1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tương đồng và khác biệt văn hóa mặc hàn quốc việt nam báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên

72 897 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Văn Hóa Mặc Hàn Quốc Việt Nam Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Tác giả Nguyễn Huỳnh Trang
Người hướng dẫn Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Thị Thu Lương, ThS. Trần Hữu Yến Loan
Trường học Đại học Lạc Hồng
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M U Lý do chọn đề tài: Ăn, mặc, ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, thuở sơ khai con người bắt đầu văn hóa mặc bằng quan niệm rất thô sơ: mặc là để che thân và ứng phó

Trang 1

Về phía cá nhân xin cảm ơn: Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến

cô giáo, Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Thị Thu Lương và ThS Trần Hữu Yến Loan, những người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong bốn năm qua, những kiến thức mà tôi nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp tôi vững bước trong tương lai Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên đã động viên giúp đỡ tôi

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, và đặc biệt là cha mẹ

và anh trai, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

Một lần nữa xin mọi người hãy nhận nơi tôi lời cảm ơn chân thành nhất

Biên Hòa, tháng 12 năm 2012

Sinh viên Nguyễn Huỳnh Trang

Trang 2

M

Trang

Phần mở đầu 1

L do chọn đề tài 1

M c tiêu nghiên cứu 2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

Bố c c của đề tài 3

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn hóa và văn hóa mặc 4

1.1Tổng quan về đất nước Hàn Quốc và Việt Nam 4

1.1.1Tổng quan về đất nước Việt Nam 4

1.1.2 Tổng quan về đất nước Hàn Quốc 4

1.2 Khái quát về văn hóa mặc 5

1.2.1 Khái quát về văn hóa mặc truyền thống trong văn hóa mặc Việt Nam 5

1.2.1.1 Trang ph c lễ hội và cưới hỏi 7

1.2.1.2 Tang ph c 9

1.2.2 Văn hóa mặc truyền thống trong văn hóa mặc Hàn Quốc 11

1.2.2.1 Trang ph c cưới truyền thống 13

1.2.2.2 Tang ph c 14

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa mặc của Việt Nam 14

1.3.1 Hoàn cảnh tự nhiên 14

1.3.2 Hoàn cảnh xã hội 17

1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa mặc Hàn Quốc 20

1.4.1 Hoàn cảnh tự nhiên 20

1.4.2 Hoàn cảnh xã hội 23

1.4.2.2 Thời kì Tam Quốc (57 trước công nguyên -68 sau công nguyên) 23

1.4.2.2 Thời đại Koryo (918 -1392) 24

1.4.2.3 Thời đại Choson (1392 – 1910) 24

Chương 2: Đặc trưng văn hóa mặc truyền thống Việt Nam và Hàn Quốc 27

Trang 3

2.1 Đặc trưng văn hóa mặc trong văn hóa mặc truyền thống Việt Nam 27

2.1.1 Đặc trưng văn hóa mặc trong văn hóa mặc truyền thống Việt Nam 27

2.1.2 Ý nghĩa riêng trong văn hóa mặc truyền thống Việt Nam 39

2.1.3 Quan niệm mặc trong văn hóa mặc truyền thống Việt Nam 41

2.2 Đặc trưng văn hóa mặc trong văn hóa mặc truyền thống Hàn Quốc 44

2.2.1 Trang ph c cô dâu Wonsam hay Hwalot 47

2.2.2 Trang ph c chú rể 48

2.2.3 Paji và Cheogori (Quần và áo khoác truyền thống) 48

2.2.4 Dalryeong’po – Áo khoác 48

Chương 3: Điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa mặc của Việt Nam và Hàn Quốc thông qua văn hóa mặc 50

3.1 Điểm tương đồng trong văn hóa mặc giữaViệt Nam và Hàn Quốc 50

3.2 Sự khác biệt trong văn hóa mặc giữa Việt Nam và Hàn Quốc 54

Kết luận 56

Tài liệu tham khảo 58

Trang 4

M U

Lý do chọn đề tài:

Ăn, mặc, ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, thuở sơ khai con người bắt đầu văn hóa mặc bằng quan niệm rất thô sơ: mặc là để che thân và ứng phó với môi trường, thời tiết khí hậu… Ngay từ xa xưa ông bà ta rất quan trọng việc mặc nên có câu t c ngữ:

“Hơn nhau tấm áo manh quần Thả ra bóc trần ai cũng như ai”

(Ca dao Việt Nam)

Mặc không đơn thuần là giá trị vật chất mà xa hơn chính là yếu tố văn hóa, một mảng văn hóa đậm đà, duyên dáng và cốt cách Tìm hiểu văn hóa mặc một nước chính

là cách đơn giản nhất để có thể hiểu thêm về lịch sử và văn hóa nước đó.Trong đó văn hóa mặc cũng là một trong kết cấu văn hóa vật chất như (ăn, mặc, ở) đây là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người.Và mặc luôn là tín hiệu xã hội thể hiện văn hóa của một nước, theo thời gian văn hóa mặc cũng thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử Như chúng ta đã biết chiều dài lịch sử của một quốc gia, một đất nước được đo bằng bề dày văn hoá, chiều sâu của truyền thống Và trang ph c là một trong những nét đặc trưng mang đậm cá tính, phẩm chất, tinh hoa của dân tộc đó, để rồi khi nhìn cách ăn mặc của họ chúng ta có thể dễ dàng biết được họ thuộc quốc gia nào Trang

ph c không chỉ đơn thuần là đồ để mặc mà còn thể hiện cá tính người mặc, thể hiện nghề nghiệp, đẳng cấp, phong t c, tập quán Trang ph c liên quan đến điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử và môi trường văn hóa Trang ph c đứng bên cạnh truyền thống

sẽ nâng lên tầm cao mới Trang ph c truyền thống ở đây có thể hiểu một cách khái quát là trang ph c để mặc nhưng chứa đựng bên trong đó là tinh thần dân tộc, linh hồn đất nước, cùng bao nét đẹp tâm hồn của người dân nước đó Văn hóa mặc truyền thống mang đậm giá trị thiêng liêng, cao qu đã được đúc kết qua bao biến động thăng trầm lịch sử

Trang 5

Là sinh viên của khoa Đông Phương- bộ môn tiếng Hàn tôi chọn đề tài: “Nét tương đồng và khác biệt trong văn hóa mặc của Việt Nam và Hàn Quốc” như một

trong những bước đầu tiên của việc khám phá văn hóa của Việt Nam và Hàn Quốc Việc tìm hiểu văn hóa chính là để hội nhập văn hóa, giao lưu văn hóa trên tinh thần hiểu biết, tôn trọng và giữ gìn những giá trị văn hóa, giá trị nhân văn của mỗi nước

M n n

Làm rõ hơn về sự tương đồng nổi trội về văn hóa trang ph c của người Hàn và người Việt Trên cơ sở đó, nêu bật những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Hàn Quốc và Việt Nam, giúp người đọc có cái nhìn hệ thống hơn về văn hóa mặc của hai nước

ngh a nghi n c u

Văn hóa mặc là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc là sự phản ánh giá trị văn hóa của dân tộc Mỗi dân tộc có những nét giống và khác nhau trong văn hóa trang ph c Do đó nghiên cứu “Nét tương đồng và khác biệt trong văn hóa mặc của Việt Nam và Hàn Quốc” chính là góp phần vào việc đi sâu, tìm hiểu văn hóa mặc Việt Nam và Hàn Quốc

hương pháp nghi n c u:

Để đạt được m c đích nghiên cứu và giải quyết tốt các vấn đề nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đã sử d ng phương pháp khảo sát tư liệu, tổng hợp, phân tích nguồn tư liệu từ sách báo ở thư viện, thông tin trên Internet và truyền hình, radio…, sưu tầm hình ảnh có liên quan đến bài viết

Trang 6

Đề tài sử d ng phương pháp nghiên cứu lịch sử: Thông qua các tư liệu, sự kiện lịch sử để trình bày các vấn đề theo diễn tiến thời gian, trên cơ sở đó, khái quát toàn bộ quan hệ văn hóa mặc Việt Nam –Hàn Quốc

Trang 7

HƯƠNG 1: MỘT SỐ V N Ề Ý UẬN VỀ VĂN HÓA VÀ

VĂN HÓA MẶ TRUYỀN THỐNG

1.1 Tổng quan về đấ nước Hàn Quốc và Việt Nam

1.1.1 Tổng quan về đấ nước Việt Nam

Việt Nam là dải đất hình chữ S nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo đông dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển đông và Thái Bình Dương Khí hậu nhiệt đới gió mùa, bao gồm ba phần tư là đồi núi

Việt Nam có diện tích 327.500 km2 với đường biên giới trên đất liền dài 4.550

km Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Địa hình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ Núi cao trên 2.000m chỉ chiếm 1% Đồi núi Việt Nam tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông, chạy dài 1.400 km, từ Tây Bắc tới Đông Nam Bộ Những dãy núi đồ sộ nhất đều nằm ở phía Tây và Tây Bắc với đỉnh Phan-xi-phăng cao nhất bán đảo Đông Dương (3.143m) Càng ra phía Đông, các dãy núi thấp dần và thường kết thúc bằng một dải đất thấp ven biển Từ đèo Hải Vân vào Nam, địa hình đơn giản hơn Ở đây không có những dãy núi đá vôi dài mà có những khối đá hoa cương rộng lớn, thỉnh thoảng nhô lên thành đỉnh cao; còn lại là những cao nguyên liên tiếp hợp thành Tây Nguyên, rìa phía đông được nâng lên thành dãy Trường Sơn

1.1.2 Tổng quan về đấ nước Hàn Quốc.

Hàn Quốc còn gọi là Nam Triều Tiên hay Đại Hàn Dân Quốc là quốc gia thuộc Đông Á nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên, phía bắc giáp Bắc Triều Tiên, phía Đông giáp với biển Nhật Bản, phía tây là Hoàng Hải Hàn Quốc có khí hậu ôn đới Bán đảo Hàn Quốc kéo dài từ bắc tới Nam nhưng nếu tính các đảo ph thuộc thì chiều rộng đông tây sẽ lớn hơn chiều dài Bắc Nam 75% diện tích lãnh thổ là đồi núi, địa hình bán đảo có dạng Đông cao Tây thấp, Bắc cao Nam thấp Như vậy ở phía Đông và Bắc tập trung nhiều núi, còn phía Tây và Nam tập trung đồng bằng

Trang 8

Ngọn núi cao nhất trên bán đảo là núi Baekdu (2.744m) còn núi cao nhất Hàn Quốc là núi Halla nằm ở đảo jechu(1.950m) Đại bộ phận các con sông trên bán đảo đều chảy từ Đông sang Tây Sông dài nhất trên bán đảo là sông Amnok (790.7 km) và sông dài nhất Hàn Quốc là Nakdong(525.15 km) Ngoài ra còn có một số con sông lớn khác với chiều dài trên 400km như sông Duman (431.1 km) và sông Daedong (450.3 km) nằm ở Bắc Triều Tiên, sông Hàn (514.4 km) và sông Guem (401.1 km) nằm ở Hàn Quốc

