1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bước đầu về giảng dạy kỹ năng nói tiếng trung giai đoạn sơ cấp nghiên cứu khoa học giáo viên

33 8,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu bước đầu về giảng dạy kỹ năng nói tiếng Trung giai đoạn sơ cấp nghiên cứu khoa học giáo viên
Tác giả Lý Kiến Quân, Tôn Hải Lệ, Triệu Lệ, Lưu Hiểu Vũ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Ngôn Ngữ
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 718,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người viết cho rằng mục tiêu giảng dạy môn Nói tiếng Trung ở giai đoạn sơ cấp là nâng cao cách phát âm, biểu đạt chính xác, hiểu hết những nội dung được học, sử dụng tiếng Hán một cách c

Trang 1

MỤC LỤC

 

O PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Nguyên tắc giảng dạy môn Nói tiếng Trung 3

1.1 Nguyên tắc giao tiếp 5

1.2 Những nguyên tắc về ngữ cảnh hóa (tình huống) 8

1.3 Nguyên tắc giảng ít luyện nhiều 9

II Phương pháp giảng dạy môn nói tiếng Trung 10

2.1 Phương pháp giảng dạy ngữ âm và từ vựng 12

2.2 Phương pháp giảng dạy ngữ pháp và đàm thoại 15

III Kỹ xảo giảng dạy môn Nói tiếng Trung 18

3.1 Thuật lại bài khóa và kỹ xảo nêu câu hỏi 19

3.2 Chủ yếu dựa vào kết cấu ngữ pháp, thay thế cụm từ 20

3.3 Chủ yếu dựa vào nội dung, luyện tập đối thoại 22

IV KẾT LUẬN 24 

 

Trang 2

TÓM TẮC NỘI DUNG 

Mục đích giảng dạy môn nói tiếng Trung sơ cấp là bồi dưỡng và nâng cao năng lực diễn đạt khẩu ngữ của học sinh Lần đầu tiên tiếp xúc với tiếng Hán, người học chưa nắm được ngữ âm của Tiếng Phổ Thông, chưa hiểu hệ thống phiên âm của tiếng Hán, cũng chưa nắm rõ về cấu trúc ngữ pháp cơ bản của tiếng Hán và chưa hiểu được sự khác biệt về phong tục tập quán và văn hóa của hai nước Việt-Trung Người viết cho rằng mục tiêu giảng dạy môn Nói tiếng Trung ở giai đoạn sơ cấp là nâng cao cách phát âm, biểu đạt chính xác, hiểu hết những nội dung được học, sử dụng tiếng Hán một cách chính xác trong quá trình giao tiếp Để nâng cao mục đích giao tiếp trong ngôn ngữ, bài viết này sẽ đi sâu phân tích dựa trên các mặt như nguyên tắc giảng dạy, phương pháp giảng dạy và

kỹ xảo giảng dạy, hy vọng bài viết sẽ góp phần tham khảo cho công tác giảng dạy môn nói tiếng Trung dành cho người nước ngoài

[Từ Khoá]: Giảng dạy môn Nói tiếng Trung, nguyên tắc giảng dạy, phương pháp

giảng dạy, kỹ xảo giảng dạy

Trang 4

và áp dụng thực tiễn cần phải kết hợp với đặc điểm của tiếng Hán, giải quyết một cách thiết thực những vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy tiếng Trung dành cho người nước ngoài.”

Đoàn Minh Hải (2009)5 đã cho rằng điều quan trọng nhất để giảng dạy môn nói tiếng Trung là giáo viên phải coi mình là người học trong giờ giảng, phải đặt mình ngang tầm trình độ ngang tầm của học sinh, không nên bắt buộc học sinh phải phát âm thật chính xác, cũng không nên đòi hỏi học sinh phải hoàn toàn nói đúng ngữ pháp, cần phải dẫn dắt theo trình tự, dựa theo trình độ học sinh mà dạy Ông Tú Anh (2000) đã cho rằng khi đứng ở vai trò là một người thầy dạy tiếng Hán, nếu như không có phương pháp khoa học, không có lòng nhẫn nại, kiên trì và sự tự tin thì sẽ không bao giờ có thể khiến cho những học sinh người nước ngoài mới học tiếng Trung với thời gian là 1 năm ngồi cùng với những học sinh Trung Quốc để nghe thầy giáo giảng bài chuyên ngành 6Xem hình 1 bên dưới:

(Hình 1)

Thông qua việc thăm dò học sinh, chúng tôi đã biết được mục đích học tiếng Trung của sinh viên trường đại học Lạc Hồng là tìm việc làm, sinh viên tìm kiếm công việc văn phòng và phiên dịch chiếm tỷ lệ cao nhất (80%) học tập (12%), du lịch (5%), khác (4.85%) Do đó làm thế nào để cho sinh viên thực hiện được mục đích học tiếng

Trang 5

Trung của mình mà cố gắng học tập một cách chăm chỉ, xây dựng một cơ sở vững chắc

về ngữ pháp, nói tiếng Hán lưu loát, điều này rất là quan trọng Từ những vấn đề như

đã nêu trên, bài viết này sẽ phân tích theo ba góc độ như nguyên tắc giảng dạy, phương pháp giảng dạy và kỹ xảo giảng dạy, hy vọng có thể cung cấp một số kiến thức tham khảo cho công tác giảng dạy môn nói tiếng Trung dành cho người nước ngoài

I Nguyên tắc giảng dạy môn Nói tiếng Trung

Theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, việc học ngoại ngữ luôn có sự tác động của các yếu tố bên ngoài, nhưng sự tác động mang tính quyết định lại bắt nguồn từ chính bản thân người học Giáo viên cần phải hiểu rõ và nắm bắt được hoạt động tâm

lý học ngoại ngữ của người học, căn cứ vào hoàn cảnh thích hợp để tạo ra sự hứng thú

và đam mê cho người học, đồng thời khơi gợi tiềm năng và trí lực của người học; giáo viên cũng phải nghiên cứu phương pháp học tập, tác động mạnh đến tính tích cực trong học tập của người học Trong “ Hoa ngữ học tập giảng tập” xuất bản năm 1992 Lữ Tất Tùng cho rằng nguyên tắc dạy học là tổng các nguyên tắc của toàn bộ hoạt động giảng dạy và sự hướng dẫn trong suốt quá trình giảng dạy từ nhiều góc độ Lữ Tất Tùng đồng

ý với quan điểm “ lấy người học làm trung tâm, coi việc tự học là chính” Lữ Tất Tùng cũng cho rằng việc lấy người thầy làm trung tâm trong quá trình giảng dạy sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất Quyển “Nghiên cứu ngôn ngữ học và ứng dụng ngôn ngữ học” do Học viện Văn hóa Hán ngữ - Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh xuất bản lần thứ II, năm 2007 cho rằng: việc giảng dạy môn nóiđạt kết quả tốt chính là một hoạt động có thể khơi gợi được “cảm hứng” mong muốn biểu đạt của học sinh, cũng là hoạt động có ích có thể đáp ứng cho nhu cầu học tập của học sinh, nhưng cái gọi là “cảm hứng” và “có ích” này cần phải xuất phát từ việc khảo sát và phân tích từ thực tiễn và

từ nhiều phương diện

Trang 6

Lý Yến (2006) 7đề xuất sử dụng “Phương pháp giảng dạy theo mô hình nhiệm vụ”,

bà cho rằng mô hình này nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thành nhiệm vụ làm trung tâm để tổ chức và sắp xếp hoạt động giảng dạy, và như thế ngôn ngữ sẽ được vận dụng tối đa trong hoạt động giao tiếp thực tế Đặc điểm này biểu hiện tính thích ứng rất cao trong việc giảng dạy môn nói tiếng Trung dành cho người nước ngoài, có ích cho việc giải quyết những vấn đề thực tế trong quá trình giảng dạy môn nóinhư: đã giảng dạy nhưng không thể khuyến khích học sinh biểu đạt hoặc sự thiếu năng lực biểu đạt đoạn văn, hoặc là tốc độ nói chậm của học sinh

