Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ s
Trang 1- -
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 2- -
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 3Lời đầu tiên xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại Học Lạc Hồng cùng toàn thể quý thầy cô đặc biệt là quý thầy cô khoa Đông Phương
đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý giá cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Nguyễn Hữu Nghị
đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn sửa chữa những sai sót bên cạnh đó cung cấp những thông tin, phương hướng cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài Đó thực sự là những kiến thức mang nhiều ý nghĩa, thiết thực đối với đề tài mà em đang nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị tại khu Resort Lak, Phòng thống kê huyên Lắk, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ hỗ trợ nhiệt tình trong khoảng thời gian em lưu lại địa bàn để khảo sát thu thập số liệu để hoàn thành đề tài Cảm ơn Bác Cao Xuân Xảo phó chủ tịch huyện Lắk đã có cuộc trò chuyện chia
sẻ giúp chúng em có cái nhìn tổng quát về du lịch nhất là sự phát triển của du lịch huyện nhà trong những năm vừa qua giai đoạn (2008 – 2012), những thông tin này
đã hỗ trợ em rất nhiều trong việc hệ thống lại những kiến thức đã được học trước
đó Với “Sổ tay hướng dẫn đầu tư du lịch huyện Lắk” – một trong những tặng phẩm được Bác Cao Xuân Xảo trao, thực sự đây không chỉ là những thông tin chỉ dành riêng cho các nhà đầu tư mà còn là tài liệu hết sức thiết thực giúp chúng em có cái nhìn toàn diện và rõ nét hơn về du lịch của huyện – nơi mà chúng em đang sinh sống và nghiên cứu Xin cảm ơn các anh chị hướng dẫn viên và các cấp lãnh đạo của khu du lịch sinh thái hồ Lắk, đã tận tình trong công tác đón tiếp và hướng dẫn giúp chuyến đi thực địa của em thành công tốt đẹp
Em Xin chân thành cảm ơn
Sinh viên NGUYỄN THỊ HẰNG
Trang 4DU LỊCH SINH THÁI
NÔNG THÔN
SCIENTIFIC AND CULTURAL ORGANIZATION
Trang 5DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nghĩa khoa học và thực tiễn 4
6 Phương pháp nghiên cứu khoa học 5
7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Khái niệm DLST 7
1.2 Đặc trưng, yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST 8
1.2.1 Đặc trưng của DLST 8
1.2.2 Yêu cầu cơ bản để phát triển DLST 8
1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST 11
1.3 Tài nguyên du lịch 12
1.3.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 12
1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch 12
1.3.3 Phân loại tài nguyên du lịch 13
1.3.4 Các loại hình DLST 14
1.4 Khái quát về Huyện Lắk 16
1.4.1 Vị trí địa lý 16
1.4.2 Thành phần dân cư 17
1.4.3 Kinh tế 19
1.4.4 Văn hóa – Xã hội 20
1.4.5 Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST HỒ LắK 27
2.1 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái 27
Trang 62.1.1.3 Nước 29
2.1.2 Tài nguyên nhân văn 31
2.1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa 31
2.1.2.2 Văn hóa dân tộc 34
2.1.2.4 Lễ hội 39
2.1.2.5 Nghệ Thuật 41
2.2 Thực trạng phát triển DLST tại Hồ Lắk hiện nay 43
2.2.1 Các loại hình DLST ở Hồ Lắk 43
2.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ du lịch 46
2.2.5 Cơ cấu đầu tư vốn và lao động các ngành 51
2.2.6 Du lịch ảnh hưởng đến thu nhập của người dân địa phương 52
2.3 Đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của phát triển kinh tế địa phương gắn với du lịch 53
2.3.1 Mối tương quan về tốc độ phát triển kinh tế địa phương với phát triển du lịch 53
2.3.2 Phân tích ma trận SWOT 56
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST HỒ LắK 61
3.1 Định hướng phát triển du lịch 62
3.1.1 Định hướng chung 62
3.1.2 Định hướng cụ thể 63
3.2 Các giải pháp chủ yếu phát triển DLST 65
3.2.1 Chính sách đầu tư cho du lịch (Đầu tư về kính phí, cơ sở hạ tầng, giải pháp công nghệ…) 65
3.2.2 Công tác xúc tiến quảng bá du lịch 67
3.2.3 Khai thác, sử dụng các sản phẩm và loại hình du lịch 69
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1.1: Tình hình dân số, thành phần dân tộc và lao động của huyện Lăk qua các năm (2008 – 2010) .18 Bảng 1.2: Tình hình phát triển cơ sở văn hóa , y tế qua các năm (2008 – 2010) 21 Bảng 2.1: Cơ cấu cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành thương mại và dịch vụ huyện Lăk .46 Bảng 2.2: Các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịchBảng 3.2: Tình hình tiền vốn của doanh nghiệp .47 Bảng 2.3: Tình hình tiền vốn của doanh nghiệp .51
Trang 9Biểu đồ 2.1: Số khách du lịch đến trên địa bàn huyện .50 Biểu đồ 2.2: Thu nhập bình quân nhân khẩu của hộ dân vùng du lịch .53 Biểu đồ 2.3: So sánh giá trị kinh tế ngành du lịch trong nền kinh tế
của huyện Lắk .54 Biểu đồ 2.4: So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành du lịch trong nền kinh tế của huyện Lắk .54 Biểu đồ 2.5: Tổng thu nhập GDP hàng năm của huyện .60
Trang 10Hình 1.1 Bản đồ huyện Lắk .17
Hình 1.2 Thác Bìm Bịp thuộc huyện Lắk 24
Hình 1.3 Phong cảnh hồ Lắk .24
Hình 1.4 Cảnh núi Chư Yang Sin .28
Hình 2.1 Biệt Điện Bảo Đại .32
Hình 2.2 Buôn M‟Liêng .33
Hình 2.3 Tác giả làm việc tại Công Ty cổ phần Du Lịch Đak lak, chi nhành Buôn Jun .34
Hình 2.4 Lễ cúng thần Rừng .36
Hình 2.5 Người trụ cột của gia đình kể về gia phả .37
Hình 2.6 Voi ở Buôn Jun .38
Hình 2.7 Nghi lễ Kết nghĩa anh em cho hai cặp vợ chồng 40
Hình 2.8 Lễ Hát đối đáp trong đám cưới theo phong tục M‟nông ở bon Srê Ú 42
Trang 11DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hội nhập để phát triển đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự tiến bộ trên các mặt đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội – khoa học trên toàn thế giới, du lịch đã trở thành hoạt động phổ biến trong các tầng lớp dân cư Du lịch không chỉ tạo ra nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân mà còn đưa đến những cơ hội mới về mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, nh m tăng sự hiểu biết, thân thiện, quảng bá văn hoá bản địa đến với các quốc gia trên thế giới Để tồn tại và phát triển các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam cần phải lựa chọn cho mình những con đường thích hợp, vừa khai thác được những cơ hội đồng thời hạn chế được những nguy cơ đe doạ từ môi trường bên ngoài
