1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu gà thả vườn tại huyện kim sơn ninh bình

67 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Bệnh Lý Của Bệnh Đậu Gà Trên Gà Thả Vườn Tại Huyện Kim Sơn - Ninh Bình
Tác giả Phạm Thị Thùy Dương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Nam
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 8,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh tích vi thể chủ yếu của gà mắc đậu là ở da có hiện tượng sung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm tế bào viêm, hoại tử và thoái hóa tế bào đặc biệt là có thể bao hàm bollinger trong mụn đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ THÙY DƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH

LÝ CỦA BỆNH ĐẬU GÀ TRÊN GÀ THẢ VƯỜN TẠI HUYỆN KIM SƠN - NINH BÌNH

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hữu Nam

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan

và chưa từng được dùng để bảo vệ để lấy bất kì một học vị nào.

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy Dương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, để hoàn thành luận văn thạc

sĩ, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè trong suốt thời gian thực tập.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Nam bộ môn Bệnh lý Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất tận tình trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Các chị trên phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học khoa Thú Y - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.

Cùng toàn thể các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên bộ môn Bệnh lý thú y

và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Thú Y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.

Sự động viên và tạo điều kiện tốt nhất của gia đình, bạn bè đã góp phần giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tất cả mọi người.

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Danh mục chữ viết tắt viii

Trích yếu luận văn . ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Lịch sử và tình hình nghiên cứu bệnh đậu gà 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh đậu gà trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh đậu trong nước 4

2.2 Đặc điểm căn bệnh 5

2.2.1 Phân loại 5

2.2.2 Hình thái, cấu trúc 6

2.2.3 Tính chất nuôi cấy 7

2.2.4 Sức đề kháng 9

2.3 Dịch tễ học 9

2.4 Triệu chứng lâm sàng 11

2.5 Bệnh tích 13

2.5.1 Bệnh tích đại thể 13

2.5.2 Bệnh tích vi thể 14

2.6 Chẩn đoán bệnh 14

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 14

2.6.2 Chẩn đoán phân biệt 14

2.6.3 Chẩn đoán virus học 15

2.6.4 Chẩn đoán huyết thanh học 15

Trang 5

2.6.5 Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

2.7 Phòng bệnh

2.7.1 Phòng bệnh bằng vaccine

2.7.2 Vệ sinh phòng bệnh

2.8 Điều trị

Phần 3 Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Địa điểm nghiên cứu

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.4 Nguyên liệu

3.4.1 Mẫu bệnh phẩm

3.4.2 Hóa chất, môi trường, mồi cần thiết

3.4.3 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp dịch tễ học mô tả

3.5.2 Theo dõi và quan sát triệu chứng lâm sàng

3.5.3 Phương pháp mổ khám (theo tiêu chuẩn ngành thú y 10TCN năm 2005)

3.5.4 Phương pháp lấy mẫu xét nghiệm

3.5.5 Phương pháp làm tiêu bản mô bệnh học (Phương pháp vùi mô trong paraffin)

3.5.6 Phương pháp tách chiết DNA tổng số bằng hóa chất

3.5.7 Phương pháp xét nghiệm một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh đậu

3.5.8 Phương pháp xử lý số liệu……… 27

Phần 4 Kết quả và thảo luận

4.1 Điều tra tình hình bệnh đậu gà trên địa bàn xã kim tân – kim sơn -ninh bình

4.1.1 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh

4.1.2 Tỷ lệ mắc theo lứa tuổi

4.2 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đậu

4.3 Kết quả phản ứng PCR

Trang 6

4.4 Biến đổi bệnh lý ở gà mắc bệnh đậu 37

4.4.1 Bệnh tích đại thể 37

4.4.2 Bệnh tích vi thể chủ yếu của gà mắc bệnh đậu 42

4.5 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở gà mắc bệnh đậu 46

4.5.1 Số lượng hồng cầu 46

4.5.2 Tỷ khối huyết cầu 47

4.5.3 Hàm lượng huyết sắc tố (phân tử hemoglobin) 47

4.5.4 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 48

4.6 Biện pháp phòng chống bệnh đậu gà 46

4.6.1 Chú ý 46

4.6.2 Phòng bệnh 49

4.6.3 Điều trị triệu chứng 50

Phần 5 Kết luận và đề nghị 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

Tài liệu tham khảo 52

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Quy trình chạy mẫu bằng máy chuyển đúc mẫu tự động 23

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi gà chung tại xã Kim Tân – Ninh Bình 28

Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh đậu gà theo lứa tuổi tại xã Kim Tân – huyện Kim Sơn – Ninh Bình. 30

Bảng 4.3 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đậu giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi 31 Bảng 4.4 Sự có mặt của virus đậu trong tổ chức da gà được xác định bằng phản ứng PCR 35

Bảng 4.5 Bệnh tích đại thể của gà mắc đậu giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi 38

Bảng 4.6 Bệnh tích vi thể trên một số cơ quan của gà mắc bệnh đậu 42

Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh 46

Bảng 4.8 Công thức bạch cầu của gà mắc bệnh đậu 48

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Lớp vỏ virus 6

Hình 2.2 Cấu trúc virus 6

Hình 4.1 Một số hình ảnh triệu chứng lâm sàng 33

Hình 4.2 Kết quả phản ứng PCR 36

Hình 4.3 Một số hình ảnh chạy PCR 37

Hình 4.4 Một số hình ảnh bệnh tích đại thể gà mắc đậu 41

Hình 4.5 Một số hình ảnh bệnh tích vi thể 45

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(Liều gây nhiễm 50 % tế bào)

CAM : Chorioallantoic membrane (màng nhung niệu)

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Phạm Thị Thùy Dương

Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu gà trên đàn gà thả vườn tại Kim Sơn – Ninh Bình ”.

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp

Việt Nam Mục đích nghiên cứu

Xác định các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh đậu gà trên gà thả vườn từ đó đề xuất biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả.

Phương pháp nghiên cứu

Thông tin về tình hình bệnh đậu gà được theo dõi và thu thập trực tiếp từ

20 hộ chăn nuôi gà thả vườn tại xã Kim Tân, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Các triệu chứng lâm sàng được quan sát, theo dõi và ghi chép lại Bệnh tích đại thể được thực hiện bằng phương pháp mổ khám Bệnh tích vi thể được thực hiện bằng phương pháp lấy mẫu xét nghiệm, phương pháp làm tiêu bản mô bệnh học Kết quả phản ứng PCR dùng phương pháp tách chiết DNA bằng hóa chất Phương pháp nghiên cứu chỉ tiêu huyết học; phương pháp xử lý số liệu.

Kết quả chính và kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh xảy ra trên tất cả các lứa tuổi với triệu chứng tập trung chủ yếu ở da, hình thành nốt đậu trên da vùng ít lông như mào, tích, mí mắt, khóe mắt, khóe miệng … viêm niêm mạc mắt, chảy nước mắt Bệnh tích đại thể chủ yếu của gà mắc đậu là nốt đậu ở vùng da ít lông chiếm 100,00%, viêm niêm mạc miệng chứa dịch nhày chiếm 76,67%, phổi sưng nhạt màu chiếm tỷ lệ 73,33%, khí quản xuất huyết có dịch xuất lẫn bọt chiếm 66,67%, gan sưng màu nâu nhạt (56,67%), tim nhão cơ tim nhạt màu (53,33%), thận sưng to, xuất huyết (43,33%), lách nhạt màu (40,00%), niêm mạc ruột xuất huyết (33,33%) Bệnh tích vi thể chủ yếu của gà mắc đậu là ở da có hiện tượng sung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm tế bào viêm, hoại tử và thoái hóa tế bào đặc biệt là có thể bao hàm bollinger trong mụn đậu, phổi sung huyết Ngoài ra các bệnh tích khác thay đổi tùy thuộc vào tình trạng của bệnh Phương pháp PCR cho phép chẩn đoán nhanh và chính xác virus đậu Những kết quả nghiên cứu cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp ích cho bác sĩ thú y, những người làm công tác chẩn đoán lâm sàng có thể chẩn đoán virus đậu sơ bộ dựa vào triệu chứng lâm sàng, biến đổi bệnh lý đại thể trước khi thu mẫu đến phòng xét nghiệm Các chỉ tiêu huyết học ở gà mắc đậu đều nói lên tình trạng gà bị thiếu máu và số lượng hồng cầu giảm dẫn tới hàm lượng huyết sắc tố giảm và tăng số lượng bạch cầu ái toan, bạch cầu đa nhân trung tính.

Trang 11

THESIS ABSTRACTAuthor: Pham Thi Thuy Duong

Thesis title: "Study on some of the characteristics of fowl pox disease in backyard chicken in Kim Son - Ninh Binh".