1.2 K á q á ăn óa ặc

1.2.1 Văn óa ặc truyền thốn ron ăn óa ặc Việt Nam

Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa dân tộc kinh mà đã có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam, là một trong những nền văn hóa có nguồn gốc lâu đới nhất trong khu vực Thái Bình Dương Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm khá giống với những đặc điểm của các dân tộc các nước Đông Á và khác ở những nước Thái Bình Dương( Lào, Campuchia, Thái lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc kinh vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong

t c riêng đó vẫn vô cùng quan trọng trong đời sống của người Việt

Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam( mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam

Có thể nói chung văn hóa Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa, văn hóa của người Việt còn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và có các văn hóa riêng biệt của một bộ phận dân tộc thiểu số Việt Nam

Do điều kiện tự nhiên và thời tiết ở nước ta khá phức tạp nên trang ph c để mặc vào cơ thể phải thích ứng với điều kiện tự nhiên, tùy thuộc vào thời tiết khí hậu vùng, mùa mà có cách mặc khác nhau như mùa lạnh mặc áo dày( hoặc nhiều

Trang 9

áo) có màu sẫm, mùa nóng thì mặc ít áo hơn và có màu sáng Lúc đời sống kinh tế còn khó khăn, đói kém thì nhân dân ta mặc kiểu “ ăn chắc mặc bền” khi đời sống khá hơn thì mặc có thẩm mỹ hơn một chút Ngoài ra trang ph c còn có nghĩa xã hội như ăn mặc phải phù hợp với công việc, môi trường hoàn cảnh xã hội nó còn mang nghĩa thẩm mỹ, làm đẹp cho con người “người đẹp vì l a, lúa tốt vì phân” Đối với người Việt mặc cũng giống ăn và ở là nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần thiết yếu của loài người Trên diễn trình lịch sử và sự phát triển kinh tế xã hội, văn minh, việc mặc trở thành một thành tố tổng thể trong cấu trúc văn hóa–xã hội

Nó hình thành gu thẩm mỹ cá nhân đến cộng đồng (gia đình, họ hàng, vùng miền),

từ đó nó hình thành nên những nguyên lý, nguyên tắc, quy ước về mặc (cách hành

sử, đối sử tạo nên triết lý sống)

Thuở xa xưa, người Việt cũng bắt đầu văn hóa mặc bằng quan niệm rất thô sơ: Mặc là để che thân, ứng phó với những biến đổi của thời tiết, khi nóng khi lạnh, khi gió rét, khi mưa to, thậm chí cả khi l t lội, giông bão…

Trong mọi sinh hoạt của văn hóa nông nghiệp, cư dân nông nghiệp trồng lúa nước chú trước nhất văn hóa ăn Sau cái ăn, người Việt đã nghĩ ngay đến cái mặc Nền văn hóa thực vật sông nước của người Việt với lối sinh hoạt nông nghiệp cổ truyền hoàn toàn ph thuộc vào thiên nhiên Người nông dân đi làm đồng, nghe ngóng từng động tĩnh thời tiết, vừa để cày bừa cày hái, vừa để làm

l ng một nắng hai sương…Việc ăn, mặc cũng vì vậy mà phải giản dị, thiết thực

“ ăn lấy chắc, mặc lấy bền” Người Việt vì có một quan niệm về mặc rất thông minh và thiết thực như vậy nên đã phân biệt rất rõ, hai cử chỉ văn hóa khác nhau trong việc mặc, ấy chính là khi làm đồng vất vả thì mặc trang ph c khác khi đi trẩy hội, lúc tết lễ hội hè, cách mặc phải phù hợp Nhìn lại quá trình phát triển của trang ph c, có thể thấy sự xuất hiện của trang ph c đánh dấu một bước ngoặc trong nhận thức của con người Mới đầu là nhu cầu bảo vệ cơ thể, che nóng che lạnh Dần dần, trang ph c trở thành nhu cầ thẩm mỹ, nhu cầu làm đẹp của con người Ngoài ra trong lĩnh vực tinh thần, trang ph c thể hiện trình độ và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, mỗi thời đại Đi tìm nét riêng, nét văn hóa

Trang 10

của người Việt trong cách ăn mặc phải phù hợp với sinh hoạt văn hóa nông nghiệp trước hết phải lưu đến chất liệu may mặc phù hợp với sinh hoạt văn hóa nông nghiệp trước hết phải lưu đến chất liệu may mặc Không hề là một ngẫu nhiên lịch sử khi người Việt chọn tơ tằm làm đồ mặc Tơ tằm được người Việt dệt rất phong phú đó là tơ, l a, lượt, là, gấm, vóc, đoạn, lĩnh…Về sau người Việt còn

sử d ng các chất liệu khác như tơ, tằm, chuối, đay, gai, sợi, bông…nhưng chất liệu đầu tiên cho may mặc vẫn là tơ tằm

1.2.1.1 Trang ph c lễ hộ ưới hỏi:

Trong những ngày lễ tết hay trong ngày cưới bộ trang ph c trong ngày cưới bao giờ cũng mới, cũng đẹp hơn trang ph c ngày thường Một nét riêng về màu sắc trong trang ph c lễ hội truyền thống là màu đỏ( hồng, thắm, đào)

Và sẽ thấy một đặc trưng riêng nữa của trang ph c lễ hội là hình ảnh cái yếm đỏ

Không chỉ trong thơ Đoàn Văn Cừ mà trong thơ Nguyễn Bính cũng có hình ảnh này:

Trên đường cát mịn, một đôi cô Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa

(Xuân về)

Khi nhìn vào phong t c, tín ngưỡng người Việt ta thấy màu hồng biểu trưng cho sự sống, cho mọi sự may mắn, tốt lành và hạnh phúc: Quà Tết, quà cưới được gói trong giấy hồng; câu đối viết trên giấy đỏ; cô dâu chú rể mặc áo đỏ trong ngày cưới; rồi thiệp hồng (thiếp mời đám cưới)… và người gặp vận may được gọi là vận đỏ… Như vậy rõ ràng màu đỏ trong trang ph c lễ hội là sự thể hiện, sự tiếp nối một truyền thống có từ lâu đời, nó biểu hiện một khát vọng hết sức nhân

văn: con người luôn mong muốn và hướng về những điều tốt đẹp Hình ảnh cái yếm đào là hình ảnh mang đậm bản sắc dân tộc bởi không ai có thể tìm thấy hình

ảnh này ở một đất nước nào khác, quốc gia nào khác Ngày xưa các cô thôn nữ dùng yếm để che ngực, thường là do người dùng tự cắt may Chính vì thế mà nó

trở thành biểu tượng nữ tính: “Trầu em têm tối hôm qua / Cất trong dải yếm mở ra

mời chàng”; “Ước gì sông rộng một gang / Bắc cầu dải yếm cho chàng sang

Trang 11

chơi”… Yếm là mảnh vải hình vuông đeo trước ngực, phía trên khoét tròn làm cổ,

hai góc bên đính với dải để buộc ra sau lưng Khi trời nóng bức, người ta mặc váy

yếm, hai tay và lưng để trần: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn / Đàn bà yếm thắm hở

lườn mới xinh” Yếm có nhiều mầu sắc: yếm nâu mặc đi làm đồng, yếm trắng mặc

thường ngày (thường là ở đô thị): “Yếm trắng mà vã nước hồ / Vã đi vã lại anh đồ yêu thương”; yếm thắm, yếm đỏ, yếm hồng, yếm đào mặc trong dịp lễ hội Như chúng tôi đã chứng minh ở trên, trong trang ph c lễ hội cổ truyền, người thiếu nữ

không thể không có hình ảnh cái yếm Nó đã trở thành một biểu tượng kép, vừa là biểu tượng nữ tính, vừa là biểu tượng cho một khát vọng tình yêu, may mắn, h nh

phúc

Ngoài ra trang ph c cưới theo từng vùng miền mà khác nhau Các cô dâu miền Bắc thường mặc bộ áo mớ ba, ngoài cùng là chiếc áo the thâm, bên trong ẩn hiện hai chiếc áo màu hồng và màu xanh hoặc màu vàng với màu hồ thủy Rồi đến

áo cánh trắng, cuối cùng là chiếc yếm hoa đào có dải bằng l a bạch Thắt lưng gồm hai chiếc bằng l a màu hoa đào, hoa l , ngoài cùng là thắt lưng sồi xe hay vải

sa màu đen, cả ba thắt lưng đều có tua ở hai đầu

Lúc bấy giờ kiểu trang điểm cho mái tóc thật đơn giản, chỉ là vấn khăn, đầu khăn gài chiếc đinh ghim, có đính con bướm vàng chạm bạc, để tóc đuôi gà Lúc đưa dâu, đi đường đội nón thúng quai thao (chủ yếu là để che mặt cho đỡ thẹn với mọi người) Chân đi dép cong Đồ trang sức có khuyên đeo tai bằng vàng hoặc bằng bạc, cạnh sườn đeo bộ xà tích, con dao, ống vôi bằng bạc chạm trổ tinh vi

Cô dâu miền Trung cũng mặc áo mớ ba, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều,

áo giữa bằng the hay vân tha màu xanh chàm, áo ngoài cùng bằng the hay vân tha màu đen Có người chỉ mặc lồng hai áo, trong cũng là màu đỏ hoặc hồng điều, ngoài là vân thưa màu xanh chàm để tạo nên hiệu quả một màu tím đặc biệt nền nã Mặc quần trắng, đi hài thêu Tóc chải lật, búi sau gáy Cổ đeo kiềng hoặc quấn chuỗi hột vàng cao lên quanh cổ Cổ tay đeo vòng vàng, xuyến vàng Nhắc đến trang ph c của cô dâu miền Nam, ấn tượng đáng nhớ nhất bao giờ cũng

là bộ áo dài gấm, quần lĩnh đen, đi hài thêu Tóc chải lật, búi lại và cuốn ba vòng

Trang 12

phía sau đầu, gài lược "bánh lái" bằng đồi mồi hoặc bằng vàng, bạc Có người cài trâm vàng, đầu trâm có đính lò xo nhỏ nối tiếp với một con bướm bằng vàng hay bạc tạo nên một độ rung, tǎng thêm nhiều phần sinh động và thẩm mỹ Đeo dây chuyền nách (xà nách) bằng vàng, đeo nhiều chuỗi hột vàng ở cổ

Trang ph c của chú rể ở cả ba miền đều giống nhau, thường thì mặc áo th ng bằng gấm hay the màu lam, quần trắng ống sớ, búi tóc, chít khăn nhiễu màu lam Chân

