1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm nhường giữa tiếng nhật và tiếng việt báo cáo nghiên cứu khoa học

111 2,6K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính - khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại báo cáo nghiên cứu khoa học
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 865,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp muốn trình bày quan điểm của bản thân hay nói về những hành động mà người nói thực hiện thì sử dụng cách nói khiêm nhường Kenjougo nhằm biểu hiện sự nhún nhường và kín

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, mối quan hệ Việt - Nhật không chỉ dừng lại trên lĩnh vực kinh doanh

mà còn phát triển trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, phúc lợi xã hội…Trong đó, giáo dục là lĩnh vực được quan tâm và chú ý nhiều nhất Bởi vì nhu cầu học tiếng Nhật để đáp ứng chế độ tuyển dụng trong các công ty Nhật Bản ngày càng tăng Nhu cầu tuyển dụng thông dịch viên tiếng Nhật có trình độ chuyên môn thành thạo ngày càng được coi trọng, vì vậy chất lượng dạy và học luôn được đặt lên hàng đầu Tiếng Nhật dần trở thành một ngôn ngữ được nhiều người quan tâm, yêu thích, học tập và nghiên cứu

Ngôn ngữ nào cũng có những nét đặc trưng vốn có thể hiện nét văn hóa độc đáo riêng biệt Tiếng Nhật cũng có những đặc trưng thể hiện nét văn hóa đặc sắc của xứ

sở hoa anh đào Đó là nền văn hóa coi trọng truyền thống dân tộc, những chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội Tiếng Việt cũng vậy, đó là một loại hình ngôn ngữ thể hiện văn hóa truyền thống tốt đẹp, những quy phạm đạo đức, những chuẩn mực xã hội và các mối quan hệ con người trong xã hội đó Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến các hình thức thể hiện lời nói trong giao tiếp, đặc biệt là cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường Tùy vào từng đối tượng, hoàn cảnh mục đích giao tiếp mà sử dụng những hình thức xưng hô phù hợp Trong trường hợp trao đổi với cấp trên, người lớn tuổi, người có địa vị xã hội…thì người nói phải sử dụng cách

nói tôn kính (Sonkeigo) nhằm thể hiện sự kính trọng với đối tượng giao tiếp Trong

trường hợp muốn trình bày quan điểm của bản thân hay nói về những hành động mà

người nói thực hiện thì sử dụng cách nói khiêm nhường (Kenjougo) nhằm biểu hiện

sự nhún nhường và kính trọng đối tượng một cách gián tiếp

Trang 2

Thông qua đề tài “Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính - khiêm

nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt”, người viết muốn nghiên cứu những nét đặc

trưng trong cách nói tôn kính - khiêm nhường nhằm thể hiện nét văn hóa giao tiếp độc đáo của hai quốc gia, dân tộc được ẩn trong mỗi ngôn ngữ Qua đó, giúp người học tiếng Nhật hạn chế sự nhầm lẫn trong các hình thức sử dụng và có thể sử dụng các cách nói này phù hợp trong những tình huống giao tiếp cụ thể

Lịch sử nghiên cứu đề tài

“Cách nói tôn kính – khiêm nhường” là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, các

học giả quan tâm và đã viết nên nhiều công trình nghiên cứu bằng tiếng Nhật và tiếng Việt Bởi vì hai hình thức xưng hô này có vai trò quan trọng trong giao tiếp và ảnh hưởng rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội đặc biệt là mối quan hệ con người Thực tế đã cho thấy từ trước đến nay ở trong và ngoài nước đã từng công bố rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan về đề tài trên

Đó là các công trình nghiên cứu:

Bằng tiếng Nhật:

日本語教育指導参考書 18-敬語教育の基本問題 (下) thuộc quyền sở hữu tác giả tại trung tâm nghiên cứu 国立国語 khái quát về cách sử dụng kính ngữ, trường hợp sử dụng kính ngữ, đối tượng sử dụng kính ngữ… trong tiếng Nhật

敬語再入門 của tác giả 菊土康人 khái quát về bước khởi đầu khi học và quen với kính ngữ trong tiếng Nhật Trong cuốn sách có khái quát một số mẫu kính ngữ có kèm ví dụ minh họa và các bài hội thoại với bối cảnh là trong công ty, nhà hàng, nhà

ga, siêu thị…

敬語表現 của các tác giả 蒲谷宏, 川口義一 và 坂元惠 khái quát về một số cách

biểu hiện thường gặp trong kính ngữ như thể hiện sự kính trọng với cấp trên, khách hàng, người lớn tuổi… và thể hiện sự nhún nhường, kính trọng đối tượng nói khi người nói muốn đề xuất ý kiến hay lối nói khiêm tốn về những hành động mà người nói thực hiện

Trang 3

Bằng tiếng Việt:

- Cơ sở Văn Hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm, Chu Xuân Diên khái quát

về một số loại hình văn hóa của từng vùng miền hay cách ứng xử trong giao tiếp và những chuẩn mực trong xưng hô của người Việt Nam

- Tiếng Việt Thực Hành của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp khái quát về những vấn đề cơ bản trong tiếng Việt như cách đặt câu, cách dùng từ, cách sắp xếp

và phân tích đoạn văn, phân biệt văn nói và văn viết…

- Nhập Môn Xã Hội Học của TS Trần Thị Kim Xuyến, ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan làm rõ về những mối quan hệ con người, mối quan hệ xã hội, mối quan hệ cộng đồng và thế giới…nhằm củng cố những chuẩn mực trong giao tiếp và những tình huống cần tránh trong xưng hô để tạo mối quan hệ tốt đẹp, hữu hảo

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích về kính ngữ trong tiếng Nhật và lịch sự chuẩn mực trong cách xưng hô trong tiếng Việt Trong đề tài nghiên cứu của mình, người viết cố gắng tìm và phân tích những điểm tương đồng và khác

biệt trong “phong cách xưng hô chuẩn mực của hai ngôn ngữ” Từ đó phần nào giúp

người học tiếng Nhật có thể sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật tránh những nhầm lẫn thường gặp và có thể bổ sung một số kiến thức trong giao tiếp đúng mực cho người Việt Công trình nghiên cứu này chắc chắn sẽ khó tránh khỏi một số sai lầm,

vì vậy người viết mong nhân được một số ý kiến đóng góp của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước để bài viết của mình được hoàn chỉnh hơn

Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

Mục tiêu:

Đề tài này nhằm phân biệt điểm tương đồng và khác biệt giữa cách thể hiện ngôn ngữ của hai nước Ngoài ra, đề tài còn cung cấp tài liệu nghiên cứu cho người học tiếng Nhật về chủ đề khiêm nhường ngữ, tôn kính ngữ qua những mục hướng dẫn cách dùng trong một số tình huống và đối tượng giao tiếp Đồng thời giúp người Việt phần nào hiểu thêm về tiếng Việt và nền văn hóa truyền thống nước nhà

Trang 4

Sau khi nghiên cứu, đề tài sẽ cung cấp tài liệu về cách sử dụng, tình huống giao tiếp và những nhầm lẫn thường gặp trong hai cách nói trong tiếng Nhật và tiếng Việt Bên cạnh đó, người học tiếng Nhật và người Việt sẽ hiểu thêm về văn hóa truyền thống được thể hiện trong cách nói vì ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ngoài ra, thông qua đề tài này giúp người Việt và người Nhật một lần nữa nhìn lại nét văn hóa truyền thống của nước mình trong xu thế thương mại, toàn cầu hóa hiện nay - nơi mà thực trạng những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị lãng quên

Phạm vi nghiên cứu:

Hình thức trình bày về hai cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Nhật

và tiếng Việt trong luận văn này không phải là toàn bộ cách nói trong hệ thống ngôn ngữ học của hai quốc gia mà chỉ là một số cách nói trong giao tiếp hiện đại Những kính ngữ trước giai đoạn này và những kính ngữ trong cung đình, nhà chùa không được đề cập trong nội dung dung chính của khóa luận tốt nghiệp

Phương pháp nghiên cứu:

Trong đề tài này với mục đích tìm hiểu “Sự tương đồng và khác biệt trong cách

nói tôn kính và khiêm nhường giữa tiếng Nhật và Tiếng Việt”, người viết đã sử dụng

một số phương pháp sau đây:

- Thu thập tài liệu: Phương pháp này được thực hiện bằng cách tra cứu bài viết,

bài tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Nhật trên mạng đồng thời tìm và đọc các công trình nghiên cứu của các tác giả người Nhật, người Việt tại thư viện Nhật - Việt (VJCC - HCM), các nhà sách…Ngoài ra người viết còn thu thập tài liệu thông qua nguồn tài liệu sách vở từ giáo viên, những nhà nghiên cứu đi trước

- Khảo sát thực tế: Để có thể đưa ra một số đề xuất liên quan đến phương pháp

dạy và học hai cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật có hiệu quả, người viết đã tiến hành lập bảng điều tra thăm dò ý kiến Đối tượng của bảng điều tra là 160 sinh viên năm thứ tư của các lớp 06DPN1, 06DPN2, 06DPN3, 06DPN4,

Trang 5

06DPN5, 06DPN6 ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại Học Lạc Hồng (Biên Hòa - Đồng Nai)

- Thống kê: Sau khi phát bảng điều tra, người viết đã thống kê các ý kiến của

sinh viên về cách dạy, cách học, giáo trình và một số yếu tố khác liên quan đến hai cách nói trên Dựa vào tỷ lệ chênh lệch giữa các ý kiến, người viết đã tiến hành phân tích và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật

- Phân tích: Sau khi thu thập tài liệu và tiến hành thống kê người viết tiếp tục

chuyển sang bước phân tích tài liệu, tra cứu từ điển để hiểu nội dung bài viết Phân tích những nội dung cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu Nói một cách cụ thể là phân tích cách sử dụng, trường hợp giao tiếp, đối tượng nói chủ yếu của hai cách nói Điểm phân tích quan trọng là làm sáng tỏ những nguyên nhân khiến người học còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật

- Tổng hợp: Sau khi phân tích cách sử dụng của hai cách nói này từ nhiều nguồn

tài liệu, người viết đã sắp xếp, chọn lọc và tổng hợp những vấn đề chung của mỗi cách nói Ngoài việc tổng hợp dựa trên tài liệu nghiên cứu, người viết còn tổng hợp

và ghi nhận những ý kiến đóng góp của giáo viên, những ý kiến phản hồi từ những sinh viên chuyên ngành Nhật Bản học và những nhà nghiên cứu đi trước để lấy làm tài liệu thực tế cho công trình nghiên cứu

- So sánh: Sau khi tiến hành những phương pháp trên, người viết chuyển sang

bước so sánh điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng giữa hai cách nói này Qua đó, giúp người học tiếng Nhật có thể phần nào phân biệt được một số tình huống, cách thức sử dụng, những nhầm lẫn và những khó khăn thường gặp đồng thời có thể hiểu thêm nét văn hóa truyền thống đặc sắc, độc đáo thể hiện trong từng cách sử dụng

Những dự kiến nghiên cứu tiếp tục về đề tài:

Trong đề tài nghiên cứu này, người viết chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu về “Sự

tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính - khiêm nhường giữa tiếng Nhật và

Trang 6

tiếng Việt”, chính vì vậy chắc chắn đề tài còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ

Vì vậy, người viết muốn tiếp tục nghiên cứu thêm về đề tài này nhằm phát triển và mởi rộng vấn đề để có cách nhìn khách quan về nội dung đề tài nghiên cứu

- Nét văn hóa thể hiện thông qua ngôn ngữ

- Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Nhật ở Nhật

- Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Việt ở Việt Nam

- Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Việt trong công ty Nhật

- Những sai lầm thường gặp khi sử dụng kính ngữ của người Việt khi học tiếng Nhật

Kết cấu của đề tài:

Chương I: Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt

Chương II: Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính – khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt

Chương III: Một số đề xuất về phương pháp dạy - học cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật

Trang 8

CHƯƠNG I

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CÁCH NÓI TÔN KÍNH - KHIÊM NHƯỜNG

TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT

Trang 9

Giao tiếp là một trong những khả năng đặc biệt của con người Bởi vì thông qua giao tiếp, con người có thể thu thập thông tin, truyền đạt suy nghĩ, thiết lập các mối quan hệ…Do đó, trên mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có những cách giao tiếp riêng Trong đó, cách xưng hô đúng chuẩn trong giao tiếp cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, nhất là ở hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản – hai đất nước có hệ thống xưng hô khá phức tạp

Một trong những đặc điểm của tiếng Nhật và tiếng Việt là phong phú về cấp độ của lời nói Chính vì đặc điểm này mà khi tiếp xúc với người Nhật và người Việt, một số người cho rằng tiếng Nhật và tiếng Việt quá trang trọng và lịch thiệp, dễ tạo

ra khoảng cách khi giao tiếp Tuy vậy, thực tế hoàn toàn không phải thế vì mức độ lịch thiệp trong ngôn ngữ ở nước nào cũng có Có ngôn ngữ thể hiện qua phương tiện từ vựng, có ngôn ngữ thể hiện bằng phương tiện ngữ pháp và cũng có ngôn ngữ thể hiện sự lịch thiệp đó bằng cả phương tiện từ vựng lẫn phương tiện ngữ pháp Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến một số đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt Thông qua những đặc trưng cơ bản này, người viết so sánh và đưa ra một số điểm tương đồng và khác biệt của hai cách nói trong mỗi ngôn ngữ Từ đó đưa ra một số

đề xuất về giáo trình, phương pháp dạy - học kính ngữ trong tiếng Nhật

Cách nói tôn kính và cách nói khiêm nhường trong đối thoại hay trong văn bản biểu hiện thái độ, tình cảm của người nói, nguời viết đối với người đọc, người nghe

Sử dụng cách nói tôn kính không có nghĩa là người phát biểu có ý nịnh nọt, cũng như thể hiện lối nói khiêm nhường không có nghĩa là người phát biểu có sự tự ty mặc cảm Có trường hợp không biết áp dụng, hoặc cố ý dùng sai có thể tạo phản ứng ngược thậm chí có ý châm biếm đối tượng Chính vì vậy việc sử dụng đúng các cấp

độ lời nói đóng vai trò vô cùng quan trọng trong giao tiếp

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường xuyên phải giao tiếp với nhiều người, với nhiều đối tượng thuộc các tầng lớp khác nhau Và chính sự tinh tế, khéo léo trong cách ứng xử với mọi người đã giúp cho chúng ta đạt tới một nghệ thuật đó

chính là nghệ thuật giao tiếp

Trang 10

1.1 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Nhật

1.1.1 Khái quát về tiếng Nhật

Tiếng Nhật là một ngôn ngữ được hơn một trăm ba mươi triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới Đây là một ngôn ngữ nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch Trong đó, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản Đó là những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại Nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo các cấp độ khác nhau tùy theo tình huống Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng tùy thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp

và các yếu tố khác Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng

Ngôn ngữ Nhật Bản thể hiện rất rõ ràng hệ thống cấp bậc, tôn ti trật tự trong xã hội Theo đó, người dưới luôn dùng cách nói tôn kính với người cấp trên mình (dù người đó nhỏ tuổi hơn mình), và dùng cách nói khiêm nhường khi nói về bản thân mình Nếu nói không phù hợp sẽ bị xem là thất lễ và đụng chạm rất lớn đến thể diện của người Nhật Việc hiểu biết tiếng Nhật là chìa khóa để hiểu người Nhật và những cảm nghĩ, thái độ, ý nghĩa trong lời nói của họ

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính trong tiếng Nhật

1.1.2.1 Ý nghĩa

“Cách nói tôn kính là cách nói nhằm đề cao và biểu hiện ý kính trọng của người

nói đối với người nghe hoặc đối tượng giao tiếp Đối tượng giao tiếp có thể là người nghe hoặc cũng có thể là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói Đối tượng cần phải biểu hiện ý kính trọng có thể là cấp trên, người không quen biết hoặc người ngoài

Trang 11

nhóm…Cách nói tôn kính còn là cách nói thể hiện thái độ kính trọng của người nói đối với trạng thái, tính chất, hành vi hoặc những người (sự vật) thuộc về phía người nghe.” [12;1988:14]

Ví dụ: - Gakusei: Sensei wa kono hon wo oyomi ni narimasu (a) ka?

(Học sinh: Thầy đã đọc cuốn sách này chưa ạ?)

- Sen sei: Ee, yomimasu (b) yo / Aa, yomu (c) yo

(Thầy giáo: Ừ, thầy đọc rồi / À, đọc rồi)

Trong vị trí (a), học sinh thể hiện hành động của thầy giáo nên sử dụng hình thức

tôn kính của động từ “đọc” (yomu) là oyomininaru Không thể thay bằng một động

từ được chia ở hình thức tôn kính (oyomininaru) vào vị trí (b) hoặc (c)được vì đây là hành động của chính bản thân thầy giáo, hơn nữa thầy giáo cũng không thể hiện thái

độ kính trọng đối với học sinh được

Trong các vị trí (a), (b) hoặc (c) thì cách nói (a) thể hiện mức độ tôn kính cao nhất vì

động từ được chia dưới hình thức tôn kính của động từ thường (yomu) là oyomi ni

naru

1.1.2.2 Trường hợp sử dụng:

1 Đề cao hành động của đối tượng giao tiếp

Ví dụ: Okaki ni naru – viết, Irassharu – đi / đến / ở, nasaru – làm…

Trong trường hợp này, người sử dụng thường nhầm lẫn không biết cách sử dụng

Đó là thay vì nói khiêm tốn thì người nói lại nói tôn kính và ngược lại

Ví dụ: - Trường hợp ông Yamada của công ty A đến công ty của người nói:

“A sha no Yamda san ga irasshatteimasu” (Ông Yamada của công ty A đang

đến)

B đây là cách sử dụng đúng vì động từ irasshatte imasu là thể liên tiến của động từ

irassharu (tôn kính của động từ kuru - đến) Hơn nữa, hành động đến (irassharu) là

hành động của đối tượng được nhắc đến Do đó, cách sử đúng là hình thức chia động

từ ở cách nói tôn kính Nhưng nếu sử dụng hình thức động từ của cách nói khiêm

nhường của động từ kuru là mairu thì sai: “A sha no Yamada san ga maitte imasu”

Trang 12

2 Đề cao bản thân đối tượng giao tiếp

Ví dụ: A sha no Yamada kacho (Ngài trưởng phòng Yamada của công ty A)

Yamada sama (Ngài Yamada)

Lưu ý cách giới thiệu người trong và người ngoài công ty

Ví dụ 1: Ông Tanaka là trưởng phòng công ty của người nói và ông Yamada là

trưởng phòng công ty A

- Khi giới thiệu ông Tanaka cho ông Yamada: “Kochira wa kacho no Tanaka desu”

(Đây là ông trưởng phòng Tanaka)

- Khi giới thiệu ông Yamada cho ông Tanaka: “Kochira wa A sha no Yamada kacho

desu” (Đây là ông trưởng phòng Yamada của công ty A) Trường hợp giới thiệu như

thế này là đã quen thân với ông Yamada Nếu không thân với ông Yamada thì phải

giới thiệu bằng cách: “Kochira wa A sha no kacho no Yamada sama desu” (thêm

tiếp vị ngữ tôn kính để xưng hô là sama – ngài)