University: Vietnam National University of

Agriculture Research objectives

Identification of major pathological characteristics of Fowlpox disease in backyard chickens to propose several disease effective prevention and treatment measures disease.

Research Methods

Information on fowl pox status was monitored and collected directly from 20 backyard chicken farms in Kim Tan commune, Kim Son district, Ninh Binh province The clinical symptoms were observed, monitored and recorded Macroscopic lesions were performed by surgery Microscopic lesions were performed by test samples, methods of histology specimens PCR results using chemical for DNA extraction Hematological indicator method; data processing methods.

The main results and conclusion

The results showed that the disease occurs to all ages with symptoms mainly concentrated in the skin, forming acnes on the little hairy skin area like crest, eyelids, eyes, mouth corners arthritis mucosal eye, watery eyes Macroscopic lesions of diseased chicken was mainly in less hairy skin area with 100,00%, oral mucositis containing mucus accounted for 76.67%, pale swelling lungs with 73.33%, bronchial epithelium with both fluid and foam with 66.67%, the liver was swollen in 56.67%, myocardial was palpable (53.33%), the enlarged kidneys, hemorrhage (43.33%), faint spleen (40.00%), mucosal intestinal hemorrhage (33.33%) The microscopic lesions of chickens were skin pigmentation, hemorrhage, inflammatory cell infiltration, necrosis and cellular degeneration, in particular, may including bollinger syndrome Other lesions may also vary depending on the condition of the disease PCR allowed rapid and accurate diagnosis of the pox virus The results of the study provided additional scientific background for veterinarians, clinicians to diagnose pox virus based on clinical symptoms, general pathological changes before taking samples to the laboratory The biological indicators in chickens infected pox virus were said to status of the chicken anemia and decreased red blood cell count leading to hemoglobin concentration decrease and increase of the number of eosinophils.

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia súc, gia cầm từ lâu đã trở thành một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi của nước ta Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những thay đổi đáng kể và góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, góp phần vào việc nâng cao mức sống cho người nông dân ở nông thôn cũng như thành thị Ngành chăn nuôi của nước ta đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, ngày càng chuyên sâu góp phần nâng cao thu nhập, đời sống người nông dân và toàn xã hội Đặc biệt ngành chăn nuôi gà ngày càng phát triển mạnh với quy mô lớn.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp Trong đó bệnh đậu gà là một trong những bệnh truyền nhiễm nan giải tuy không gây chết ồ ạt trong một thời gian ngắn nhưng nó làm chết rải rác, kéo dài gây tổn thất khá lớn cho đàn gà Bệnh gây ra bởi virus DNA thuộc nhóm Avipoxvirus, họ Poxviridae Bệnh phân bố rộng khắp trên toàn thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế đối với các đàn gia cầm vì nó gây giảm sản lượng trứng đối với đàn gà đẻ, gây giảm sự tăng trưởng đối với gia cầm non và gây tỷ lệ chết đáng kể đối với tổng đàn (Isa et al., 2002; Ariyshi et al., 2003) Bệnh lây lan nhanh với những đặc trưng của bệnh là hình thành những nốt đậu hoặc vẩy ở những vùng da không có lông (gọi là thể ngoài da) hoặc hoại tử fibrin và các bệnh tích tăng sinh ở lớp màng nhầy của đường hô hấp trên, miệng, thực quản (gọi là thể thực quản) Gia cầm bị bệnh đậu có thể bị ở thể ngoài da hoặc thể bạch hầu hoặc có thể bị cả hai thể cùng lúc dẫn đến giảm sức đề kháng nên

dễ kế phát với các bệnh khác cuối cùng gà chết Đối với các nước tiên tiến, bệnh đậu gà vẫn được coi là bệnh nguy hiểm gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế Ở nước ta thì bệnh đã và đang gây thiệt hại về nền kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi như: thiệt hại về số lượng đầu con, giảm tốc độ tăng trưởng của gà, giảm sản lượng trứng ở gà đẻ, tiêu tốn nhiều thức ăn…

Đứng trước thực tế trên thì yêu cầu tìm hiểu về bệnh cũng như chẩn đoán chính xác để ngăn chặn hạn chế dịch bệnh xảy ra là vô cùng cần thiết Trong các phương pháp chẩn đoán hiện nay thì PCR là phương pháp chẩn đoán nhanh, có

độ chính xác cao Phương pháp này có thể chẩn đoán chính xác khi lượng virus

Trang 13

trong con vật mắc bệnh rất nhỏ Đây là ứng dụng to lớn của ngành công nghệ sinh học vào công tác chẩn đoán bệnh.

Để khống chế, phòng và trị bệnh hiệu quả thì những kiến thức

về đặc điểm bệnh lý cũng rất quan trọng Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu gà trên gà thả vườn tại huyện Kim Sơn - Ninh Bình”.

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

thả vườn từ đó đề xuất biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả.

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẬU GÀ

2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh đậu gà trên thế giới

Bệnh đậu mùa đã có từ trước công nguyên, ở Ấn Độ, Trung Quốc các nhà khảo cổ đã tìm thấy những bức tranh mặt rỗ mà người xưa để lại.

Vào thế kỷ thứ IV dịch đậu mùa khẩn cấp xảy ra ở La Mã, rập Năm 572 quân đội La Mã xâm lược Châu Âu kéo theo ca bệnh đậu mùa lan tràn sang, thế kỷ thứ VII các dịch đậu mùa lớn xảy ra ở Châu Âu cùng với cuộc chinh chiến của quân đội ả rập.

Ả-Năm 1796 Jenner người đầu tiên nghiên cứu về vaccine phòng bệnh đậu mùa, ông lấy nốt đậu của người vắt sữa bò bị bệnh đậu bò chủng cho con ông

và người con gái đã qua khỏi bệnh đậu mùa nguy hiểm này Để ghi nhớ Jenner người đầu tiên tìm ra thuốc phòng, các nhà khoa học gọi các chất mang tính chất phòng bệnh sinh học tương tự là vaccine (xuất phát từ chữ vacca: con bò).

Đậu gà đã được phát hiện từ lâu trên nhiều loại gia cầm Ban đầu thuật ngữ đậu gà bao gồm tất cả các bệnh đậu virus của chim, nhưng ngày nay tiêu chí được sử dụng cho các bệnh ở đàn gia cầm thương phẩm Lúc đầu Woodruff và Goadpasture chứng minh rằng các tiểu phần virus trong thể ẩn

là tác nhân gây bệnh đậu gà Sau này người ta chứng minh rằng kháng huyết thanh kháng virus đậu gà hình thành sau miễn dịch hoặc sau khi khỏi bệnh

đã ngưng kết một huyễn dịch các thể cơ bản của virus đậu gà.

Năm 1805 luật chủng để phòng bệnh đậu bắt đầu thực hiện ở Tây Ban Nha.

Năm 1869 Rivolta mô tả về thể vùi tế bào trong bệnh đậu gia cầm.

Năm 1873 Bollinger và năm 1874 Weighrtt đã phát hiện những tiến thể nội bào trong tế bào biểu bì của nốt đậu người mà Michaelis coi đó là những thể vùi đặc hiệu của bệnh đậu và mô tả kỹ tiểu thể nội bào trong bệnh đậu gà mà ngày nay được gọi là thể bao hàm Bollinger để nghi nhớ công người phát hiện.

Năm 1887 Buist lần đầu tiên thấy virus đậu gà bằng kính hiển vi quang học Năm 1904 Borrel khám phá ra các tiểu thể nhỏ (0,25nm) nằm rải rác trong các nguyên sinh chất tế bào hoặc kết lại thành đám gọi là tiểu thể bao hàm Bollinger, sự phát hiện này dẫn đến hàng loạt những nghiên cứu về bản chất của chúng (Lipschutz 1908, Vou Prowazer và De Beaurepaire 1909; Sanfelice 1914;

Trang 15

Eberbeckl 1927 Uoodrucff và Good Pasture 1929 – 1930, Ledingham 1931,1935, Herz – herg 1933, 1934, 1936; Baumann và Weissmann 1943 ) và rất nhiều công trình nghiên bằng phương pháp hóa tổ chức học, nghiên cứu trên kính hiển

vi điển tử v v và ngày nay người ta đã xác đinh rõ bản chất sinh học của thể vùi tế bào này.

Năm 1906 Paschen mô tả tiểu thể nội bào của bệnh đậu mùa trên tiêu bản phết.

Năm 1923 De.Blieck và Augbergen đã tiến hành tiêm chủng vaccine phòng bệnh đậu gà từ chủng giảm độc lực (chủng virus H ở Đức).

Năm 1925 Parker đã nhân giống virus vacxinia trên tế bào nuôi.