đi văn hài thêu đẹp

Những năm 1920 - 1930, ở thành thị miền Bắc, cô dâu mặc áo dài cài vạt Ngoài là chiếc áo the thâm, bên trong, áo màu hồng hay xanh hoặc ngoài là chiếc áo dài sa tanh đen, bên trong, áo dài l a trắng Cổ Đô Mặc quần lĩnh hay sa tanh đen Chân đi văn hài thêu hạt cờm hay đôi guốc cong Vấn khăn nhung đen, đeo hoa tai bèo, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hột bằng vàng

Chú rể mặc áo dài the thâm, trên nền áo dài trắng bên trong Quần trắng ống sớ,

đi giày Gia Định Đội khăn xếp Khi lễ tơ hồng, lễ nhà thờ thì khoác áo th ng lam Vài năm sau đó, các cô dâu con nhà giàu mặc áo th ng bằng gấm màu đỏ hoặc màu vàng có họa tiết rồng phượng, cánh tay áo dài và rộng Mặc quần trắng,

đi giày vân hài bằng nhung màu đỏ hoặc màu vàng hay lam có thêu rồng, phượng bằng hạt cườm hay chỉ kim tuyến lóng lánh Đầu đội khăn vành dây bằng nhiễu, màu lam hay vàng quấn nhiều vòng quanh đầu Trang ph c như trên thường được gọi là kiểu "hoàng hậu", và nó phổ biến từ miền Trung ra tới miền Bắc Có cô dâu mặc áo dài bằng dải mình khô hoa ớt hoặc gấm hoa, sa tanh, hay nhung đỏ mặc quần l a trắng Vấn khǎn vành dây, cổ đeo kiềng hay dây chuyền Tay đeo xuyến, vòng

Trang 13

thống trị dùng làm phương tiện khoe của, thị uy, tuyên truyền cho quan điểm giai cấp, đẳng cấp đương thời Trong khi đó, có những gia đình nhân dân lao động, không đủ tiền mua áo quan cho người chết, phải bó chiếu đem chôn, nói gì tới trang ph c lễ tang cho người chết Ngay cả trong trường hợp này, người ta cũng cố gắng tìm một dải vải nhỏ chít lên đầu, gọi là có tí chút để tang cho đỡ tủi vong linh người chết, cho đỡ đau lòng người sống Qua đó, ta thấy trang ph c lễ tang có ý nghĩa quan trọng thiêng liêng

Có năm loại trang ph c lễ tang (gọi tắt là tang ph c):

1 Trảm thôi là trang ph c đại tang, để trở cha, mẹ 3 năm Trảm thôi có nghĩa

là may áo không cắt mà dùng phương pháp chặt vải cho các mép vải xơ ra một cách tiều t y, tỏ đau đớn Áo trảm thôi dài, rộng, tay th ng may bằng thứ xô rất thô, xấu, không viền gấu, không cài khuy mà chỉ buộc dải Ở lưng áo có may thêm một miếng vải gọi là ph bản Hai vai có hai miếng vải gọi là thích

Con trai, mặc áo trảm thôi còn phải buộc một sợi dây gai ngang lưng và đội một loại mũ gọi là mũ rơm Mũ rơm hình vành bánh xe, tết bằng rơm hay lá chuối khô,

ở trên có chằng hai dải vải xô hình chữ thập, có một quai cũng bằng vải xô để đeo dưới cằm

Trong đám tang mỗi người con trai đội một mũ rơm, chống một gậy Vắng người nào, mũ và gậy phải được treo ở cạnh bàn thờ hay đặt theo áo quan để mọi người cùng biết Con gái, con dâu để trở đại tang cũng mặc xô gai nhưng không chống gậy, không đội mũ rơm mà xõa tóc, đội mũ mấn Gọi là mũ nhưng chỉ là miếng vải xô chiều ngang khoảng 30 cm Chiều dài khoảng hơn 1m gập đôi lại nhưng để hai đầu vải so le, rồi khâu một cạnh, chùm lên đầu thành một hình chóp Đặc biệt, con trai, con gái và vợ người chết còn dùng một dải xô trắng chiều ngang khoảng 30 cm, dài hơn 1m, theo chiều dài gập lại vài lần để hình thành một chiếc khăn có chiều ngang khoảng 5 cm, chít quanh đầu, buộc múi ở phía sau, bỏ thõng hai đầu khăn xuống lưng, gọi là khăn ngang

Ti thôi là tang ph c không trọng bằng trảm thôi Ti thôi có trường hợp để tang 3 năm, có trường hợp để tang 1 năm, 5 tháng hoặc 3 tháng Ti là bằng Gấu áo

Trang 14

ti thôi không để xổ mà có viền qua loa Áp d ng cho những trường hợp như con để trở mẹ ghẻ, mẹ nuôi (cũng có khi dùng trảm thôi) 3 năm Chồng để trở vợ, con rể

để trở bố mẹ vợ 1 năm Cháu để tang ông bà nội, con để tang cha dượng, anh em ruột đều để tang ti thôi 1 năm Trường hợp chị em dâu, chị em ruột đã lấy chồng, anh em chị em coi chú con bác để tang 9 tháng Để tang c ông c bà nội, ông bà ngoại, anh em chị em cùng mẹ khác cha 5 tháng Trường hợp con không ở với cha dượng, chồng để trở vợ lẽ đều để tang ti thôi 3 tháng v.v

2 Cơ phục cũng như ti thôi nhưng áp d ng trong những trường hợp như để trở

bác trai, bác gái, chú, thím, cô ruột (chưa lấy chồng) đều 1 năm

3 Đ i công là trang ph c dùng thứ vải to sợi, còn thô, trong những trường

hợp như cô ruột đã lấy chồng, anh em chị em con chú, con bác, đều 9 tháng

4 Tiểu công là trang ph c dùng thứ vải nhỏ sợi đã làm kỹ trong những trường

hợp như cháu để trở ông bác, bà bác, ông chú, bà thím, bà cô ruột (chưa lấy chồng), bác trai bác gái, chú thím, cô họ (chưa lấy chồng) đều 5 tháng v.v

5 Ti ma là trang ph c có thể dùng vải nhỏ sợi, mịn, trong những trường hợp

như để trở ông bà họ, vợ lẽ cha, anh em năm đời đều 3 tháng v.v…

Đặc trưng của văn hóa mặc Việt Nam mang đậm dấu ấn nông nghiệp, chất nông nghiệp nó thể hiện rõ nhất trong chất liệu may mặc Chất liệu may mặc, để đối phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên, người phương nam ta sở trường ở việc tận d ng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với sứ nóng

1.2.2 Văn óa ặc truyền thốn ron ăn óa ặc Hàn Quốc

Hàn Quốc chịu nhiều ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và nền văn hoá truyền thống hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên mang những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, vì thế nên trong trang ph c truyền thống của Hàn Quốc đều thể hiện được phong cách giản dị, khiêm tốn, nhẹ nhàng, khoáng đạt, đậm đà tính dân tộc, phản ánh đức tính giản dị, chất phác và tâm hồn rộng mở của dân tộc mình Một ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa được thể hiện qua trang ph c truyền thống Hàn Quốc là tín ngưỡng âm

Trang 15

dương ngũ hành Theo các tài liệu lịch sử, tín ngưỡng âm dương ngũ hành đã du nhập vào Hàn Quốc từ rất sớm nhưng bắt đầu từ thời kỳ Tam Quốc thì mới biểu hiện rõ nét Có thể thấy âm dương ngũ hành thể hiện trong rất nhiều yếu tố văn hóa Hàn Quốc và thể hiện rõ nhất trong văn hóa mặc và ở

Trước hết là trong quan niệm phương vị màu sắc của người Hàn: màu xanh là sinh sôi phát triển, là hành mộc, là mùa xuân nằm ở hướng đông Màu đỏ là phúc đức, là hành hỏa, là mùa hè nẳm ở hướng nam Màu trắng là hành kim, là mùa thu nằm ở hướng tây Màu đen là hành thủy, là màu của đau buồn, là mùa đông nằm ở hướng bắc Ở giữa trung tâm là hành thổ, màu vàng

Với quan niệm phương vị và màu sắc như vậy ta dễ dàng nhận thấy trong các trang ph c hanbok, khăn, túi, giấy dán nhà cửa, vải gói bọc tặng vật…của người Hàn đều sử d ng chủ yếu ba màu sắc xanh, đỏ, vàng để thể hiện sự tốt đẹp hoặc cầu mong sự tốt đẹp Các màu sắc hanbok của thiếu nữ chưa chồng là váy màu đỏ,

áo màu vàng, trắng nhưng hanbok của ph nữ có chồng là váy màu xanh (âm) và

áo màu đỏ (dương) để chứng tỏ âm dương hòa hợp Quần áo trẻ em là áo saekdong hay áo

obangchang durumagi (áo ngũ phương) cũng thể hiện rõ màu sắc âm dương, ngũ hành; ác nghi lễ, đồ vật, quần áo, bài trí…liên quan đến lễ cưới, hôn nhân đều mang nghĩa- âm dương rất rõ nét theo nguyên l hài hòa âm dương

Bên cạnh tín ngưỡng âm dương ngũ hành ảnh hưởng đến văn hóa mặc Hàn Quốc còn có văn hóa tôn ti Tiêu chí hình thành cấp bậc của tôn ti dựa trên hệ thống giá trị mà xã hội hoặc cá nhân đã xác định Xã hội Hàn phân hóa theo các thứ bậc rất khác biệt : cao nhất là yangban, đây là đẳng cấp của giai cấp thống trị (quan văn, quan võ) chiếm khoảng 10% dân số, tầng lớp này sống ở Seoul tạo thành một tầng lớp tinh hoa Địa vị của yangban có tình kế thừa và hôn nhân là cùng đẳng cấp yangban trong xã hội Chosun trải dài suốt 500 năm, đã sống và hưởng đặc quyền của giai cấp thống trị Chỉ những người yangban thì mới có thể mặc áo Hanbok màu sáng may bằng vải l a in hoa hoặc l a trơn trong thời tiết lạnh và loại vải xếp nếp hoặc những loại vải cao cấp là những chất liệu nhẹ trong