Ví dụ 2: Trường hợp gọi tên cấp trên là ông trưởng phòng Tanaka

Trước mặt khách hàng: Tanaka

Trong công ty: Tanaka kacho

3 Đề cao những vật sở hữu và những sự việc liên quan đến đối tượng giao tiếp

Ví dụ: Onsha (công ty của ngài), Onimotsu (hành lý của ngài), Okuruma (xe của

ngài), Gokazoku (gia đình ngài), Okao (gương mặt của ngài), Goryoshin (song thân của ngài)…

4 Đề cao những trạng thái, tính chất của đối tượng giao tiếp

Ví dụ: Oyasashi (hiền, dịu dàng), Okuwashi (chi tiết), Gorippa (lộng lẫy), Okirei

(đẹp)…

B Tránh sử dụng quá mức tôn kính như:

- Gorippa na okuruma ni onori ni nattemasu ne

(Anh đi chiếc xe đẹp)

- Owakakute, oyasashikute, gosomei na ojosama

(Cô gái trẻ trung, dịu dàng và thông minh)

Trang 13

1.1.2.3 Hình thức thể hiện:

1 Thêm vào tiếp đầu ngữ tôn kính:

(tên) (ý kiến) (chân) (công ty) (công ty)

(cao kiến) (ông) (tên) (tên) (liên lạc)

2 Thêm vào tiếp vị ngữ tôn kính:

(Ông Yamada) (Ngài Yamada) (Ông Tanaka)

3 Sử dụng danh từ tôn kính:

(thầy Yamada) (trưởng phòng Yamada) (Giám đốc Tanaka)

4 Hình thức thêm O / Go vào danh từ và hình thức liên dụng của động từ:

O / Go ~ ni naru

Ví dụ: - Shikiten niwa kotaishidenka ga goshusseki ni narimashita

(Điện Hoàng Thái Tử đã có mặt tại buổi lễ)

- Shuri ga owarimashita node, moitsu kara demo goshiyo ni naremasu

(Vì tôi đã sửa xong nên anh có thể sử dụng bất cứ lúc nào)

O / Go ~ nasaru

Ví dụ: - Kacho ga myonichi juuji ni kochira wo gohomon nasaru so desu

(Nghe nói vào lúc 10 giờ ngày mai ông hội trưởng sẽ viếng thăm chỗ này)

- Kono hon wo oyomi nasaru no deshitara, okashiitashimasu

(Nếu bạn đọc cuốn sách này, tôi sẽ cho bạn mượn)

O / Go ~ desu

Ví dụ: - Okyaku sama ga kochira de omachi desu

(Quý khách vui lòng chờ ở chỗ này)

- Gakucho wa honjitsu no kaigi ni wa gokesseki desu

(Ông hiệu trưởng sẽ vắng mặt trong buổi hội nghị ngày hôm nay)

Trang 14

O / Go ~ kudasaru / kudasai

Ví dụ: - Mina sama de gokento kudasaru yo onegai itashimasu

(Tôi xin nhờ mọi người xem xét giùm cho)

- Mina sama, honjitsu wa yokoso okoshi kudasaimashita

(Thành thật hoan nghênh mọi người đã đến hôm nay)

- Oto sama ga okaeri ni nattara, yoroshiku otsutae kudasai

(Nếu bố anh về, xin cho tôi gởi lời hỏi thăm)

5 Hình thức kính ngữ của “Reru” và “Rareru” (động từ thể ukemi - bị động dùng làm kính ngữ)

Ví dụ: - Takahashi sensei wa rokusai no koro aikido wo narai hajime narete, sono

ato zutto tsuzukete korareta so desu

(Nghe nói thầy Takahashi bắt đầu học võ Aikido vào lúc 6 tuổi và sau đó thầy tiếp tục suốt cho đến nay)

- Gokazoku no mina sama wa itsu goro kochira ni kaeraremasu ka

(Gia đình của anh trở về đây vào khoảng khi nào)

6 Sử dụng động từ kính ngữ:

Suru Œ nasaru (làm)

- Shacho wa kyujitsu niwa taitei gorufu wo nasaimasu

(Ông giám đốc thường chơi golf vào ngày nghỉ)

- Wasuremono wo nasaimasen yo oki wo tsukete kudasai

(Xin hãy chú ý đừng để quên đồ)

Iku Œ Irassharu / Oide ni naru (đi)

- Kaicho wa raigetsu chujun ni Newyork e oide ni naru yotei desu

(Ông hội trưởng dự định đi Newyork vào trung tuần tháng tới)

- Sensei wa kono tabi no kokusai kaigi ni oku sama mo tsurete irassharu so desu

(Nghe nói thầy giáo dẫn theo vợ đến hội nghị quốc tế lần này)

Kuru Œ Irassharu / oide ni naru / okoshi ni naru / mieru / omie ni

Trang 15

- Taniguchi sensei ga Tokyo e irasshatta no wa sannen mae desu

(Thầy Taniguchi đã đến Tokyo cách đây ba năm)

- Okyaku sama ga omie ni narimashitara, kochira e okoshishite kudasai

(Nếu quý khách đến, xin hãy đi qua lối này)

Iu  Ossharu (nói)

- Sensei no osshatta torini itasu tsumori desu

(Tôi định làm theo như thầy giáo nói)

- Sensei wa kyo kenkyushitsu ni yorazu ni chokusetsu kaeru to osshaimashita

(Thầy giáo nói hôm nay ông ấy về thẳng, không ghé vào phòng nghiên cứu)

Ngoài ra còn có một số cách biểu hiện của các động từ khác như: iru Œ irassharu / oide ni naru (có / ở); taberu / nomu Œ agaru / meshiagaru (ăn / uống)…

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật

“Cách nói khiêm nhường là cách nói nhằm thể hiện ý lịch sự của người nói một cách gián tiếp đối với người nghe hoặc nhân vật được nhắc đến trong đề tài nói bằng cách khiêm nhường (hạ thấp) những hành động của chính bản thân người nói hoặc những người cùng nhóm với người nói.” [12;1988:14]

Ví dụ: Tình huống: Kyaku no nimotsu wo, eki kara ie made dare ka ga korobu

koto wo kyaku ni iu (Nói với khách về việc ai sẽ đảm nhận vai trò mang hành lý của khách từ nhà ga về đến nhà)

1 Onimotsu wa watashi ga onimochishimasu (Tôi sẽ mang hành lý)

2 Onimotsu wa ani ga omochishimasu (Anh trai tôi sẽ mang hành lý)

3 Onimotsu wa uchi no Murata ga omochishimasu (Murata trong nhóm tôi sẽ mang hành lý)

a) Chủ ngữ trong các tình huống ở trên là “Tôi”, “anh trai tôi”, “Murata”

b) Người mang hành lý là “Tôi”, “anh trai tôi”, “Murata”

Trang 16

c) Nhân vật “Tôi” trong 1 chính là bản thân người nói Như vậy, những nhân vật như “anh trai tôi” hoặc “Murata” sẽ là những nhân vật xuất hiện trong đề tài nói d) Nhân vật “anh trai tôi” trong 2 là nhân vật thuộc nhóm của người nói Còn nhân vật “Murata” trong ví dụ 3 có thể tưởng tượng nhân vật này là người sống cùng nhà,

họ hàng, nhân viên hay người giúp đỡ…

e) Trong trường hợp 3 thì có thể hiểu rằng nhân vật “Murata” sẽ là người của phía người nói nhờ vào căn cứ là việc sử dụng hình thức “uchi no…” (người trong nhóm)

Ngoài ra, còn căn cứ vào cách sử dụng từ xưng hô không có hậu tố “San” (~ anh / chị…)

f) Tiếp đầu ngữ “O” trong động từ “Omochisuru” của ba trường hợp trên sẽ là

cách biểu hiện lịch sự đối với khách hàng và người mang hành lý là bản thân người nói 1và những nhân vật trong nhóm người nói 2, 3

1.1.3.2 Trường hợp sử dụng

1 Khiêm nhường hành động của người nói

(Xem) (Chờ) (Đi / đến) (Biết)

2 Khiêm nhường bản thân người nói

3 Khiêm nhường những vật sở hữu và những sự việc liên quan đến người nói

Ví dụ: Heisha / Shosha: công ty chúng tôi

1.1.3.3 Các loại

1 Cách nói khiêm nhường loại I: “Là cách nói khiêm nhường biểu hiện ý kính

trọng và lịch sự với người nghe thông qua việc hạ thấp bản thân mình khi người nói hay những người thuộc nhóm người nói là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói”

[12;1988:15]

Đó là những động từ như: itasu (làm), mairu (đi), oru (ở, có mặt)…

Trang 17

Ví dụ: Watakushi wa ashita shuccho de osaka he mairimasu (Tôi sẽ đi công tác

Osaka vào ngày mai)

” Chủ ngữ tôi được chuyển sang hình thức thể khiêm nhường là watakushi còn động từ đi được chuyển thành mairu (ở hình thức lịch sự sẽ là ikimasu,

irasshaimasu)。

2 Cách nói khiêm nhường loại II: “Là cách nói đề cao phía đối tượng bằng cách

hạ thấp phía người nói khi những hành động của phía người nói (bản thân người nói, những người thuộc nhóm người nói) có liên quan đến đối tượng cần biểu hiện thái độ kính trọng, lịch sự (người không thân thiết, người ngoài nhóm…)”

[12;1988:15]

Theo đó, sẽ không thể sử dụng cách nói khiêm nhường trong trường hợp mà sự sở hữu hay những hành động của người nói không liên quan đến đối tượng cần biểu hiện thái độ lịch sự

Ví dụ: - Densha ga mairimasu (Xe điện tới)

D Trong ví dụ này, cho dù động từ “tới” (kuru) được chia thành hình thức của cách nói khiêm nhường là mairu nhưng cũng không được coi là cách nói khiêm nhường

vì đối tượng được đề cập đến ở đây là xe điện không liên quan đến người nói Cách

sử dụng đúng là “densha ga kimasu”

- Watashi wa sensei no otaku he mairimasu (Tôi tới nhà thầy giáo)