Năm 1931 Woodruff và Good Pasture đã sử dụng phôi gà để nuôi cấy virus đậu gà và phát triển kỹ thuật nuôi cấy virus và màng niệu đệm của phôi trứng.

Năm 1932 Bagle và Ledingham, Ebjozd và Andrewes đã xác định khả năng gây nhiễm của chất qua lọc và ly tâm tiểu thể nội bào của virus đậu.

Năm 1954 Frennh và Reeves mô tả bệnh giống như bệnh đậu ở muỗi Năm 1962 Nigelli mô tả bệnh đậu cá.

Năm 1963 Muller và Peter nghiên cứu về siêu cấu trúc của virus đậu bằng phương pháp nhuộm âm bản và soi kính hiển vi điện tử.

Ngoài ra hàng loạt công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học của virus đậu nói chung và đậu gà nói riêng, về cơ chế sinh bệnh, về chẩn đoán bệnh và về vaccine phòng bệnh v vv của nhiều tác giả như Likhatrep, 1970; Makanop Xergheep và Rubobenxki, 1970; Sirinop and Pharzaliep 1972; Palatka Zotan and Olanpal, 1970 đã làm sáng tỏ về bệnh đậu.

Bệnh xảy ra nhiều nơi trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể (Isa et al., 2002; Tripathy and Reed, 2003; Pledger, 2005) Trong hơn 40 năm nay thiệt hại do bệnh đã giảm rất nhiều do hiệu quả của việc phòng bệnh bằng vaccine, ở các nước chăn nuôi gia cầm tiên tiến hầu như không còn thấy bệnh đậu Bệnh xảy ra nhiều ở các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới hơn các nước vùng ôn đới và hàn đới (Beytut and Haligur, 2007) 2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh đậu trong nước

Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đậu gà đặc biệt là công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Như Thanh trong việc nghiên cứu ra vaccine nhược độc đậu gà chủng C cho việc phòng bệnh có hiệu quả.

Trang 16

Năm 1975, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp.

Năm 1976, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp.

Năm 1978, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C - Bảo quản và thực nghiệm trong sản xuất đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp-Bộ Nông nghiệp.

Năm 1979, quan sát bằng kính hiển vi điện tử sự nhân lên của virus nhược độc đậu gà chủng C trong nuôi cấy tế bào đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp.

Năm 1980, xác định hiệu giá virus trong hỗn dịch tế bào nuôi phôi gà sau khi gây nhiễm virus đậu gà đăng trong tạp chí Khoa học

kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp

Năm 1981, nghiên cứu một số đặc tính của virus nhược độc đậu gà trên môi trường nuôi tế bào Báo cáo Khoa học kỹ thuật Nông nghiêp Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Và một vài công trình nghiên cứu khác.

Xí nghiệp thuốc thú y trung ương cũng đã nghiên cứu thành công sản xuất vaccine nhược độc đông khô phòng bệnh đậu gà bằng công nghệ nuôi cấy tế bào.

Đây là một bệnh lây lan chậm với những đặc trưng của bệnh là hình thành những nốt đậu hoặc vẩy ở những vùng da không có lông (gọi

là thể ngoài da) hoặc hoại tử fibrin và các bệnh tích tăng sinh ở lớp màng nhầy của đường hô hấp trên, miệng, thực quản (gọi là thể thực quản).

nước ta, đặc biệt miền Bắc bệnh thường xảy ra ở vụ Đông xuân lúc thời tiết khô hanh, ở miền Nam bệnh xuất hiện vào mùa khô và lạnh Bệnh phổ biến ở gà chăn nuôi gia đình, chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán không tiêm vaccine phòng bệnh nên khi đàn gà mắc bệnh mới đi tìm thuốc về chữa trị 2.2 ĐẶC ĐIỂM CĂN BỆNH

2.2.1 Phân loại

Virus đậu gia cầm (gà, gà tây, chim bồ câu, chim yến, vẹt, chim cút, chim

sẻ, quạ, công, chim cánh cụt, kền kền, sáo) thuộc giống Avipoxvirus, họ

Trang 17

Poxviridae (Frankfenner, 1974) Virus đậu gà (fowpox virus - FPV) là phân loại theo loài của giống Theo các tác giả Bolte, A L J Meurer, E F và Kaleta thì

có khoảng 9.000 loài chim đã bị nhiễm bệnh tự nhiên với virus đậu Vì ảnh hưởng kinh tế do FPV gây ra rất lớn nên hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào loài virus này, hơn là các loài virus khác trong giống.

Nhiều giả thiết cho rằng các virus đậu đều có chung nguồn gốc nhưng trong quá trình tiến hóa đã hình thành nhiều chủng thích nghi trên từng loại động vật khác nhau.

Theo phân loại của P.Wildy (1971) virus đậu gia cầm bao gồm 4 nhóm chính:

- Virus đậu gà Poxvirus gallinae

- Virus đậu chim kim tước poxvirus canavae

- Virus đậu bồ câu Poxvirus columbae

- Virus đậu gà tây

- Vurus đậu vẹt Psittacinepox

- Virus đậu chim ác magpiepox Nhóm này có tiểu thể nội bào lớn, trong đó chủ yếu là lipoprotein, kháng ete thường do côn trùng truyền.

2.2.2 Hình thái, cấu trúc

Tất cả các virus đậu gia cầm đều giống nhau về mặt hình thái Virus trưởng thành có hình khối hộp, kích thước 330 - 280 - 200nm Lớp vỏ bên ngoài được cấu tạo bởi các ống bề mặt sắp xếp tùy tiện (hình 2.1) Virus đậu gà là một

Trang 18

loại virus chứa nhân DNA sợi đôi, móc lại ở hai đầu, kích thước khoảng 254 - 300kb Khối lượng hạt virus 2,04× 10 -14 g, trong đó gần 1/3 là lipid Virus bao gồm thể nhân ở trung tâm và hai tiểu thể ở mỗi bên mặt lõm , bên ngoài được bao bọc bởi lớp vỏ lipid (hình 2.2).

Virion có vỏ lipit bọc ngoài không bền vững với ete và clorofom Dưới kính hiển vi quang học có thể thấy những thể hình cầu, kích thước từ 0,2 – 0,25µ khi nhuộm bằng phương pháp nhuộm Hơxbec (Herzberg) thì kích thước của nó lớn hơn Những thể hình cầu đó gọi là tiểu thể Boren (Borrel) Các tiểu thể này sản sinh trong nguyên sinh chất tế bào thượng bì và tạo nên các bệnh tích tế bào đặc hiệu gọi là các bao hàm thể Bolingơ (Bonllinger) Việc xác định các thể này có ý nghĩa chẩn đoán quan trọng.

2.2.3 Tính chất nuôi cấy

* Sự nhân lên của virus

Vị trí tế bào chất của DNA tổng hợp trong các tiểu phần virus gây bệnh rất đặc trưng với virus đậu.

Virus đậu gà có chứa các gen chịu trách nhiệm mã hóa 1 DNA Ligase sửa chữa DNA; CPO photolyase sửa chữa DNA do bị tia cực tím phá hủy bằng cách sử dụng nguồn sáng như 1 nguồn năng lượng Có thể kết luận rằng enzyme này đã giúp virus tồn tại ở các nốt bệnh tích ở gia cầm và trong môi trường Sự nhân lên của virus đậu gia cầm xuất hiện tương tự như trong biểu mô của gà, trong tế bào biểu mô của màng nhung niệu của phôi gà đang phát triển và ở tế bào da của phôi Tuy nhiên sự khác nhau trên các tế bào vật chủ và các chủng virus có thể tác động đến thời gian nhân lên của virus Sự tổng hợp sinh học của virus đậu gà trong biểu mô bao gồm 2 pha khác nhau:

sự đáp ứng của vật chủ đặc trưng bởi tăng sinh tế bào trong suốt 72h đầu tiên và sự tổng hợp của virus gây bệnh từ 72 – 96h sau khi nhiễm bệnh.

Sự nhân lên của DNA virus trong biểu bì bắt đầu giữa 12 và 24 h sau khi nhiễm bệnh và tiếp theo là sự xuất hiện của virus gây bệnh sau đó Sự tăng sinh của biểu mô kéo dài từ 36 – 48h sau nhiễm bệnh và kết thúc với một sự tăng số lượng tế bào lên 2,5 lần trong 72h sau nhiễm bệnh Tỷ lệ tổng hợp DNA virus trong 60h đầu là thấp Sự tăng tỷ lệ tổng hợp DNA virus xuất hiện từ 60 – 72h sau nhiễm bệnh đi kèm với một sự suy giảm rõ nét vì sự tổng hợp DNA tế bào Từ 72 – 96h sau nhiễm bệnh, sự tổng hợp của DNA virus trở nên mãnh liệt hơn, và không còn thấy sự tăng sinh của tế bào nữa trong các tập hợp tế bào màng Sự

Trang 19

tăng lên của các tiểu phần virus gắn màng plasma đưa ra giả thiết là virus đậu gà thoát ra khỏi tế bào chủ yếu là do sự nảy chồi Các thể bao hàm xuất hiện 72h sau gây nhiễm biểu mô và 96h sau gây nhiễm màng niệu nang.