Hồ Tú Mai, Lý Vĩ Đông 8tiếp cận vấn đề từ ba góc độ: Những vấn đề tồn tại trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông, nguyên tắc, phương pháp và chiến lược giảng dạy trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông Cả hai cho rằng môn nghe nhìn - nói tuy là một đặc trưng điển hình trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông, nhưng không phải là duy nhất Họ còn nhấn mạnh rằng phương pháp và các chiến lược giảng dạy trong những giờ học này cũng có điểm giống và khác biệt nhau Cả hai chuyên gia còn cho rằng ngoài những nguyên tắc giảng dạy đã tổng kết như trên ra còn

có những nguyên tắc giảng dạy khác đáng được mọi người tham khảo như: những nguyên tắc về sự cảm hứng, nguyên tắc về sự tác động lẫn nhau, nguyên tắc về tính thực tiễn, nguyên tắc về sự gợi ý, nguyên tắc về tính củng cố v.v Bởi vì chỉ có thông qua những lời nói hoàn hảo của người dạy mới có thể đạt đến hiệu quả lý tưởng trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải giỏi về việc gợi ý và dẫn dắt học sinh, đồng thời khéo léo can thiệp vào những lúc thích hợp và cân bằng tiến trình giảng dạy một cách

Trang 7

1.1 Nguyên tắc giao tiếp

Mục đích tối thượng của việc học ngôn ngữ chính là giao tiếp, khả năng giao tiếp bao gồm khả năng tiếp nhận và phát đi thông tin chính xác, khả năng chuyển đổi thông tin thích đáng 9Cũng có thể nói rằng, công cụ giao tiếp chính là ngôn ngữ, việc giảng dạy ngôn ngữ chính là phải thông qua các loại hoạt động để thực hiện mục đích giao tiếp có ý nghĩa, để cho học sinh tham gia vào các hoạt động trong lớp học, trao đổi giao lưu với những học sinh khác, học được các loại tình huống biểu đạt và lý giải trong ngôn ngữ Giảng dạy theo nguyên tắc giao tiếp có thể chia làm hai phương pháp đó là việc giảng dạy ngôn ngữ theo truyền thống và việc giảng dạy ngôn ngữ hiện đại Cách giảng dạy của hai phương pháp này hoàn toàn đối lập nhau Phương pháp giảng dạy truyền thống coi trọng việc phân tích những kiến thức truyền thụ những cấu trúc trong ngôn ngữ, mà bỏ qua những giá trị giao tiếp về ngôn ngữ và chức năng giao tiếp, đào tạo ra những học sinh điểm cao nhưng thực tế năng lực giao tiếp thì thấp, không thể xử

lý những tình huống giao tiếp thông thường

Đa số học sinh mới học tiếng Trung đều chịu ảnh hưởng của tiếng Việt khá nặng

nề, bởi vì trong môi trường ngôn ngữ đơn nhất, chịu ảnh hưởng của tư duy tiếng mẹ đẻ

là điều không thể tránh khỏi Mời xem hình bên dưới:

      

9

 贾笑寒《对外汉语教学中的翻译课程》,《语言学语应用语言学研究》(第二辑),中国社会科学出版社,2007 年,79‐80 页。  

Trang 8

(Hình 2) Theo kết quả khảo sát trên, cách luyện kỹ năng nói của học sinh rõ ràng là cách luyện tập quá đơn điệu, không có sáng tạo, lần lượt chiếm tỉ lệ là luyện tập những mẫu câu đơn giản để giao tiếp với các bạn học chiếm 22.33% ; Dịch những câu đơn giản sang tiếng Trung rồi học thuộc lòng chiếm 62.13%;còn giờ học trên lớp hoặc lúc ra chơi nói chuyện với giáo viên bằng tiếng Trung chiếm tỉ lệ là 8.73%;còn cái khác thì chiếm 6.79% Nhưng chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính là do giáo viên ngay lúc đầu không chỉ bảo học sinh tránh tư duy bằng tiếng Việt khi học tiếng Trung Nhưng những ảnh hưởng này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều có sự giống nhau và sự khác nhau 10Nguyên tắc giao tiếp còn được thể hiện trong các chi tiết giảng dạy trên lớp, nâng cao khả năng biểu đạt khẩu ngữ của học sinh, suy cho cùng thì đây chính là việc giúp cho học sinh xây dựng hệ thống tư duy bằng ngoại ngữ, có nghĩa là giải mã thông tin, biên tập thông tin thông qua hệ thống tư duy bằng tiếng Trung Tăng cường rèn luyện và bồi dưỡng khả năng tư duy, là nền tảng nâng cao năng lực khẩu ngữ đối với sự khơi gợi kỹ năng ngôn ngữ của học sinh và sự

tự gợi ý của học sinh Nắm bắt được điểm mấu chốt, bản chất thì việc rèn luyện mới có thể đạt được hiệu quả cao Ví dụ như trong giờ giảng từ mới, chúng ta không thể chỉ       