D Ở đây động từ “tới” (kuru) được chia thành hình thức động từ của thể khiêm

nhường là mairu Trong ví dụ này đây là cách sử dụng đúng vì hành động của người

nói hướng đến đối tượng muốn biểu hiện ý lịch sự, kính trọng là “thầy giáo”

1.1.3.4 Hình thức thể hiện

1 Thêm vào tiếp đầu ngữ khiêm nhường:

Ví dụ: Setsubun (văn của tôi), Gusoku (con trai của tôi), Heisha (công ty của tôi),

Socha (trà của mình mời người khác uống), Shosha (công ty của tôi)…

2 Thêm vào tiếp vị ngữ khiêm nhường:

Ví dụ: Watakushidomo / temaedomo (chúng tôi)

Trang 18

B Domo là từ khiêm nhường của tachi, diễn tả số nhiều

3 Sử dụng danh từ khiêm nhường:

Ví dụ: Watashi – Watakushi – Temae: Tôi

4 Hình thức thêm O / Go vào danh từ, hình thức liên dụng của động từ:

O / Go ~ suru / itasu

Ví dụ: - Omoso desu ne Omochi shimashou ka

(Trông có vẻ nặng nhỉ Tôi xách giùm có được không)

- Koko ni atena wo kaite kuremasen ka

(Xin hãy ghi địa chỉ vào chỗ này)

B Hai, okaki shimasu

(Vâng, tôi sẽ ghi)

O / Go ~ moshiageru

Ví dụ: - Oyorokobi moshiagemasu

(Xin chúc mừng)

nichi mo hayaku seijou na seikaku ni modoremasu yo gokinen moshiagemasu

(Cùng với việc đi thăm những người bị tai nạn hỏa hoạn, tôi cầu nguyện cho học sớm trở lại với cuộc sống bình thường)

O / Go ~ itadaku

Ví dụ: - Chotto omochi itadakereba, sugu onaoshiitashimasu

(Nếu được anh chờ cho một chút, tôi sẽ sửa liền)

- Shizen kankyo wo hogo suru tame no undo ni gosando itadakereba saiwai

ni zonjimasu

(Chúng tôi rất là sung sướng nếu được anh tán thành cho cuộc vận động bảo

vệ môi trường thiên nhiên)

O / Go ~ negau

Ví dụ: - Machigai wa nai to omoimasu ga, nen no tame oshirabe negaimasu

(Tôi nghĩ là không có gì sai, nhưng để cho chắc xin ông hãy kiểm tra)

Trang 19

- Myocho gozen shichi ji kara gozen juuji made, denki kouji no tame teiden shimasu kara gochuui negaimasu

(Từ 7 giờ đến 10 giờ sáng ngày mai sẽ cúp điện vì công trình sửa điện, xin mọi người hãy chú ý)

5 Những biểu hiện khiêm nhường khác:

O / Go ~ ni azukaru

Ví dụ: - Honjitsu wa sensei no otaku e omaneki ni azukarimashita

(Hôm nay tôi được mời đến nhà thầy giáo)

- Honjitsu wa goshotai ni azukari, arigato gozaimasu

(Tôi rất cám ơn khi được ông mời ăn hôm nay)

O / Go ~ wo sashiageru

Ví dụ: - Nochi hodo odenwa wo sashiageyo to omotte orimasu

(Tôi định gọi điện thoại cho ông sau)

shitsurei itashimashita

(Nhận được thư của ông, trong một thời gian dài tôi không hồi âm, tôi thật là thất lễ)

O / Go ~ wo aogu

Ví dụ: - Jiken no shori nitsuite goshiji wo aogitai to zonjimasu

(Mong ngài hãy chỉ cho tôi cách xử lý sự việc)

- Kono mondai ni kanshi, iroiro to gokyoji wo aogitaku, yoroshiku onegai moshiagemasu

(Liên quan đến vấn đề này, xin ngài chiếu cố và chỉ giáo thật nhiều cho tôi)

Iru  Oru: ở

Ví dụ: - Ashita wa gozaitaku deshou ka

(Ngày mai anh có ở nhà không)

B Gozenchu wa orimasu ga, gogo wa orimasen

(Suốt buổi sáng thì tôi ở nhà nhưng buổi chiều thì không)

Trang 20

Suru  Itasu: làm

Ví dụ: - Kono yona renshu wa mainichi nasarun desu ka

(Ngày nào anh cũng luyện tập như thế này phải không)

B Hai, ame sae furanakereba mainichi itashimasu

(Vâng, chỉ cần trời không mưa thì tôi làm mỗi ngày)

Ngoài ra, còn có các hình thức biểu hiện khác như: Omou  Zonjiru (nghĩ rằng, cho rằng), Taberu / Nomu  Itadaku (ăn / uống), Iku / Kuru  Mairu (đi / đến), Iu  Moshiageru (nói với người trên) / Mosu (nói)…

1.1.4 Cách nói thêm O / Go vào danh từ và tính từ:

1 Sử dụng O / Go khi nói đến trạng thái, đồ vật, hành động của người nghe, người lớn tuổi và người được tôn kính (cách nói tôn kính)

Ví dụ: - Goryoshin mo gokyodai mo ogenki da tonokoto, nanyori to zonjimasu

(Nghe nói rằng song thân và huynh đệ của ông đều khỏe mạnh, thật không còn gì bằng)

B Từ nguyên gốc trong ví dụ trên là: Ryoshin (song thân - cha mẹ); kyodai (anh chị em); genki (khỏe mạnh): đây là những từ chỉ người than và những sự việc liên quan đến người nghe nên sử dụng cách nói tôn kính bằng cách thêm O / Go vào phía trước

- Oisogashi chu wo wazawaza oide itadakimashite, arigato gozaimasu

(Trong lúc bận rộn mà được ông đến cho, tôi thành thật cám ơn)

B Từ nguyên gốc của ví dụ trên là tính từ Isogashi (bận rộn) Khi muốn thể hiện ý kính trọng và biết ơn với người nghe thì sẽ thêm tiếp đầu ngữ O vào phía trước tính

từ này Vì đây là tính từ chỉ trạng thái của người nghe nên được thể hiện bằng cách nói tôn kính

2 O / Go được sử dụng khi những đồ vật, hành động của người nói có liên quan đến người nghe, người lớn tuổi hơn và người đáng tôn kính (cách nói khiêm

Trang 21

B “Orei” là cách nói thể hiện sự kính trọng người nghe của từ gốc “Rei” (cảm ơn,

cảm tạ) Vì đây là tấm lòng cảm ơn của người nói muốn thể hiện với người nghe một cách trực tiếp nên được sử dụng với tiếp đầu ngữ “O”

- Jitsu wa onegai ga aru no desu ga, honjitsu sensei no kenkyushitsu no ho e ojamashitemo yoroshi deshou ka

(Thật sự em muốn thỉnh cầu thầy, hôm nay em đến làm phiền thầy ở phòng nghiên cứu có được không ạ?)

B Hành động Onegai (nhờ vả) và Ojamashimasu (làm phiền) là hai hành động của người nói muốn người nghe cho phép và chấp nhận Do đó, đây được coi là những hành động có liên quan trực tiếp đến người nghe nên được sử dụng ở hình thức tôn kính

1 Thêm O vào Hòa ngữ (những từ có gốc Nhật)

Ví dụ: Otokoro Okangae Omaneki Oshirase

(nơi, chỗ) (sự suy nghĩ) (sự mời) (thông tin)

(công tác) (nguyện vọng) (sự đến) (sự tha thứ)

Lưu ý: có một vài trường hợp tuy là Hòa ngữ nhưng không được thêm vào chữ O

như Gohiiki (sự ưu ái), Goyukkuri (thong thả, từ từ), Gomottomo (hợp lý, chính

đáng)

2 Thêm Go vào Hán ngữ (những từ đọc bằng âm Hán tự):

Ví dụ: Gojusho (địa chỉ), gohairyo (quan tâm), goiken (ý kiến), goshotai (sự mời),

goshitsumon (câu hỏi), gokibo (nguyện vọng), gokyoryoku (hợp tác)…

Trang 22

3 Thêm O vào những từ Hán có ý nghĩa Hán ngữ thấp:

Ocha (trà), otaku (nhà), obon (lễ vu lan), oniku (thịt)

Những từ được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, cho dù là từ Hán cũng thêm O

Ví dụ: Oryori (món ăn), obento (cơm hộp), oshokuji (thức ăn), odenwa (điện thoại),

ojikan (thời gian), ofuro (nhà tắm), osewa (sự giúp đỡ, chăm sóc)…

Lưu ý: Hai từ sau được dùng cả O và Go

Ohenji / Gohenji: hồi âm, trả lời

Okazoku / Gokazoku: gia đình

Theo nguyên tắc thì không được thêm O / Go vào từ ngoại lai (từ nước ngoài) nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ

Ví dụ: Osoosu (nước sốt), ozubon (cái quần), obiru (bia)…

1.1.4.3 Những trường hợp không thêm O / Go

Đối với những từ ngoại lai:

Ví dụ: Oerebeta (thang máy), okurisumasu (lễ Noen), obata (bơ)…

Đối với những từ dài:

Ví dụ: Ojagaimo (khoai tây), okomorigasa (cây dù), ohorenso (rau bina)…

Đối với những từ bắt đầu là O

Ví dụ: Oomoshiroi (thú vị), Ooishi (ngon), oojisan (chú), oookii (to, lớn)…

Đối với những vật công cộng, hiện tượng tự nhiên

Ví dụ: Oame (mưa), oyuki (tuyết), o / go eki (nhà ga), o / go kaisha (công ty)…

Đối với những từ mỉa mai, khinh miệt và có phẩm chất xấu

Ví dụ: Omanuke (ngu dốt), oguzu (rác, phế thải)…

1.1.5 Cách nói lịch sự:

Cách nói lịch sự là cách nói diễn đạt ý tôn kính với người nghe thông qua cách nói sự vật, sự việc một cách lịch sự Cách nói lịch sự còn được kết hợp với cách nói