Virus đậu gà có thể nhân lên trên môi trường tế bào, phôi gà hoặc gà

- Trên gà: có thể gây bệnh cho gà mẫn cảm ở mọi lứa tuổi bằng cách chủng vào trong da hoặc trong khí quản Khi gây bệnh trong da, virus được tìm thấy đầu tiên ở da tại vị trí tiêm sau 2 ngày và ở phôi sau 4 ngày, ở mạch máu sau 5 ngày Khi gây nhiễm trong khí quản, virus được tìm thấy đầu tiên ở phổi sau 2 ngày, ở mạch máu sau 4 ngày Có thể phân lập virus từ gan, lách, thận và não của gà mắc bệnh Sau 10 - 18 ngày gây nhiễm trong da, quan sát thấy nhiều hạt u nhỏ ở thận, cùng với các bệnh tích ở da và viêm thể hạch hầu ở niêm mạc đường hô hấp trên Bệnh tích

vi thể quan sát có các thể bao hàm ở tế bào biểu mô ống thận sau 4

- 14 ngày gây nhiễm và ở tế bào biểu mô lưới miền tủy tuyến ức sau 4 - 10 ngày.

- Trên phôi gà: phôi gà sạch bệnh thường được dùng để phân lập và nuôi cấy virus đậu gà bằng cách tiêm vào màng nhung niệu của phôi thai gà ấp 10 –

12 ngày Dùi một lỗ ở buồng hơi và một lỗ tiêm cách xa thai và mạch máu, lỗ thứ

2 này rất nông không xuyên qua niệu mô, nhỏ một giọt nước sinh lý vào lỗ tiêm, dùng một quả bóng cao su hình lê hút hơi ở túi hơi ra hết làm tách niệu mô với

vỏ mềm Sau đó dùng ống tiêm và kim tiêm ngắn, nhỏ, hút huyễn dịch virus đậu (màng nhung niệu chứa virus đậu gà hòa với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/10)

ấn kim vào rất nông, vừa bơm huyễn dịch vừa xoay Sau đó để tủ ấm

thì loại ra, giữ thai sống đến ngày thứ 5 Mổ phôi thai, xem bệnh tích thấy màng nhung niệu dày ra, giống gelatin và có nhiều nốt đậu trắng.

- Trên môi trường tế bào: virus đậu có thể nhân lên trên nhiều loại môi trường tế bào có nguồn gốc từ gia cầm như môi trường tế bào xơ phôi gà, môi trường thận phôi gà, môi trường da phôi gà và môi trường xơ phôi vịt Hai môi trường tế bào là môi trường tế bào thường trực “QT35” chế từ phôi chim cút và môi trường dòng tế bào gan gà LMH được dùng để cấy chuyển

và giữ chủng virus đậu sau khi đã được thích ứng Cũng cần lưu ý, một số chủng virus đậu phân lập từ gà tây và một số loài chim hoang dã không phát triển được trên hai loại môi trường này, thậm chí cả sau khi cấy chuyển.

Virus gây bệnh tích tế bào sau khi gây nhiễm 3 - 4 ngày Bệnh tích đặc trưng trên môi trường tế bào là hiện tượng tế bào bị co tròn, sau đó bị thoái hóa

Trang 20

và hoại tử Lưu ý không phải chủng virus đậu nào khi vừa phân lập từ bệnh phẩm đều gây bệnh tích tế bào mà phải trải qua một số lần nuôi cấy thích nghi.

2.2.4 Sức đề kháng

Virus đậu có sức đề kháng rất lớn, nó có thể tồn tại ở vẩy đậu một thời gian dài trong điều kiện môi trường ẩm ướt Về tính mẫn cảm với ether và chloroform có nhiều ý kiến khác nhau, một số tác giả cho rằng virus đậu rất mẫn cảm với cả ether và chloroform nhưng một số lại thông báo virus đậu bồ câu có khả năng kháng lại cả hai chất này,

do đó có thể sử dụng đặc tính này để phân loại virus

Virus tồn tại được 9 ngày trong phenol 1 % và formalin 1:1000, nhưng bị bất hoạt bởi KOH 1% Với nhiệt độ, virus bị diệt sau 30 phút ở 50ºC, sau 8 phút

bộ hạt virus Khi sấy khô, virus có sức đề kháng tương đối Trong vẩy đậu sấy khô, virus vẫn sống trong vài tháng hoặc thậm chí hàng năm 2.3 DỊCH TỄ HỌC

Loài vật mắc bệnh

Trong thiên nhiên, gà và gà tây là 2 loài vật chủ yếu mắc bệnh đậu gà.

Ngoài ra, bệnh còn thường xảy ra ở loài vẹt cổ xanh Amazon và chim hoàng yến.

Con vật mắc bệnh ở mọi lứa tuổi Khả năng mẫn cảm với bệnh có thể khác nhau ở các giống khác nhau: giống gà có mào to thường dễ mắc hơn giống gà mào nhỏ Tỷ lệ chết tương đối thấp ở những đàn gà khỏe, nhưng gà đẻ hoặc ở những đàn gia cầm nuôi thương mại đặc biệt ở những vùng chăn nuôi gà điều kiện vệ sinh kém, tỷ lệ chết có thể lên đến 50% hoặc cao hơn Khi nuôi gà với mật độ lớn, có nhiều lứa tuổi gà thì bệnh thường tồn tại dai dẳng mặc dù đã chủng ngừa bằng vaccine.

Người ta phân biệt các loài virus đậu dựa vào đặc tính gây bệnh cho loài vật chủ bao gồm đậu gà, đậu gà tây, đậu bồ câu, đậu vịt và đậu chim hoàng yến Chim hoàng yến rất mẫn cảm với đậu hoàng yến nhưng đề kháng cao với đậu gà, đậu gà tây và đậu bồ câu Virus đậu bồ câu gây bệnh nhẹ cho gà và gà tây nhưng rất độc với gà, bồ câu Vịt không mẫn cảm với virus đậu gà nhưng mẫn cảm với virus đậu gà tây, do đó có thể sử dụng đặc tính này để phân biệt 2 chủng virus với nhau.

Bệnh đậu gà không lây sang người và động vật có vú Tuy nhiên, Mayr and Mahnel (1970) thông báo đã phân lập virus đậu gà ở loài tê giác.

Trang 21

Trong phòng thí nghiệm thường dùng gà để gây bệnh thực nghiệm Phương thức truyền lây

Bệnh có thể lây truyền qua 2 phương thức trực tiếp và gián tiếp:

- Lây trực tiếp: Ở gà bệnh, virus đậu có trong nốt đậu ở da và màng giả trong niêm mạc Khi đang có bệnh và ngay sau khi đã khỏi bệnh virus còn trong máu và các phủ tạng một thời gian Vì vậy gà bệnh, gà đã lành bệnh nhưng còn mang trùng và cả những gà đang ở thời kỳ nung bệnh đều có vai trò làm lây lan mầm bệnh Gà bệnh làm rơi vẩy mụn ra ngoài không khí, hoặc khi ho, hắt hơi làm bắn nước dãi lần miễn dịch có chứa virus vào da, niêm mạc gà lành Bệnh lây chủ yếu qua vết thương hoặc vết xây xát ở da, đặc biệt là khi gà đánh nhau hoặc mổ cắn nhau Người bắt gà để chủng vaccine có thể nhiễm virus ở tay hoặc quần áo, làm lây nhiễm vào mắt của gà mẫn cảm.

uống nhiễm virus Ngoài ra bồ câu và một số loài chim thường kiếm ăn bên ngoài các khu chợ, sân chơi của các trang trại gà đều có thể làm lây lan mầm bệnh Một số loại côn trùng hút máu như muỗi, mòng, rận cũng

có khả năng truyền bệnh, người ta nhận thấy virus đậu có thể tồn tại nhiều tháng trong cơ thể chúng Tuy nhiên trong thực tế, vai trò môi giới trung gian của chúng thường không lớn lắm vì mùa thu đông thường không phải là thời tiết thuận lợi cho sự sống của các loài côn trùng.

và không gây nên các biến đổi bệnh lý Trái lại nếu nhiễm virus cùng loại bệnh sẽ xảy ra ở thể điển hình Trong trường hợp này sau khi nhân lên tại nơi xâm nhập virus sẽ vào máu gây nhiễm trùng huyết sơ phát, rồi vào các cơ quan thực thể, tăng cường nhân lên và gây thoái hóa các tế bào tổ chức Nếu quá trình bệnh lý nặng gia cầm có thể chết trong thời kì này Nếu cơ thể chịu đựng được thì từ phủ tạng virus lại trở vào máu gây nhiễm trùng thứ phát Sau đó chúng theo máu đến da hoặc niêm mạc gây ra bệnh lý đặc trưng của bệnh đậu.