Trang 16

thời tiết ấm áp Trong khi đó thường dân lại bị pháp luật giới hạn (và cũng do tình hình tài chính không cho phép) phải mang áo bằng vải gai trắng và chỉ được mặc màu trắng, chỉ trong trường hợp đặc biệt mới có thể mặc màu hồng nhạt, xanh nhạt, xám hay đen sẫm Ph nữ Yangban mặc váy quấn rộng 12 P’ok (đơn vị độ dài của Hàn Quốc) và gấp vạt về phía bên trái trong khi thường dân bị cấm mặc Ch’ima có độ rộng hơn 10 P’ok hoặc 11 P’ok, còn vạt bắt buộc phải gấp về bên phải Ngoài ra do đặc thù tự nhiên xã hội và kinh tế của mỗi đất nước khác nhau nên trang ph c truyền thống của dân tộc đó cũng khác nhau Chính vì thế nên trang ph c truyền thống nó thể hiện được tính dân tộc của đất nước mình Tính dân tộc trong trang ph c đó nó thể hiện được tính dân tộc của đất nước mình Tính dân tộc trong trang ph c truyền thống đó chính là nếp sống, tập quán và tâm lý của con người, là sự biểu hiện thích nghi với môi trường khí hậu Những thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của trang ph c gắn bó với hai câu nói trên là biểu hiện cô động những tinh túy dân tộc, trang ph c đó đã tiếp cận với cách sống, cách ứng xử, cách hoạt động, nếp nghĩ, tâm l chung của con người và trang ph c truyền thống của đất nước thể hiện văn hóa của một dân tộc.Nhìn vào trang ph c truyền thống người Hàn Quốc ta thấy họ đã thể hiện rõ sự yêu tự do, tinh thần độc lập, nhưng mặc khác lại hòa đồng rất tình cảm, rất hiền hòa và thương yêu đùm bọc nhau trong quan hệ thân tộc và hàng xóm láng giềng, họ đã xây dựng nếp sống tình cảm và tinh thần đùm bọc, và che chở những người cùng sống bên nhau trong một làng

1.2.2.1 Trang phục cưới truyền thống:

Trong ngày này, các cô dâu sẽ diện một chiếc váy rộng được gọi là hanbok, với hoa văn lộng lẫy và khăn trùm đầu Các màu chủ đạo được sử d ng thường là màu sáng bởi theo người Hàn Quốc, chúng sẽ tạo ra sự vui tươi trong một sự kiện quan trọng như lễ cưới Cô dâu đi những đôi giày hình chiếc thuyền may từ vải l a

và đi tất màu trắng Ngoài ra họ cũng thường vắt trên tay một dải khăn màu trắng với những hình thêu sặc sỡ với các loại hoa Mũ đội đầu cũng là một chi tiết ấn tượng Đối với người Hàn Quốc, vịt được coi là biểu tượng cho hạnh phúc gia

Trang 17

đình bền lâu, sếu biểu trưng cho sự trường thọ và vì thế mà trên dải khăn quàng hoặc dải thắt lưng của cô dâu thường thêu hai con vật này

Trang ph c truyền thống dành cho chú rể là một chiếc áo choàng dài phủ ngoài các lớp quần áo bên trong có ống tay rộng, quần cũng được may rộng, gấu quần buộc lại bằng một dải dây ở mắt cá chân Một chiếc áo gi-lê có thể được khoác bên ngoài chiếc áo choàng dài và chú rể thường đội thêm một chiếc mũ đen

1.2.2.2 Tang phục

Gia đình của người đã mất mặc đồ tang và mặc cho người đã mất vải liệm Vải liệm được chuẩn bị trong cuối đời của người già Đồ tang cũng có sự khác nhau tuỳ theo khu vực cũng như trong nhà Cũng có trường hợp mặc áo sợi gai dầu, chủ yếu màu trắng, mặc áo màu đen

Nghiên cứu về văn hóa mặc truyền thống không phải là giữ lấy cái trang ph c thời

xa xưa, thời nghèo khổ để làm mẫu mực cho cuộc sống hiện đại Nhưng tính triết

lý về lối sống, cách sống, cách ứng xử với thiên nhiên của thế hệ trước luôn là bài học sâu sắc không bao giờ cũ cho các thế hệ hiện đại Tìm hiểu về trang ph c truyền thống không chỉ cho chúng ta những giá trị văn hoá, giá trị nhân văn mà từ

đó chúng ta có thái độ đúng đắn hơn, trân trọng hơn với văn hóa truyền thống của dân tộc

1.3 Yếu tố ản ưởn đến ăn óa ặc Việt Nam

1.3.1 Hoàn cảnh tự nhiên

Các hình thái văn hoá đầu tiên của loài người liên quan đến nhu cầu căn bản nhất của con người: Đó là nhu cầu sinh tồn Để sinh tồn họ phải ăn, ở và mặc Đó cũng là những quan hệ đầu tiên của con người với môi trường Những dấu ấn của mối quan hệ ấy trong buổi sơ khai của loài người vẫn còn được nhận thấy trong văn hoá ăn, ở và mặc của con người trong xã hội ngày nay

Nằm ở khu vực Đông Nam Á Việt Nam có đầy đủ những đặc trưng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều của khu vực Cùng với ¼ diện tích đất đai là đồng bằng lầy lội góp phần làm cho Đông Nam Á trở thành “ Vùng trồng lúa nước chủ yếu trên thế giới theo mô hình văn hóa thảo mộc”( Hoàng Thiếu Sơn) Những đặc thù riêng

Trang 18

của Việt Nam so với khu vực là bởi vị trí địa lý có tính chất bán đảo làm nó có hai mùa rõ rệt nên gọi là nhiệt đới gió mùa Ngoài ra Việt Nam còn nằm trong một trung tâm xoáy nghịch lớn về áp suất khí quyển, gây ra những cơn bão bất chợt ở

bờ biển từ tháng 6-8 âm lịch chạy từ Vịnh Bắc Bộ và Nam Trung Bộ

Diện tích đất nước ta với 329.600km2 không rộng lớn lắm, trong đó ¾ là núi đồi

và cao nguyên, chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng đồng bằng, vùng trung du và vùng núi

Do đặc điểm khí hậu Việt Nam nóng ẩm, cùng với nền văn hóa nông nghiệp lâu dài nên trang ph c cũng phải phù hợp với điều kiện thời tiết, thuận tiện trong lao động và sản xuất.Chính hai nhân tố môi trường tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ tự nhiên là khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới và công việc trồng lúa nước có nhiền ảnh hưởng và chi phối tới cách thức trang ph c người Việt Nam, đặc biệt là trang

ph c của ph nữ Điều kiện tự nhiên, văn hóa đó đã thúc đẩy sự phát triển tính đa dạng của từng vùng, từng khu vực của trang ph c để con người thích nghi và tồn tại Đồng thời thiên nhiên ấy, khí hậu ấy chính là điều kiện ban đầu cho việc hình thành và xử lý trang ph c có thể nói trang ph c của ph nữ Việt Nam đã ra đời dựa trên bối cảnh của nền “văn minh thực vật” với môi trường sông nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm tất cả tồn tại hòa quyện vào nhau một cách hài hòa, uyển chuyển và rất gần gũi với thiên nhiên Đối với người Việt trang ph c còn có chức năng trị bệnh, phòng bệnh với khí hậu ẩm thấp của vùng nhiệt đới gió mùa, bệnh phong thấp phổ biến, người ta chọn gỗ đặc biệt để làm guốc cho người già, vật liệu đặc biệt để làm mũ cho trẻ em Thắt lưng và trang sức, một vài thứ, cũng

có tác d ng đó Bên cạnh xu hướng này, một xu hướng thường thấy ở người Việt

là sử d ng một vật kiêm nhiều chức năng Chiếc nón lá đã được nhiều người đề cập đến, chiếc khăn trùm đầu để quàng cổ, vắt vai, làm khăn lau và gặp lúc bất ngờ cũng có khi là vũ khí phòng hộ Để đối phó với khí hậu nóng bức, ph nữ khi làm l ng, nhất là trong bóng râm dù là thời hùng vương hay đầu thế kỷ XX vẫn thường mặc váy yếm với hai tay và lưng để trần Ph nữ nay mặc váy cởi trần Đàn ông khi lao động thường cởi trần Các thành ngữ “áo vận, yếm mang” (đối với ph nữ) và “cởi trần đóng khố”( đối với nam giới) miêu tả rất chính xác trang

Trang 19

ph c lao động truyền thống Cách mặc với m c đích đối phó với môi trường tự nhiên này dần dần trở thành một quan niệm về cái đẹp của người Việt Nam cổ truyền: “ Đàn ông đóng khố đuôi lươn Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh” khi lao động và trong những hoạt động bình thường, nam nữ cũng thường mặc áo ngắn có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà; ngoài Bắc gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba Áo có đính cúc nhưng ph nữ khi mặc thường không cài cúc thường để cho mát, vừa để hở yếm trắng làm duyên Do đặc điểm khí hậu Việt Nam thường xuyên có nắng nóng nên trang ph c cũng phù hợp với điều kiện thời tiết thuận tiện trong lao động và sản xuất, người Việt chọn chất liệu vải mềm, mỏng, để may y ph c Sự khác biệt giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam cũng làm trang ph c truyền Việt Nan thêm đa dạng Ở miền Bắc, khí hậu có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt Ảnh hưởng của gió mùa khiến khí hậu miền Nam chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Qua cách ứng xử với môi trường tự nhiên chúng ta thấy được rằng trang ph c không những đáp ứng nhu cầu vật chất

mà còn đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đặc biệt là người ph nữ Trang

ph c thể hiện cách ứng phó linh hoạt của con người trước điều kiện tự nhiên Cách

sống dung dị, phóng khoáng hòa hợp với môi trường của người Việt được thể hiện rõ nét qua cách ăn mặc Ngoài ra nó còn thể hiện mức sống, trình độ văn minh và đặc trưng văn hóa của người Việt

Hình : Trang phục áo yếm xưa của phụ nữ Việt Nam

Trang 20

1.3.2 Hoàn cảnh xã hội

Trang ph c gắn bó mật thiết và tồn tại trong trong sự vận hành đời sống tộc người, là một trong những nhu cầu “ đời sống trực tiếp” của xã hội loài người là vật d ng trước hết cần thiết cho con người sau nữa là làm đẹp cho con người Trang ph c là sự thể hiện nhiều mặt đời sống xã hội: phong t c, đạo đức, tâm l , nếp sống, lối sống, là sản phẩm văn hóa phản ánh nhiều khía cạnh văn hóa dân tộc Trang ph c trước tiên là phải biểu hiện nếp sống tộc người Nhiều hoạt động mang đặc trưng văn hóa tộc người đều phải có sự tham gia của trang ph c Mỗi giới tính đều có lối cắt, may, xử l trang ph c khác nhau Mỗi lứa tuồi, mỗi nghề nghiệp cũng có cách xử l trang ph c khác nhau phù hôp tâm l và đặc điểm sinh hoạt Trang ph c tham gia vào các cuộc giao tiếp và văn hóa trang ph c cũng thể hiện một phần trong văn hóa giao tiếp của con người Trong sinh hoạt cộng đồng như hội hè, lễ tết trang ph c khác nhau theo từng môi trường Trong hôn nhân và tang

lễ trang ph c có những dấu hiệu riêng Trang ph c cũng thích ứng với môi trường

mà chủ nhân tạo ra nó sinh t và làm ăn do đó nó mang những nét đặc thù riêng của từng miền vùng.Trong xã hội có giai cấp, trang ph c bị phân hóa theo từng đẳng cấp với những quy định khá ngoặt ngèo mà mọi người nhất nhất phải tuân theo Từ khi giành lại được quyền độc lập, tự chủ vào thế kỷ X, các vương triều phong kiến đã lưu đến sự thống nhất trong đa dạng, với những quy chế, thể lệ Tính thống nhất này cũng có thể được nhận thức được qua tính giai cấp trên trang

ph c, ở từng kiểu áo, mẫu quần, màu sắc, hoa văn, trang điểm Trang ph c thể hiện tôn ti trật tự phong kiến, ngăn cấm mọi sự vi phạm