Đông, thể hiện một sự hòa hợp của những dòng sông xen lẫn núi đồi, ao hồ, ghềnh thác và những khu vực rừng nguyên sinh góp phần tạo cho Đắk Lắk một tiềm năng
du lịch sinh thái đặc sắc với vẻ đẹp tự nhiên, đa dạng, phong phú, thơ mộng và hùng
vĩ Đắk Lắk có nhiều thác nước đẹp nổi tiếng như thác Dray Sap Thượng, KrôngKma, Thủy Tiên, Dray Nur… nhiều hồ lớn với diện tích 200 – 1.400ha như
hồ Lắk, hồ EaNhai, hồ Ea Súp… Hồ Lắk cách thành phố Buôn Ma Thuột 56km về phía nam Xung quanh hồ được bao bọc bởi những dãy núi và rừng nguyên sinh, bên hồ Lắk là buôn Jun mang một vẻ đẹp nguyên sơ hiền hòa của buôn làng Tây Nguyên DLST đã góp phần rất lớn trong việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế và các nhà nghiên cứu khoa học đến đây do sự đa dạng của hệ sinh thái ở khu vực này DLST gắn kết với du lịch văn hóa cộng đồng đang là một nét đặc trưng và cũng là thế mạnh của du lịch Đắk Lắk Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động du lịch vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng vốn có của nó, hầu hết các hoạt động du lịch của địa phương chỉ dừng lại ở việc khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên sẵn có, mà chưa có sự đầu tư để phát triển bền vững Hoạt động DLST bước đầu đã đi vào hoạt động nhưng vẫn mang tính tự phát là chủ yếu, việc tổ chức các
Trang 12hoạt động du lịch sinh thái đã bắt đầu bộc lộ những yếu kém, gây tác động xấu đến cảnh quan, môi trường Nguyên nhân là do các cấp, các ngành, đơn vị, cá nhân làm
du lịch chưa thật sự hiểu rõ về DLST và những lợi ích mà nó mang lại, không chú trọng đầu tư (cả về cơ sở hạ tầng, nhân lực và kiến thức khoa học), thiếu quy hoạch, chiến lược phát triển, hoặc quy hoạch chưa đồng bộ, chưa tiến hành khảo sát kỹ lưỡng và toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như các điều kiện khác để phát triển DLST Vậy phải làm sao để khai thác các thế mạnh du lịch ở địa phương
nh m phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội nói chung và của tỉnh nói riêng Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại mà cả trên lĩnh vực môi trường,
xã hội, văn hóa, DLST cũng đóng vai trò quan trọng Ngoài những lợi ích kinh tế, thẩm mỹ thì còn phải chú ý đến vấn đề môi trường Đây cũng chính là lý do em
chọn đề tài “Phát triển du lịch sinh thái hồ Lắk, thực trạng và giải pháp” với
mong muốn tìm được phương hướng phát triển bền vững và hiệu quả cho DLST Lắk hồ Đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu phân tích đánh giá vấn đề đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nh m góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch ở tỉnh nhà phát triển hiệu quả
2 Lịch sử vấn đề
Ngày nay sự hiểu biết về DLST đã phần nào được cải thiện, thực sự đã có một thời gian dài DLST là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và Thế Giới
Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực
này, điển hình như: Hector Ceballos-Lascurain một nhà nghiên cứu tiên phong về DLST, định nghĩa DLST lần đầu tiên vào (1987) như sau: “DLST là du lịch đến
những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ (1998) “DLST là du lịch có mục đích với các
khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế,
Trang 13bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”
Một định nghĩa khác (1999), trong cuốn sách “DLST và phát triển bền
vững” của tác giả Martha Honey (Giám đốc Chương trình An ninh và Hoà bình tại
viện nghiên cứu về Chính sách), trong đó đưa ra định nghĩa về DLST như sau:
“DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế
và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên khích tôn trọng các giá trị
về văn hóa và quyền con người”
Lê Huy Bá (2000) trong cuốn sách về DLST cũng đưa ra khái niệm “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục
vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”
DLST cũng đã được Tỉnh ủy, UBND và Sở Văn hóa, Thể thao – Du lịch Tỉnh Đắk Lắk đánh giá cao Gần đây thì có đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ (Vũ Thị Phương Thụy) của Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội nhưng cũng chỉ là đề tài nghiên cứu về phát triển nông thôn gắn với du lịch, tuy vậy chưa có đề tài nghiên cứu sâu
về vấn đề xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái hồ Lắk làm cơ sở xây dựng kế hoạch dài hạn để phát triển DLST hồ Lắk– huyện Lắk – Tỉnh Đắk Lắk
Trong Đồ án “Quy hoạch xây dựng vùng Tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050” cũng đã đề cập nhiều đề vấn đề bảo tồn các giá trị đặc thù, không
gian văn hóa, du lịch của địa phương; chú trọng phát triển hệ thống các đô thị cấp tiểu vùng, đô thị mới để phát huy tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương Tuy nhiên các đồ án và đề tài nghiên cứu còn chung chung chưa đi sâu vào từng địa phương để thúc đẩy sự phát triển tiềm năng nội lực từ các địa phương Vì vậy luận văn này có
Trang 14thể góp phần hoàn chỉnh đồ án quy hoạch phát triển DLST của tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Lắk nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về Chủ thể: Là khách du lịch và khách thể tham gia vào hoạt động DLST
Về đối tượng: Du Lịch và thực trang phát triển của DLST trên địa bàn huyện
Lắk tỉnh Đắk Lắk
Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Lắk tập
trung nghiên cứu tại 3 điểm: Thị trấn Liên Sơn, Buôn M‟liêng và Buôn Jun Đây là những địa bàn đại diện 3 khu vực Kinh tế- Tự nhiên và có các giá trị văn hoá truyền thống đặc thù góp phần trong quá trình phát triển DLST
Về thời gian: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông thôn và
du lịch dựa vào tài liệu sẵn có, đồng thời xác định, định hướng và các giải pháp phát triển DLST của địa phương trong giai đoạn 2012- 2015
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải phải pháp phát triển DLST cho ngành du lịch còn non trẻ của Đắk Lắk Đây sẽ là nguồn thông tin tham khảo bổ ích giúp ngành du lịch của tỉnh điều chỉnh các hoạt động du lịch nh m thỏa mãn nhu cầu du lịch của du khách mang lại hiệu quả, nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển DLST theo hướng bền vững