Trang 22

da, dưới tác động của virus tế bào thượng bì sẽ tăng sinh rất nhanh rồi thoái hóa thành các mụn nhỏ Dưới lớp tế bào thoái hóa mỡ sẽ tạo thành những túi nhỏ, chứa một chất quánh như kem Mặt ngoài tế bào thượng bì bị chết, khô lại rồi đóng vảy Sự xuất hiện và tích tụ các tế bào bạch cầu giúp phân biệt rõ giới hạn nốt đậu với vùng xung quanh Nốt đậu khô dần rồi bóc

đi để lại những vết sẹo màu nâu hồng Tế bào thượng bì xung quanh tiếp tục tăng sinh, sẹo lành và kết thúc quá trình bệnh lý.

Bệnh cũng diễn biến như trên ở niêm mạc Tế bào thượng bì đầu tiên cũng tăng sinh rồi thoái hóa Sự xuất hiện của các tế bào bạch cầu cùng tế bào hoại tử tạo thành màng giả phủ trên niêm mạc Thực chất quá trình bệnh biến ở niêm mạc làm bệnh trầm trọng thêm Do tác động của chúng các tế bào không chỉ bị thoái hóa mà niêm mạc còn bị viêm và hoại tử ở những lớp sâu hơn nên lớp màng giả thường dày, lan tràn lẫn fibrin và mủ Do đó bệnh thể hiện ở niêm mạc còn gọi là thể bạch hầu (diphteria).

Vì sao bệnh khi ở thể mụn đậu khi ở thể yết hầu và có khi ở thể hỗn hợp thì hiện nay chưa giải thích được Một số tác giả cho rằng đường xâm nhập quyết định thể bệnh Gà lớn thường nhiễm bệnh qua da nên hay bị thể đậu, còn gà con hay nhiễm bệnh qua niêm mạc nên hay bị bệnh

ở thể yết hầu Những cách giải thích này chỉ đúng ở một số trường hợp Trong thực tế chúng ta thấy sức đề kháng của cơ thể quan hệ với các thể bệnh Gà con có sức đề kháng yếu nên hay mắc ở thể nặng.

Mụn đậu bắt đầu bằng những nốt sần nhỏ, màu nâu xám hay đỏ xám Nốt sần to dần bằng hạt thóc, hạt đậu Nếu mọc gần nhau nốt đậu sẽ làm da sần sùi.

Gà có mào to, nốt đậu dày đặc có thể làm đầu gà to sù, sần sùi như hoa bắp cải Nốt đậu mọc ở khóe mắt làm cho gà khó nhìn nên không thấy được thức ăn và

Trang 23

nước uống, gà bị viêm kết mặc mắt, chảy nước mắt Nốt đậu có thể bịt kín lỗ mũi làm cho gà khó thở Nếu mọc ở khóe mồm, con vật sẽ đau đớn khi mổ thức ăn làm cho chúng biếng ăn.

Màu sắc nốt đậu biến đổi dần từ màu sẫm sang màu vàng xám Do các tế bào bên trong bị dung giải nên mụn đậu mềm dần rồi vỡ ra chảy một chất mủ sánh như kem Mụn đậu khô đóng vảy Vảy màu nâu sẫm, dần bị bóc đi để lại những vết sẹo nhỏ màu vàng xám, mụn đậu lành, con vật lành bệnh nhanh chóng Nếu mụn đậu mọc dày đặc ở nhiều chỗ bệnh sẽ lâu lành, con vật bị sốt,

bỏ ăn trong nhiều ngày Trường hợp mụn đậu bị nhiễm trùng, quá trình viêm và hoại tử ở da sẽ trở lên trầm trọng, khi lành bệnh sẹo sẽ lớn hơn và sâu hơn.

Thể niêm mạc (yết hầu, màng giả)

Thể này thường gặp ở gà con Những triệu chứng đầu tiên gây sự chú

ý đến bệnh là hiện tượng cảm mạo, gà khó thở, ủ rũ, biếng ăn do niêm mạc miệng hầu họng bị đau Con vật sốt và từ miệng chảy ra một thứ nước nhớt

có mủ lẫn màng giả Nếu vạch mồm con vật, trên niêm mạc gốc lưỡi, khóe mồm, vòm miệng, niêm mạc hầu họng và thanh quản phủ một lớp màng giả màu vàng xám Khi màng giả bóc ra sẽ để lại niêm mạc mới bị bệnh, tế bào thượng bì tăng sinh, sưng dày lên tạo thành những chấm đỏ xám Dần dần những đám viêm này lan ra và dày lên hình thành màng giả.

Quá trình viêm thường bắt đầu ở niêm mạc hầu, họng, khí quản sau lan ra niêm mạc mũi và mắt Viêm mũi làm gà chảy nước mũi Trượng hợp màng giả dày bịt kín cả xoang mũi có thể làm cho con vật ngạt thở Viêm màng tiếp hợp làm con vật chảy nước mắt đặc có fibrin rồi dần dần biến thành một chất mủ màu vàng xám che kín cả mắt Có trường hợp mắt bị bệnh nặng, con ngươi phồng to, vỡ ra chảy mủ, gà bị mù Nếu bệnh biến xảy ra cùng lúc trên tất cả các niêm mạc vùng đầu có thể làn sưng đầu gây dị hình.

Thể yết hầu hay kéo dài do các loại vi khuẩn kí sinh trên niêm mạc gây

ra quá trình viêm kế phát Màng giả trong thể bệnh này thường lan tràn, dày

và có màu vàng xám Quá trình viêm thường ăn sâu xuống các lớp tế bào bên dưới, vì vậy khi màng giả bóc đi sẽ để lại những đám loét khá sâu.

Thể hỗn hợp

Thường xảy ra ở gà con Cùng lúc trên con vật xảy ra hai thể bệnh là thể bệnh ngoài da và thể yết hầu Tỷ lệ chết cao Ngoài ra có thể gặp phổ biến ở chim

Trang 24

hoàng yến thể nhiễm trùng huyết làm cho con vật bỏ ăn, sốt cao, ỉa chảy, suy kiệt và chết.

Quá trình bệnh tiến triển trong vòng 3 - 4 tuần Nếu có kế phát khác, bệnh sẽ kéo dài hơn Bệnh xảy ra với đàn gà đẻ sẽ làm giảm tỷ lệ đẻ 2.5 BỆNH TÍCH

2.5.1 Bệnh tích đại thể

Gà ốm gầy, nổi mụn đậu trên da, viêm cata ở niêm mạc miệng, thanh quản Các vết viêm này loang dần thành các nốt phồng, dày dần lên cuối cùng tạo thành lớp màng giả dính chặt vào niêm mạc Niêm mạc ruột có thể tụ máu đỏ từng đám Phổi tụ máu và tích nước Khí quản chứa nhiều dịch xuất lẫn bọt.

Bệnh tích đặc trưng của bệnh đậu gà thể da là sự tăng sinh ở biểu mô và

ở nang lông với sự hình thành các nốt lúc đầu là các nốt trắng sau đó nhanh chóng to lên và biến màu vàng Ở các gà mắc bệnh trong da, ngày thứ 4 xuất hiện bệnh tích nguyên phát Vào ngày thứ 5 và thứ 6 hình thành các nốt mụn Tiếp theo là giai đoạn mụn nước, kèm theo sự hình thành các bệnh tích dày, các nốt bệnh tích liền nhau có thể hợp lại và trở lên thô ráp và có màu xám hoặc nâu thẫm Sau 2 tuần hoặc thỉnh thoảng sớm hơn bệnh tích có các vùng viêm sưng

và xuất huyết Hình thành vảy trong vòng 1 – 2 tuần kế tiếp, kết thúc bằng việc bong vảy Nếu vảy bong sớm có dịch chảy ra khắp vùng lấm tấm xuất huyết Khi vảy bong tự nhiên, một sẹo tròn có thể xuất hiện, ở trường hợp nhẹ sẹo có thể không nhìn rõ Các virus nhược độc tạo ra các bệnh tích cục bộ, các bệnh tích này nhẹ hơn so với các bệnh tích do các chủng độc lực gây nên.

vàng trên niêm mạc miệng, thực quản, lưỡi, khí quản Các nốt nhanh chóng to lên và thường hợp lại trở thành các mảng màu vàng, hoại tử bạch hầu hoặc giả bạch hầu Nếu màng bị bong, sẽ có máu chảy.

gà lớn (mái hoặc trống) thường mắc thể màng giả yết hầu Chỗ có màng giả lúc đầu sưng to, có nhiều nước nhờn, nếu bệnh nặng màng giả dày đặc làm gà khó thở và chết.