Vua đứng đầu triều đình, dưới có chín phẩm quan văn, quan võ và các cơ quan chuyên trách Nền kinh tế phát triển mọi mặt, nhà nước có cơ sở nuôi tằm, dệt l a Những người thợ đã dệt đủ các loại gấm vóc, l a, đoạn… nhiều màu có họa tiết trang trí đặc sắc Vua đội mũ bình thiên, mũ quyển vân hay mũ phù dung, mặc áo cổn, đeo đai lưng kim long Cổ áo đính là trắng khăn kết tua vàng ngọc châu Còn

có loại mũ gọi là mũ tế đằng khảm ngoc thạch bích nê Những trường hợp có nghi

lễ vua mặc áo giao lĩnh, bằng sa màu vàng, đội mũ có thao rủ ngoài ra các tước

Trang 21

vương đội mũ củng thần( có trang trí con ong, con bướm bằng vàng, nhiều ít, to nhỏ ph thuộc vào cấp bậc) Thân vương mặc áo tiêu kim tử ph c (áo màu tím thêu kim tuyến) Một số tước phẩm khác đội mũ miện như kim ngân gián đạo (vàng xen kẻ bạc), hoặc bằng bạc Các nội quan hầu cận bậc cao mặc phẩm ph c, đội mũ dương thường đính con ong, con bướm vàng, bậc trung thì áo mũ sắc chế hơi giảm,bậc dưới mặc áo màu tía, đội mũ dương thường màu tía Khăn đội lúc thường của quan bậc cao thường hay dung nhung màu tía xen màu biếc có sáu tua kết sau khăn Đai đeo ngang Bậc trung, kết tua tía, bậc dưới tua đen, khảm quanh ngọc, vàng, đồi mồi… chánh chưởng, nội nhân các c c chi hậu và thị vệ nhân bách tác… đội mũ bồn hoa

Đối với nhân dân để phân biệt đẳng cấp và đề phòng những hiện tượng tiếm lấn, triều đình ra lệnh yết biểu cấm dân gian mặc áo màu vàng, đi hài, mang hài và dùng đồ đạc chạm rồng, vẽ phượng Cấm dệt mũ mát vì cho rằng nhiều người lấy trộm long đuôi ngựa triều đình để làm mũ này Đàn bà lao động thường mặc váy dài đen chấm gót, áo cánh ngắn bằng vải trắng hay l a tơ tằm Yếm màu trắng, hoặc hoa hiên hay vàng tơ tằm Thắt lưng bằng l a màu Khi có khách đến nhà hay

đi ra phố thường mặc thêm áo dài

Đặc điểm th nhất trong trang ph c người Việt là có tính thực tiễn cao Do đó

trang ph c của họ trước hết chú tới giá trị sử d ng

Đặc điểm th hai là trang ph c của người Việt hình thành và phát triển trong

một xã hội nông nghiệp gắn với kỹ thuật thủ công truyền thống thông qua sự cần

cù, óc sáng tạo, bàn tay khéo léo

Trang ph c cổ truyền của người Việt không chỉ có giá trị sử d ng mà còn đạt trình độ thẩm mỹ khá cao trong nghệ thuật trang trí và ngệ thuật tạo hình Từ việc tìm kiếm, trồng trọt để tạo ra nguyên liệu đến việc chế biến, dệt vải, may cắt, thêu thùa, trang trí dù ở trình độ thủ công thô sơ nhưng đã tạo ra được những sản phẩm độc đáo tới nay vẫn luôn được ưa chuộng

Đặc điểm th ba là trang ph c của người Việt không phát triển một cách biệt

lập mà tiếp xúc đan xen giữa các yếu tố Việt với văn hóa các dân tộc khác trên cơ

Trang 22

sở tiếp thu những tinh túy nhất nhưng vẫn bảo lưu đặc trưng riêng Trong quá trình phát triển của tiến trình chung của dòng chảy văn hóa, trang ph c Việt thu nhận khá nhiều yếu tố bên ngoài để đổi mới từ màu sắc đến đường nét, kiểu dáng

Đặc điểm th tư là trong sự vận động phát triển, quy luật kết hợp truyền thống

đổi mới đã và vẫn giữ cho trang ph c Việt cốt cách, cái nền tảng ban đầu tạo nên những dấu ấn đậm nét truyền thống Mầu nâu non gần gũi với màu phù sa của bùn đất, màu lam, màu chàm gần gũi với màu sắc núi non, các màu sắc tươi sáng bắt nguồn từ các màu sắc của các loại hoa, quả ( hoa đào, hoa thiên l , hoa mơ…) sự mềm mại tha thướt của những đường nét trang ph c bắt nguồn từ vẻ uống lượn của những dòng sông, con suối không chỉ chứng tỏ sự hòa nhập của con người vào thiên nhiên, mà còn phù hợp và tiện lợi trong mọi sinh hoạt của cuộc sống hiện đại Nhiều tư liệu về dân tộc học, khảo cổ học,

ngôn ngữ học, văn học dân gian v.v… chứng

minh rằng cách đây hàng nhiều ngàn năm, đất

nước ta đã có những bầy người nguyên thủy

sinh sống Nhiều hiện vật gốm, đá, đồng thau

nằm trong lòng đất ừ hàng ngàn năm nay đã

được khai quật, với các hình vẽ trên trống

đồng, thạp đồng, cho phép khẳng định trang

ph c của con người từ xa xưa ấy

Trong quá trình phát triển, nó đã cố vươn tới

sự phong phú đa dạng và độc đáo riêng biệt,

trong các chủng loại, kiểu dáng, màu sắc giữ

gìn được tinh hoa, bản sắc cổ truyền dân tộc

tạo nên nét đặc thù của các dấu ấn truyền

thống tạo nên văn hóa mặc riêng biệt, độc đáo

của người Việt Hình: trang phục áo dài xưa

Nói tóm lại qua cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, chúng ta thấy rằng trang ph c không những đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn đáp

Trang 23

ứng nhu cầu tinh thần của con người đặc biệt là người ph nữ Trang ph c của người Việt Nam thể hiện cách ứng phó linh hoạt của con người trước điều kiện tự nhiên, xã hội cách sống dung dị, phóng khoáng, hòa hợp với môi trường sống của con người đuợc thể hiện rõ nét qua cách ăn mặc Ngoài ra còn thể hiện mức sống trình độ văn minh và đặc trưng văn hóa nước ta.

1.4 Yế ố ản ưởn ăn óa ặ H n Q ố

1.4.1 Ho n ản ự n n

Đại Hàn Dân Quốc (gọi tắt là Hàn Quốc) nằm ở phía đông của l c địa châu Á – trải dài 1100km 2 từ Bắc xuống Nam Bán đảo này có đường biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc và Nga, phía Đông là biển Đông và Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải, phía Nam giáp eo biển Triều Tiên Ngoài phần l c địa ra, Hàn Quốc còn có

3200 đảo lớn nhỏ

Hàn Quốc có diện tích tự nhiên là : 99.394km 2 , cho dù là diện tích lãnh thổ không rộng lắm thế nhưng lãnh thổ vì bị chia cắt ra thành nhiều dãy núi và sông nên sự giao lưu giữa các khu vực với nhau cũng rất là khó khăn Bởi vì thế, mõi khu vực đã hình thành phát triển nên hình thái cư trú rất đa dạng và có đặc tính riêng Do vị trí địa lý nằm ở phía Đông của l c địa châu Á nên bán đảo Hàn một mặt vừa tiếp giáp với l c địa Trung Quốc và ba mặt còn lại vừa được bao bọc bởi biển Đông Và cũng do đặc tính địa hình kéo dài theo hướng Bắc Nam nên có sự khác biệt lớn về nhiệt độ, cây trồng phân bố rất đa dạng và trên 70% diện tích lãnh thổ là núi

Bán đảo Triều Tiên có nhiều dãy núi và dòng sông đẹp tới mức người Hàn Quốc thường ví đất nước mình như một tấm vải thêu kim tuyến tuyệt đẹp Điểm cao nhất là ngọn Baekdusan ở Bắc Triều Tiên, chạy dọc theo biên giới phía Bắc với Trung Quốc Đó là ngọn núi lửa đã tắt cao 2744m so với mực nước biển Dãy núi này được xem là một biểu tượng quan trọng của tinh thần Hàn Quốc và được nhắc tới trong quốc ca Hàn Quốc

Trang 24

Hàn Quốc có lượng sông suối khá lớn so với diện tích lãnh thổ Những tuyến giao thông đường thuỷ này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lối sống của người Hàn Quốc và trong quá trình công nghiệp hoá đất nước

Do Hàn Quốc trải dài từ 330 – 380

độ vĩ bắc, kinh độ 126 đến kinh độ 137, ba mặt giáp biển và nằm giữa khí hậu l c địa với khí hậu biển nên Hàn Quốc nằm ở vùng khí hậu ôn đới và có 4 mùa rõ rệt Mùa đông thì lạnh và khô; màu hè nóng ẩm; mùa xuân ấm áp và mùa thu thì khí hậu mát mẻ nhưng có phần hơi ngắn Nhiệt độ bình quân trong năm từ 10 đến 16 độ Nóng nhất là vào tháng 8, nhiệt độ

từ 23~270C, lạnh nhất vào khoảng tháng 1 từ -6~70C Vào mùa đông, có khi nhiệt

độ xuống thấp tới -10~150

C, mùa hè có khi nhiệt độ lên tới trên 300C

Chính điều kiện tự nhiên và khí hậu của Hàn Quốc là một trong những nhân tố tác làm cho trang ph c Hàn Quốc trở lên đa dạng về chất liệu Ở Hàn Quốc, có những vùng khác nhau nổi tiếng về loại vải riêng của mình Hansan, ở phía Nam tỉnh Ch'ungch'ong, đã dệt nên loại vải gai trắng nổi tiếng đến mức đã được tiến cống sang nhà Đường trong suốt thời Korkyo (918-1392) Vải làm bằng sợi gai dầu ở tỉnh Andong cũng từng rất được ưa chuộng bởi tầng lớp thượng lưu Chất liệu vải và kỹ thuật sản xuất phản ảnh rất rõ nét văn hóa và xã hội Hàn Quốc Do Hàn Quốc có nhiều loại hình thời tiết nên trang ph c của người dân xứ Hàn được làm từ cả dây gai dầu, sợi gai, cotton, muslin, l a và sa-tanh

Đặc biệt vào mùa đông, do ảnh hưởng của khí hậu l c địa nên nhiệt độ bình quân trong năm thuộc dạng thấp hơn so với các đất nước khác có cùng vĩ độ, thế nhưng do hiện tượng ba ngày lạnh bốn ngày ấm nên cũng có thể chịu đựng cái lạnh tương đối dễ dàng, vào mùa hè thì do chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên lượng mưa tập trung trong năm khoảng 50 – 60% và thời tiết thuộc dạng nóng và

ẩm Mùa thu nắng vàng, trời trong xanh, phong cảnh đẹp khác thường với nhiều màu sắc rực rỡ của cỏ cây, hoa lá Đây là mùa gợi nhiều thi hứng và là mùa đẹp nhất trong năm Mùa thu bắt đầu từ tháng 9 đến gần cuối tháng 11 Mùa thu là mùa thu hoạch và cũng là mùa của lễ hội dân gian

Trang 25

Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt và sự chuyển đổi giữa các mùa cũng diễn ra rõ ràng Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, thời tiết mát mẻ, mùa hè nóng và ẩm, mùa đông thì lạnh và khô với nhiều tuyết Chính điều kiện tự nhiên và khí hậu hàn quốc là một trong những nhân tố làm cho trang ph c hàn quốc trở nên đa dạng về chất liệu ở hàn quốc.