Trang 23

tôn kính và cách nói khiêm nhường như “itadakimasu - nhận ”, “zonjimasu - biết ”

Vì lẽ đó mà cách nói lịch sự còn là cách nói tôn kính đối tượng giao tiếp

Ví dụ: Cách nói “Anata mo irassharu” (Bạn cũng đi chứ?) thường được nghe trong

giới nữ Từ tôn kính irassharu được sử dụng ở đây là đúng nhưng mà nếu nói như thế này với người lớn hơn thì sẽ thất lễ Bởi vì động từ tôn kính irassharu vẫn để ở hình thức nguyên mẫu (futsukei) chưa được chia thành irasshaimasu (jishokei – hình thức masu - thể tự điển) Thêm vào đó, cuối câu không có nghi vấn từ “ka” nên

người nói phải lên giọng để diễn tả câu hỏi Vì thế, cách nói này chỉ nên dùng với bạn bè, đồng nghiệp, những người ngang hàng với người nói Nếu muốn nói với người lớn hơn nên chuyển sang cách nói lịch sự, tôn kính bằng cách chia động từ

irassharu thành irasshimasu và thêm nghi vấn từ “ka” ở cuối câu như: “Anata mo irasshaimasu ka” (Anh cũng đi chứ) sẽ diễn tả ý tôn kính đồng thời thể hiện được

tính lịch sự

Trường hợp câu: “Yamada san mo gozonji desu ka” (Anh Yamada cũng biết

chứ) thì tính chất cũng giống như trường hợp trên Bản thân từ Gozonji (biết) là từ

tôn kính nếu sử dụng cách hỏi này với người cùng tuổi thì không có vấn đề nhưng

đối với người lớn tuổi thì phải nói lịch sự hơn: “Yamada san mo gozonji desho ka”

Cách nói thay “desu” bằng “desho” sẽ gây ấn tượng cho đối tượng giao tiếp

Tóm lại, cách nói và từ ngữ lịch sự sẽ làm cho câu văn, lời nói trở nên nhẹ nhàng, tao nhã hơn cách nói thông thường Khi kết hợp với cách nói tôn kính hoặc cách nói khiêm nhường sẽ làm cho lời nói trở nên vừa lịch sự vừa kính trọng, góp phần làm cho kính ngữ càng thêm phong phú

Thêm vào trợ động từ “desu”, “masu”

Ví dụ: - Korekara dekakemasu

(Từ bây giờ tôi sẽ đi ra ngoài)

- Yamdasan wa totemo shinsetsu desu

(Ông Yamada rất tử tế)

Trang 24

Dùng động từ “degozaru” thay vì “dearu” hay “desu”

Ví dụ: - Watakushi ga Yamada degozaimasu

(Tôi là Yamada)

Sử dụng hình thức từ lịch sự:

Ví dụ: Tadaima (bây giờ), ainiku (xin lỗi), honjitsu (hôm nay), hai (vâng), osore

irimasu (xin lỗi), shitsurei shimasu (xin thất lễ), makoto ni (rất, thật sự), hajimemashite (lần đầu tien được gặp ông bà)…

B Những từ lịch sự này sẽ được dùng chung với cách nói tôn kính, khiêm nhường

để làm tăng tính trang trọng, lịch sự cho câu nói

1.1.6 Đối tượng sử dụng kính ngữ

Nguồn gốc ý thức về mối quan hệ trong – ngoài trong xã hội Nhật Bản có từ rất lâu Nếu xét về phương diện địa lý thì có thể nói Nhật Bản là một đảo quốc nằm cách xa đất liền, xung quanh được bao bọc bởi biển Chính vì thế trong suốt một thời gian dài, mọi hoạt động trong xã hội Nhật Bản đều không giao lưu với thế giới bên ngoài Do đó, trong hoàn cảnh này đã hình thành nên tính cộng đồng mạnh mẽ một cách tự nhiên Từ đó tạo nên ý thức về mối quan hệ bên trong – bên ngoài Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng đối với người Nhật thì:

Người trong bao gồm: người trong gia đình, người trong công ty và những người trong nhóm của người nói Mối quan hệ bên trong được xác định bằng cách lấy người nói làm trung tâm Do đó, những người có quan hệ gần nhất với người nói

như con cái, anh chị em…sẽ là những người thuộc nhóm “uchi” (bên trong)

Người ngoài bao gồm: người không cùng huyết thống, người không quen thân, người lạ, người của công ty khác, người của nhóm khác

B Khi nói chuyện với nhau và khi lấy những người này làm đề tài nói chuyện thì đối với người ngoài phải sử dụng cách nói tôn kính, còn đối với người trong, bao gồm cả người nói phải sử dụng cách nói khiêm nhường

Trang 25

1.1.6.2 Mối quan hệ trên - dưới:

Người lớn tuổi - người nhỏ tuổi

Cấp trên- cấp dưới

B Người nhỏ tuổi, cấp dưới phải sử dụng cách nói tôn kính đối với người lớn tuổi, người có tuổi tác cao, cấp trên và những người có địa vị cao Khi nói về bản thân và những hành động, sự việc liên quan đến người nói thì nhất thiết phải sử dụng cách nói khiêm nhường

Những người trong gia đình, bạn bè thân thiết…không cần phải sử dụng kính ngữ

Những người không quen thân, những người không quen biết nhiều, người lần đầu tiên gặp mặt…phải sử dụng kính ngữ

1.2 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính và khiêm nhường trong tiếng Việt

1.2.1 Khái quát về tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt vẫn được coi

là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, cùng các dấu thanh để viết

Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập

quốc Có sáu âm sắc chính là: không sắc, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng Bắt đầu từ khi

Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam, tiếng Việt có rất nhiều âm mà không có

Trang 26

trong tiếng Trung Hoa chẳng hạn như chữ “đ” Trong quá trình phát triển đã du nhập

thêm những từ ngữ Hán cổ như đầu, gan, ghế, ông, bà, cậu , từ đó hình thành nên

hệ thống Hán - Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện

có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác) Nói chung tỉ lệ vay mượn tiếng Hán trong tiếng Việt rất lớn (khoảng 50%) nhưng đại đa số những từ đó đều đã được Việt hóa cho phù hợp với nhận thức và thói quen của người Việt Do vậy tiếng Việt vừa giữ được bản sắc riêng của mình trước ảnh hưởng của văn hóa Hán, vừa lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình

1.2.2 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính trong tiếng Việt

“Theo từ điển tiếng Việt thì “tôn” có nghĩa là “tôn sùng, tôn trọng”, “kính” có

nghĩa là “kính trọng” Do đó, cách nói “tôn kính” là cách nói “vô cùng kính trọng” đối tượng giao tiếp.” [7;1999:1358]

1 Trong phạm vi gia đình

Cách xưng hô trong họ: Cách xưng hô trong họ phụ thuộc vào sơ đồ gia phả Khi

xem sơ đồ gia phả toàn họ mới biết được: Mình thuộc đời thứ mấy, đời trên mình là những ai, mình thuộc chi nào, nhánh nào, bằng vai với mình trong họ là những ai?

Có sơ đồ gia phải mới phân biệt được thế thứ trong họ, theo đó mỗi người tự xác định được quan hệ trong nội tộc mà xưng hô cho đúng, chú, bác, anh, em Xưng

hô trong nội tộc khác với xưng hô ngoài xã hội Ngoài xã hội dựa theo tuổi tác và chức vụ địa vị, trong gia tộc dựa theo thế thứ, nhưng khi giao thiệp với từng cá nhân

cụ thể lại phải kết hợp theo cách xưng hô ngoài xã hội theo quan hệ tuổi tác

Cách xưng hô với người trên: Từ lâu đời, người Việt có truyền thống lễ phép và

lịch sự trong cách xưng hô Con cháu có lễ phép và có giáo dục thường biết đi thưa

Trang 27

về trình Khi nói chuyện với bố mẹ, ông bà, con cháu thường dùng cách thưa gửi và gọi dạ bảo vâng chứ không bao giờ nói trống không với người trên Người Việt thường dùng tiếng thưa trước khi xưng hô với người ở vai trên, chẳng hạn như:

“Thưa mẹ con đi học Thưa ông bà con đi học về Thưa cô con về Thưa ba, ba bảo

con điều chi ạ?”

Trong cách xưng hô với người ở vai trên thì lưu ý là không bao giờ đượcgọi tên tục (tên cha mẹ đặt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng, và chú bác Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia đình Nếu ông có tên là Hùng, ba có

tên là Chính, và chú có tên là Tài chẳng hạn, ta chỉ nói là: “Cháu mời ông bà xơi

cơm, con mời ba má dùng trà, cháu mời cô chú lại chơi.”

Đối với người trên, không được dùng tiếng “cái gì” để hỏi lại một cách trống

không vì đó là từ vô lễ, không lịch sự Do đó, khi nói chuyện với người lớn tuổi,

người nói thường thay từ “cái gì” bằng từ “điều chi” cho lịch sự và lễ độ Thay vì hỏi: “Cái gì?” hay “Ba bảo con cái gì?” thì hỏi: “Ba bảo con điều chi ạ?” Từ “cái

gì” chỉ sử dụng với người ngang hàng Thí dụ: “Anh hỏi tôi cái gì?” hay “Chị nói cái

gì vậy?”