5 Ý Ngh khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài nhắm đến việc phát triển DLST như một loại
hình du lịch cần được củng cố và duy trì cũng như khai thác hơn nữa môi trường tự nhiên thông qua một điểm du lịch điển hình là hồ Lắk
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho chính quyền địa phương cũng như người dân
sống trong khu vực hồ Lắk ý thức hơn về tầm quan trọng của kho tàng tài nguyên
mà thượng đế đã ban tặng cho họ đưa ra những chủ trương, chính sách hợp lý để vừa khai thác, vừa bảo tồn khu du lịch này
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp điền dã sử dụng phương pháp này nh m mục đích khảo sát,
kiểm chứng tìm hiểu các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật cùng các hoạt động du lịch khác từ nguồn tài liệu đã tham khảo làm tư liệu cho bài nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin tham khảo, thu thập và tiếp nhận
những thông tin có liên quan, những tài liệu, những bài viết của các tác giả trong nước đã viết
Phương pháp khảo sát bản đồ từ bản đồ vạch ra các vị trí cần tiến hành khảo
sát, kiểm tra khu DLST hồ Lắk, xem xét nghiên cứu trên bản đồ để xây dựng những tuyến điểm mới
Phương pháp phân tích SWOT
Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng phương pháp phân tích SWOT chú trọng vào môi trường bên trong và môi trường bên ngoài, xem xét điểm mạnh, điểm yếu từ môi trường bên trong cũng như những cơ may và hiểm hoạ từ môi trường bên ngoài liên quan đến phát triển địa phương gắn với du lịch và trên cơ sở phân tích ma trận sẽ có dự báo những khó khăn, thuận lợi cho địa phương để làm cơ sở tham khảo phát triển kinh tế xã hội cho những năm tới
Ma trận SWOT Cơ hội
(Opportunity)
Nguy cơ (Threat) Điểm mạnh
(Strength)
Phối hợp S/O Tận dụng điểm mạnh để nắm bắt cơ hội
Phối hợp S/T Tận dụng điểm mạnh
để hạn chế nguy cơ Điểm yếu
(Weakness)
Phối hợp W/O Giảm điểm yếu để nắm bắt cơ hội
Phối hợp W/T Tối thiểu điểm yếu để ngăn chặn nguy cơ
Phương pháp dự báo dựa trên cơ sở số liệu, hiện trạng, quy luật phát triển
của ngành, hiên tượng trong quá khứ và tương lai suy diễn logic cho tương lai từ đó
Trang 16đề ra giải pháp cho DLST hồ Lắk
Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu là nguồn tài liệu của các chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội như: Địa lý học, địa chất học, sử học, dân tộc học và ngoài ra đề tài còn sử dụng các nguồn tư liệu từ những quan sát thực
tế và thực tiễn tại địa bàn trong quá trình đi thực địa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có 3 chương
CHƯƠNG I: Một số khái niệm và kinh nghiệm phát triển du lịch:
Đưa ra những cơ sở lý luận chung về DLST đã được các tổ chức, các nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới công nhận Từ những khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc hoạt động của DLST làm tiền đề cho bài nghiên cứu để trên cơ sở
đó giới thiệu một cách quát nhất về đồi tượng, phân tích nguồn tài nguyên và đưa ra các loại hình du lịch phù hợp có thể ứng dụng cho đối tượng nghiên cứu ở phần tiếp theo
CHƯƠNG II: Phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái hồ Lắk
Khái quát các tiềm năng DLST của đối tượng nghiên cứu, từ tài nguyên tự nhiên đến tài nguyên nhân văn đưa ra cách nhìn chung nhất về tiềm năng phát triển DLST của vùng, bên cạnh đó tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển DLST hiện tại của đối tượng trên mọi phương diện như các hoạt động đầu tư, quản lý, cở sở vật chất hạ tầng và nguồn lực trong du lịch đang phát triển và hoạt động, những hạn chế còn tồn tại và những khắc phục trong tương lai
CHƯƠNG III: Định hướng và giải pháp phát triển DLST hồ Lắk
Từ thực trạng phát triển ở trên đưa ra những định hướng phát triển tiếp theo trong tương lại Giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại đưa ra các hình thức thúc đẩy sự phát triển DLST từ công tác xúc tiến quảng cáo, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phù hợp với các loại hình du lịch Các hoạt động kêu gọi đầu tư
và đề xuất các giải pháp cho nguồn nhân lực cho du lịch trong tương lai
Trang 17có nhu cầu du lịch để trở về với thiên nhiên, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh
mẽ của loại hình DLST trên toàn thế giới
DLST xuất hiện nhƣ một khái niệm khoảng cuối thập niên 1960 Sau này có rất nhiều định nghĩa về DLST Cho đến nay DLST vẫn còn đƣợc hiểu với nhiều góc
độ khác nhau, với tên gọi khác nhau
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn
hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, 1998)
“DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” định nghĩa về DLST
ở việt nam [1]
Trong khuôn khổ nghiên cứu để tài này sử dụng khái niệm về DLST của tổng cục DLST Việt Nam làm cơ sở lý luận cho đề tài
“DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo
dục môi trường có đóng góp cho các nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, 1999)
Trang 181.2 Đặc trưng, yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST
1.2.1 Đặc trưng của DLST
Tài nguyên tự nhiên trong DLST là những tài nguyên còn tương đối nguyên sơ Môi trường tự nhiên trong DLST còn tương đối chưa hoặc ít bị xâm hại bởi bàn tay của con người DLST hàm chứa những đặc trưng cơ bản
- Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận với các vùng
tự nhiên, các khu bảo tồn có giá trị về sự đa dạng sinh học nhưng nhạy cảm về môi trường Hoạt động du lịch gây nên những tác động lớn đối với môi trường DLST là hoạt động nh m cân b ng giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trường
- Góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục, nâng cao ý thức con người bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương là người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển DLST đồng cũng thu hút con người tìm đến các vùng tự nhiên hoang sơ, đa dạng sinh học, chính vì vậy cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương ở tại khu
1.2.2 Yêu cầu cơ bản để phát triển DLST
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Hệ sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu động vật và thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology) và sinh thái nhân văn (human ecology)