Trang ph c truyền thống của người Hàn Quốc được gọi là Hanbok Hanbok được làm để phù hợp với lối sống sinh hoạt của người Hàn Quốc nhưng có thể coi

đó là một biểu trưng của văn hóa Hàn Quốc Hanbok được tạo nên bởi các đường sọc thẳng được tạo hình rất đẹp, không những thế còn che lấp được khuyết điểm của hình thể

Do điều kiện thời tiết đa dạng, quần áo được làm bằng những chất liệu khác nhau như sợi gai, l a, cotton, và xatanh Đặc biệt vào mùa đông, do ảnh hưởng của khí hậu l c địa nên nhiệt độ bình quân trong năm thuộc dạng thấp hơn so với các đất nước khác có cùng vĩ độ, thế nhưng do hiện tượng ba ngày lạnh bốn ngày ấm nên cũng có thể chịu đựng cái lạnh tương đối dễ dàng, vào mùa hè thì do chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên lượng mưa tập trung trong năm khoảng 50 – 60% và thời tiết thuộc dạng nóng và ẩm

Do bị ảnh hưởng bởi cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông chất liệu làm hanbok sẽ dày dặn hơn, có thể nhồi thêm bông như khu vực phía bắc Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, thời tiết mát mẻ Vào đầu mùa xuân thường có gió b i vàng từ các sa mạc phía Bắc của Trung Quốc thổi tới, bước sang tháng 4 là những làn gió ấm từ phương Nam Đến giữa tháng 4 không gian tràn ngập hương hoa cỏ mùa xuân Đây là lúc đầu v mùa gieo hạt hàng năm Mùa xuân kéo dài hết tháng năm và có lượng mưa không đáng kể

Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt và sự chuyển đổi giữa các mùa cũng diễn ra rõ ràng Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, thời tiết mát mẻ, mùa hè nóng và ẩm, mùa đông thì lạnh và khô với nhiều tuyết Chính vì vậy, người Hàn Quốc luôn sử d ng những chất liệu hay giúp cho phù hợp với tự nhiên hơn nên dùng chủ yếu chất liệu

gì để tránh được cái nóng và cái lạnh

Trang 26

Vào mùa hè, người ta sử d ng chất liệu mỏng và thoáng mát Đặc biệt, vào mùa thu rất nhiều ph nữ thích mặc quần áo làm từ l a tơ mỏng bởi vì khi chuyển động, quần áo sẽ phát ra tiếng sột soạt giống như âm thanh khi dẫm lên lá khô.

1.4.2 Ho n ản xã ộ

1.4.2.1 Thời kỳ Tam Quốc ( 57 trước CN- 668 sau CN)

Thời Tam quốc (năm 57 trước công nguyên – năm 668 sau công nguyên) khi các vương quốc koguryo, paekche và shilla thống trị bán đảo Triều Tiên Điều này

đã được thể hiện rõ ràng trên các bức tường đá tại các khu lăng mộ ở Susani; Ssangyeong-chong thời Kugogyo từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI Qua nhiều khảo nghiệm, các nhà văn hoá đã rút ra những nét chung trong trang ph c trên nhiều bức hoạ đó Ph nữ mặc váy có nhiều màu sắc sặc sỡ, áo dài qua hông, vạt bên phải áo gấp sang phía bên trái, cổ và đường viền tay áo có hoa văn sắc sảo Đặc biệt cũng ở thời kỳ này có giai đoạn ph nữ còn mặc thêm một chiếc quần dài bên trong váy và một áo khoác bên ngoài Nam giới thì mặc áo dài quá hông, tay dài

và quần dài, trang ph c cũng được trang trí với nhiều hoa văn Ngoài ra cả nam giới và nữ giới đều đi giày theo kiểu giày ống bây giờ Kiểu mẫu như thế có thể do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình khắc nghiệt phương Bắc cùng cuộc sống du

m c với trung tâm là lưng ngựa tạo nên Hơn nữa, theo các nhân tố địa l và văn hoá, trang ph c này còn chịu nhiều ảnh hưởng của kiểu áo Trung Quốc Tại vương quốc Paekche và Shilla cùng thời đều có kiểu trang ph c tương tự nhau Ph c chế theo các bức tường đất được tìm thấy trong các ngôi mộ cổ cho thấy thời kì này

ph nữ mặc Jeogori có tay hẹp, váy nhiều nếp gấp, có nơ buộc thắt lại ở ngực Sau

đó, áo choàng l a kiểu Trung Quốc du nhập vào Triều Tiên từ nước láng giềng này, dần dần được giới quý tộc và thượng lưu chấp nhận từ năm 648 thời Shilla - vương quốc đã thống nhất bán đảo từ tam quốc thành một quốc gia thống nhất năm 668 (với kinh đô là kyongju) Áo choàng này được mặc bên ngoài bộ y ph c truyền thống dân tộc Ph nữ quý tộc bắt đầu mặc quần – váy dài kín người, áo choàng tay dài, được thắt lại bằng ruy băng ở eo Còn đàn ông mặc quần ống rộng, hẹp ở mắt cá chân và một áo choàng bó ở cổ tay và thắt ở eo Như vậy, cấu thành

Trang 27

một bộ Hanbok nữ thời kỳ này gồm có: váy dài kín người bên trong (Ch’ima), áo khoác ngắn (Jeogori) có một dải ruy băng thắt nơ ở ngực phía bên trái và áo choàng ( P’o ) mặc bên ngoài trông rất thanh lịch Còn đàn ông mặc Magoja (áo trên) và Joggi (áo và quần dài rộng rãi, đồng bộ, mặc bên trong) với áo khoác ngắn Jeogori

1.4.2.2 Thời đại Koryeo (918-1392)

Năm 935 triều đại Goryeo thay thế triều đại Silla Tên gọi Hàn Quốc có từ

đó Đạo phật mà từ thời Silla đã là quốc đạo, nay đã cùng phát triển rực rỡ cùng với với hội họa và nghệ thuật Trong thời Goryeo Váy (Chima) của Hanbok được mặc ngắn hơn, áo ngắn (Jeogori) chỉ mặc tới eo và trên ngực có thắt một chiếc nơ (thay cho thắt lưng) còn ống tay áo được cắt lượn một đường cong rất nhẹ nhàng

và thanh thoát

1.4.2.3 Thời đại Choson (1392 ~ 1910)

Năm 1392, triều đại Choson bắt đầu Triều đại này do Yi-song-gye (tên huý của vua Taejo) _ một vị tướng cũ của triều Koryo dựng nên Yi-song-gye đã dời

đô từ Keasong nơi ảnh hưởng của Phật giáo còn mạnh về Seoul năm 1394 Kể từ đây Khổng giáo đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống và được coi là quốc đạo Chính những nghi lễ, phong t c tập quán theo đạo Khổng đã quy định kiểu áo

mà tầng lớp quý tộc, thành viên hoàng tộc, giới thượng lưu, dân thường phải mặc trong các dịp lễ hội, cưới hỏi, ma chay Trong thời đại này, sự kiên định, trung thực của nam giới, sự trinh tiết của ph nữ đã trở thành chuẩn mực đạo đức trong

xã hội và được phản ánh trong trang ph c Hàn Quốc Đây là thời kỳ sự phân biệt chủng tộc hết sức khắt khe Người nam đã mang chức tước phẩm hàm được mặc hanbok dài, có dải đeo, đội mũ vành lông đuôi ngựa, áo màu theo phẩm tước, đi giày ủng Người nữ tầng lớp lao động chỉ được phép mặc hanbok hẹp, vải mộc với những quy định hết sức kỳ quặc chỉ nhầm m c đích để mọi người dễ nhận biết qua

y ph c một người đã bị tước bỏ mọi quyền tối thiểu con người Yangban tầng lớp thượng lưu theo kiểu cha truyền con nối màu sáng may dựa trên học vị và quyền hành hơn là của cải thì mặc hanbok bằng vải l a in hoa hay l a trơn trong thời tiết

Trang 28

lạnh và loại vải xếp nếp hoặc những loại vải cao cấp là những chất liệu nhẹ trong thời tiết ấm áp Sự phân biệt màu sắc giữa người có tuổi với người trẻ trong hoàng tộc mới rõ ràng còn trong người dân thì không có, bởi vì quanh năm họ chỉ mặc những bộ hanbok màu trắng hoặc màu nhạt Bên cạnh đó thường dân lại bị pháp luật giới hạn( và cũng do tình hình tài chính không cho phép) nên họ chỉ mặc được màu trắng, vào dịp lễ tết được mặc hồng nhạt, xanh nhạt, xám hay đen xám Những ph nữ qu tộc thời choson thường bỏ ra rất nhiều thời gian để thêu những ruy băng buộc tóc đầy những hình trang trí, những chiếc ví bằng l a Vào những ngày lễ lớn chỉ những người trong hoàng tộc hay có địa vị xã hội mới được mặc hanbok đậm màu và kèm nhiều ph kiện đi kèm, sự phân biệt màu sắc giữa người

có tuổi với người trẻ tuổi trong hoàng tộc mới rõ ràng còn trong người dân thì hầu như không có, bởi vì quanh năm họ chỉ mặc những bộ trang ph c màu trắng hoặc màu nhạt Vào những ngày lễ lớn người Hàn Quốc mặc những bộ Hanbok Hôn lễ

ph c và tang ph c được coi là lễ ph c Trang ph c mặc trong ngày cưới là những

bộ Hanbok thiết kế trang trọng và rực rỡ Trang ph c có hình thức đơn giản, chỉ là

bộ đồ xô gai để tỏ lòng thương tiếc người đã khuất Vào ngày tết nguyên đán, tết trung thu hay vào các ngày lễ lớn, người Hàn Quốc mặc những bộ Hanbok đẹp nhất của mình, màu sắc rực rỡ tươi vui Căn cứ vào màu sắc, biểu tượng của váy