10 杨慧元《汉语听力说话教学法》,北京语言大学出版社,2005 年 3 月,197 页。  

Trang 9

dừng lại ở việc đọc dẫn và giải thích, mà cần phải đặt câu hỏi mang tính gợi mở, dẫn dắt, và người học sẽ tự sử dụng được từ đang học trong khi trả lời câu hỏi của giáo viên; dưới vai trò là người dẫn dắt, giáo viên cần phải khích lệ học sinh vận dụng tối đa những từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp và cách biểu đạt để tiến hành giao tiếp trao đổi với nhau, và đồng thời khéo léo đưa ra những bài tập tình huống giao tiếp Nói tóm lại là trong khi giảng dạy chúng ta không chỉ coi trọng việc truyền thụ những kiến thức giao tiếp và kỹ năng giao tiếp, mà còn phải chú trọng đến việc giảng dạy những kiến thức khẩu ngữ tiếng Hán, những câu nói thường ngày, giúp cho học sinh bước đầu tìm hiểu

về văn hóa, lối sống và nâng cao năng lực biểu đạt tiếng Trung Hơn nữa cần phải chú trọng và phân tích cách biểu đạt giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ Trung -Việt

(Hình 3)

Từ hình 3 ở trên, thông qua kết quả khảo sát, nhu cầu học tiếng Trung của học sinh là: 45% học sinh cho là nên đưa những chủ đề gần gũi với cuộc sống hằng ngày ra thảo luận ; 25% học sinh cho là nên dùng hình ảnh minh hoạ để giải thích chủ đề; 13% học sinh cho rằng nên sử dụng các công nghệ truyền thông; 2% học sinh cho là ở trên lớp nên dành nhiều thời gian cho SV thảo luận Nhưng thực chất nếu chúng ta dạy môn Nói mà quá lạm dụng công nghệ truyền thông, thì sẽ dẫn đến kiến thức mà sinh viên cần học ở trên lớp càng ít đi Chúng tôi cho rằng người thầy giáo cần nên cân nhắc và

Trang 10

điều chỉnh việc sử dụng công nghệ truyền thông sao cho hợp lý Bởi vì, chúng ta cũng

dễ phát hiện là chỉ có lời nói qua giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày mới dễ làm cho người học tiếp thu nhanh, học tốt Qua kết quả khảo sát ở trên, chúng tôi cho rằng nhu cầu học tiếng Trung của sinh viên rất bình thường, rất hợp lý Và nhu cầu này không chỉ có ở người học tiếng Trung, mà có ở tất cả những ai học ngoại ngữ Nhưng làm sao

để thoả mãn nhu cầu của người học? Chúng tôi cho rằng trước giờ lên lớp giáo viên không chỉ chuẩn bị bài mà còn phải chuẩn bị những từ ngữ và những điểm ngữ pháp có liên quan đến nội dung bài học Trong giờ lên lớp sử dụng phương pháp xây dựng tình huống, còn phải luyện cho người học cách giải quyết những vấn đề xảy ra tương tự trong cuộc sống thực tế, giúp cho học sinh hiểu được văn hóa Trung Quốc một cách thiết thực và hiệu quả, tập làm quen sử dụng những mẫu câu thường dùng như đã học, nâng cao khả năng biểu đạt khẩu ngữ tiếng Hán của học sinh và năng lực giao tiếp đa văn hóa Theo phương pháp giảng dạy này chúng ta cần phải dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Trong giờ học, giữa thầy và trò cũng cần tuân theo nguyên tắc tác động lẫn nhau và nguyên tắc dạy học mang tính thực tiễn, như: kể những câu chuyện bằng tiếng Hán, nêu những vấn đề về văn hóa gia đình, cũng có thể nói về bản thân mình, kể về cuộc sống, lý tưởng, nói về tương lai v.v…Cần phải căn cứ vào trình độ tiếng Hán của học sinh để chọn các đề tài, luyện cho các em có thể xử lý những tình huống giao tiếp hằng ngày Như thế mới có thể tạo nên bầu không khí sôi động trong lớp học, và khơi gợi nguồn cảm hứng vào việc học tập của học sinh