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo ra các cơ thể sống Mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: Đất, nước, địa hình, khí hậu…đó là các hệ sinh thái (eco- systems) và các nơi trú
Trang 19ngụ sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Công ước đa dạng sinh
học được thông qua tại hội nghị thưởng đỉnh Rio The Jannero về môi trường, 1972)
Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên thiên (natural- based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích vì sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các VQG, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc trang trại điển hình
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST thể hiện ở
2 điểm
- Để đảm bảo được tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách DLST Người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương, để có thể thực hiện tốt nhất vai trò của mình
- Hoạt động DLST đòi hỏi phải có người điều hành nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm tới lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách
du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những
cơ hội này thay đổi hoặc mất đi Ngược lại, các nhà điều hành DLST phải có sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương
nh m mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao hiểu biết chung cho người dân và du khách
Yêu cầu thứ ba nh m hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trường, theo đó DLST cần được tổ chúc với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa Khái niệm "sức chứa được hiểu từ nhiều khía cạnh Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm
Trang 20vào cùng một thời điểm
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống, văn hóa, kinh tế - xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch
có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản
lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường
Yêu cầu thứ tư là thỏa mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du lịch Việc thỏa mãn mong muốn này của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hóa bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của nghành DLST.Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì
Trang 21mà họ quan tâm
DLST bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về kinh tế du lịch Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt Nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng
1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST
Thị trường DLST hiện nay đang phát triển mạnh so với các thị trường khác Song
sự phát triển nhanh chóng này đe dọa tính bền vững của DLST và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững DLST bản thân nó đã bị giới hạn về phạm vi, mức độ phát triển Nó không thể tiếp nhận một số lượng lớn du khách mà những du khách này là nguyên nhân dần dần làm thay đổi, dẫn đến sự phá hủy sự tồn tại của nó Vì vậy vấn đề trọng tâm trong việc phát triển DLST bền vững
là sự kiểm soát hạn chế những nguyên tắc xử lý và thực hiện
DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề DLST chứa đựng mối tác động qua lại lớn giữa con người và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức được giáo dục nh m biến chính những khách du lịch thành những người đi đầu trong công việc bảo vệ môi trường Phát triển DLST làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên
Sau đây là những nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST:
DLST phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiệm đạo đức đối với môi trường tự nhiên
DLST không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hóa) nh m thu hút khách mà còn bên trong của nó
DLST phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này
Trang 22Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người khách DLST sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận
sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân
DLST phải đảm bảo lợi ích lâu dài với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội hay khoa học) DLST phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường thiên nhiên, đó là những kinh nghiệm được hòa đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là những mục đích đi tìm cảm giác mạnh hoặc mục đích làm tăng cường thể trạng cơ thể
Ở đây, những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia
Cần có sự phối hợp với tất cả các ban ngành chức năng: Địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi)
Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết
và sự phối hợp với các ban ngành chức năng
Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng xử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động Là một hoạt động mang
1.3 Tài nguyên du lịch
1.3.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch…” [2]
1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch không đồng nhất với điều kiện tự nhiên và tiền đề văn hóa - lịch sử, là phạm trù lịch sử, phạm trù động và có những đặc điểm chung sau:
- Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch
Trang 23- Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có những giá trị vô hình
- Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau, tạo nên tính mùa trong du lịch
- Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ, nên có sức hút cho việc xây dựng cơ
sở hạ tầng và khách du lịch tới nơi tập trung các tài nguyên đó
- Tài nguyên du lịch có thể tái tạo, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên, nếu sử dụng kết hợp với bảo vệ hợp lý
- Tài nguyên du lịch là dạng đặc biệt, rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài, cho nên đòi hỏi được bảo vệ ở mức cao nhất
1.3.3 Phân loại tài nguyên du lịch
Có thể phân làm 2 nhóm:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Tài nguyên du lịch tự nhiên là các yếu tố, các hiện
tượng tự nhiên, thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên… trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch
Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” Giá trị
cao nhất của tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới
Hiện nay trên thế giới có 174 di sản thiên nhiên thế giới, Vịnh Hạ Long và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng của Việt Nam n m trong số này
Ngoài ra chúng ta còn đề nghị UNESCO công nhận VQG Cúc Phương, VQG Ba
Bể, VQG Cát Tiên… là di sản thiên nhiên thế giới, nhưng chưa được công nhận
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản
phẩm do con người tạo ra trong quá trình phát triển, có sức hấp dẫn du khách
và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả về xã hội, kinh tế và môi trường Chúng thường là những giá trị văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của mỗi
quốc gia, mỗi địa phương
Có 2 dạng tài nguyên du lịch nhân văn chính: Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể
Trang 24và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể bao gồm:
+ Di sản văn hoá thế giới vật thể
+ Di tích lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo, cấp quốc gia và địa phương
+ Các cổ vật và bảo vật quốc gia
+ Các công trình kiến trúc
Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm:
+ Di sản văn hoá thế giới phi vật thể
+ Truyền thống văn hoá như văn hoá nghệ thuật, ẩm thực, ứng xử, phong tục tập quán, văn hoá các tộc người…
+ Thơ ca và văn học, các phát minh sáng kiến khoa học
+ Các hoạt động văn hoá, thể thao, kinh tế-xã hội có tính chất sự kiện
+ Các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
1.3.4 Các loại hình DLST
Vài năm trở lại đây, cùng với xu thế hội nhập nền của nền kinh tế, ngành công nghiệp không khói của Việt Nam đã có nhiểu bước tiếp cận mới Cơ hội để quảng
Việt Nam Có thể là những bước đi dài nhưng là những bước đi cần thiết Trong
cuốn sách Touring Culture (Văn hóa Du Lịch) của Chris Rojek đã viết connections
between tourism and cultural change and the relevance of tourist experience to current theoretical debates on space, time and identity create different types of tourism (kết nối giữa du lịch và văn hóa với kinh nghiệm du lịch làm nên các cuộc
tranh luận lý thuyết về thời gian, không gian và bản sắc tạo ra các loại hình du lịch
Một số loại hình DLST phổ biến ở Việt Nam như:
- Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí:: Loại hình du lịch này phục vụ khách du
Trang 25lịch thuần túy chỉ đơn giản là tìm về với thiên nhiên có không khí trong lành, tươi mát, để được hòa mình với thiên nhiên hoang dã…loại hình du lịch này có thể thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, khách du lịch nội địa và quốc tế với những địa điểm du lịch thường xuyên như: khu bảo tồn thiên nhiên, những nơi có cảnh
quan thơ mộng, có nhiều biệt thự để nghỉ ngơi và có các khu vui chơi giải trí…
- Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa:
Loại du lịch này dành cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, sinh viên, học sinh yêu thích tìm hiểu về thiên nhiên, các cán bộ nghiên cứu các đề tài khoa học, các vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hóa, sinh thái đời sống các loài động - thực vật của các vùng như rừng ngập mặn, vùng sinh quyển Du khách tham gia loại hình du lịch này thường đến các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh thái đặc biệt: có các loài động vật thực vật quý hiếm hay các khu di tích lịch sử, các khu di sản văn hóa Thế
Giới
- Du lịch hội nghị hội thảo: Một số khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh học đa
dạng, đặc biệt có các loài thú quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, một số di sản văn hóa, lịch sử thu hút các nhà đầu tư các nhà nghiên cứu đến để bàn luận về các vấn
đề mà cả thế giới đang quan tâm giúp đỡ, quy hoạch, bảo vệ và phát triển những di
sản đó
- Du lịch Teambuilding: Một xu hướng mới của du lịch Việt Nam hiện nay là Du
lịch Teambuiding Với việc xây dựng các chương trình du lịch kết hợp tham quan, nghỉ dưỡng với các chương trình dành cho các nhóm nh m xây dựng, tăng cường tinh thần đoàn kết, tập thể, loại hình du lịch này đang được nhiều doanh nghiệp, công ty “đặt hàng” nh m nâng cao vai trò đoàn kết giữa các nhân viên với nhau Du lịch Teambuilding là một loại hình phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá mới ở Việt Nam Tuy nhiên theo nhìn nhận chung du lịch “xanh” và du lịch Teambuilding trong tương lai sẽ là những loại hình du lịch chủ đạo ở nước ta
- Du lịch thăm chiến trường xưa: Loại hình du lịch này dành cho du khách là
những chiến sĩ trong và ngoài nước đã từng sống và chiến đấu ở những vùng rừng núi, hải đảo trong chiến tranh Cũng có thể là những du khách đã từng có một thời
Trang 26gian công tác và làm việc hay đi làm kinh tế ở nơi khác muốn trở về nơi xưa để ôn lại kỷ niệm một thời Du khách là những người ngưỡng mộ lịch sử của một dân tộc nào đó trong chiến tranh, hoặc sinh viên học sinh đến để nghe thuyết minh về lịch
sử, về các chiến công hiển hách của nhân dân ta trong quá khứ Du khách thường đến các khu bảo tồn thiên nhiên có căn cứ cách mạng hay các khu di tích lịch sử
như (Cần Giờ, Phú Quốc, Nam Cát Tiên…)
- DLST rạn san hô: Du lịch tham quan các hệ sinh thái san hô là một hình thức
khá mới mẻ, có tính hấp dẫn cao và thu được nhiều lợi nhuận Việc tận dụng các hệ sinh thái rạn san hô cho phát triển DLST phổ biến là hình thức bảo tồn không chỉ cho các rạn san hô mà còn cho cả những sinh vật biển sống nhờ các bãi đá này Hệ sinh thái san hô là hệ sinh thái phong phú nhất trên trái đất, nó được ví như những
1.4 Khái quát về Huyện Lắk
1.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Lắk là một huyện n m dọc quốc lộ 27 về phía Đông Nam của thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk, cách Trung tâm Buôn Ma Thuột 60km về hướng
- Phía Ðông giáp ranh với huyện Krông Bông
- Phía Tây giáp với Đăk Nông
- Phía Nam giáp với Lâm Đồng
- Phía Bắc giáp với Krông A Na
Huyện Lắk là một huyện của tỉnh Đắk Lắk, giao thông nông thôn tuy đã được đầu tư qua hàng năm b ng hai nguồn vốn Nhà nước và nhân dân cùng làm nhưng việc đi lại giữa các vùng trong huyện còn gặp nhiều khó khăn Ðịa bàn của huyện tương đối rộng được chia 11 đơn vị hành chính gồm 10 xã, 01 thị trấn, 118 thôn buôn Xã cách xa thị trấn là 60km là xã Krông Nô, Nam Ka và Êa R‟Bin Huyện Lắk có diện tích tự nhiên là 125.604 ha, dân số 59.831 người trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 50% dân số của huyện Mật độ dân số là 47,63 người/km2