áo người ta còn đoán biết được lứa tuổi, ước mong của người mặc Chẳng hạn, người ph nữ trung tuổi mặc áo xanh chuối và chân váy vàng hoặc màu xanh lá cây sáng Ph nữ lớn tuổi hơn mặc áo màu xanh chuối nhạt hoặc màu xám sáng với chân váy màu xanh lá sẫm… để thể hiện ước muốn sống lâu Còn ph nữ kết hôn, nếu mặc váy hồng là ước muốn sinh con gái, màu tím là: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ là mong ước có cuộc sống vợ chồng hoà hợp

Các cô gài trẻ thì mặc váy màu đỏ và áo khoác màu vàng với ống tay áo kẻ sọc nhiều màu Khi đính hôn mặc màu hồng, kết hôn mặc váy cưới, sau tuần trăng mật mặc váy đỏ và áo xanh để chào bố mẹ chồng Vào những dịp khác, họ có thể mặc Hanbok với đủ màu sắc và chất liệu, bao gồm l a thêu, vẽ hoặc mạ vàng

Trang 29

Hanbok được may bằng gấm l a hay satanh cho mùa đông, bằng l a mỏng khi thời tiết ấm áp và bằng vải sợi bông dệt bằng tay, hồ nhẹ cho mùa hè

Có thể nói rằng sự đa dạng của Hanbok là một nét độc đáo Sự khác nhau giữa Hanbok của vua quan và người dân thường, giữa người giàu và người nghèo, Hanbok mặc vào dịp tết, đám cưới, đám tang hay ngày thường đều có những ý nghĩa riêng Việc phân loại Hanbok chỉ là một cách giới thiệu sự đa dạng của Hanbok, còn vẻ đẹp thực sự của nó ẩn chứa bên trong chính linh hồn dân tộc của

Hình: trang phục hanbok

Trang 30

HƯƠNG 2: Ặ TRƯNG VĂN HÓA MẶ TRUYỀN THỐNG

VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐ

2.1 ặ rưn ăn óa ặ ron ăn óa r yền ốn V ệ Na

2.1.1 ặ rưn ăn óa ặ ron ăn óa r yền ốn V ệ Na

Đối với người Việt mặc không chỉ là vấn đề trang ph c mà nó bắt mạch văn

hóa và trở thành văn hóa trong đời sống tinh thần

Mặc cũng như ăn, ở vốn là một trong những nhu cầu vật chất thiết yếu của loài người, vốn gốc gác từ nhu cầu sinh lý, sinh học Trên diễn trình lịch sử và sự phát triển của kinh tế xã hội, văn minh, việc mặc trở thành một thành tố tổng thể trong cấu trúc văn hóa – xã hội Nó hình thành khẩu vị cá nhân đến khẩu vị cộng đồng (gia đình, họ hàng, vùng miền), từ đó hình thành những nguyên lý, nguyên tắc, quy ước về mặc (cách hành xử, đối xử tạo nên triết lý, triết lý sống)

Việt Nam với điều kiện tự nhiên mưa nhiều, nóng ẩm và có gió mùa đã góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa mặc Việt Nam Với nền văn minh thực vật hay nền văn minh lúa nước Nông nghiệp trồng lúa nước đã trở thành cội nguồn, thành mẩu số chung của nền văn minh khu vực “ Đó là một nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đang xen phức tạp… nhưng mẫu số chung là văn minh nông nghiệp trồng lúa, xóm làng” (Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ: Đông Nam Á một nền văn hóa cổ xưa Báo nhân dân, số ra ngày 1-10-1978)

Chính hai nhân tố môi trường tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ tự nhiên là khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới và công việc lao động trồng lúa nước có nhiều ảnh hưởng và chi phối tới cách thức trang ph c của người Việt Nam, đặc biệt là trang

ph c của ph nữ Điều kiện tự nhiên, văn hóa đó đã thúc đẩy sự phát triển, tính đa dạng của từng vùng, từng khu vực của trang ph c để con người thích nghi và tồn tại Đồng thời thiên nhiên ấy, khí hậu ấy chính là điều kiện ban đầu cho việc hình

Trang 31

thành và xử l trang ph c có thể nói trang ph c của ph nữ Việt Nam đã ra đời dựa trên bối cảnh của nền “văn minh thực vật” với mội trường sông nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, tất cả tồn tại, hòa quyện vào nhau một cách hài hòa, uyển chuyển và rất gần gũi với thiên nhiên “ chẳng hạn về màu sắc trang ph c, hầu hết đều có nguồn gốc từ tự nhiên: màu nâu non vốn gần gũi với màu phù xa của bùn đất, màu lam, màu chàm vốn gần gũi với màu của núi non, các màu sắc tươi sáng dường như bắt đầu từ các sắc màu của các loại hoa, quả( hoa đào, hoa l , vàng mơ…) Sự mềm mại, tha thướt của những đường nét trang ph c trong tà áo dài Việt Nam Dường như môi trường văn hóa sông nước có ảnh hưởng không phải là nhỏ tới cách thức trang ph c ph nữ Việt Nam Chiếc váy của ph nữ là một dẫn chứng c thể chứng tỏ điều kiện địa l - môi trường văn hóa có ảnh hưởng nhiều tới trang ph c Với hệ thống sông ngòi dày đặc, lượng mưa lớn, khí hậu nóng ẩm, thì chiếc váy là một trang ph c hết sức thuận lợi của ph nữ Việt Nam,

có thể mặc trong bất kỳ trường hợp nào Có phải vì thế mà hiện nay váy vẫn là một trang ph c hết sức thuận lợi của ph nữ Việt Nam sử d ng, mặc dù kiểu cách

và chất liệu có nhiều thay đổi để phù hợp với lối sống hiện đại ngày nay

Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, mang đặc trưng nền nông nghiệp lúa nước thì trang ph c của ph nữ Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa du nhập từ bên ngoài vào, chủ yếu là chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa Chính vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên những bộ trang ph c rất kín đáo vói nhiều lớp áo mang nhiều màu sắc khác nhau Người ta có những quy định rất khắt khe về cách ăn mặc Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kì màu nào khác ngoài những màu đen, nâu hay trắng Quần áo của người dân hầu hết là tầm thường và đơn sơ, để hợp với thân phận của mình trong xã hội (ngoài những dịp lễ quan trọng hoặc lễ cúng tế, đám cưới )

Một trong những y ph c cổ xưa nhất được người ph nữ bình dân mặc cho đến đầu thế kỉ XX là bộ "Áo tứ thân" Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12

Trang 32

Vào thế kỷ 18, người bình dân ở hết 3 miền Việt Nam đã bắt đầu mặc bộ đồ pijama đơn sơ (có thể có nguồn gốc ở miền Nam), được gọi là áo cánh ở miền Bắc

và Áo bà ba ở miền nam Khăn trùm đầu của họ là một mảnh vải đơn giản quấn quanh đầu và đồ đi dưới chân chỉ là một đôi guốc Trong những dịp trọng đại, đàn ông mặc hai thứ đồ truyền thống là áo dài có xẻ hai bên, và một khăn xếp, ( khăn đóng ) thường có màu đen hay xám và được làm bằng vải bông hay tơ tằm

Trang ph c của cung đình( Kinh thành ) khác biệt hẳn so với trang ph c đơn sơ của nông dân, khá phức tạp, có tới ba ch c kiểu áo khác nhau để hợp với từng dịp

và nghi lễ Chỉ riêng nhà vua được quyền mặc đồ màu vàng, quan lại mặc đồ đỏ hay màu tía Phức tạp hơn nữa là mỗi triều đại có thể chuộng các kiểu trang

ph c cung đình khác triều đại trước đó Chính vì vậy, trang ph c ở trong cung đình ( Kinh thành) nhiều lúc thay đổi với mỗi triều đại

Trang ph c nữ có lâu đời ở Việt Nam được giới nữ ưa chuộng nhất ngày nay, chiếc "Áo dài Việt nam", thường được mặc trong những dịp đặc biệt như cưới hỏi,tang tế v.v Trang ph c này có nguồn gốc từ thế kỷ 18 Từ lúc đó, Áo dài đã trải qua nhiều sự phát triển, cải tiến Bộ áo dài nguyên thủy là áo ngũ thân rất rộng

và không bó vào người như Áo dài hiện nay Cũng có người cho rằng Áo tứ thân mới là Áo dài đầu tiên, đã được biến thành Áo ngũ thân và cuối cùng mới thành chiếc Áo dài hôm nay

Nói tới mặc là phải nói tới quan niệm thẩm mỹ Người Việt có câu: “ cái răng cái tóc là gốc con người” hay “ người đẹp vì l a”, điều này chứng tỏ họ đã đánh giá được tầm quan trọng của trang ph c đứng trên góc độ hiệu quả thẩm mỹ Tuy nhiên quan niệm về cái đẹp của họ luôn gắn với tính thực tiễn và đây là một trong những nét nổi bật về cá tính đặc thù rtrong trang ph c của họ

Đặc điểm nhân chủng của người Việt cũng là một cơ sở không thể thiếu được trong tạo hình trang ph c Có mố liên hệ sâu xa giữa thông số kỹ thuật của khổ vải dệt trên khung dệt thủ công với hình thể nhân chủng cư dân Việt

Trang ph c cổ truyền của nam giới có dáng thô, khỏe mang tính “ phác thảo” về đường nét tạo hình chứ không cầu kỳ chi tiết Áo cánh (áo bà ba) thường được

Trang 33

may bằng loại vải dày, cứng để bền lâu trong sử d ng Áo được xẻ hai bên vạt hông khiến người mặc dễ cử động, thoải mái trong sinh hoạt Chiếc quần cũng được tạo hình theo lối thẳng rộng, đơn giản kể ca3chiec61 thắt lung của nam giới cũng nhằm m c đích tạo nên cảm giác gọn gang nhanh nhẹn Đáng lưu là việc tạo hình trang ph c ph nữ Đó là những bộ trang ph c được tạo dựng theo nguyên tắc: rộng, mềm mại, uyển chuyển mang nét duyên dáng và kín đáo Điển hình nhất của bộ nữ ph c truyền thống khi xưa là váy áo tứ thân Trong tổng thể của bộ trang ph c truyền thống ấy, cái yếm là bộ phận mặc trong cùng nhằm tạo nét gọn gang cho khuôn ngực của người ph nữ Cái yếm có từ thời Hùng Vương, là miếng vải vuông đặt chéo lên ngực ngừơi mặc, góc trên khoét tròn gọi là áo yếm

cổ xây Nếu khoét hình chữ V thì gọi là yếm cổ xẻ Nếu xẻ sâu xuống nữa gọi là yếm cánh nhạn Hai đầu cổ yếm có hai dải nhỏ để buộc ra sau gáy Khi mặc yếm tôn lên cái cổ cao ba ngấn Ngày nóng bức, ngừơi thôn quê mặc váy với yếm, không mặc áo, để hở cả phần lung và hai bên cạnh sườn và người đương thời coi