Khi trả lời bố mẹ hay ông bà, con cháu thường dùng chữ “dạ, ạ, vâng ạ, vâng”

Nếu ngườimẹ gọi con: “Tư ơi?” thì khi nghe thấy, người con phải thưa: “Dạ” Nếu người mẹ nói tiếp: “Về ăn cơm!” người con phải nói: “Vâng” (người Bắc) hay “Dạ” (người Nam) Người ta còn dùng chữ “ạ” ở cuối câu để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép Thí dụ: “Chào bác ạ!”, “Vâng ạ!” …

Xưng hô vợ chồng: Tình vợ chồng người Việt rất đằm thắm, họ yêu nhau với tất

cả chân tình, đối đãi với nhau rất lịch sự và kính trọng Những cặp vợ chồng có giáo

dục không bao giờ gọi nhau bằng “mày” và xưng “tao” Họ tìm những lời lẽ dịu

dàng đầy tình tứ yêu thương để gọi nhau Chính vì thế mà tiếng xưng hô giữa vợ chồng người Việt nhiều hơn hẳn tiếng xưng hô của vợ chồng người Tây phương Những cặp vợ chồng có giáo dục không bao giờ chửi thề và văng tục với nhau, nhất

là trước mặt bạn bè Tiếng xưng hô với vợ gồm có: em, cưng, mình, bu nó, má, má

nó, má thằng cu, mẹ, mẹ nó, nhà, bà, bà xã, bà nó, ấy, mợ, mợ nó, đằng ấy… Tiếng

Trang 28

xưng hô với chồng gồm có: anh, cưng, anh nó, ba, ba nó, bố, bố nó, bố mày, bố thằng cu, đằng ấy, ông xã, cậu, cậu nó, ông, ông nó, ấy, mình…

2 Ngoài xã hội

Lễ phép trong giao tiếp: Trong các mối quan hệ ngoài xã hội, giao tiếp lễ phép,

lịch sự đúng mực đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố các mối quan hệ con người với nhau Chẳng hạn, khi gặp người lớn tuổi trên đường thì cũng

cần lễ phép chào hỏi bằng các câu như “Cháu chào ông / bà ạ!” hay “Ông / bà đi

đâu đấy ạ?” Trong mỗi câu chào có thêm từ “ạ” ở cuối câu làm tăng tính lễ phép,

lịch sự của người nói đối với người nghe Chính vì thế người nghe sẽ cảm thấy được kính trọng và đề cao trong cách giao tiếp của người nói

Giao tiếp lịch sự đúng mực không chỉ được thể hiện bằng cách thêm những từ

mang sắc thái lịch sự như “thưa”, “ạ”, “vâng”…mà còn phụ thuộc rất nhiều vào thái

độ trong cách thể hiện cũng như những ứng xử của người nói trong suốt quá trình giao tiếp Mức độ xưng hô lễ phép trong giao tiếp chỉ có thể đạt được khi người nói thể hiện thái độ chân thành, kính trọng đối với người nghe Nếu người nói không có thái độ tôn trọng đối tượng giao tiếp thì cho dù có dùng những hình thức xưng hô

lịch sự đến đâu chăng nữa cũng không đạt được cái gọi là “lễ phép trong giao tiếp”

Lịch sự trước đám đông: Khi đối tượng nghe được mở rộng không chỉ là một

hoặc vài người mà là cả một tập thể thì yêu cầu về sự lễ phép, lịch sự trong giao tiếp càng được đòi hỏi nhiều hơn nữa Chính vì lý do này mà người nói cần linh hoạt lựa chọn những hình thức xưng hô trong giao tiếp cho đúng chuẩn, phù hợp với tất cả đối tượng nghe mà không làm mất lòng hay có ý xúc phạm ai Bởi vì truyền thống ngàn xưa của người Việt là luôn coi trọng cái “Lễ” - Tiên học lễ, hậu học văn –

“Lễ” chính là những hành vi văn minh lịch sự của người có văn hóa Biết giữ “lễ”

khiến cho cuộc sống tốt đẹp, trật tự, an toàn và hạnh phúc hơn

1.2.3 Đặc trưng cơ bản trong cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt

Trang 29

“ Theo từ điển tiếng Việt thì: “khiêm” có nghĩa là “khiêm tốn”, “nhường” có

nghĩa là “nhún nhường” Do đó, cách nói “khiêm nhường” là cách nói mang ý nghĩa “khiêm tốn, nhún nhường” tức là trong quá trình giao tiếp, người nói luôn có

ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình là hơn người.” [7;1999:661]

Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt không chỉ được thể hiện phong phú bằng các hình thức từ xưng hô mà còn được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp, các cấu trúc câu, sự sắp xếp trật tự từ…Chẳng hạn, khi nói chuyện với người ngoài

về vợ (chồng) hoặc những người trong gia đình của người nói thì nên cân nhắc lựa

chọn những ngôn từ thích hợp để thể hiện sự khiêm tốn không khoa trương

Tiếng gọi vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: nhà tôi, bà nhà tôi,

má tụi nhỏ, má sắp nhỏ, má bày trẻ, bà xã, bà xã tôi, và vợ tôi…Tiếng gọi chồng trong khi nói chuyện với người khác gồm: nhà tôi, ông nhà tôi, ba tụi nhỏ, ba sắp nhỏ, ba bày nhỏ, ông xã, ông xã tôi, chồng tôi, anh ấy…Trong giao tiếp, nếu như đề tài nói có đề cập đến vợ (chồng) của người nói với hàm ý khen ngợi thì người nói cũng nên sử dụng những từ ngữ khiêm tốn nhằm không quá đề cao giá trị của nhân vật được nhắc đến Chẳng hạn, khi được người nghe khen ngợi về vợ mình như

“Chà, chị nhà khéo tay quá Nấu món gì cũng ngon” thì khi đó người nói không nên trả lời lại là “Vâng, nhà em giỏi lắm Cô ấy khéo tay vô cùng.” mà nên khiêm tốn trả lời là “Dạ, anh (chị) quá khen Nhà em còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa” Hoặc

Trang 30

khi nhận được lời khen về các con trong gia đình như “Các con của anh chị giỏi quá

Các cháu vừa học giỏi lại biết giúp đỡ bố mẹ” thì người nói cũng nên trả lời khiêm

tốn là “Cảm ơn anh chị quá khen Các cháu còn phải học hỏi và cố gắng nhiều hơn

nữa”

2 Ngoài xã hội

Đạo lý của người Việt Nam đòi hỏi sự khiêm tốn tự hạ mình trong ứng xử và nói năng Điều này có thể có những biểu hiện qua lời, cụ thể là những từ xưng hô,

những từ tôn vinh, cấp độ lời nói, các nghi thức lời nói

Trong trường học, cặp xưng hô hợp chuẩn của giáo viên với học sinh, sinh viên

ít tuổi hơn thường là: thầy – em, cô – em, thầy – tên riêng, cô – tên riêng, thầy – các

em, cô – các em…, nhưng trong lớp học hiện nay ở nhiều trường, giáo viên thường xưng hô một cách khiêm nhường với học sinh, sinh viên như: tôi – các em, tôi – các anh, tôi – các chị, tôi – các bạn, tôi – tên riêng…Xưng hô khiêm nhường là một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt Tuy nhiên, trong giao tiếp xưng hô khiêm nhường quá mức sẽ đặt người đối thoại vào tình thế khó xử và trong nhiều trường hợp họ buộc phải phản đối cách xưng hô ấy Đổi lại xưng hô không khiêm nhường dễ bị đánh giá là thiếu lễ độ, làm mất đi thiện cảm từ phía người đối thoại

Chẳng hạn, học trò tự xưng là “tôi” với thầy cô giáo là không khiêm nhường Do đó,

quá chú ý đến sự khiêm nhường hoặc không khiêm nhường trong xưng hô đều có ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả trong tương tác xã hội Cho nên xưng hô khiêm nhường cũng cần phải có chừng mực mới đạt được hiệu quả mong muốn trong tương tác

Trong các mối quan hệ xã hội thì xưng hô khiêm nhường đóng vai trò vô cùng quan trọng Thông qua cách nói này mà người nghe có thể đánh giá người nói là người có tính cách như thế nào, có tạo sự tin tưởng trong quan hệ với họ hay không Lối ứng xử khéo léo, khiêm nhường trong giao tiếp ngoài xã hội thể hiện văn hóa ứng xử của người nói Chẳng hạn, khi phát biểu ý kiến về một vấn đề trong buổi hội

thảo người phát biểu nên hạn chế những từ “lộng ngôn”, thể hiện cái tôi quá lớn mà

Trang 31

thay vào đó là sử dụng những ngôn từ khiêm nhường nhã nhặn như “Tôi cho

rằng…”, “Cho phép tôi xin được phát biểu ý kiến về…”

Mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng riêng biệt vốn có của nó, có ngôn ngữ biến đổi động từ để thể hiện mức độ về thời gian (tiếng Nhật, tiếng Anh…), có ngôn ngữ lại thêm một số từ diễn tả ý quá khứ hay hiện tại (tiếng Việt…) Đó là những nét độc đáo và đặc sắc của mỗi loại hình ngôn ngữ Ngoài ra, thông qua ngôn ngữ có thể thấy được những nét văn hóa của mỗi quốc gia – dân tộc

Trong những đặc trưng của ngôn ngữ thì cách nói kính ngữ (tôn kính – khiêm nhường) đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp của con người Thông qua việc sử dụng các hình thức xưng hô có thể đánh giá chất lượng của quá trình giao tiếp Chính vì vậy việc tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của từng cách nói này là điều cần thiết và vô cùng quan trọng

Sau khi đã tìm hiểu một vài đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt, người viết tiến hành so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng Qua đó, phần nào có thể giúp người học tránh những ngộ nhận và hiểu lầm không đáng có khi học cách nói kính ngữ trong tiếng Nhật cũng như trong tiếng Việt

Trang 32

CHƯƠNG II

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT

TRONG CÁCH NÓI TÔN KÍNH – KHIÊM NHƯỜNG GIỮA TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT

Trang 33

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng bởi văn hóa Trung

Quốc Đó là nền văn hóa với yếu tố nổi bật là việc tôn trọng và đề cao chữ “Lễ” Lễ