1.2 Những nguyên tắc về ngữ cảnh hóa (tình huống)

“Ngữ cảnh hóa” 11là tiền đề cơ bản trong việc giảng dạy môn nói tiếng Trung Đơn vị giảng dạy cơ bản này chính là những câu nói trong một ngữ cảnh nhất định, không có ngữ cảnh thì những câu nói sẽ không có tác dụng trong giao tiếp, như: “对不      

11 李梦莉《语境化策略与外语口语教学》,湖北教育学院学报,2007.10  

Trang 11

起” là câu nói được hiểu theo nghĩa xin lỗi một cách khiêm nhường lịch sự Nhưng khi dịch thành Tiếng Việt thì không nhất định là nghĩa xin lỗi, trong một tình huống nào đó

nó còn có thể biểu thị sự phẫn nộ hoặc từ chối sự giúp đỡ; “不好意思” sử dụng trong trường hợp xin lỗi ở mức độ nhẹ, nhưng ở mức độ tương đối nặng thì vẫn sử dụng từ

“对不起” và “抱歉”; cũng có thể sử dụng vào trường hợp khiêm tốn; ngoài ra trong một số trường hợp không chính đáng thì có thể sử dụng từ “劳驾”

1.3 Nguyên tắc giảng ít luyện nhiều

Trong quá trình dạy học phải lấy học sinh làm trung tâm Trong quá trình dạy môn nóihọc sinh không phải là đối tượng thụ động của giờ học, mà là ở vị trí trung tâm của giờ học trên lớp, là người tham gia tích cực của giờ học trên lớp Do đó, trong giờ học khẩu ngữ cần cố gắng giảm thiểu thời gian giáo viên nói, nhất là không “nói cả giờ học”, một mình “độc diễn” Nên cố gắng gia tăng thời gian giao tiếp của học sinh, để học sinh trở thành chủ thể của hoạt động dạy học môn khẩu ngữ, trở thành diễn viên chính của hoạt động thực tiễn ngôn ngữ Mời xem Hình 3

(Hình 3) Hình 3 trên thể hiện rõ học sinh có trở ngại về tâm lý, một khi đứng lên nói sai thì

sẽ bị bạn học cười chế nhạo Để khắc phục mặt tâm lý này chúng tôi cho rằng giáo viên

Trang 12

cần đảm bảo học sinh có đủ thời gian và cơ hội nói nhiều luyện nhiều, làm cho tốc độ các phương diện như khả năng tư duy và kỹ năng ngôn ngữ … được nâng cao Giáo viên tuy không phải là trung tâm, nhưng cũng không phải có thể khoanh tay đứng nhìn, cần có kế hoạch, sử dụng các tư liệu có liên quan để mở rộng đề tài, tạo ngữ cảnh Mục đích là thiết kế, cung cấp tài liệu để tiến hành hoạt động giao tiếp cho học sinh, đồng thời theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình giao tiếp của học sinh 12Chúng tôi cho rằng chỉ có thông qua ngôn ngữ hoàn hảo của giáo viên mới có thể đạt tới hiệu quả lý tưởng của việc dạy học Ngoài ra, giáo viên nên biết cách hướng dẫn và gợi ý, điều khiển một cách thích hợp, điều tiết có hiệu quả quá trình dạy học Đồng thời giáo viên nên cố gắng tạo ra tình huống dạy học kích thích động cơ học tập, bồi dưỡng niềm yêu thích, tác động vào tính tích cực của học sinh, thúc đẩy sự phát triển khả năng học nói bước đầu tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc

II Phương pháp giảng dạy môn nói tiếng Trung

Theo Đề cương giảng dạy tiếng Trung cho lưu học sinh của Ủy ban Hán ngữ Trung Quốc, bắt đầu từ sơ cấp, trong hệ thống tiếng Hán dành cho người nước ngoài

do Học viện Ngoại Ngữ Thượng Hải năm 1986 quy định: học sinh cần phải nắm khoảng 2500 từ đơn trong tiếng Hán; nắm bắt được những mẫu câu thường sử dụng, một số quy tắc về ngữ pháp cơ bản và quy tắc về ngữ dụng, thì mới có thể đàm thoại những tình huống hằng ngày trong cuộc sống, và có thể biểu đạt ngôn ngữ một cách chính xác, đồng thời đạt đến độ chính xác cơ bản về ngữ điệu Chúng tôi cho rằng, quy định này chỉ thích hợp đối với những học sinh khi đến Trung Quốc du học, nhưng những học sinh học tiếng Trung ở nước ngoài thì không có môi trường ngôn ngữ, ở giai đoạn sơ cấp khó mà học được 2500 từ đơn tiếng Hán Ở Việt Nam người học ở giai đoạn sơ cấp có thể nắm được khoảng 2/3 số lượng từ đơn tiếng Hán nêu trên là       

12

引自 李建军《一年制零起点留学生汉语教学初探》,《昌吉学院学报》,2003 年 3 月。  

Trang 13

một chuyện khó, đặc biệt là sinh viên của trường đại học Lạc Hồng Bởi vì số học phần

về chuyên ngành tiếng Trung tương đối ít, nhất là môn nói ở giai đoạn sơ cấp, một học

kỳ thường chỉ có 45 tiết giảng (lý thuyết chỉ chiếm khoảng 1/3 học phần) Mỗi một giờ lên lớp cần phải hoàn thành một bài khóa, đây là sự quy định của nhà trường Do đó, đa

số giáo viên đều sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống Cách dạy này vừa không khơi gợi sự hứng thú trong học tập của sinh viên mà còn khiến cho sinh viên cảm thấy giờ học khẩu ngữ này không khác gì với những giờ học các môn khác Trong giờ lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến cách hướng dẫn đọc, giảng ngữ pháp, cách phiên dịch, không nêu lên được những tình huống giao tiếp để cho sinh viên luyện nói nhiều hơn, và điều đương nhiên rằng sinh viên sẽ không mở miệng tập nói chuyện Lâu dần, sinh viên chỉ có thể đọc hiểu chữ Hán hoặc là nghe hiểu những lời thầy giáo nói, chỉ có thể trả lời những câu đơn giản như đúng sai, có không có v.v hoặc là không nói được câu nào Một khi yêu cầu các em trả lời câu hỏi thì sẽ xuất hiện những lỗi sai như phát âm hoặc ngữ pháp Mục đích giảng dạy môn Nói là thông qua một hai năm giảng dạy, chúng ta dạy cho sinh viên nắm bắt được những kỹ năng ngôn ngữ trong giao tiếp

và kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ ở bước sơ cấp, có thể đáp ứng được nhu cầu giao tiếp trong các trường hợp sinh hoạt, học tập hằng ngày và những trường hợp xã giao thông thường Khi giao tiếp, diện mạo và ngữ âm của một người nào đó sẽ tạo ra ấn tượng ban đầu cho người đối diện Người mà phát âm chuẩn (ngữ âm), nói chuyện đàng hoàng từng chữ từng tiếng thì sẽ làm cho người khác cảm thấy khả năng về ngôn ngữ của người đó giỏi, trình độ Hán ngữ cao Do đó, chúng tôi cho rằng giáo viên trong giờ lên lớp, cần coi việc giảng dạy ngữ âm là một nhiệm vụ thường xuyên, nghiêm khắc, coi việc luyện phát âm là việc chính yếu trong suốt quá trình học ở giai đoạn cơ bản v.v

Trang 14

2.1 Phương pháp giảng dạy ngữ âm và từ vựng

Trên nền tảng lấy học sinh làm trung tâm, ở giai đoạn sơ cấp thông thường là học phát âm tiếng Hán, và phiên âm tiếng Hán là điều cơ bản trong việc giảng dạy ngữ âm tiếng Hán Việc giảng dạy ngữ âm ở giai đoạn sơ cấp chủ yếu là những bài tập máy móc như bắt chước, đọc đồng thanh, đọc đi đọc lại nhiều lần v.v…, học sinh sẽ dễ dàng cảm thấy sự đơn điệu, chán ngán, cứng nhắc, do đó đặc biệt yêu cầu giáo viên không ngừng thay đổi phương pháp giảng dạy, làm cho học sinh nắm được phiên âm tiếng Hán trong một giờ giảng sôi động, đầy tính thú vị, bồi dưỡng cho các em có cảm nhận

về âm thanh tiếng Hán Sau đây chúng tôi tiến hành thảo luận từ hai mặt ngữ âm tiếng Hán và từ vựng tiếng Hán