Một số trường hợp quan sát thấy các nốt hoại tử ở bề mặt các cơ quan như:

gan, thận Lách hơi bị phù có màu nâu Tim nhạt màu do cơ tim bị thoái hóa (Theo Deoki N Tripathy and Willie M Reed).

Trang 25

2.5.2 Bệnh tích vi thể

Đặc trưng: hiện tượng tăng sản các tế bào biểu mô và hiện tượng trương to của các tế bào Thể Bollinger (gồm các tế bào ưa eosin typ A) được tìm thấy trong nguyên sinh chất tế bào và được tìm thấy ở các giai đoạn phát triển của bệnh gây nên hiện tượng hủy hoại tế bào 2.6 CHẨN ĐOÁN BỆNH

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng

Dựa vào triệu chứng, bệnh tích đặc trưng:

+ Xuất hiện các nốt đậu ở vùng không có lông: mào, tích, khóe mắt, miệng, da chân.

+ Niêm mạc miệng, khí quản, hầu họng có phủ một lớp màng giả, mụn đậu ở thanh khí quản.

+ Thể bao hàm trong nguyên sinh chất tế bào.

2.6.2 Chẩn đoán phân biệt

Bệnh đậu thể ngoài da thường dễ chẩn đoán, nhưng ở thể yết hầu có thể nhầm lẫn với một số bệnh truyền nhiễm khác cũng gây bệnh biến ở thể niêm mạc hầu họng như:

Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm: Hình thành thể bao hàm trong nhân của tế bào biểu mô kết mạc và biểu mô đường hô hấp, bệnh phát triển với quy mô lớn, lây lan nhanh, ho hen ngạt từng cơn, màng giả rất dễ bóc.

Bệnh Newcastle: Với hiện tượng hoại tử - loét ở niêm mạc họng có khi

có màng giả giống bệnh đậu Nhưng khác với bệnh đậu, bệnh Newcastle xuất huyết ở các niêm mạc và cơ quan phủ tạng là một hiện tượng rất điển hình.

Bệnh nấm phổi (Asperillosis): Cũng thường tạo nên những đám màng giả ở niêm mạc miệng, họng Nhưng trong bệnh này màng giả thường tạo thành những điểm, những đám tròn đều và khô có mặt cả ở phổi và thành các túi hơi Kiểm tra kính hiển vi dễ phát hiện các sợi nấm Asperillosis Ở bồ câu, trong bệnh Xuơ khi soi kính thấy nấm Oidium allicaus Tuy nhiên có một

số trường hợp, ví dụ trong bệnh Stachybotrys toxicosis màng giả rất giống thể đậu yết hầu Vì vậy trong trường hợp này muốn phân biệt bệnh phải dùng phương pháp gây bệnh thí nghiệm cho gà.

Bệnh thiếu vitamin A: Trong bệnh này trên niêm mạc không hình thành màng giả nhưng lại xuất hiện dịch xuất màu vàng, sau đặc lại vón cục từng đám

Trang 26

và bở như bã đậu Về mặt tế bào học đặc trưng trong bệnh thiếu vitamin A là thoái hóa các tế bào thượng bì niêm mạc.

2.6.3 Chẩn đoán virus học

Gây bệnh cho động vật thí nghiệm

Gây bệnh cho gà: Bệnh phẩm lấy từ mụn đậu hoặc màng giả rồi bôi

thụ Sau khoảng 7 ngày (thường từ 5 – 10 ngày) nếu bệnh phẩm có virus đậu thì lỗ chân lông sẽ dày lên và hình thành các nốt đậu điển hình.

Gây nhiễm cho phôi gà: Chế bệnh phẩm thành huyễn dịch 20% với nước sinh lý Diệt trùng bằng kháng sinh hoặc lọc qua lọc vi trùng Tiêm 0,2 ml vào màng nhung niệu thai gà ấp 10 – 11 ngày tuổi.

Phân lập căn bệnh

Nếu bào thai chết sau khi tiêm 24 giờ thì không do tác dụng của virus đậu Sau ấp 4 ngày, mổ toàn bộ trứng tiêm, kể cả những trứng có bào thai đã chết để kiểm tra bệnh tích Do tác động của virus đậu, màng thai sẽ dày lên, trong suốt Trên màng thai xuất hiện những chấm, những điểm tròn to nhỏ màu trắng xám, nổi cộm lên Đây là những nốt bệnh tích đặc hiệu của virus đậu gà trên màng thai Với mỗi loại virus, nốt bệnh tích này có kích thước khác nhau Virus đậu gà, sau khi gây nhiễm 3 ngày, sẽ hình thành những nốt bệnh tích có đường kính từ 2 – 3 mm, ở giữa bị hoại tử.

2.6.4 Chẩn đoán huyết thanh học

Có thể sử dụng nhiều phương pháp để phát hiện kháng thể như phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch.

Phản ứng trung hòa virus: trên tế bào hoặc trên phôi gà có thể được sử dụng tuy nhiên quy trình này không thuận tiện như các phản ứng thường quy.

Chẩn đoán bằng kháng thể huỳnh quang, Immunoperodidase sẽ phát hiện các thể bao hàm trong tế bào chất trong các tế bào nhiễm virus bắt màu đặc hiệu Trong phản ứng trực tiếp, đầu tiên kháng thể kháng virus đậu gà được ủ với kháng nguyên có trong các tế bào phơi nhiễm và sau đó kháng thể gắn kết sẽ phản ứng với kháng thể gắn với perozidase hoặc isothiocynate lần thứ 2 kháng lại gamma globulin của gà.

Phản ứng miễn dịch peroxydase, phản ứng ELISA Trong đó ELISA là phản ứng thường được sử dụng nhất hiện nay Kháng thể có thể được phát hiện sau khi gia cầm nhiễm virus từ 7 - 10 ngày.

Trang 27

2.6.5 Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

Các nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp sinh học phân tử sinh học PCR là phương pháp nhạy nhất để phát hiện virus đậu Tuy nhiên giá thành của phương pháp còn cao.

Trình tự DNA gen virus đậu gà với các kích thước khác nhau có thể được khuếch đại bằng phản ứng PCR có dòng mồi đặc hiệu Phản ứng này rất công dụng khi chỉ có 1 lượng virus cực nhỏ hiện diện trong mẫu Trong trường hợp

có nhiều bệnh hỗn hợp, các đoạn với kích thước khác nhau có thể được khuếch đại trong phản ứng PCR đơn có sử dụng các đoạn mồi đặc hiệu Thí dụ thể bạch hầu của bệnh đậu gà và bệnh viêm thanh quản truyền nhiễm cũng có các triệu chứng lâm sàng giống nhau và đều gây bệnh tích ở khí quản Dùng các đoạn mồi đặc hiệu virus có thể phát hiện được các bệnh này.

2.7 PHÒNG BỆNH

2.7.1 Phòng bệnh bằng vaccine

Cơ sở của việc dùng vaccine phòng bệnh

Nguyên lý của việc tiêm phòng bằng vaccine là gây ra trong cơ thể sống một đáp ứng chủ động của hệ thống miễn dịch nhằm tạo ra kháng thể dịch thể hay tế bào chống lại những nhóm quyết định kháng nguyên của yếu tố có khả năng gây bệnh và nhờ đó làm mất khả năng này Biện pháp tiêm phòng bằng vaccine đã cho y học, thú y học những thành tựu lớn trong phòng một số bệnh do virus và vi khuẩn gây ra.

Gần đây do sự hiểu biết về lý thuyết miễn dịch, sự không ngừng cải tiến trong kỹ thuật chẩn đoán, sự phát triển liên tục của những sản phẩm mới và phương thức sử dụng vaccine mới đã làm cho việc phòng bệnh bằng vaccine được giải quyết một cách hoàn thiện.

Tiêm phòng vaccine đóng vai trò có ích nhưng nó không phải là thuốc trị bệnh và càng không thể thay thế cho việc chăm sóc đúng đắn thường ngày.

Cơ sở của sự tiêm phòng bằng vaccine là phải nhận thức được vaccine không loại trừ mối đe dọa nào của tất cả các bệnh truyền nhiễm do virus vi khuẩn gây ra, vaccine chỉ có ích trong việc giúp con vật tránh sự tấn công ồ ạt những dịch bệnh nghiêm trọng Phòng bệnh bằng vaccine có tác dụng duy trì sức khỏe đối với

cả một quần thể gia súc và ít có ý nghĩa phòng trước mắt cho một cá thể.