(Ph ng thống kê huyện Lắk, 2010)
Trang 27Hình 1.1 Bản đồ huyện Lắk
(Nguồn: phòng thống kê huyện Lắk, 2010)
1.4.2 Thành phần dân cư
Theo Tổng Cục Dân Số ế Hoạch Hoá Gia Đình, 2010 toàn huyện có 14 dân tộc
anh em cùng chung sống Tổng số người trong độ tuổi lao động là 30.899 người, lao động có trình độ đại học và cao đẳng là 243, trung cấp là 447, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 24.532 lao động, còn lại đang làm việc nội trợ hoặc đang đi học
Nhìn chung đời sống của nhân dân còn ở mức thu nhập thấp, toàn huyện vẫn còn
hộ đói và nghèo, dân trí còn thấp không đồng đều giữa các xã trong huyện, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 290USD/người/năm Tỷ lệ tăng dân số từ 2% (năm 2008) giảm xuống còn 1,72% (năm 2010)
Trang 28Bảng 1.1: Tình hình dân số, thành phần dân tộc và l o động của huyện Lắk
(Nguồn: ph ng thống kê huyện Lắk năm, 2010)
Chỉ tiêu ĐVT
2008 2009 2010 Tốc độ
PTBQ (%)
Trang 291.4.3 Kinh tế
Nhìn chung, thu nhập chủ yếu trên địa bàn huyện là từ nông lâm nghiệp, do vậy cuộc sống kinh tế xã hội của người dân vẫn thăng trầm theo sự biến động giá cả nông sản trên thị trường và không ổn định thu nhập Thu nhập bình quân đầu người tăng qua các năm
Năm 2010 khoảng 480 USD/người/năm theo giá hiện hành, năm 2011 khoảng
500USD/người/năm theo giá hiện hành, năm 2012 khoảng 520USD/người/năm (Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk, 2012)
Về thu ngân sách trên địa bàn trong 4 năm từ năm 2007-2010 đạt trên 312 tỷ đồng Thu ngân sách qua các năm đều có xu hướng tăng Theo báo cáo tổng kết từ năm 2007 – 2010 của huyện Lắk thì:
- Tốc độ tăng thu đạt khoảng: 10-15%
- Tốc độ tăng chi đạt khoảng: 18%
Mục tiêu và phương hướng đến năm 2015 là phấn đấu đưa đời sống của nhân dân lên mức cao hơn, giảm hộ đói và xoá hộ nghèo, thu nhập bình quân phải trên 600USD/người/năm
Là một huyện miền núi Tây Nguyên, thu nhập của người dân chủ yếu từ các sản phẩm nông lâm nghiệp Trong những năm qua, do sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nên đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện
Chính sách xoá đói giảm nghèo đã được quan tâm chỉ đạo, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của các cấp uỷ Ðảng, của Nhà nước, của các ngành đoàn thể từ huyện đến cơ sở b ng các biện pháp như cho vay vốn ưu đãi người nghèo, hỗ trợ giúp nhau xoá đói, giảm nghèo của từng gia đình, từng bước giảm được hộ đói, hộ nghèo trên từng khu dân cư Tuy nhiên đến nay chỉ có đời sống dân cư của những ngành thương nghiệp, xây dựng cơ bản, công nghiệp, giao thông vận tải có mức thu nhập
và mức sống ổn định Còn lại đời sống dân cư ngành nông nghiệp còn có nhiều khó khăn, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa Tính đến năm 2010 số hộ đói nghèo vẫn còn 3016 hộ chiếm tỷ lệ 26% toàn huyện Trong đó dân tộc thiểu số 2473 hộ chiếm
Trang 30Nguyên nhân do thiếu vốn, thiếu công cụ sản xuất tiên tiến, trình độ canh tác, chăn nuôi còn yếu kém Ngoài ra còn phải kể đến là cơ sở hạ tầng thấp, do đó ảnh hưởng đến nền kinh tế hàng hoá, trình độ dân trí chưa cao dẫn đến đời sống xã hội gặp nhiều khó khăn
1.4.4 Văn hó – Xã hội
+ Giáo dục - đào tạo
Hoạt động giáo dục của huyện được quan tâm về mọi mặt Số lượng trường học, phòng học và lực lượng giáo viên đều được tăng cả về số lượng và chất lượng Toàn huyện không còn tình trạng học ca ba Việc nâng cao nhận thức về công tác giáo dục trong nhân dân, vai trò xã hội hóa giáo dục đang được phát huy hiệu quả Những năm gần đây nhà nước đã chú trọng đầu tư cho các ngành Giáo dục, Ðào tạo,
cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên được tăng cường Kết quả hoạt động giáo dục của huyện các năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành Giáo dục vẫn còn thiếu, đội ngũ giáo viên chưa đủ so với yêu cầu, tỷ lệ người mù chữ còn cao hơn các vùng khác, tỷ lệ giáo viên người dân tộc thiểu số được đào tạo để trở lại giảng dạy ở các địa phương còn ít
Toàn huyện có 13 trường tiểu học, 4 trường trung học cơ sở, 1 trường trung học phổ thông Năm 2010 toàn huyện có 477 phòng học; trong đó có 63 phòng kiên cố,
242 phòng cấp 4, còm lại là phòng bán kiên cố và phòng học tạm, đã chấm dứt tình trạng học ca 3, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Toàn huyện có 14.085 học sinh trong đó học sinh dân tộc là 8.912 em
Tính đến cuối năm 2010 toàn huyện có thêm 05 đơn vị được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, gồm các xã Ðăk Nuê, Ðăk Phơi, Bông Krang, Yang tao, và Krông Nô [26]
+ Văn hoá thông tin
Toàn huyện có 1 Trung tâm văn hoá tại thị trấn Liên Sơn; 12 thư viện, phòng đọc sách tại các xã, thị trấn phục vụ cho nhu cầu đọc, 11/11 xã, thị trấn đã được phủ sóng truyền thanh, truyền hình đảm bảo cho nhu cầu nghe nhìn ngày càng tốt hơn
Trang 31Hoạt động phát thanh truyền hình đã góp phần tích cực trong việc đưa đường lối, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và nâng cao dân trí cho nhân dân
+ Điều kiện y tế - sức khoẻ
Trong những năm qua cùng với sự tiến bộ chung của ngành y tế tỉnh Ðắk Lắk, công tác chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh của huyện ngày càng tốt hơn, đạt được một số kết quả đáng kể trên nhiều mặt Ngành y tế của huyện có mạng lưới
từ huyện đến xã cho đến các thôn buôn, toàn huyện có 1 bệnh viện và 12 trạm y tế tại các xã Các cơ sở y tế những năm gần đây đã được đầu tư thêm trang thiết bị, cơ
sở vật chất, được tu sửa nâng cấp, xây dựng bán kiên cố nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân
Đến nay toàn huyện đã có 95 cán bộ y tế, chưa kể đến số cán bộ y tế ở các thôn buôn
Bảng 1.2: Tình hình phát triển cơ sở văn hó , y tế
Diễn giải ĐVT 2008 2009 2010
Tốc độ PTBQ (%)
Trang 321.4.5 Di tích lịch sử văn hó và d nh l m thắng cảnh
+ Văn hoá và di tích
Bản sắc văn hoá dân tộc ở Lắk có tính đa dạng, mang đặc thù riêng chứa đựng bản sắc văn hoá dân tộc đậm đà tiêu biểu của vùng văn hoá Tây Nguyên Là địa bàn
có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là M‟nông, Gia Rai, Ê Ðê, từ lâu đã có