ở đây có thể hiểu là lễ nghĩa, lễ độ, lễ phép được xét trong trường hợp giao tiếp của

con người trong những trường hợp cụ thể Vì yếu tố ảnh hưởng này mà trong từng cách nói hoặc hành động của người nói hướng đến đối tượng giao tiếp cũng đều thể hiện thái độ lịch sự chuẩn mực Phương tiện giao tiếp để thể hiện thái độ của người nói đó là những hình thức xưng hô Đó là việc người nói lựa chọn và sử dụng từ ngữ trong từng câu nói để thể hiện thái độ, tình cảm đối với người nghe và đối tượng giao tiếp Đối tượng giao tiếp có thể là người nghe hoặc nhân vật được người nói nhắc đến trong đề tài nói Do đó, tùy vào từng trường hợp giao tiếp mà người nói sử dụng những hình thức xưng hô khác nhau Đó có thể là cách nói thân mật, ngắn gọn nếu là mối quan hệ bạn bè hoặc những người thân thiết Và đó còn là cách nói lịch

sự, kính trọng nếu đó là người lớn tuổi, cấp trên hoặc những người không quen biết…Trong trường hợp giao tiếp mà đối tượng là những người cần được tôn kính và bản thân người nói cũng muốn khiêm tốn hành động và những sự việc liên quan đến

bản thân thì sử dụng hình thức “xưng khiêm hô tôn” (bản thân mình thì khiêm

nhường, liên quan đến người khác thì tôn kính)

Cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt thể hiện nét văn hóa giao tiếp truyền thống coi trọng mối quan hệ con người của hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản Những hình thức thể hiện này tùy vào mỗi loại hình ngôn ngữ tồn tại những điểm tương đồng và một số điểm khác biệt Việc nhận ra những điều này sẽ là một trong những yếu tố quan trọng đối với người Việt khi học tiếng Nhật Qua đó, người học có thể dựa vào những điểm tương đồng để có cách sử dụng kính ngữ thích hợp, tìm và so sánh những điểm khác biệt để tránh những cách sử dụng kính ngữ nhầm lẫn

Trang 34

2.1 Sự tương đồng trong cách nói tôn kính – khiêm nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt

2.1.1 Sự tương đồng trong cách nói tôn kính

2.1.1.1 Đối tượng giao tiếp

1 Mối quan hệ trên – dưới:

Địa vị: cấp trên – cấp dưới; giáo viên – học sinh

Tuổi tác: người trên – người dưới

Sự quan hệ bình đẳng với nhau và sự tôn kính lẫn nhau dường như đã trở thành những yếu tố cơ bản trong cách đối xử và trong các mối quan hệ con người Nhưng nếu ý thức được vị trí của mình và đối tượng giao tiếp có sự khác nhau thì nhất thiết phải bổ sung thêm những yếu tố để thể hiện sự khác nhau đó Yếu tố được đề cập đến ở đây là kính ngữ Trong đó, cách nói tôn kính được sử dụng để giao tiếp với người trên, người lớn tuổi vì nó có thể bổ sung cho sự khác nhau về địa vị xã hội và tuổi tác của người dưới đối với người trên, cấp dưới đối với cấp trên, hậu bối đối với tiền bối…

Ví dụ dưới đây là đoạn hội thoại giữa giáo viên và sinh viên, đây là hai đối tượng giao tiếp thuộc hai vị trí và địa vị xã hội khác nhau

Kurasumeto no taikai ga aru Kondo kikoku suru gakusei ga iru node, raishuu no nichiyoubi ni sayonara pati wo hiraku koto ni natta Aru gakusei wa sensei wo sasou

(Có một buổi họp lớp Lần này vì có một sinh viên trong lớp về nước nên sẽ tổ chức một buổi tiệc chia tay vào chủ nhật tuần sau Một học sinh nọ đã mời thầy giáo cùng tham dự)

Học sinh: “Ano, sensei chotto yoroshi deshou ka…”

(Thầy ơi, cho em làm phiền thầy một chút được không ạ?)

Thầy giáo: “A, douzo”

(Ừ, em nói đi)

Trang 35

Học sinh: “Jitsu wa raishuu no nichiyoubi, uchi de pati wo shiyou to omotteirun

Học sinh: “De, sensei, yoroshikattara, oideitadakenai ka to omoimashite Mousugu

kuni he kaeru hito mo imasu shi…”

(Thưa thầy, nếu được, chúng em mời thầy đến dự chung với chúng em ạ Bởi vì

hôm đó sẽ có bạn về nước ạ…)

Thầy giáo: “Nichiyoubi desu ne Ee, daijoubu desu yo”

(Chủ nhật à, được đấy, thầy sẽ đến dự)

Học sinh: “Aa, yokatta desu Minna yorokobu to omoimasu De, sensei niwa 6 ji

goro ni oideitadakitaindesu ga…”

(Ôi, như vậy thật tốt quá Em nghĩ chắc chắn các bạn sẽ rất vui Thưa thầy, nếu được,

thầy vui lòng đến vào khoảng sáu giờ được không ạ?)

Thầy giáo: “Wakarimashita Nanika osake ka otsumami demo motte ikou kana”

(Thầy biết rồi Có lẽ thầy sẽ mang một ít rượu và thức ăn nhẹ tới nhỉ)

Học sinh: “Ieie, okizukai naku Sore dewa tanoshimi ni shite orimasu”

(Ôi không cần đâu thầy ơi, thầy đừng bận tâm Có thầy đến tham dự là chúng em rất vui rồi ạ)

Trong đoạn hội thoại trên, mối quan hệ được thiết lập là mối quan hệ giữa “thầy

giáo và học sinh” Theo đó, thầy giáo là người có vị trí cao hơn học sinh nên khi nói

chuyện, học sinh nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính Chẳng hạn, “yoroshii,

oideni naru, okizukai” là cách nói tôn kính của “ii (được, tốt), kuru (đến), kizukai (lo

lắng, quan tâm)” Còn khi nói về hành động hay trạng thái của mình thì học sinh sử

dụng cách nói khiêm nhường như “tanoshimi ni shite orimasu” (khiêm nhường của động từ tanoshimi ni shite imasu) – mong đợi, mong chờ Trong tiếng Việt là các hình thức sử dụng như: thưa thầy, được không ạ, ạ…là những hình thức biểu đạt

Trang 36

cách nói tôn kính của học sinh với thầy giáo Tương tự, trong các mối quan hệ trên dưới khác như nhân viên - cấp trên, người dưới - người trên…thì vẫn phải sử dụng cách nói tôn kính

2 Mối quan hệ trong – ngoài:

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng của Nho giáo, đạo Khổng Do đó, từ ngàn xưa trong xã hội Nhật Bản đã hình

thành nên những “tập đoàn” “Tập đoàn” không phải là tập hợp những nhóm người

khác nhau mà đó là tập hợp của những cá thể tồn tại tương hỗ với nhau Từ đó, tạo

ra ý thức tập đoàn và hình thành nên tập đoàn Những cá nhân sẽ là một cá thể trong từng tập đoàn, vận mệnh của cá nhân đó sẽ phụ thuộc và gắn bó chặt chẽ vào sự phát

triển và tồn tại của tập đoàn “Tập đoàn” trong xã hội Việt Nam truyền thống được biết đến dưới khái niệm các “làng” hay các “gia tộc” (đơn vị cấu thành lớn hơn gia

đình, cũng được coi là một tập đoàn) Trong làng, tính cộng đồng tạo nên sự liên kết các thành viên lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác Vì đặc điểm này mà hình thành nên những nguyên tắc chung trong giao tiếp của hai quốc gia Việt - Nhật Điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ là cách nói tôn kính đối tượng

giao tiếp Nếu xét trong phạm vi mối quan hệ “trong – ngoài” thì nếu gặp người lớn tuổi, bậc bề trên…không thuộc “tập đoàn” hay “làng” của người nói thì sẽ sử dụng

những hình thức nói tôn kính, lịch sự Chẳng hạn, khi có khách đến chơi (người

khách không phải là thành viên trong gia đình và đương nhiên không cùng một “tập

đoàn” với người nói) thì người nói sẽ mời nước: “Ocha, douzo meshiagatte kudasai”

(Xin mời quý khách dùng trà) Đây là cách nói tôn kính người khách trong tiếng Nhật và tiếng Việt Cách nói này sử dụng những danh từ tôn kính (ocha – trà ngon, quý khách…) và động từ tôn kính (meshiagatte kudasai - uống, xin mời, dùng…) Ngược lại, cách nói thể hiện thái độ khinh miệt, không tôn kính người khách sẽ là:

“Nonde kudasai!” (Uống đi) Cách nói này sẽ làm người khách cảm thấy không hài

lòng và đánh giá người nói là người không được dạy bảo đàng hoàng, không có văn hóa giao tiếp cũng như không hiểu những nguyên tắc giao tiếp cơ bản