Để tiêm phòng có hiệu quả, việc chọn thời điểm sử dụng vaccine là vô cùng quan trọng Những trường hợp sử dụng vaccine một cách vội vã trong khi

Trang 28

thông tin về những vaccine này không đầy đủ gây nên sự bất lợi cho việc nghiên cứu lưu hành bệnh trong đàn, bởi vì khi đã dùng vaccine rồi thì việc phân biệt kháng thể do tiêm vaccine kích thích tạo ra hay kháng thể do bản thân gia súc đã nhiễm bệnh mà có rất khó khăn, đặc biệt là trong trường hợp sử dụng vaccine virus nhược độc.

Vì vậy muốn sử dụng vaccine có hiệu quả, hạn chế được tổn thất do dịch bệnh gây ra người sử dụng vaccine phải có sự hiểu biết về các bệnh truyền nhiễm cũng như dịch tễ học của bệnh.

Việc thành công trong tiêm phòng bằng vaccine không chỉ phụ thuộc vào vaccine mà bên cạnh đó các biện pháp vệ sinh và y học cần được tiến hành đồng thời Cải thiện điều kiện sinh thái, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh môi trường xung quanh sẽ góp phần đáng kể vào việc làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh

và tăng tác dụng của việc dùng vaccine phòng bệnh.

Việc miễn dịch kháng đậu gà bao gồm việc tiêm chủng cho gà mẫn cảm trước thời điểm thường xảy ra dịch Thường thường phải tiến hành tiêm phòng trong suốt mùa xuân và mùa hè ở những vùng bệnh xảy ra vào mùa thu và đông Tuy nhiên, ở những trang trại lớn nuôi gà nhiều lứa tuổi và ở những vùng có khí hậu nhiệt đới, những vùng mà bệnh xuất hiện quanh năm nên tiêm chủng bất cứ lúc nào cần mà không theo mùa nào cả Việc tiêm chủng chống virus đậu gà dưới 3 điều kiện sau:

Khi một đàn gà nuôi trong nhà mà năm trước đã xảy ra dịch thì tất cả các đàn gà con ấp nở từ nhà đó hoặc từ các nguồn khác đưa đến đều phải tiêm phòng vaccine đậu gà.

Nếu đậu gà xuất hiện trong năm trước và vaccine đậu bồ câu

đã được sử dụng thì tất cả gà nên tiêm nhắc lại vaccine đậu gà, vì

độ miễn dịch của vaccine đậu bồ câu không kéo dài.

Ở những vùng mà đậu gà đang thịnh hành, nên sử dụng vaccine đậu gà để được bảo hộ gà chống dịch bệnh từ các đàn lân cận.

Theo (Deoki N Tripathy and Willie M Reed).

Các loại vaccine đậu gà

Hiện nay trên thế giới dùng phổ biến vaccine nhược độc để phòng bệnh đậu cho gà Vaccine chế từ các chủng có nguồn gốc đậu gà hoặc đậu bồ câu được dùng để phòng bệnh cho đàn gà và gà tây ở những vùng dịch xảy ra lẻ tẻ.

Trang 29

Vaccine được sản xuất qua phôi gà hoặc qua môi trường tế bào xơ phôi gà, đảm bảo liều lượng tối thiểu là 10 5 EID 50 /ml Khi sử dụng vaccine phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn của nhà sản xuất Thời gian sử dụng vaccine không quá 2 giờ sau khi mở lọ vaccine Tất cả gà trong đàn phải được chủng đậu trong cùng một ngày Nếu bệnh đậu lần đầu tiên xuất hiện trong đàn, số lượng gà bị bệnh ít những gà còn lại phải được chủng vaccine.

Vaccine đậu gà: thường chủng cho gà 4 tuần tuổi và nếu gà đẻ cần chủng trước khi đẻ 1 – 2 tháng, hàng năm tái chủng, không được dùng vaccine cho gà đang đẻ Với gà tây dùng lần đầu lúc 2 – 3 tháng tuổi, tái chủng vào thời gan nghỉ giữa các kỳ đẻ Vaccine vô hoạt chế qua môi trường tế bào có thể dùng cho

gà con lúc 1 ngày tuổi, cùng với vaccine phòng bệnh Marek’s.

Gà tây có thể được dùng vaccine theo đường chủng cánh nhưng virus có thể lây lan và gây nhiễm ở vùng đầu gà Vị trí được chọn để tiêm chủng là giữa đùi Gà tây nên tiêm chủng lúc 2 – 3 tháng tuổi, nhưng đối với

gà giống nên tiêm nhắc lại trước khi đẻ trứng Tiêm nhắc lại 3 – 4 tháng 1 lần trong suốt thời kỳ đẻ trứng có thể có lợi, điều đó còn phụ thuộc vào mức độ dịch tễ Vaccine đậu gà đã xảy ra trên tất cả các vùng của Mỹ ở các đàn gà trước đó đã tiêm chủng 2 loại vaccine đậu gà và đậu bồ câu, điều đó chứng

tỏ rằng khó có khả năng cho miễn dịch hoàn toàn Thường người ta sử dụng kết hợp 2 vaccine đậu gà và đậu bồ câu trong các đàn gà.

Nguyễn Như Thanh, Trần Khâm đã ngiên cứu phương pháp sử dụng và bảo quản vaccine đậu gà ở dạng đông khô nhận thấy:

Nếu chủng cho gà vào lúc 10 – 12 ngày tuổi là thích hợp nhất, vừa phát huy được trạng thái miễn dịch của cơ thể vừa giúp cơ thể

gà con vượt qua được giai đoạn cảm nhiễm nhất đối với bệnh đậu

gà tự nhiên (khoa học kỹ thuật nông nghiệp 11/1976)

Miễn dịch chắc chắn có từ ngày thứ 7 – 8 sau khi chủng và miễn dịch cao nhất sau 21 – 28 ngày miễn dịch có thể duy trì sau 9 tháng.

Vaccine dưới dạng đông khô, bảo quản ở 26 – 30 0 C được 4 ngày và ở 2 – 3 0 C được 9 tháng.

Theo kinh nghiệm của Milơ 1962, Bengendoc và Snaydo 1963 thì có thể trộn virus vaccine đậu gà với virus ffosai (hesordshire) làm thành vaccine hỗn hợp phòng bệnh đậu và Newcastle cho gà Loại “vaccine hai virus” này có thể

Trang 30

phòng bệnh cho gà từ 2 tháng tuổi trở lên bằng cách dùng dùi nhọn chọc vào da cánh An toàn hơn nếu trước lúc dùng vaccine này gà

đã được miễn dịch một lần bằng vaccine Lasota.

Vaccine đậu bồ câu: có nguồn gốc từ bồ câu, độc lực của virus thấp hơn so với virus đậu gà và gà tây Nếu sử dụng không đúng, vaccine

có thể gây phản ứng cho gà Vaccine có thể sử dụng chủng cánh cho gà mọi lứa tuổi, thông thường dùng cho gà 4 tuần tuổi và nếu gà đẻ cần chủng khoảng 1 tháng trước khi đẻ, hàng năm tái chủng.

Vaccine đậu chim hoàng yến: có thể dùng cho chim hoàng yến Vaccine dùng cho chim trong giai đoạn theo mẹ và cứ 4 – 6 tháng phải chủng nhắc lại Với chim mái nên chủng vào lúc 4 tuần trước khi đẻ.

Sau khi chủng vaccine 7 – 10 ngày phải kiểm tra phản ứng sau tiêm: tại vị trí chủng vaccine, da bị sưng và hình thành sẹo mới đạt yêu cầu Đáp ứng miễn dịch thường hình thành sau 10 – 14 ngày Cần kiểm tra ít nhất 10% số gà trong đàn.

Các loại vaccine đậu gà do công ty thuốc thú y trung ương sản xuất đều có hiệu quả phòng bệnh tốt Ngoài ra, một số loại vaccine phòng bệnh ngoại nhập có mặt trên thị trường Việt Nam gồm: Nobilis

AE + Pox Nobilis Ovo - Diptherin (Intervet): medivac Pox (P.T Medion),

My vac Fox Fowl Pox Vacccin (Vacccines and Pharmaccuticals sdn.bhd); Poxin (Fort Dodge Animal Health); Fowl Pox vacccin, Avian encephalo – myelitis Fowl vacccin (Lohmann Animal Health Int).