Một là, khi dạy về thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu giáo viên cần phải sử dụng việc so sánh sự khác nhau trong cách phát âm thanh mẫu và vận mẫu giữa tiếng Hán và tiếng Việt, làm cho học sinh bước đầu nắm được sự khác nhau về cách phát âm giữa

hai loại ngôn ngữ Ví dụ: vận mẫu [eng], [ong], [i] đọc gần giống [ưng], âm /ung/, âm

[ia; ưa] trong tiếng Việt Ngoài ra chúng ta cũng có thể mượn cách phát âm của tiếng Anh để dạy các phát âm trong tiếng Hán như âm môi b [p] p ['p] m [m] ch['tʃ] shi[ʃ](ký hiệu “'”là ký hiệu bật hơi trong tiếng Hán) Ngoài ra, chúng ta còn có thể sử dụng cách

so sánh khác nhau để giảng dạy những thanh mẫu dễ dàng bị lẫn lộn như ba nhóm sau ([nhóm 1: j、q、x]、;[nhóm 2:zh、ch、sh] ;[nhóm 3:z、c、s])

Nhóm 1 là âm mặt lưỡi: j [tɕ] q ['tɕ] x [ɕ]

Nhóm 2 là âm sau đầu lưỡi: zh[tʂ] ch['tʂ] sh[ʂ]

Nhóm 3 là nhóm âm đầu lưỡi: z[ts] c['ts] s[s]

So sánh thì thấy cả ba nhóm đều có cách phát âm rất khó, cũng dễ bị phát âm sai, cho nên khi bắt đầu học, chúng ta viết lên bảng cả ba nhóm có kết hợp với vần đơn âm tiết (i), giáo viên để cho học sinh phân biệt và đọc ở bất kỳ một âm nào Nếu vận mẫu

Trang 15

đơn nguyên âm i và nhóm thanh mẫu j、q、x kết hợp với nhau, thì sẽ tạo thành ji、qi、xi Chúng ta sử dụng phân biệt với cách phát âm trong tiếng mẹ đẻ để phân biệt vần i trong nhóm ji, qi, xi và vần i trong hai nhóm zhi chi shi、zi ci si có cách phát âm không giống nhau Vần “i” trong nhóm ji、qi、xi chúng ta đọc thành “ia”, nhưng vần

“i” trong hai nhóm zhi chi shi、zi ci si thì chúng ta phát âm giống như vần “ưa”trong cách phát âm của tiếng Việt Đợi sau khi học sinh nắm được tất cả, hẵng tiếp tục hướng dẫn các em phát âm cho tự nhiên hơn Chúng ta thường viết trên bảng những âm khó phát âm nhất Ở sau mỗi một thanh mẫu chúng ta có thể đánh số từ 1 đến 9 Giáo viên đọc dẫn mấy lần, sau đó cho đảo lộn để đọc, yêu cầu học sinh đoán thử số thứ tự của chữ mà giáo viên đọc Nếu học sinh đoán sai, chúng ta có thể phán đoán ra rằng em này vẫn chưa phân biệt được âm nào là âm cuốn lưỡi, âm nào là âm không cuốn lưỡi, hoặc là âm nào là âm bật hơi và không bật hơi Ngoài ra khi chúng ta giảng dạy phiên

âm cũng có thể vận dụng cách giảng dạy đọc đánh vần như trong môn học ngữ văn của học sinh tiểu học Cách đọc đánh vần của Việt Nam có hai cách Một là đọc thanh mẫu trước đọc vần sau, hai là đọc vần trước rồi đọc thanh mẫu sau, sau đóghép vào thành một chữ Nếu từ ngữ có thanh điệu, thì đánh vần xong rồi ghép thanh điệu vào