đó là đẹp “ Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh” Từ thuở sơ khai yếm là bộ phận

nữ ph c được các bà các cô thời xưa chọn lọc, chăm chút, từ kiều cắt may tới màu sắc sao cho phù hợp với từng lứa tuổi Ngày xưa, ai cũng biết làm ra yếm mặc cho mình, không ai bán yếm ngoài chợ, ngay khi giặt cũng phơi nơi kín đáo Không riêng gì yếm mà trang ph c nói chung phần lớn đều do bàn tay của người ph nữ tạo dựng nên Dệt vải, may mặc thêu thùa ngày xưa là “ chức năng” của người ph

nữ Họ chính là chủ thể sáng tạo ra trang ph c

Cái váy cũng được tạo hình rộng, thẳng từ trên xuống dưới, đầu tiên là mảnh vải quấn quanh thân hay hình ống, váy mặc đi làm được may ngắn, đi hội, đi chơi thì mặc váy buông chùng sát gót tạo ra dáng vẻ mềm mại, thanh thoát

Cái váy đã làm n n nhiều nét trữ tình

Chiếc yếm luôn đi liền với kiểu áo cánh ngắn Áo cánh ngắn được tạo hình gọn, cổ tròn, tà mở, thường mặc không cài cúc để hở yếm bên trong Khi xưa ph nữ hầu như không mặc áo cánh ngắn ra đường mà phải mặc thêm áo dài ra ngoài Áo dài

ph nữ có loại tứ thân và năm thân Áo “tứ thân” bắt nguồn từ việc tạo hình thân

Trang 34

áo bằng bốn mảnh vải ghép lại Phần lưng được ghép bằng hai khổ vải có đường may ở giữa sống lung, hai thân trước là hai khổ vải may nẹp, gấu còn gọi là hai vạt, hai vạt trước có thể buông thong hoặc thắt lại với nhau ở trước b ng hay buộc quặt

ra sau lưng Từ chiếc áo tứ thân, sau này do nhu cầu phải thay hai vạt và hai vai là nơi hay bị sờn rách nên ph nữ đã tạo ra áo dáng dài

Từ ảnh hưởng của môi trường nhưng chủ yếu là từ ãnh hưởng của quan niệm nho giáo – coi thân thể người ph nữ là thứ phàm t c đã tạo dựng nên một thị hiếu thẩm mỹ khá kín đáo trong tạo hình trang ph c Trang ph c của người ph nữ khi xưa không bao giờ khoe được nét hình thể nếu không nhờ có chiếc thắt lưng Thắt lưng được tạo hình hẹp khổ, dài may bằng sồi, nhiễu, l a… ở hai đầu thắt lưng là những tua chỉ Lúc đi hội, ngày lễ tết, ăn mặc trang trọng ph nữ thường đeo bộ xà tích bằng bạc vào thắt lưng, cùng với ống vôi, quả đào con

Bộ áo dài được tạo hình trên chất liệu vải mềm, hai tà áo buông dài cùng chiếc quần ống rộng, mềm bên trong tạo dáng tha thướt Phần trên áo bó sát khuôn ngực tròn, căng, phần eo lượn sát theo những đường lượn cong của thân hình người ph

nữ, trông rất gợi cảm mà vẫn kín đáo

Trang ph c áo dài đã trở thành trang ph c truyền thống biểu tượng của dân tộc Việt Cái nhẹ nhàng trong trẻo của những tà áo dài gợi lên sự tinh khiết , trong trắng ở thiếu nữ và tạo nên sự tinh tế, trang nhã ở ph nữ có tuổi Vẻ đẹp đó tạo nên sự lịch lãm trong giao tiếp

Đi cùng với tà áo dài, cái nón- một bộ phận nữa của trang ph c truyền thống cũng đã góp phần rất nhiều trong việc tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn của trang ph c Việt Chiếc nón thường được tạo hình tròn( nón ba tầm) hoặc hình chop ( nón bài thơ xứ Huế, nón làng Chuông)

Cả nam lẫn nữ, tiện dân cũng như kẻ sang, quan lại đều dùng nón, nhưng chiếc nón của ph nữ vẫn là chiếc nón mà hơn cả vật thường tình che nắng, đội mưa, nó còn là một vật dùng như một thứ đồ trang sức, làm duyên Loại nón đặc trưng cho dân kinh Bắc, Hà Nội và một số vùng lân cận là nón thúng Nón thúng là loại nón rộng vành, tròn và phẳng như một cái mâm Ở vành ngoài cùng có một đường

Trang 35

thành nhô cao lên, chạy suốt vòng quanh Giữa lòng nón, có đính một cái khua hình hư cái đấu, đan bằng giang Loại nón này được làm bằng một thứ lá gồi nhỏ, sắc vàng thường được gọi là lá Hồ hay lá già

Cùng với sự mất dần đi của áo tứ thân, nón thúng cũng không còn hiện hữu trong đời sống thường nhật nữa Theo thị hiếu thời đại chiếc nón chóp nhọn ra đời Nón chop nhọn cũng có hàng ch c loại: nón Xuân Kiều móc, nón Xuân Kiều dứa, nón Thanh, nón Vàng mau, nón Vàng thưa, nón đen mau, nón đen thưa, nón văn công, nón bài thơ v.v… chiếc nón bài thơ xứ Huế mang khuôn dáng như chiếc nón làng Chuông nhưng chiếc nón làng Chuông dày dặn, chắc chắn còn nón Huế mỏng manh hơn

Vành tre cật chuốt nhỏ tăm, mượt trơn như ngà, nhẹ như khug bấc, những tấm

lá cọ phơi khô trắng muốt xếp đều đặn được khâu bằng những sợi cước trong suốt Công phu nhất và có nghệ thuật nhất , giữa hai lớp lá mỏng, lồng vào những hình trổ dân gian như hình hoa lá, có khi cả mấy câu thơ Trong việc tạo hình trang

ph c, guốc dép là bộ phận không thể thiếu Guốc dép xưa chủ yếu để cho tầng lớp trên trong xã hội phong kiến và dân ở các đô thị đi trong các ngày lễ hội tết nhất Những người nghèo thường đi những đôi guốc dép được tạo hình đơn giản, từ những chất liệu sẵn có dễ kiếm Guốc tre được đẽo từ đoạn gộc tre, tạo hình theo hình bàn chân, đế guốc liền mũi, khi đi hai chân hơi lết trên mặt đất, dép da trên quai ngang cũng là của người ngèo, làm từ miếng da mộc, giữa có quai ngang, đầu dép có vòng da nhỏ để xỏ một ngón chân vào giữ cho chắc để khi đi có thể bước dài hơn, nhấc cao chân hơn khi đi guốc tre

Những người sang trọng, nhất là ở thành thị, dùng guốc dép thường xuyên hơn, việc tạo hìn guốc dép cũng cầu kỳ hơn Guốc khắc hoa xứ nghệ, giày đế cao, quai

da, dép mũi hơi cong quai da bọc nhung, giày cườm, giày Gia Định, guốc kinh… Giày mang cá, mõm nhái v.v…Trong đó các loại guốc Kinh, giày mang cá, mõm nhái, dép cong được các bà các cô ưa thích nhất Giày cườm là loại giày sang trọng, quai dính nhiều hạt cườm, dùng cho cả nam lẫn nữ Guốc kinh là của kinh

đô Huế, đế bằng dừa hay gỗ nhẹ, sơn trắng mũi thêu kim tuyến Người vào Kinh

Trang 36

ra, thường ai cũng mang theo loại guốc này về làm quà cho các bà các cô ngoài Bắc Dép cong thường hợp với loại áo mớ ba mớ bảy, nón thúng quai thao Dép bằng nhiều lớp da ghép lại, mũi cong cao, bước hơi khó, nhưng là loại dép sang trọng nhất đương thời Hợp với các bà, các c gia đình quyền cao chức trọng hay những bà những cô khi tham dự những ngày hội lễ lớn

Nói chung giày dép khi xưa thường tạo dáng gót bằng, không có điểm nhấn của bước đi đã tạo ra dáng đi của người ph nữ Việt Nam chậm rãi thong thả rất hợp với những dải áo, dải thắt lưng phất phơ

Ngoài ra các đồ trang sức: trâm cài tóc, vòng cổ (kiềng), hoa tai, vòng tay (xuyến), xà tích… thường được tạo hình từ chất liệu kim loại qu như vàng, bạc, đồi mồi, ngà voi… Việc tạo hình đồ trang sức có thể dựa trên hình dáng từng bộ phận cơ thể (cổ, cổ tay…) hay từ chức năng của nó trong mối quan hệ với các bộ phận cơ thể con người ( trâm, hoa tai…), vòng cổ (kiềng, dây chuyền), vòng tay ( xuyến, lắc) nhẫn các loại được tạo hình tròn để đeo vào, kích thước của chúng tương ứng với các bộ phận cổ, cổ tay, ngón tay con người Từ chức năng để cài tóc, trâm được tạo hình có đầu nhọn để xuyên qua tóc, một đầu có mũ để giữ khỏi tuột Thân của nó có thể hình tròn hoặc vuông Hoa tai được tạo hình theo tỷ lệ nhất định với dái tai lấy làm nền Hoa tai được chú tạo hình trang trí để đeo vào tai cho khỏi tuột và đẹp cả mặt trước lẫn mặt sau

Người Việt vốn có truyền thống trang trí trang ph c từ lâu đời, họ sử d ng với những họa tiết đơn giản với những như hình rùa, chim và những họa văn khác để trang trí đai lưng và đồ trang sức Hoặc một hình thức trang ph c rất đặc biệt đó là những hình vẽ, hình xăm lên thân mình Thực ra đó không chỉ đơn thuần là những

bộ quần áo hay đồ trang sức, hình thức trang điểm trang trí đơn thuần mà đó là tâm hồn, tình cảm sâu xa về những hiện tượng thiên nhiên, về cuộc sống xã hội đương thời

T c xăm mình xuất phát từ những m c đích bảo toàn tính mạng cho con người

đã được nâng lên thành một hình thức trang điểm cho bản thân và t c xăm mình còn rất phát triển ở thời sau này

Ngày đăng: 18/12/2013, 13:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình :  Trang phục áo yếm xưa của phụ nữ Việt Nam - Sự tương đồng và khác biệt văn hóa mặc hàn quốc   việt nam báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên
nh Trang phục áo yếm xưa của phụ nữ Việt Nam (Trang 19)
Hình  :  Trang  phục  truyền  thống  của người Hàn Quốc - Sự tương đồng và khác biệt văn hóa mặc hàn quốc   việt nam báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên
nh : Trang phục truyền thống của người Hàn Quốc (Trang 48)
Hình  : Màu sắc trong trang phục Hanbok - Sự tương đồng và khác biệt văn hóa mặc hàn quốc   việt nam báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên
nh : Màu sắc trong trang phục Hanbok (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w