2.7.2 Vệ sinh phòng bệnh

Vì virus có thể tồn tại lâu ngoài môi trường trong mụn đậu bong tróc, có nguy cơ làm lây lan bệnh qua đường không khí cho gà mẫn cảm đặc biệt là gà con nên cần định kì vệ sinh chuồng trại

Nơi chưa có bệnh cần thực hiện nghiêm ngặt các quy chế vệ sinh phòng bệnh và kiểm soát vệ sinh thú y để không cho virus gây bệnh xâm nhập vào Gà phải mua từ nơi biết chắc chắn không có bệnh và trước khi nhập đàn cần nhốt cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi Nếu thấy chưa cần thiết thì không nên dùng vaccine virus sống vì dễ gây nên trạng thái mang trùng cho đàn gà.

nơi gà có bệnh, nên giết chết những con bị nặng, cách ly những con bệnh nhẹ và điều trị để hạn chế tổn thất kinh tế nếu cần thiết Số gà còn lại nên

Trang 31

chủng phòng để gây miễn dịch chủ động Sau 10 – 14 ngày số con ốm sẽ giảm dần

và đàn gà sẽ lành bệnh sau một thời gian tương đối ngắn Theo kinh nghiệm,

những nơi đã một lần bị bệnh đậu thì sau đó hàng năm bệnh lại tái phát Vì thế

những nơi này hàng năm phải chủng phòng bệnh đều đặn mới có thể ngăn chặn được bệnh.

2.8 ĐIỀU TRỊ

Vì là bệnh do virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu Khi bệnh xảy ra chỉ điều trị triệu chứng hoặc sử dụng kháng sinh để phòng ngừa bội nhiễm.

- Đối với mụn đậu ngoài da:

+ Cậy vẩy mụn đậu, rửa sạch bằng nước muối loãng.

+ Hàng ngày bôi dung dịch 1% Xanhmetylen lên mụn đậu, sau

ít ngày mụn đậu sẽ khô dần và tự bong.

+ Nếu gà bị vết loét ở niêm mạc miệng bôi thuốc sát trùng nhẹ Lugol 1%.

+ Làm sạch các mụn đậu rồi bôi các chất sát trùng nhẹ như Glycerin10%, CuSO 4 5%.

Nếu không có các chất sát trùng trên, có thể dùng nước chanh, nước khế để thay Quá trình điều trị cần liên tục cho đến khi trên da không mọc thêm những nốt đậu mới nữa.

các chất sát trùng nhẹ hay kháng sinh: dung dịch axit boric 3%, dung dịch tetran Nếu đau mắt có thể dùng thuốc nhỏ mắt: nhỏ sunfat kẽm 2 – 3%.

+ Bổ sung thêm Vitamin đặc biệt Vitamin A.

+ Đốt chất thải của gà, độn chuồng, độn ổ đẻ.

+ Phun sát trùng thường xuyên trong thời gian gà bị bệnh.

+ Chủng đậu cho các đàn chưa mắc bệnh ở khu vực xung quanh đàn gà

bị bệnh.

Trang 32

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Gà thả vườn tại một số hộ chăn nuôi tại huyện Kim Sơn – Ninh Bình 3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh lý và phòng thí nghiệm trung tâm – Khoa Thú y – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam.

Thời gian nghiên cứu: 10/2016 – 11/2017.

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra tình hình bệnh đậu gà trên địa bàn huyện Kim Sơn – Ninh Bình.

- Xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh đậu gà.

- Xác định bệnh tích đại thể chủ yếu của gà mắc bệnh đậu.

- Nghiên cứu biến đổi bệnh tích vi thể ở một số cơ quan trên

gà mắc bệnh đậu.

- Chẩn đoán gà nghi mắc bệnh đậu bằng kĩ thuật PCR.

- Một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh đậu.

3.4 NGUYÊN LIỆU

3.4.1 Mẫu bệnh phẩm

Mẫu bệnh phẩm được dùng trong nghiên cứu là: tổ chức da vùng có nốt, khí quản, gan, thận, tim, phổi, ruột của gà mắc bệnh đậu Mẫu được bảo quản ở - 80 0 C.

3.4.2 Hóa chất, môi trường, mồi cần thiết

- Hóa chất thông thường trong phòng thí nghiệm: nước cất, formol 10%, cồn, xylen, paraffin…

- Dùng để làm tiêu bản vi thể.

+ Hoá chất cố định bệnh phẩm: formol 10%.

+ Hoá chất dùng trong quá trình nhuộm tiêu bản: Cồn Ethylic

70 0 , 90 0 , 96 0 , Xylen, Hematoxylin, Eosin.

- Hóa chất sử dụng cho phản ứng PCR: Kít chiết tách DNA (QIAamp), primers, DW2, TBE, ethidium bromide, agarose.

- Mồi cho phản ứng PCR là AVP2F và AVP2R (theo Huw Lee

và Hwa Lee, 1997) Có độ dài đoạn gen nhân lên là 578bp.

Trang 33

3.4.3 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm

- Dụng cụ mổ khám: Dao, kéo, panh, kẹp, bông cồn, túi, bình đựng mẫu.

- Máy cắt tiêu bản, máy đúc block, tủ parafin, máy ly tâm lạnh, máy spin, máy vortex, máy PCR, máy chạy điện di, máy chụp ảnh gel, tủ ấm 37 0 C, tủ lạnh.

- Các dụng cụ khác gồm: lam kính, kính hiển vi, ống

eppendoft, pipet, găng tay…

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài tôi dự định sử dụng một số phương pháp sau: 3.5.1 Phương pháp dịch tễ học mô tả

Thực hiện thu thập số liệu về dịch tễ, hỏi bệnh sử, quan sát 3.5.2 Theo dõi và quan sát triệu chứng lâm sàng

Chúng tôi tiến hành quan sát và ghi chép các triệu chứng lâm sàng ở những gà nghi mắc đậu còn sống Gà có các triệu chứng như: ủ rũ, khó thở, biếng ăn, viêm mắt, mù mắt, các mụn mọc ở những đầu, mào, chân, những vùng không có lông…

3.5.3 Phương pháp mổ khám (theo tiêu chuẩn ngành thú y 10TCN năm 2005)

- Với những gia cầm có triệu chứng rõ ràng, chúng tôi tiến hành mổ khám kiểm tra bệnh tích đại thể của tất cả các cơ quan theo quy trình mổ khám gia cầm của Cục Thú Y.

gây biến đổi lớn về mức độ quan sát bệnh tích (dùng điện, cắt tiết…).

- Kiểm tra bên ngoài: thể trạng cơ thể, da, lông, các nốt ở mào, yếm, mí mắt, khóe mắt, khóe miệng và các tổn thương…

- Mổ khám kiểm tra bên trong.

- Ghi báo cáo mổ khám và phiếu gửi bệnh phẩm.

- Xử lý tiêu độc xác gia cầm.

3.5.4 Phương pháp lấy mẫu xét nghiệm

- Lấy gan, thận, lách, khí quản, tim, ruột, phổi, vùng da có nốt đậu: Quan

sát các triệu chứng của gà mắc bệnh, tiến hành mổ khám, quan sát rồi ngâm trong formol 10% để làm tiêu bản vi thể và bảo quản ở 4 0 C.

-Lấy các nốt đậu trên da, phổi, khí quản, gan, thận để chạy phản ứng PCR.

Ngày đăng: 15/07/2021, 06:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hội chăn nuôi - thú y Bắc Giang. Chuyển giao khoa học kỹ thuật về Bệnh động vật “Bệnh đậu gà” (19/11/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đậu gà
8. Nguyễn Trần Đặng Dũng (2012). “Nghiên cứu chế tạo thử nghiệm vacxin đậu gà nhược độc đông khô chủng C trên tế bào xơ phôi gà 1 lớp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo thử nghiệm vacxin đậu gà nhược độc đông khô chủng C trên tế bào xơ phôi gà 1 lớp
Tác giả: Nguyễn Trần Đặng Dũng
Năm: 2012
1. Nguyễn Văn Hanh (1978). Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr. 398 – 405 Khác
2. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy (2011). Giáo trình bệnh truyền nhiễm Thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 467 – 476 Khác
3. Hồ Thị Việt Thu, Nguyễn Đức Hiền. Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc gia cầm. Nhà xuất bản đại học Cần Thơ, Hà Nội. tr. 238 – 243 Khác
4. Nguyễn Như Thanh (1974). Giáo trình thực tập vi sinh vật học thú y, Trường ĐHNN I, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Như Thanh (1976). Phương pháp sử dụng vacxin đậu gà. Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Khác
6. Xí nghiệp sản xuất thuốc thú y trung ương “Nghiên cứu sản xuất vacxin nhược độc đông khô phòng bệnh đậu gà bằng công nghệ nuôi cấy tế bào’’ Khác
9. TS. Nguyễn Hữu Nam. Bài giảng bệnh lý học thú y. NXB nông nghiệp Hà Nội 10. Nguyễn Như Thanh, Bùi Quang Anh, Trương Quang (2001). Dịch tễ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w