Do tiếng Việt mượn âm đọc từ tiếng Hán rất nhiều, người Việt Nam gọi đó là âm Hán Việt, âm đọc của nó cũng gần giống như âm đọc của tiếng Hán Người Việt Nam học tiếng Trung, nếu biết cách lợi dụng âm đọc của âm Hán Việt để học tiếng Trung thì có thể nắm vững ngữ âm tiếng Hán trong một khoảng thời gian ngắn Nếu học sinh phát âm sai thì giáo viên có thể nhắc nhở học sinh trước, cố gắng để họ tự mình chỉnh sửa, nếu không được thì giáo viên mới chỉnh sửa cho họ Khi giảng dạy ngữ âm, giáo viên cần phải thiết kế các cách luyện tập như: cách phân biệt (giáo viên đọc, học sinh phân biệt, hoặc điền vào chỗ trống hoặc là phán đoán đúng sai), cách luyện đọc theo (học sinh luyện tập nghe xong rồi đọc theo trên nền tảng là nghe và phân biệt), cách biểu diễn đối chiếu Về cách giảng dạy thanh điệu ông Trương Hòa Sinh (2006) đã nêu

Trang 16

ra bảy cách, như: đồ thị 5 bật trong thanh điệu, phương pháp tư thế bàn tay, phương pháp về tư thế đầu, cách khống chế thanh đới, cách xây dựng đồ thị ngũ tuyến, cách đối chiếu, cách đới âm Người viết thường chỉ sử dụng cách tư thế bàn tay và phương pháp

về tư thế đầu để giảng dạy thanh điệu Cách làm cụ thể là chúng ta căn cứ vào bốn ký hiệu của thanh điệu rồi sử dụng bằng tay và thay đổi cách phát âm theo độ cao thấp của thanh điệu Như khi phát âm thanh điệu thứ nhất, ngón tay sẽ đẩy hướng từ miệng ra ngoài, biểu thị thanh cao bằng 55; ngón tay kéo từ cao xuống, biểu thị hướng xuống từ 51; ngón tay hướng lên trên và đồng thời phát âm ra thanh thứ 2; động tác đầu, phần đầu di chuyển từ trái sang phải, đồng thời phát âm thanh thứ ba

Hai là, dạy ngữ âm thường kết hợp với dạy từ mới Phương pháp này có thể làm cho học sinh cảm thấy giờ học không nhàm chán, khô khan mà còn khơi gợi niềm phấn khích trong học tập của học sinh Như: có thể liệt kê trên bảng những từ ngữ xưng hô người thân, nhưng chúng ta không viết chữ Hán, chỉ viết phiên âm Thực hiện phát âm dẫn nhiều lần, gọi học sinh lập đi lập lại nhiều lần, nếu như phát hiện có học sinh phát

âm sai thì lập tức chỉnh sửa cho em ngay Việc giảng dạy ngữ âm kết hợp với từ vựng đòi hỏi học sinh phải phát âm đi phát âm lại, học thuộc, bắt chước đặt câu những câu đơn giản trong bài học Mục đích dạy như thế là giúp cho học sinh ghi nhớ từ mới, cũng giúp cho học sinh chỉnh sửa cách phát âm sai

Mục tiêu giảng dạy ngữ âm là việc vận dụng kỹ xảo phát âm trong khi luyện cho học sinh nói chuyện Đầu tiên thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu cần phải chính xác rõ ràng, phải nắm vững được 21 thanh mẫu, 39 vận mẫu và bốn thanh điệu cơ bản Phương pháp giảng dạy ngữ âm chắc chắn là có sự lặp lại tuần hoàn nhiều lần (làm mẫu – bắt chước – lại làm mẫu – lại bắt chước) từ dễ đến khó, dạy mới ôn lại phần cũ Khi luyện tập ngoài cách làm mẫu của giáo viên ra, còn có thể bảo học sinh đồng thanh cùng phát âm đi phát âm lại bắt chước theo giáo viên, cũng có thể để một cá nhân học sinh tự phát âmrõ, đọc thuộc, hoặc có thể bảo một em học sinh phát âm tốt đọc dẫn cho các bạn khác Cách này không những làm tăng lên sự hoạt động của học sinh mà còn

Ngày đăng: 18/12/2013, 13:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KẾT QUẢ ĐIỀU TRA - Nghiên cứu bước đầu về giảng dạy kỹ năng nói tiếng trung giai đoạn sơ cấp nghiên cứu khoa học giáo viên
BẢNG KẾT QUẢ ĐIỀU TRA (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w