không phải tiến hành biên chế, chấp nhận tăng ca để hoàn thành tiến độ Các kỹ thuật viên có thể làm việc theo nhóm tại một doanh nghiệpvà sẽ được phân công đến làm việc tại doanh nghiệp khác theo thời gian và yêu cầu công việc.Thường đây là những nhân viên thuộc ngành IT hay Phiên biên dịch
Những người đã và đang làm việc tại doanh nghiệpNhật Bản thì nếu muốn được nhận vào làm trong doanh nghiệp Nhật Bản và tồn tại thì bạn cần có sự kiên trì bền
bỉ Các doanh nghiệp luôn muốn tuyển người tài đó là chân lý song các doanh nghiệp Nhật còn hơn thế họ cần người thích hợp Do là doanh nghiệp nước ngoài nên họ luôn đặt mục tiêu xóa tan khoảng cách về ngôn ngữ Vì lý do đó bạn khó lòng có thể xin vào làm tại đây mà không biết một trong 2 thứ tiếng Nhật – Anh Dĩ nhiên Nhật Bản là một dân tộc đầy tự tôn nên họ yêu thích ngôn ngữ của mình vô cùng, nên việc biết tiếng Nhật có thể coi là lợi thế to lớn Tuy nhiên với đặc trưng là các nhà máy sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ mục đích xuất khẩu (về doanh nghiệpmẹ hay thị trường tây Âu) nên tại các doanh nghiệp như sanyo, Fujitsu, Mitsumi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 không thể thiếu
Vấn đề thứ 2 là tinh thần học hỏi không ngừng nghỉ Theo các nhân viên đã và đang làm việc trong doanh nghiệpNhật Bản thì khi tuyển dụng họ sẽ tìm các ứng viên
có ý thức học tập, và trong công việc nếu bạn chứng tỏ sự tiến bộ của mình thì sẽ nhận được sự tin tưởng từ cấp trên Trong các kỹ năng làm việc của nhân viên kỹ năng mà người Việt yếu nhất là viết báo cáo Trong công việc người Nhật luôn yêu cầu việc lên kế hoạch, thực hiện, báo cáo quá trình và kết quả Tuy nhiên nhiều anh chị làm việc trong doanh nghiệpgặp phải khó khăn khi làm việc theo phương thức này Nguyên nhân có thể nói 1 phần do kỹ năng viết báo cáo đơn từ của sinh viên Việt Nam ít được trau dồi, hai là do xuất phát từ 1 nước nông nghiệp nên ý thức làm việc theo kế hoạch và báo cáo của người Việt còn yếu
Trang 32Điểm thứ 3 mà các giám đốc Nhật Bản nói khi nhận xét về nhân viên là tinh thần làm việc nhóm Theo nhận xét của hầu hết các giám đốc Nhật Bản mà tôi có cơ hội tiếp xúc thì nhân viên người Việt học hỏi nhanh, cầu tiến, thông minh nhưng làm việc nhóm lại rất yếu Công việc không đem lại hiệu quả cao như mong muốn Đôi khi thiếu sự đoàn kết thống nhất, và tinh thần trách nhiệm vì công việc chung
Điểm thứ 4 để doanh nghiệp nhận xét về nhân viên chính là sự cần cù Điều này đánh giá dựa vào việc bạn chuyên cần đi làm, đúng giờ, biết hy sinh vì doanh nghiệp (được nói đến nhiều nhất là tăng ca) Sếp sẽ rất hài long nếu thấy nhân viên đi sớm
về khuya chuyên cần Các doanh nghiệp Nhật đều có bảng Nhật trình trên đó ghi ngày giờ bạn vào làm và cuối tuần tổng kết đưa cho sếp ký và nhận xét
Tóm lại các yếu tố mà các lao động Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp là Văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản là một nước công nghiệp, từ nhỏ mỗi thành viên trong xã hội đã được học về cách sống công nghiệp điều mà tại một nước đang phát triển như Việt Nam còn rất mới mẻ Các quy tắc trong ứng xử và giao tiếp trong doanh nghiệp cũng là yếu tố để các doanh nghiệp cân nhắc tuyển chọn nhân viên.Các sản phẩm của Nhật đều thực hiện theo một quy trình về công nghệ, với các tiêu chuẩn về đảm bảo môi trường (chỉ tiêu iso), hay các quy tắc như Horenso (làm việc phải có sự liên lạc báo cáo và thảo luận), quy tắc 5S (về giữ gìn môi trường làm việc)… Những chi tiết trên là yếu tố mà nhà tuyển dụng Nhật Bản cần ở một nhân viên bình thường song chương trình giáo dục 12 năm phổ thông và 4 năm đại học lại không đủ đáp ứng nhu cầu này