sự gắn bó mật thiết với nhau về mặt văn hoá Họ có những đặc điểm về kinh tế xã hội giống nhau Tuy nhiên, ngoài những nét chung mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, sắc thái riêng, có những đặc thù riêng về sinh hoạt cũng như sản xuất Các công trình nhà sàn, nhà rông với các lễ hội đâm trâu, bỏ mả, mừng lúa mới đầy màu sắc Cùng với những nhạc cụ dân gian đặc trưng như: đàn gió, đàn nước, cồng chiêng Văn hoá người kinh đang có ảnh hưởng sâu rộng tới vùng dân tộc bản địa, quá trình giao lưu giữa các dân tộc làm tăng tính đa dạng trong nền văn hoá Tuy nhiên, mặt trái của quá trình ảnh hưởng văn hóa này có thể làm mất đi nhanh chóng nhiều sắc thái dân tộc Vì vậy cần phải có biện pháp bảo tồn giá trị văn hoá độc đáo của các dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên
Các công trình văn hoá vật thể, phi vật thể đến nay đều được chú trọng lưu giữ, tu sửa, xây dựng, đó là vốn quí cần được bảo tồn và phát huy những tinh hoa của nó, góp phần xây dựng cuộc sống mới, con người mới của huyện Lắk
+ Danh lam thắng cảnh
Huyện Lắk là một huyện có diện tích rừng lớn Bên cạnh nét văn hoá đặc sắc của các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn, thì huyện Lắk còn có các khu di tích, các danh lam thắng cảnh đẹp, là cơ sở để phát huy thế mạnh về du lịch như: Biệt điện Bảo đại, các khu rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hồ Lắk, thác nước và các buôn làng cổ mang đậm nét Tây Nguyên Theo số liệu thống kê của địa phương có
25 điểm du lịch tiêu biểu, các điểm du lịch mang đậm nét sinh thái như:
Rừng quốc gia Chư Yang Sin: Rừng quốc gia Chư Yang Sin n m trên địa bàn
các xã Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hoà Phong, Hoà Lễ, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Ðiền thuộc huyện Krông Bông và các xã Yang Cao, Bông Krang, Krông Nô, Ðăk Phơi thuộc huyện Lắk Tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin (2.442m) cao nhất hệ
Trang 33thống núi cao cực Nam Trung Bộ Rừng quốc gia Chư Yang Sin có tổng diện tích
58.947 ha Diện tích vùng đệm của VQG Chư yang Sin là 183.479 ha, nằm trên địa
bàn các huyện Lạc Dương, Lâm Hà tỉnh Lâm Ðồng, huyện Krông Bông, huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk Tại đây có 876 loài thực vật (143 loài đặc hữu Việt Nam, 54 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam); 203 loài chim, 46 loài thú được ghi nhận có mặt ở đây.[22]
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar: N m trên địa bàn các xã Nam Kar, Ea R‟Bin,
Ðăk Nuê, Buôn Triết, buôn Tría huyện Lắk và xã Bình Hoà huyện Krông Ana tỉnh
Đắk Lắk Nơi đây, địa hình phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao có hướng
thấp dần từ Ðông Bắc sang Tây Nam, nơi cao nhất của khu vực này là đỉnh Chư Nam Kar cao 1294m Thấp nhất là hồ Ea Boune ở phía Tây Bắc có độ cao so với mực nước biển là 418m địa hình ở đây hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò, trảng b ng, đồng cỏ, đầm hồ, sông suối tạo nên một vùng đặc sắc gần như hội đủ các dạng địa hình nên cũng có đủ các kiểu thảm thực vật như: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín lá rộng nữa rụng lá nhiệt đới, rừng thứ sinh, tre, nứa, gỗ, lồ ô, rừng trảng cỏ đây là môi trường sống lý tưởng của nhiều loại động vật rừng Tổng diện tích rừng gần 20932 ha, có độ che phủ là 95,5% Có 586 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 149 họ của 67 bộ trong 5 ngành thực vật Ðộng vật ở đây rất đa dạng và phong phú Trong đó: Lớp chim có 140 loài thuộc 43 họ của 17 bộ; lớp thú có 56 loài thuộc 24 họ của 9 bộ; lớp lưỡng cư - bò sát có 50 loài thuộc 16 họ của 4 bộ Trong đó có một số loài thú quý hiếm n m
Khu rừng Yang Tao: Rừng Yang Tao n m giữa đường từ Buôn Ma Thuột đi khu du
lịch nổi tiếng Hồ Lắk Dọc theo quốc lộ 27
Trang 34Hình 1.2 Thác Bìm Bịp thuộc huyện Lắk
(Nguồn: http://daklak.gov.vn)
Ðây là một điểm du lịch khá mới mẻ và hấp dẫn trên địa bàn huyện Lắk Thiên nhiên ở đây còn rất hoang sơ dường như chưa có sự xâm lấn của con người Với khu rừng nguyên sinh bao bọc bởi thác Bìm Bịp hùng vĩ Ðến với thác Bìm Bịp, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn rất độc đáo với nhiều loại gia vị mới lạ
mà chỉ nơi đây mới có Suối Bìm Bịp bắt đầu từ một miền núi cao của dãy Yang Tao, một dãy núi nhỏ của dãy Chư Yang Sin hùng vĩ
Hình 1.3 Phong cảnh hồ Lắk
(Nguồn: Tác giả)
Trang 35Hồ Lắk : Là một thắng cảnh nổi tiếng ở Tây Nguyên, n m trên địa bàn huyện
Lắk , tỉnh Ðắk Lắk, cách Tp Buôn Ma Thuột gần 60km về hướng Ðông Nam, trên quốc lộ 27 đường đi Ðà Lạt Theo tiếng M‟Nông, Lắk có nghĩa là nước Hồ Lắk dài, uốn khúc bao bọc lấy thị trấn Liên Sơn Ðây là hồ nước ngọt lớn nhất Tây Nguyên,
có diện tích khoảng 880ha, chiều dài khoảng 5km, rộng khoảng 2km Vào mùa khô
hồ thu hẹp lại còn khoảng 500 ha Ba mặt hồ tiếp giáp với các dãy núi, mặt còn lại tiếp giáp với sông Krông Ana bắt nguồn từ dãy Chư Yang Sin cao gần 2500 m đổ vào Trên mặt hồ có rất nhiều các loại hoa sen trắng, hồng, hay súng tím Giữa hồ nổi lên vài hòn đảo nhỏ, chim bay về đậu từng đàn và cũng là nơi sinh sống của những đàn vịt trời Xung quanh hồ lau sậy mọc um tùm, là quê hương của các loại chim chóc, cò vạc và gà rừng Bao bọc quanh hồ là các cánh rừng nguyên sinh rộng
lớn với hệ động thực vật đa dạng, phong phú Theo khảo sát của Viện Sinh thái Tài
nguyên Sinh vật Hà Nội, 2011 thì tại hồ Lắk có 61 loài thú gồm 25 họ, 17 loài lưỡng
cư, 20 loài bò sát và 132 loài chim, cò Ðộng vật sống dưới mặt nước có khoảng 35 loài cá, 3 loài ốc, 3 loại tôm và 2 loại cua Nơi đây có nhiều loài động vật quý hiếm như chim K‟tía, chim cuốc
Hồ nước hiếm hoi này thực sự là một báu vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất cao nguyên Sản luợng tôm cá mỗi năm đánh bắt từ hồ khoảng 150 tấn Ðây là một nguồn lợi không nhỏ đối với một huyện miền núi Chung quanh hồ có các buôn làng của người M‟Nông như: Buôn Lé, buôn Jun, buôn M‟Liêng với những nét văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Ðến với hồ Lắk, du khách có thể cưỡi voi qua hồ, du thuyền độc mộc, thám hiểm cắm trại trong rừng Hay du khách