Trang 37

3 Mối quan hệ thân – sơ:

“Thân” trong nghĩa Hán Việt chỉ mối quan hệ con người thân thiết, thân mật

“Sơ” chỉ mối quan hệ con người không thân thiết, người lần đầu tiên gặp mặt hay

những người chỉ có mối quan hệ xã giao thông thường Dựa theo ý nghĩa này mà trong cách giao tiếp của người Nhật và người Việt xét trong phạm vi cách nói tôn kính cũng có những điểm tương đồng Do đó, trong quá trình giao tiếp, nếu đối tượng giao tiếp là người lần đầu tiên gặp mặt hoặc không quen thân thì người Nhật

và người Việt thường lựa chọn những hình thức nói tôn kính, lịch sự Việc truyền đạt ý tôn kính của người nói đến người nghe là điều cơ bản trong kính ngữ Đối với những người mới gặp lần đầu, những người giao thiệp trong công việc, cho dù là người cùng tuổi hay nhỏ tuổi hơn nếu không sử dụng cách nói biểu hiện sự tôn kính thì sẽ bĩ cho rằng thất lễ Nếu đối tượng giao tiếp là người lớn tuổi hơn thì nhất thiết phải nói tôn kính Chẳng hạn, khi hỏi về công ty của khách hàng thì hình thức câu

hỏi sẽ là: “Sumimasen ga, kisha wa dochira ni gozaimasu ka?” (Xin phép cho tôi

hỏi, quý công ty ở đâu ạ?” Trong đó, những hình thức từ tôn kính như “kisha – quý

công ty”, “gozaimasu – có ở ~” Nếu nhân viên hỏi bằng hình thức câu thông thường,

thậm chí là thân mật, suồng sã như “Kaisha wa doko?” (Công ty ở đâu vậy?) thì sẽ

bị cho là không lịch sự, không có thái độ tôn trọng người khác Như vậy, sẽ làm ảnh

hưởng đến uy tín và “bộ mặt” của công ty Chính vì vậy, văn hóa giao tiếp của nhân

viên (văn hóa kinh doanh) đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của công ty

2.1.1.2 Hoàn cảnh giao tiếp

Cách nói tôn kính là cách nói thể hiện sự kính trọng những người có tuổi tác cao, những người có vị thế lớn, những người có uy tín trong mối tương quan với người nói Do đó, người nói phải biết tính toán, lựa chọn những từ ngữ xưng hô trang trọng, hợp chuẩn phù hợp với vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ thân – sơ giữa người nói và người đối thoại Nếu sử dụng những cách nói không lễ phép với người vai bậc trên, những người có uy tín dễ dẫn đến thái độ vô lễ (hay xấc xược,

Trang 38

hỗn láo) Trong quá trình giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cách xưng hô của các nhân vật giao tiếp Bởi vì căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, người nói có thể lựa chọn cách xưng hô tôn kính, trang trọng (hội nghị, tọa đàm…) hay cách xưng hô thân mật (bạn bè, người thân…) Yếu tố này được thể hiện khá rõ trong cách nói tôn kính của tiếng Nhật và tiếng Việt

Ví dụ: Trong trường hợp nhân viên Yamada lần đầu tiên đến thăm nhà của

trưởng phòng

Yamada: “Gomenkudasai”

(Yamada: Xin lỗi, có ai ở nhà không ạ?)

Tanaka kacho fujin: “A, Yamada san desu ne Hajimemashite Tanaka no kanai

desu”

(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: A, anh Yamada Xin chào Tôi là vợ của Tanaka)

Yamada: “Hajimemashite Honjitsu wa omanekikudasatte, arigatou gozaimashita”

(Yamada: Xin chào Rất cám ơn vì lời mời của ông bà)

Tanaka kacho fujin: “Shujin ga istumo osewa ni natte orimasu Saa, douzo,

oagarikudasai”

(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Tôi cũng rất cám ơn vì anh đã quan tâm đến chồng tôi Xin mời vào)

…………

Tanaka kacho fujin: “Douzo okakekudasai”

(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin mời anh ngồi)

Yamada: “Arigatou gozaimasu Ano, kore tsumaranaimono desu ga, douzo”

(Yamada: Cám ơn Nhân đây tôi cũng có chút quà mọn biếu anh chị)

Tanaka kacho fujin: “Goteinei ni doumo Jaa, itadakimasu”

(Phu nhân trưởng phòng Tanaka: Xin cảm ơn vì sự chu đáo của anh Vâng, tôi xin nhận)

………

Trang 39

Tanaka kacho fujin: “Kyou wa takusan ryouri wo tsukurimashitara, douzo

enryonasanaide meshiagatte kudasai”

Yamada: “Enryonaku itadakimasu Okusan ga otsukuri ni nattan desu ka?”

(Yamada: Vâng, tôi xin phép được dùng Quý phu nhân đã làm thức ăn phải không ạ?”)

………

Đoạn hội thoại trên được xét trong hoàn cảnh giao tiếp là cuộc gặp gỡ lần đầu tiên tại nhà của trưởng phòng Vì trưởng phòng là cấp trên nên trong mọi lời nói và hành động của cấp dưới (anh Yamada) đều mang sắc thái và ý nghĩa tôn kính Ngoài

ra trong một số câu nói còn sử dụng cách nói khiêm nhường cho hành động của bản thân (itadakimasu, tsumaranai mono desuga…) để tôn kính trưởng phòng và phu nhân trưởng phòng một cách gián tiếp Bên cạnh đó, người vợ của trưởng phòng cũng sử dụng cách nói tôn kính anh Yamada Vì đây là lần đầu tiên hai người gặp

mặt, hơn nữa anh Yamada là người thuộc mối quan hệ “bên ngoài” (không thuộc gia

đình) Những cách nói tôn kính được sử dụng: oagarikudasai, meshiagatte kudasai, okusan, otsukuri ni nattan desu ka….Ngoài ra, trong một số hoàn cảnh giao tiếp khác như trực điện thoại, tiếp khách hàng, phát biểu…thì nhất thiết phải sử dụng cách nói tôn kính với đối tượng giao tiếp

2.1.1.3 Thái độ của người nói

Kính ngữ là một cách nói, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa bắt người sử dụng phải thốt ra thành lời Cho dù trong lòng có tỏ ra kính trọng và có ý tôn kính đối tượng giao tiếp như thế nào đi nữa nhưng nếu không thốt ra thành lời tôn kính thì cũng không có ý nghĩa gì cả Ngược lại cho dù người nói có sử dụng thành thạo cách nói tôn kính nhưng không thể hiện thái độ kính trọng đối tượng giao tiếp thì cách nói

này cũng chỉ là cách nói ở mức độ “sách vở” Cũng có trường hợp cho rằng những

lời nói tôn kính của người nói cũng chỉ là giả dối để đạt được một hiệu quả giao tiếp nào đó

Trang 40

Nếu nói ra những lời tôn kính, lịch sự mà nghĩ rằng như vậy là đã thể hiện sự tôn kính thì đó là một cách nghĩ sai Vì cách nói tôn kính không đơn thuần phát huy hiệu

quả giao tiếp nếu chỉ sử dụng những lời nói tôn kính “một chiều”

Ví dụ: Một robot có dáng dấp của con người đứng trước quầy bán hàng và nói:

“Irassaimase, kochira wa shoseki uriba degozaimasu”

(Xin kính chào quý khách, đây là quầy sách vở)

Hoặc, một cô tiếp tân phụ trách hướng dẫn khách hàng sử dụng thang máy Trong khi mắt cô ấy không hướng về phía thang máy nhưng miệng thì luôn nói những từ tôn kính, lịch sự với khách hàng và tay chỉ về phía thang máy lần lượt hết người khách này đến người khách khác Có người cho rằng cô tiếp tân hướng dẫn này không khác gì một robot Lúc này khách hàng (cả trong ví dụ ở trên) cảm thấy mình không được tôn trọng và nghĩ rằng mình bị coi thường Đây là hiệu quả ngược torng cách nói tôn kính Lý do mà khách hàng cảm thấy họ không được tôn trọng và

bị coi thường là vì những lời mà robot và cô tiếp tân nói chỉ tồn tại đơn lập Cái

thiếu ở đây là “thái độ” của người nói Do đó, tuy có sử dụng lời nói tôn kính nhưng

lại không đi cùng với việc biểu hiện thái độ và không có yếu tố tình cảm

Người sử dụng kính ngữ muốn biểu hiện tâm trạng tôn kính của mình với người khác chắc chắn sẽ nói ra những lời kính trọng Trong đó, tâm trạng tôn kính rất cần thiết khi nói kính ngữ Bởi vì trước khi nói những lời tôn kính thì người nói phải có suy nghĩ là thật lòng tôn kính đối tượng giao tiếp Như vậy, cho dù có nói ra toàn là những lời tôn kính tuyệt vời nhưng trong lòng không có thành ý tôn kính thì không thể truyền đến người khác ý tôn kính của mình Miệng thì nói những lời tôn kính nhưng lại không biểu hiện ý tôn kính trong giọng điệu và thái độ thì cũng không làm cho người khác cảm thấy được tôn trọng Do đó, kính ngữ rất khó nói, vì đó là cách nói không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn thể hiện bằng cả tấm lòng Nếu như biểu

lộ ý tôn kính mà làm cho người nghe cảm thấy không hài lòng, không thoải mái thì

cũng giống như câu tục ngữ của Việt Nam là “Vẽ rồng mà không điểm nhãn” Câu

tục ngữ có nghĩa là làm một việc gì đó nhưng chỉ đạt hiệu quả một nữa, không trọn vẹn Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả của cách nói tôn kính lên mức tối cao,

Ngày đăng: 18/12/2013, 13:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1.2.3  Hình thức thể hiện: - Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính   khiêm nhường giữa tiếng nhật và tiếng việt báo cáo nghiên cứu khoa học
1.1.2.3 Hình thức thể hiện: (Trang 13)
Hình 2.2.1.1.1: Hình vẽ thể hiện các hình thức xưng hô trong gia đình người nói và - Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính   khiêm nhường giữa tiếng nhật và tiếng việt báo cáo nghiên cứu khoa học
Hình 2.2.1.1.1 Hình vẽ thể hiện các hình thức xưng hô trong gia đình người nói và (Trang 50)
Hình 2.2.1.1.2: Hình vẽ thể hiện nguyên tắc giao tiếp cơ bản trong công ty Nhật - Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính   khiêm nhường giữa tiếng nhật và tiếng việt báo cáo nghiên cứu khoa học
Hình 2.2.1.1.2 Hình vẽ thể hiện nguyên tắc giao tiếp cơ bản trong công ty Nhật (Trang 57)
Hình thức biểu hiện - Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính   khiêm nhường giữa tiếng nhật và tiếng việt báo cáo nghiên cứu khoa học
Hình th ức biểu hiện (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w