2.2.2 Thực trạng tuyển dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tại Đồng Nai
Theo thống kê từ ban quản lý khu công nghiệp ở Đồng Nai thì đến thời điểm tháng 8 năm 2011 có tổng số 525.811 lao đông đang làm việc tại các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệpMabuchi Motor Việt Nam với số lao đông tại Việt Nam lên tới hơn 7000 người Hai doanh nghiệp từ 2000-3000 lao động,
9 doanh nghiệp có số lao động trên 1000 người
Đồng Nai có hơn 90 doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản đặt trụ sở làm việc Các doanh nghiệp cần 1 lực lượng lao động đông đảo Dù hàng năm có hàng ngàn
Trang 33sinh viên tốt nghiệp ra trường cũng như các lao động tập trung vào khu vực song thực tế là các doanh nghiệp vẫn trong tình trạng thiếu hụt nguồn lao động bao gồm cả lao động phổ thông và lao động có chuyên môn tay nghề
Để kể đến nguyên nhân của tiến trình này cần tính đến cách tuyển dụng và sử dụng con người tại các doanh nghiệp Nhật Bản Như hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài đặt trụ sở tại Việt Nam các doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn khai thác hết tiềm năng khu vực để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Hiện nay theo số liệu từ cơ quan quản lý khu công nghiệp tại Đồng Nai 95% các doanh nghiệp đầu tư tại Đồng Nai để xây dựng các nhà máy gia công hay thực hiện một phần hay một bộ phận của chi tiết linh kiện Ngoài ra hầu hết là những công đoạn dễ làm không yêu cầu cao về
kỹ thuật.Vì đó mới có thể khai thác tiềm năng con người tại đây
Đồng Nai là một tỉnh có dân cư khá đông đúc, nhưng nguyên nhân chủ yếu là nhờ vào lượng dân di cư Những người hướng đến các trung tâm lập nghiệp Đó là 1 lợi thế trong đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp Đồng Nai tính đến năm 2012 đáp ứng được gần 80 % nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Không chỉ thế, còn đưa mức thu nhập bình quan của công nhân viên từ 1,2 triệu/ tháng vào năm 2008 lên 2,3 ~2,5 triệu/ tháng Theo lời những công nhân làm việc trong các doanh nghiệp Nhật Bản Tuy mức lương cơ bản không cao nhưng doanh nghiệp nước ngoài nhất là Nhật Bản luôn có nhiều chế độ đãi ngộ khác như phụ cấp tiền nhà ở, phụ cấp chi phí đi lại, phụ cấp chuyên cần, phụ cấp thâm niên nhiều khoản phụ cấp khác nhau nên hàng tháng thực lãnh cũng gần 4 triệu Ngoài ra theo lời một số nhân viên doanh nghiệp Nhật như doanh nghiệp plus, sanyo thì nếu chăm chỉ làm việc và chấp nhận tăng ca thì khoản tiền thực lãnh của nhân viên có thể lên hàng 2 số mỗi tháng Trong cách tính lương của doanh nghiệp Nhật có phần khá đặc biệt đó là thâm niên Đây cũng là đặc điểm trong cách dùng người của Nhật Tức
là căn cứ vào thâm niên của nhân Viên để quyết định về lương bổng và cách thức tăng chức
Tuyển và dùng nguồn lao động có trình độ kỹ thuật chuyên môn Theo như nhận xét của một số phụ trách nhân sự của doanh nghiệp Nhật Bản trên địa bàn tỉnh thì cho tới thời điểm hiện nay doanh nghiệp vẫn đang tuyển dụng các lao động có chuyên môn kỹ thuật song cung không đủ cầu Thực tế là doanh nghiệp Nhật Bản