có thể lựa chọn cho mình các loại hình du lịch như tìm hiểu cuộc sống văn hóa của đồng bào dân tộc bản địa nơi đây, cùng dân bản tham gia sinh hoạt hàng ngày trên nương rẫy, dưới thác hồ, đêm về uống rượu cần, nghe cồng chiêng, ngắm nhìn các chàng trai, cô gái múa hát, thưởng thức các món ăn đặc sản của vùng như cơm lam được nấu b ng gạo dẻo trong các ống tre tươi, tôm, cá, và thịt rừng Ðặc biệt có món cá Song hầm muối hấp dẫn với nguyên liệu cá vừa được bắt từ hồ lên
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học về “Phát triển du lịch
sinh thái hồ Lắk , thực trạng và giải pháp” Kết thúc chương 1, thông qua việc đọc
các tài liệu sách tham khảo về DLST của Gs.Ts Lê Huy Bá, những lý luận và thực
tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam của Phạm Trung Lương và những khái niệm về DLST được đưa ra bởi các tổ chức du lịch Thế Giới để đưa ra những cơ sở lý luận đầu tiên cho phát triển DLST hồ Lắk Bên cạnh đó nh m hiểu được bản chất của DLST tìm ra một khái niệm làm cơ sở cho toàn bài nghiên cứu đó là khái niệm về DLST của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam
Tiến hành tham quan các điểm du lịch quanh khu vực huyện Lắk, tìm hiểu thu thập qua các số liệu từ các khu du lịch như “Lak Resort, Khu Du Lịch Hồ Lắk - Buôn A Ka Thơn, khu du lịch vườn quốc gia Chư Yang Sin” nh m nắm bắt được thực trạng phát triển cũng như tiềm năng du lịch của vùng Dựa vào số liệu có được
từ phòng thống kê của huyện phân tích tình hình kinh tế – xã hội – dân cư trên địa bàn để có một cái nhìn tổng quan nhất về đồi tượng nghiên cứu, tình hình chung ở huyện Lắk hiện nay làm tiền đề đi vào phân tích thực trạng đang tồn tại ở chương II
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST HỒ LẮK
2.1 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái
Nói đến vẻ đẹp Đắk Lắk, người ta thường nhắc đến những cái tên như: Hồ Lắk, Buôn Đôn, Krông Kar, Thủy Tiên, VQG Yok Đôn, Chư Yang Sin… những cái tên tạo nên một phong cách, một tầm nhìn cho vùng đất không chỉ là thủ phủ cà phê mà còn là vùng đất của du lịch khám phá thiên nhiên kỳ vĩ Rừng nguyên sinh của Đắk Lắk có hệ sinh thái đa dạng với khoảng ba ngàn loại cây, gần một trăm loài thú và xấp xỉ hai trăm loài chim thuộc loại quí hiếm, được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), 2011 đánh giá: "Hồ Lắk là một thắng cảnh tuyệt vời ở Đông Nam Á Nếu được xây dựng thành một khu du lịch hoàn chỉnh, chắc chắn nó sẽ thu hút một lượng lớn khách quốc tế"
2.1.1 Tài nguyên tự nhiên
2.1.1.1 Địa hình
Địa hình của huyện phức tạp, khoảng 2/3 diện tích bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn Trên địa bàn huyện Lắk có núi, cao nguyên, thung lũng và đầm hồ sông suối Các ngọn núi cao như Chư Yang Sin (2405m), Chư Yang Lắk (1689m), Nam Kar Dãy Chư Yang Sin cấu tạo từ đá Granit chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn Ðịa hình huyện Lắk được phân chia thành những vùng có tính đặc thù riêng biệt, có thể nói r ng tồn tại song song hai kiểu địa hình chính:
- Kiểu địa hình núi cao chiếm phần lớn lãnh thổ của huyện với diện tích khoảng 92.000 ha, kiểu địa hình này được hình thành bởi dãy núi cao Chư Yang Sin bao bọc chạy dọc từ Ðông Bắc - Tây Nam, có độ cao trung bình 800-1000m, độ dốc
còn khá lớn, đặc biệt là sự che phủ của rừng Ðây là địa bàn thích hợp cho sản xuất
Trang 38lâm nghiệp
- Kiểu địa hình vùng trũng phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc của huyện, được tạo thành bởi các vật chất phù sa trên núi và phù sa lưu vực của các con sông lớn, địa hình thấp dần về phía Ðông Nam - Tây Bắc với độ dốc trung bình
2.1.1.2 Khí hậu
Khí hậu của huyện Lắk mang tính nhiệt đới với hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu vào tháng tư hoặc tháng năm và chấm dứt vào tháng mười, mười một, gió Tây Nam
Trang 39từ Ấn Ðộ Dương thổi đến mang theo nhiều hơi nước cho nên tuy mát mẻ nhưng ẩm ướt Mùa khô là thời gian 6 tháng còn lại trong năm Mùa khô ở huyện Lắk không
Lắk được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Chế độ nắng: Đây là vùng có lượng ánh sáng dồi dào khoảng 213-266 ngày nắng trong năm
- Chế độ mưa ẩm: Tổng lượng mưa bình quân hàng năm khá lớn từ 1800-1900
mm Vào mùa khô, lượng mưa ít chỉ khoảng 4-5mm Vào mùa mưa, lượng mưa lên tới 320mm
- Ðộ ẩm không khí: độ ẩm bình quân hàng năm từ 80% đến 85%, đặc biệt mùa khô độ ẩm không khí rất thấp khoảng 70%
- Chế độ gió: Hàng năm huyện Lắk gần như không có bão, tốc độ gió bình quân
Trang 40đó phải kể đến 3 khu rừng đặc dụng:
- Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
- Khu rừng Lịch sử - Văn hoá - Môi trường hồ Lắk
Ba khu rừng đặc dụng rất phong phú, đa dạng về số lượng, chủng loại, là nơi chứa nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm, mang tính đa dạng sinh học, có giá trị và ý nghĩa rất lớn cho công tác nghiên cứu khoa học
- Tài nguyên thực vật
Hệ thực vật rừng với đặc điểm địa hình và chế độ khí hậu thuỷ văn của vùng đã hình thành nên những quần thể thực vật phong phú, đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới hơi ẩm mang tính chất cao nguyên và thung lũng chủ yếu thường gặp các dạng sau: + Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: kiểu rừng này phân bố chủ yếu ở
độ cao dưới 600 m và trên 1000 m Kiểu rừng này gồm các loại cây gỗ như Trín, giẻ, lành ngạnh, re, kháo, cày, trường, trâm, thị đỏ, kháo nước, song mây, sẹ, tràm lá
đỏ, cẩm lai
+ Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp: kiểu rừng này phân bố ở độ cao từ 700 - 1000 m, gồm các loại cây như cây lá kim - lá rộng đặc trưng cho chế độ khí hậu á nhiệt đới ẩm vùng núi thấp
+ Rừng lồ ô: thường mọc trên đồi, hoặc ở miền sườn núi dốc
+ Rừng le, cây bụi: phân bổ ở các vùng đồi thấp, độ cao dưới 500 m, là biểu hiện diễn thế đi xuống của kiểu rừng thường xanh do khai thác gỗ, đốt rừng làm rẫy liên tục của con người
+ Trảng cỏ, đầm lầy: tập trung ở ven khu vực hồ Lắk, các thung lũng ven các sông suối tại phía tây hồ Lắk và giáp với sông Krông Nô và Krông Ana
Qua kết quả nghiên cứu thực địa huyện Có tới 264 loài có khả năng làm thuốc như: Nhân sâm, cỏ gừng, họ cúc, họ trúc đào Loại có khả năng trồng làm cảnh chủ yếu là họ Phong lan như: Quế lan hương, lan vẩy rồng, thuỷ tiên trắng, thuỷ tiên tím Một số loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao họ như họ đậu, họ giẻ, họ